ĐA VĂN Đạo Phật có ba ngôi Tam Bảo: Phật, Pháp, Tăng. Ba ngôi Tam Bảo là ba điều quý báu, là ánh sáng vi diệu dẫn dắt chúng sinh vượt thoát vòng xoáy của luân hồi. Đảnh lễ Đức Phật, Đức Bổn Sư, Đấng Từ Bi vô hạn với trọn lòng thiết tha tôn kính là công đức lành vượt bậc trên đời. Đảnh lễ chư Tăng, những vị xuất gia tu hành chân chính là nhân lành để tìm được đường đi V. KẾT LUẬN Cả cuộc đời thánh thiện mang lại lợi lạc cho chúng sinh, mỗi một phút giây hiện diện của Tôn giả A Nan đều là bài học vô giá cho hậu thế noi theo. Từ cách Ngài ân cần, tận tụy chăm sóc Thế Tôn đến lòng bi mẫn luôn quan tâm, bao dung tất cả chúng sinh không một ngoại trừ, không một giới hạn. Đến tận những tháng năm cuối cùng khi Thế Tôn đã tuyên bố nhập Niết Bàn, Tôn giả vẫn trung tín ở bên cạnh Thế Tôn như bóng với hình, vẫn cố gắng thưa hỏi những điều khó hiểu trong giáo Pháp để chúng sinh được lợi ích. Giây phút Thế Tôn ngự trên tòa nói những lời cuối cùng, vẫn là Ngài quỳ sát bên, đem trọn tâm hồn để lắng nghe dù hai hàng lệ đã nhòa trên gương mặt. Tương truyền rằng, Tôn giả A Nan còn là vị Tổ thứ hai của Thiền Tông, một nhánh phát triển của Phật giáo đã góp vào những nét vẽ tâm linh cao cả cho nền văn hóa của nhân loại với hàng trăm vị Thiền sư đắc Pháp, hàng nghìn giai thoại và đạo lý độc đáo, cao thượng. Nếu có dịp đến thăm những ngôi cổ tự trên quê VI. Ý NGHĨA ĐỘ MỆNH Tôn giả A Nan là vị Thánh đệ tử A La Hán ưu tú của Đức Phật. Ngài được tôn xưng với danh hiệu Đệ Nhất Đa Văn. Lòng thương kính Phật của Ngài là điều những người con Phật muôn vàn lần xúc động, kính ngưỡng và tu tập theo. Tôn giả là tấm gương sáng trong về hạnh hòa ái, tôn trọng, quý kính tất cả mọi người. Ngài là bậc mô phạm trong hạnh nguyện gieo trồng công đức sâu dày, để lại bài học muôn đời cho những ai quyết tâm đi trên con đường Thánh đạo giải thoát. Tài liệu tham khảo 1. Thích Minh Châu dịch (2012), Trung bộ, Nxb Tôn giáo, Hồ Chí Minh. 2. Thích Minh Châu dịch (2013), Trường bộ, Nxb Tôn giáo, Hồ Chí Minh. 3. Thích Minh Châu dịch (2014), Tương ưng bộ, Nxb Tôn giáo, Hồ Chí Minh. 4. Thích Minh Châu dịch (2015), Tiểu bộ, Nxb Tôn giáo, Hồ Chí Minh. 5. Thích Minh Châu dịch (2015), Tăng chi bộ, Nxb Tôn giáo, Hồ Chí Minh. 6. Thích Tuệ Sỹ (2008), Trường A Hàm, Nxb Phương đông, Hồ Chí Minh. 7. Thích Tuệ Sỹ (2009), Trung A Hàm, Nxb Phương đông, Hồ Chí Minh. 8. Thích Đức Thắng (2010), Tạp A Hàm, Nxb Phương đông, Hồ Chí Minh. 9. Thích Đức Thắng (2011), Tăng nhất A Hàm, Nxb Phương đông, Hồ Chí Minh. 10. Nyanaponika Thera & Hellmuth Hecker (2003), Great Disciples Of The Buddha, Buddhist Publication Societ, USA (dịch bởi Hòa Thượng Kim Triệu và Ban Biên Tập Thích Ca Thiền Viện (2016), Đại Đệ Tử Phật-Bước Thầy Con Theo). 