- Đệ nhất thiền định Thiền là sự tĩnh lặng của tâm hồn, nhưng giấu đằng sau sự tĩnh lặng đó là những điều lớn lao, ý nghĩa. Nội tâm thiền định hiển lộ một trí tuệ sâu sắc mẫn tiệp, một nhân cách kiện toàn vững chắc với đỉnh cao tột cùng là Vô ngã. Người thăng tiến trên con đường thiền sẽ dần lan tỏa uy đức, tám muôn tế hạnh, sự siêng năng phụng sự... vào trong cuộc đời để tạo nên vô số lợi ích cho chúng sinh. Bởi vậy, thiền đem đến giá trị và sức mạnh thực sự cho đạo Phật. Người đệ tử Phật tinh tấn tọa thiền không lơi lỏng, kiên tâm vượt mọi chướng ngại, củng cố sâu dày công phu thiền định chính là đang duy trì mạng mạch Phật Pháp trường tồn. Với định lực thâm sâu, Tôn giả Đại Ca Diếp hành trì miên mật trong hạnh đầu đà nghiêm khắc, sống cuộc đời thiểu dục tri túc, viễn ly khỏi những giao tiếp không cần thiết, cốt yếu để làm tấm gương cho các Tỳ kheo về giới đức và sự tinh chuyên trong thiền định. Ngài thường khuyên dạy các vị Tỳ kheo rằng khi đi du hành đừng nên dẫn đầu để quần chúng tôn xưng, nội tâm dễ loạn động. Lúc khất thực chớ quan tâm nhiều đến vật thực, kẻo ham miếng ngon mà quên mất vị an lạc, giải thoát. Một cái đảnh lễ cung kính của tín chủ cũng nặng trĩu trên vai, hãy cẩn thận với sự kiêu mạn ngấm ngầm len lỏi, như mũi tên độc khó rút ra, cản trở con đường thiền định. Ngược lại, chỉ tấm y đơn sơ được may vá từ những mảnh vải vụn thôi cũng đủ bao bọc trong đêm sương giá, bóng cây trong rừng sâu chở che nắng mưa những phút giây thiền tọa, một túp lều tranh vách lá, một hang động bên triền núi, một bầu trời đầy sao giữa làng quê hẻo lánh sẽ đều có thể trở thành mái ấm thân quen. Vì thế, một thầy Tỳ kheo cần sống cuộc đời thanh lương, không dính mắc, tung bay như cánh hạc, giữ gìn giới đức và dành trọn thời gian nhiếp tâm trong thiền định. Nhờ có giới đức sạch trong mà thiền định được sung mãn, nhờ có thiền định mà giới đức luôn vẹn toàn. 4. Công đức phi thường Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, Tăng đoàn đứng trước một sự kiện quan trọng là kết tập những lời dạy cao quý của Người để lưu truyền cho hậu thế. Hai vị Thượng Thủ Tăng đoàn là ngài Xá Lợi Phất (Sariputta) và Ngài Mục Kiền Liên (Maha Moggallana) đã nhập Niết Bàn, nên việc lãnh đạo Tăng đoàn đã chính thức được giao cho Tôn giả Đại Ca Diếp. Tôn giả đã triệu tập hội nghị kết tập Kinh điển lần đầu tiên trong suốt 3 tháng tại động Kỳ Xà Quật cùng 500 vị Trưởng lão đã chứng Thánh quả A La Hán. Đây là nơi hoàn toàn thanh tịnh, cảnh trí thoát trần, là nơi xứng đáng để kết tập Kinh điển. Đại chúng nhất trí đề cử Tôn giả Đại Ca Diếp làm chủ tọa. Tôn giả A Nan (Ananda) là người luôn luôn gần Phật lại là bậc Đa Văn đệ nhất, ghi nhớ tất cả các lời Phật dạy nên được tuyên trì tạng Kinh. Ngài Ưu Ba Ly (Upali) tuyên trì tạng Luật. Ngài Phú Lâu Na (Punna Mantaniputta) tuyên trì tạng Luận. Các tạng Kinh, Luật, Luận này đã trở thành Pháp Bảo vô giá cho chúng sinh muôn đời sau. Giờ đây, mỗi khi cầm lên cuốn Kinh, đọc tụng những đạo lý thiêng liêng mà Đức Phật trao truyền, chúng ta đã thọ nhận ân đức của Ngài Đại Ca Diếp, người đã vì chúng sinh mà lưu truyền Pháp Bảo. Nếu không có Ngài chủ trì cuộc kết tập Kinh điển thì vĩnh viễn chúng sinh sẽ không bao biết được những điều nhiệm màu thiêng liêng mà Đức Phật đã chỉ dạy trong VI. Ý NGHĨA ĐỘ MỆNH Tôn giả Đại Ca Diếp là người có đức từ bi bao la, nhất là với những người