(MAHA KASSAPA) ĐỆ NHẤT THIỀN ĐỊNH Hằng ngày khất thực về đỉnh núi Mỏm đá chênh vênh tịnh cõi thiền Thân tâm an định miền giải thoát Khổ hạnh đầu đà bậc Sa môn. I. XUẤT THÂN Tôn giả Đại Ca Diếp (Maha Kassapa) sinh trưởng tại ngôi làng Sa La Đà gần kinh thành Vương Xá (Rajagaha) của nước Ma Kiệt Đà (Magadha), trong một gia đình Bà la môn giàu có. Vào một ngày trời xanh biếc, khi đang hoài thai Ngài, mẫu thân của Tôn giả dạo chơi trong đình viện thì cảm thấy hơi mệt. Bà liền tới dưới bóng cây đại thọ Tất Bát La (Pippahali) nghỉ ngơi thì bỗng chuyển dạ lâm bồn. Khi được sinh ra Tôn giả hội đủ những quý tướng của một bậc vĩ nhân, trong đó có bảy quý tướng giống với vẻ đẹp của Đức Phật. Ngay từ nhỏ, Ngài được giáo dục theo truyền thống Bà la môn và nhanh chóng trở nên xuất chúng trong nhiều lĩnh vực như văn học, toán thuật, thi họa, thiên văn, tướng số... Những điều ấy khiến cha mẹ Ngài hết sức vui mừng và đặt nhiều kỳ vọng. Thế nhưng, Ngài Đại Ca Diếp luôn cảm thấy nhàm chán với mọi niềm vui tầm thường của thế gian. Ngài thích ở một mình và xa lánh những chốn ồn ào, náo nhiệt. Cuộc sống của Ngài giản dị nhưng trong sạch, không vương một hạt bụi nhỏ nào của tình cảm nam nữ. Đó đều là những đức tính cao đẹp mà chỉ hiện diện nơi một bậc Thánh xuất thế trong tương lai. Đến tuổi lập gia đình, cha mẹ bằng mọi cách ép Ngài phải cưới vợ dù biết rằng Ngài chỉ mong ước đi tìm con đường đạo chân chính. Tuy không ưa thích việc này nhưng để làm hài lòng cha mẹ, Ngài đưa ra những tiêu chuẩn khắt khe về người vợ mình sẽ chọn để làm khó song thân. Ngài nhờ người tạc một bức tượng với vẻ đẹp như Thiên nữ mà Ngài nghĩ thế gian này sẽ không ai có thể có được vẻ đẹp như vậy. Không ngờ do nhân duyên nhiều kiếp, thiếu nữ Bhadda Kapilani lại xuất hiện, với vẻ đẹp giống như bức tượng mà Ngài tạc và bất ngờ hơn nữa, Bhadda cũng là một người yêu thích sự thanh tịnh và cũng có chí nguyện xuất gia. Vì vậy, hai vị sống với nhau như hai người bạn trong sạch, không chút vẩn đục. Trong suốt 10 năm trên danh nghĩa phu thê, hai vị vẫn luôn giữ gìn, bảo vệ đời sống trong sạch, thanh tịnh cho nhau và lòng luôn hướng về chí nguyện xuất gia tột cùng. Khi nhân duyên đến, hai vị nhất quyết dứt bỏ đời sống thế tục để bước đi trên con đường phạm hạnh tìm cầu bậc Đạo Sư chân chính. Trên nẻo đường thiên lý, nhiều hiểm nguy rình rập nơi các làng quê hẻo lánh, qua các rừng cây rậm rạp, nên Tôn giả không nỡ để mặc Bhadda đi một mình vì thân nữ dễ gặp nhiều bất tiện và rủi ro. Nhưng nếu đi khất thực cùng nhau thì thế nhân lại phát sinh nhiều dị nghị vì biết rằng trước đây, hai người từng là vợ chồng. Vì thế Tôn giả quyết định để Bhadda đi trước một đoạn, Ngài sẽ ở đằng sau quan sát và bảo vệ khi cần thiết cho đến khi gặp được Đạo Sư cao minh, gia nhập được chúng hội yên ổn. Sau khi quyết định như vậy, hai người cùng quỳ xuống lạy nhau một lạy để biết ơn những năm tháng giữ gìn đời sống trong sạch như đôi bạn, bảo vệ lý tưởng tu hành cao đẹp cho nhau cũng như chúc nhau đạt được sở nguyện tu hành giải thoát. Giây phút thiêng liêng ấy, đất trời rúng động. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH 1. Đệ nhất thiền định Thiền là sự tĩnh lặng của tâm hồn, nhưng giấu đằng sau sự tĩnh lặng đó là những điều lớn lao, ý nghĩa. Nội tâm thiền định hiển lộ một trí tuệ sâu sắc mẫn tiệp, một nhân cách kiện toàn vững chắc với đỉnh cao tột cùng là Vô ngã. Người thăng tiến trên con đường thiền sẽ dần lan tỏa uy đức, tám muôn tế hạnh, sự siêng năng phụng sự... vào trong cuộc đời để tạo nên vô số lợi ích cho chúng sinh. Bởi vậy, thiền đem đến giá trị và sức mạnh thực sự cho đạo Phật. Người đệ tử Phật tinh tấn tọa thiền không lơi lỏng, kiên tâm vượt mọi chướng ngại, củng cố sâu dày công phu thiền định chính là