11. Tịnh Vân Pháp Sư (nguyên tác Hán Văn) và Hạnh Cơ dịch (2005), Mười vị đệ tử lớn của Phật, Hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County xuất bản, < https://thuvienhoasen.org/p53a10410/ muoi-vi-de-tu-lon-cua-phat > xem 17/05/2011 12. Bimala Churn Law and with a note by Dr. A. Berriedale Keit (1930), A Summary of the Mahāvastu, Thacker, Spink, & Co, thoát khỏi thân phận phàm phu. Và Pháp là những lời dạy của Đức Phật về chân lý Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, luật Nhân quả công bằng,... Chúng sinh làm thế nào để đảnh lễ Pháp? Có một vị cư sĩ đã từng hỏi Đức Phật như vậy, Thế Tôn hoan hỉ trả lời: “Nếu muốn đảnh lễ Pháp, con hãy đến đảnh lễ A Nan, vị Giám Hộ Pháp Bảo”. Giám hộ nghĩa là người coi sóc, bảo vệ cho chánh Pháp được trường tồn. Thật như vậy, ngay kể từ lúc chưa chính thức làm Thị giả cho Đức Phật, Tôn giả A Nan đã thực hiện hạnh nguyện là một vị giám hộ Pháp Bảo đúng nghĩa. Ngài thường đi theo Thế Tôn để được lắng nghe nhiều lời dạy bảo. Với khả năng ghi nhớ phi thường, mọi điều dù chỉ nghe qua một lần đều được Tôn giả khắc tạc trong tâm không sót một từ. Vậy là cứ mỗi buổi chiều đến, Tăng chúng lại ngồi quây quần bên Ngài để ôn lại những bài Pháp của Thế Tôn. Trong không khí vừa trang nghiêm vừa thân tình, Tôn giả A Nan tuyên đọc trước, đại chúng hòa cùng tụng lại sau. Những lời đạo lý được nhắc lại với đầy đủ ngữ nghĩa và âm điệu như lúc Thế Tôn thuyết giảng cứ thế ngân nga trong buổi chiều ấm áp. Sau này khi được làm Thị giả thân tín ở bên cạnh Thế Tôn, Ngài lại khéo thưa hỏi Thế Tôn về giáo Pháp, luật Nhân quả, thiền định, nhân duyên của chúng sinh... để từ đó giáo Pháp của Đức Bổn Sư đã được tuyên thuyết lên với những chân lý có giá trị muôn đời. Có đôi lần, Thế Tôn mỉm cười tạo cơ duyên mở đầu một bài Pháp thoại khi đi ngang nơi nào đó. Biết bậc Toàn Giác mỉm cười là có nguyên do, Tôn giả hiểu ý và thưa hỏi, nhiều lần khác Ngài lại chủ động hỏi thưa. Vì vậy mà đã có rất nhiều bài Pháp vi diệu mở đầu bằng những câu hỏi của Tôn giả A Nan dành cho Đức Phật. Đức Thế Tôn đã nhiều lần tán thán Tôn giả A Nan thế này: - Trong các đệ tử Tỳ kheo biết uyên thâm giáo Pháp do được nghe nhiều lời dạy của Như Lai, đệ nhất là A Nan. - Trong các đệ tử Tỳ kheo có trí nhớ trung thực và bền lâu, đệ nhất là A Nan. - Trong các đệ tử Tỳ kheo có khả năng lãnh hội được những trình tự và liên kết chặt chẽ của các thời Pháp, đệ nhất là A Nan. Tức là Tôn giả có khả năng ghi nhớ vô cùng nhanh và chính xác. Ngài cũng hiểu uyên thâm lời dạy của Thế Tôn và tài biện luận tài tình hợp lý. Những khi Tôn giả A Nan đang thuyết Pháp mà các vị Tỳ kheo đặt câu hỏi, Ngài sẽ nhắc lại từng từ từng đoạn trong lời dạy của Thế Tôn để giải đáp những thắc mắc ấy, rồi lại quay về bài giảng trôi chảy như chưa hề có sự gián đoạn nào. Với khả năng ấy, thậm chí dù chưa chứng A La Hán nhưng Ngài đã nhiều lần thuyết Pháp khiến các vị Tỳ kheo khác chứng được Thánh quả tuyệt đối trước Ngài. Công hạnh xuất sắc đặc biệt của Ngài là công đức gieo trồng từ nhiều kiếp. Tôn giả luôn cố gắng hiểu chính xác và cặn kẽ từng ý nghĩa, tầm quan trọng, cũng như tất cả hàm ý sâu xa trong những lời Pháp Bảo. Cũng trong một kiếp xưa, Tôn giả khi ấy là một vị trưởng giả giàu có nhưng luôn tín tâm với Tam Bảo, thường cúng dường kinh sách và bảo trợ cho các vị Tăng sĩ cầu đạo được học hành chu đáo. Nhờ vậy mà đời này Ngài thành tựu trí tuệ phi