nghèo khổ. Ngài là ruộng phước điền vô tận cho những ai thành tâm tôn kính và cúng dường lên Ngài. Tôn giả cũng là bậc mô phạm của đời sống phạm hạnh, thiểu dục tri túc. Những ai biết tôn kính và học theo những đức hạnh của Ngài sẽ được nâng cao phẩm hạnh đạo đức ở đời. Người có tư cách đạo đức bao giờ cũng được kính nể, ngược lại không tư cách đạo đức thì dù giàu mạnh đến đâu, cuối cùng cũng sẽ bị cuộc đời đào thải. Khi thành tâm thờ kính Ngài quý Phật tử sẽ: Kinh điển không ghi được nhiều những bài Pháp của Tôn giả, nhưng trong số ít đó, Ngài đã để lại một bài Kinh giáo giới về thiền định quý giá. Khi đó, Tôn giả nghiêm khắc nhắc nhở các vị Tỳ kheo trẻ về tâm khiêm hạ trong công phu tu tập để tránh sinh kiêu mạn và cho rằng mình đã chứng đắc cao siêu. Vì chỉ một ý nghĩ như vậy sẽ phá tan mọi công đức, đổ vỡ phạm hạnh, tạo thành vực thẳm cắt ngang con đường đi đến giác ngộ thực sự. Dù có đạt được những điều thù thắng vi diệu trong tâm, hãy cứ xem như giọt sương trên đầu ngọn cỏ, vì phía trước còn là cả bầu trời cao xanh vời vợi. Với nội tâm thiền định, lòng từ bi của Tôn giả lan tỏa khắp không gian, đến từng chúng sinh, dù là chim thú, những loài côn trùng bé nhỏ hay cỏ cây hoa lá. Ngài chính là người đã xin Thế Tôn chế định giới luật cấm sát sinh, hại vật, luôn bảo vệ, yêu thương sự sống của muôn loài và cả thiên nhiên. Trong những lần tĩnh tọa nơi hoang vắng, đôi khi Ngài an trú Diệt Tận Định, thị hiện Niết Bàn ngay giữa thế gian, đôi khi Ngài thực hiện hạnh nguyện Bồ Tát, vân du tới khắp các cõi giới xa xôi để hóa độ cho các chúng sinh như Dạ xoa, Long vương, chư Thiên tử hay cả chúng sinh nơi địa ngục khổ đau, tăm tối. Để tán thán công đức và phạm hạnh của Tôn giả Đại Ca Diếp, Đức Thế Tôn đã dành tặng cho Ngài lời suốt 45 năm hoằng hóa độ sinh. Chúng con xin được quỳ xuống cúi đầu tạ ơn công đức của Ngài! khen tặng cao quý nhất: - Này các Tỳ kheo! Trưởng lão Đại Ca Diếp có thể chứng đạt viên mãn, thuần thục các tầng bậc thiền với các mức định, đạt được thần thông quảng đại và an trú với tâm, tuệ giải thoát cũng tương tự như với Như Lai vậy. - Vượt qua những nghịch cảnh khó khăn trong cuộc sống vì Ngài luôn hướng tâm đến những hoàn cảnh nghèo khó. - Thành tựu được tâm từ bi, được chư Thiên thủ hộ, mọi người quý kính. Cuộc sống gặp nhiều may mắn, hạnh phúc. - Thành tựu được ý chí kiên định trên con đường tu tập. 14

Thánh Độ Mệnh
03. Tôn giả Đại Ca Diếp
III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
Thích Chân Quang
Đọc sách: 03. Tôn giả Đại Ca Diếp — Thiền Tôn Phật Quang
- 1. NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI
- 2. TÔN GIẢ ĐẠI CA DIẾP
- 3. TÔN GIẢ ĐẠI CA DIẾP
- 4. TÔN GIẢ ĐẠI CA DIẾP
- 5. II. XUẤT GIA - CHỨNG ĐẠO
- 6. II. XUẤT GIA - CHỨNG ĐẠO
- 7. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 8. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 9. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 10. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 11. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 12. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 13. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 14. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 15. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 16. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 17. VI. Ý NGHĨA ĐỘ MỆNH
- 18. VI. Ý NGHĨA ĐỘ MỆNH