đang duy trì mạng mạch Phật Pháp trường tồn. Với định lực thâm sâu, Tôn giả Đại Ca Diếp hành trì miên mật trong hạnh đầu đà nghiêm khắc, sống cuộc đời thiểu dục tri túc, viễn ly khỏi những giao tiếp không cần thiết, cốt yếu để làm tấm gương cho các Tỳ kheo về giới đức và sự tinh chuyên trong thiền định. Ngài thường khuyên dạy các vị Tỳ kheo rằng khi đi du hành đừng nên dẫn đầu để quần chúng tôn xưng, nội tâm dễ loạn động. Lúc khất thực chớ quan tâm nhiều đến vật thực, kẻo ham miếng ngon mà quên mất vị an lạc, giải thoát. Một cái đảnh lễ cung kính của tín chủ cũng nặng trĩu trên vai, hãy cẩn thận với sự kiêu mạn ngấm ngầm len lỏi, như mũi tên độc khó rút ra, cản trở con đường thiền định. Ngược lại, chỉ tấm y đơn sơ được may vá từ những mảnh vải vụn thôi cũng đủ bao bọc trong đêm sương giá, bóng cây trong rừng sâu chở che nắng mưa những phút giây thiền tọa, một túp lều tranh vách lá, một hang động bên triền núi, một bầu trời đầy sao giữa làng quê hẻo lánh sẽ đều có thể trở thành mái ấm thân quen. Vì thế, một thầy Tỳ kheo cần sống cuộc đời thanh lương, không dính mắc, tung bay như cánh hạc, giữ gìn giới đức và dành trọn thời gian nhiếp tâm trong thiền định. Nhờ có giới đức sạch trong mà thiền định được sung mãn, nhờ có thiền định mà giới đức luôn vẹn toàn. Kinh điển không ghi được nhiều những bài Pháp của Tôn giả, nhưng trong số ít đó, Ngài đã để lại một bài Kinh giáo giới về thiền định quý giá. Khi đó, Tôn giả nghiêm khắc nhắc nhở các vị Tỳ kheo trẻ về tâm khiêm hạ trong công phu tu tập để tránh sinh kiêu mạn và cho rằng mình đã chứng đắc cao siêu. Vì chỉ một ý nghĩ như vậy sẽ phá tan mọi công đức, đổ vỡ phạm hạnh, tạo thành vực thẳm cắt ngang con đường đi đến giác ngộ thực sự. Dù có đạt được những điều thù thắng vi diệu trong tâm, hãy cứ xem như giọt sương trên đầu ngọn cỏ, vì phía trước còn là cả bầu trời cao xanh vời vợi. Với nội tâm thiền định, lòng từ bi của Tôn giả lan tỏa khắp không gian, đến từng chúng sinh, dù là chim thú, những loài côn trùng bé nhỏ hay cỏ cây hoa lá. Ngài chính là người đã xin Thế Tôn chế định giới luật cấm sát sinh, hại vật, luôn bảo vệ, yêu thương sự sống của muôn loài và cả thiên nhiên. Trong những lần tĩnh tọa nơi hoang vắng, đôi khi Ngài an trú Diệt Tận Định, thị hiện Niết Bàn ngay giữa thế gian, đôi khi Ngài thực hiện hạnh nguyện Bồ Tát, vân du tới khắp các cõi giới xa xôi để hóa độ cho các chúng sinh như Dạ xoa, Long vương, chư Thiên tử hay cả chúng sinh nơi địa ngục khổ đau, tăm tối. Để tán thán công đức và phạm hạnh của Tôn giả Đại Ca Diếp, Đức Thế Tôn đã dành tặng cho Ngài lời khen tặng cao quý nhất: - Này các Tỳ kheo! Trưởng lão Đại Ca Diếp có thể chứng đạt viên mãn, thuần thục các tầng bậc thiền với các mức định, đạt được thần thông quảng đại và an trú với tâm, tuệ giải thoát cũng tương tự như với Như Lai vậy. 3

Thánh Độ Mệnh
03. Tôn giả Đại Ca Diếp
TÔN GIẢ ĐẠI CA DIẾP
Thích Chân Quang
Đọc sách: 03. Tôn giả Đại Ca Diếp — Thiền Tôn Phật Quang
- 1. NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI
- 2. TÔN GIẢ ĐẠI CA DIẾP
- 3. TÔN GIẢ ĐẠI CA DIẾP
- 4. TÔN GIẢ ĐẠI CA DIẾP
- 5. II. XUẤT GIA - CHỨNG ĐẠO
- 6. II. XUẤT GIA - CHỨNG ĐẠO
- 7. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 8. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 9. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 10. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 11. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 12. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 13. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 14. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 15. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 16. III. CÔNG HẠNH - ĐỨC HẠNH
- 17. VI. Ý NGHĨA ĐỘ MỆNH
- 18. VI. Ý NGHĨA ĐỘ MỆNH