thường. Thế Tôn khen rằng: “A Nan vẫn còn trên đường tu học để chứng đắc Thánh quả cao nhất, nhưng không dễ gì tìm được người có trí tuệ ngang bằng”. Vị “Giám Hộ Pháp Bảo” không đơn thuần chỉ là người ghi nhớ lại những bài kinh màu nhiệm của Đức Phật mà còn gánh trên vai cả trọng trách lưu giữ những lời đạo lý ấy tồn tại mãi cho hậu thế. Điều đó được đánh dấu bởi sự kiện trọng đại: “Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ nhất”. Sau khi Thế Tôn nhập Niết Bàn không lâu, Tôn giả Đại Ca Diếp (Maha Kassapa) triệu tập hội đồng gồm năm trăm vị Trưởng lão với nhiệm vụ kết tập lại những lời dạy của Thế Tôn thành Kinh và Luật để bảo tồn được nguyên vẹn. Tất cả những vị Tỳ kheo được tham dự đều phải có điều kiện là đã chứng đạt Thánh quả A La Hán tối thượng. Tôn giả A Nan khi ấy mới đang là bậc Dự Lưu. Nhưng Ngài lại là vị ghi nhớ được nhiều nhất, chính xác nhất và thâm hiểu giáo Pháp nhất. Suốt hai mươi lăm năm hầu cận Thế Tôn, Ngài đã luôn cần mẫn và tận tụy, đến mức tấm lòng của Tôn giả hướng về Thế Tôn gần như chiếm trọn tâm trí mọi lúc, vì vậy mà công phu tu tập của bản thân Ngài phải nhường sau. Thế Tôn cũng có lần tiết lộ công hạnh đặc biệt của một vị Thị giả là sẽ phải chứng A La Hán sau khi các Đức Phật đã nhập diệt. Đứng trước tình huống ấy, Trưởng lão Đại Ca Diếp ra điều kiện rằng: “Tôn giả A Nan phải chứng được A La Hán!”. Sau đó, Trưởng lão cùng các vị Tỳ kheo khác bay vào trong hang động trên núi Kỳ Xà Quật, dùng thần lực lấp cửa hang lại. Cả năm trăm vị ngồi nhập định bất động để chờ Tôn giả. Đêm đó, Tôn giả A Nan nỗ lực ráo riết để tu tập. Ngài hết tinh tấn tọa thiền rồi lại đi kinh hành liên tục suốt đêm. Lòng thương kính với Thế Tôn cứ dạt dào dâng ngập tâm hồn không cho phép Tôn giả lơi lỏng bất kỳ một sát na nào. Đến rạng sáng, khi cơ thể đã quá mệt Ngài mới toan ngả lưng nằm nghỉ. Ngay khoảnh khắc vừa nghiêng mình, đầu chưa chạm tay gối, Tôn giả hoát nhiên bừng ngộ, hào quang trí tuệ sáng rực rỡ xóa tan màn đêm vô minh, Ngài đắc thành đạo quả A La Hán tối thượng. Hôm sau, Tôn giả đĩnh đạc đi xuyên qua vách núi vào ngồi vị trí của mình trong hang động. Ngài trùng tuyên lại lời dạy của Thế Tôn, kể lại chi tiết nguyên do, tình huống của các bài Kinh ấy trong suốt mấy chục năm không sót một từ, dõng dạc và trọn vẹn ý nghĩa. Khung cảnh lúc bấy giờ thật thiêng liêng và xúc động, giọng của Ngài vang rền trong hang động, vang mãi... hương thân yêu, chúng ta sẽ được chiêm bái ngôi Tam Bảo vô cùng trang nghiêm với Đức Bổn Sư Thích Ca tọa ở giữa, bên phải là Trưởng lão Đại Ca Diếp và bên trái chính là hình ảnh của Tôn giả A Nan vẫn đang mỉm cười, cầm cuốn kinh trên tay, nhu thuận lắng nghe những lời dạy bảo của Thế Tôn. Không có những công hạnh vĩ đại của Tôn giả A Nan, chúng ta không hình dung được Phật giáo ngày nay ra sao. Mỗi khi cầm trang kinh lên tụng đọc, hương thơm đức hạnh của của Ngài lại bung tỏa ngạt ngào thanh khiết. Tên của Ngài lấp lánh trong sử Phật, lời của Ngài làm đẹp trang kinh, để mãi mãi về sau những câu tụng thiêng liêng sẽ còn được ngân nga trong mái chùa thân thương: “Tôi từng nghe kể như vậy, một thời...” Calcutta and Simla. (Kinh Đại Sự) 13. Minh Đức Triều Tâm Ảnh (Thư Viện Hoa Sen chuyển qua định dạng sách ebook PDF từ nguyên bản ngày 21/2/2014), Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt, Nxb Văn học. 14. Thích Chân Quang (2011), Truyện tranh Đỉnh Núi Tuyết tập 6, Nxb Tôn giáo, Hồ Chí Minh. 15. Thích Chân Quang (2011), Truyện tranh Đỉnh Núi Tuyết tập 7 , Nxb Tôn giáo, Hồ Chí Minh. 16. Thích Chân Quang (2016), Truyện tranh Đỉnh Núi Tuyết tập 13, Nxb Tôn giáo, Hồ Chí Minh. 17. Thích Chân Quang (2014), Truyện tranh Đỉnh Núi Tuyết tập 17, Nxb Tôn giáo, Hồ Chí Minh. 18. Thích Chân Quang (2014), Truyện tranh Đỉnh Núi Tuyết tập 18, Nxb Tôn giáo, Hồ Chí Minh. Tôn giả vừa hầu cận Phật, vừa làm lợi ích chúng sinh, vừa nghe nhiều học rộng. Những cái tích lũy đó đã đưa đến đỉnh cao chứng ngộ khi cơ duyên đầy đủ. Khi một người muốn tu tập để được giải thoát giác ngộ, nếu họ không đủ những công đức cần thiết, họ sẽ gặp nhiều trắc trở nơi nội tâm và ngoại cảnh. Nếu có một giai đoạn công quả tác thành công đức, sự tu tập sẽ dễ dàng hơn về sau. Công quả ấy là sự hầu hạ những bậc Trưởng thượng, quên mình phụng sự cho đại chúng, ủng hộ những Phật sự của vị khác, nghiên cứu học hỏi kinh luận... Công đức vị tha chân thật đã khiến một người tìm thấy chân lý. Khi nào cần phải gây tạo công đức, chúng ta hãy làm hết sức mình. Rồi đến khi nào cần phải tu tập, hãy tu tập quyết liệt. Nhưng sự tu hành phải luôn luôn có mặt trong bất cứ phút giây nào của cuộc sống dù đó là giai đoạn đầu cần phải gây tạo công đức. Khi thờ kính Tôn giả A Nan, quý Phật tử sẽ: - Ý chí quyết tâm hoàn thành mọi công việc, uy tín tăng trưởng. - Thành tựu tâm từ bi, ái hòa, mọi người đều kính nể. - Thành tựu lòng tôn kính Phật đến tuyệt đối, gieo nhân lành bước vào ngôi nhà Thánh nhân. - Thành tựu nhiều cơ hội phụng sự, cống hiến, tăng trưởng công đức và hạnh nguyện sâu dày. 22

Thánh Độ Mệnh
05. Tôn giả A Nan
IV. NGƯỜI GIÁM HỘ PHÁP BẢO - ĐỆ NHẤT
Thích Chân Quang
Đọc sách: 05. Tôn giả A Nan — Thiền Tôn Phật Quang
- 1. NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI
- 2. TÔN GIẢ A NAN
- 3. TÔN GIẢ A NAN
- 4. TÔN GIẢ A NAN
- 5. I. XUẤT THÂN – NHÂN DUYÊN CHỨNG ĐẠO
- 6. I. XUẤT THÂN – NHÂN DUYÊN CHỨNG ĐẠO
- 7. II. NGƯỜI THỊ GIẢ TRUNG THÀNH
- 8. II. NGƯỜI THỊ GIẢ TRUNG THÀNH
- 9. II. NGƯỜI THỊ GIẢ TRUNG THÀNH
- 10. II. NGƯỜI THỊ GIẢ TRUNG THÀNH
- 11. II. NGƯỜI THỊ GIẢ TRUNG THÀNH
- 12. II. NGƯỜI THỊ GIẢ TRUNG THÀNH
- 13. II. NGƯỜI THỊ GIẢ TRUNG THÀNH
- 14. II. NGƯỜI THỊ GIẢ TRUNG THÀNH
- 15. II. NGƯỜI THỊ GIẢ TRUNG THÀNH
- 16. II. NGƯỜI THỊ GIẢ TRUNG THÀNH
- 17. IV. NGƯỜI GIÁM HỘ PHÁP BẢO - ĐỆ NHẤT
- 18. IV. NGƯỜI GIÁM HỘ PHÁP BẢO - ĐỆ NHẤT
- 19. IV. NGƯỜI GIÁM HỘ PHÁP BẢO - ĐỆ NHẤT
- 20. IV. NGƯỜI GIÁM HỘ PHÁP BẢO - ĐỆ NHẤT
- 21. IV. NGƯỜI GIÁM HỘ PHÁP BẢO - ĐỆ NHẤT
- 22. IV. NGƯỜI GIÁM HỘ PHÁP BẢO - ĐỆ NHẤT
- 23. IV. NGƯỜI GIÁM HỘ PHÁP BẢO - ĐỆ NHẤT
- 24. IV. NGƯỜI GIÁM HỘ PHÁP BẢO - ĐỆ NHẤT
- 25. IV. NGƯỜI GIÁM HỘ PHÁP BẢO - ĐỆ NHẤT
- 26. IV. NGƯỜI GIÁM HỘ PHÁP BẢO - ĐỆ NHẤT