Trong đạo Phật, chuyện thần thông không phải xa lạ cũng không phải huyễn hoặc. Một vị khi đắc Thánh quả A La Hán thì cũng đồng thời thành tựu được “Tam Minh, Lục Thông”, tức là sáu phép thần thông diệu dụng. Và trên con đường chứng dần các tầng bậc thiền định thì thần thông cũng dần dần hiện ra như một điều tự nhiên. Thế nhưng trong thời Đức Phật, Ngài cấm các đệ tử sử dụng thần thông bừa bãi vì lý do đó không phải là mục đích của việc tu hành. Chỉ có duy nhất Tôn giả Mục Kiền Liên, không những được phép sử dụng mà Đức Phật còn tán thán là “Thần Thông Đệ Nhất”. Bởi vì đó chính là nhân duyên và hạnh nguyện của Ngài. Trong nhiều kiếp xưa, Tôn giả đã mạnh mẽ xông vào các tình thế nguy hiểm để cứu người, rồi khi có được những khả năng đặc biệt Ngài lại âm thầm sử dụng vào mục đích giáo hóa độ sinh chứ không chút mảy may khoe khoang hay thể III. THƯỢNG THỦ TĂNG ĐOÀN Một tuần sau khi xuất gia, Tôn giả Mục Kiền Liên đắc thành đạo quả A La Hán. Đúng một tuần nữa, Tôn giả Xá Lợi Phất cũng chứng đạt sự giác ngộ tuyệt đối. Hai Ngài cùng đến quỳ xuống dưới chân Đức Bổn Sư. Nhân duyên nhiều kiếp đã đến, Đức Phật cho gọi tất cả các Tỳ kheo tập hợp về tinh xá. Khi hội chúng đã có mặt đầy đủ và trang nghiêm, Người mới tuyên bố rằng: “Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đã trở thành những vị Thánh giải thoát viên mãn. Cả hai đã nhiều đời nhiều kiếp phát nguyện để được phụ giúp Như Lai. Nên từ nay, Như Lai giao quyền thống lĩnh Tăng chúng cho hai vị”. Đó là một sự kiện trọng đại. Ba năm kể từ lần đầu tiên Thế Tôn chuyển bánh xe Pháp tại vườn Lộc Uyển, Tăng đoàn giờ đây đã là một đại chúng đông đảo với hàng ngàn vị Tỳ kheo, cùng rất nhiều các thánh Tăng có uy tín lớn như: Năm anh em Tôn giả Kiều Trần Như (Anna Kondana), Tôn giả Da Xá (Yasa), Trưởng lão Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Uruvela Kassapa)... Việc Thế Tôn chọn ra hai vị Tỳ kheo trẻ tuổi, chỉ vừa mới thọ giới cách đó hai tuần làm Thượng Thủ Tăng đoàn chính là một lời khẳng định về tài năng và đức hạnh hoàn toàn của các vị ấy. Tất cả mọi người đều vui mừng tán thán. Những bậc đã chứng đạo lại càng hoan hỉ hơn vì từ nay đã có người phụ giúp Thế Tôn, để II. HÀNH TRÌNH TÌM CHÂN LÝ Ban đầu, hai vị tu sĩ trẻ tuổi tìm đến đạo sư Bà la môn nổi tiếng thời bấy giờ là San Xà Dạ (Sanjaya). Vị thầy này có tu tập thiền, có đạt được một số năng lực nhất định nên đệ tử của ông cũng rất đông. Tuy nhiên, ông chủ trương lý thuyết mọi điều đều tương đối, không thứ gì chắc chắn. Mọi sự việc đều đúng lúc này nhưng lại sai lúc khác, vì vậy mà hãy sống đừng quan tâm tới bất kỳ điều gì, không tiếc nuối quá khứ chẳng mơ ước tương lai, không cần tìm cầu giải thoát cũng chẳng bận lòng bởi sinh tử. Hai vị tu sĩ trẻ tuổi nhu thuận tu theo dù trong lòng còn ngổn ngang vô số khúc mắc. Chỉ một thời gian ngắn, họ đã vượt qua thầy mình. Đó là lúc họ biết sẽ không còn ở đây lâu nữa. Thế rồi hai vị bắt đầu hành trình du hành trên khắp các nẻo đường khô nóng cháy da cháy thịt của xứ Ấn Độ để tiếp tục tầm sư học đạo. Dẫu cho ước mơ về một ngày được giải thoát, giác ngộ còn mờ mịt, xa xăm nhưng Ngài Mục Kiền Liên và Ngài Xá Lợi Phất vẫn cứ đi đi mãi với đôi chân không biết mỏi mệt. Lần này quay trở về Ma Kiệt Đà, hai vị chia tay nhau với lời nguyện ước: "Ai tìm thấy con đường bất tử trước sẽ lập tức thông báo cho người kia". Tại thời điểm ấy, Đức Phật đã chuyển Pháp luân và cho phép những sứ giả đầu tiên của Như Lai đi truyền bá chánh Pháp. Một hôm Ngài Mục Kiền Liên đang ngồi trầm ngâm thì thấy Ngài Xá Lợi Phất tìm đến với một niềm hân hoan chưa từng có, gương mặt của Ngài Xá Lợi Phất đẹp đẽ lạ kỳ. Ngài cảm nhận được bạn mình đã có một sự thay đổi lớn lao trong tâm hồn. Rồi Ngài Xá Lợi Phất kể về vị Sa môn đã gặp trên phố, về phong thái bình an và tự tại của Ngài. Tôn giả ấy là Assaji, một trong những đệ tử của Đức Thế Tôn Gotama đến từ Sakya. Ngài Mục Kiền Liên như thu hết tâm hồn vào từng lời mà người bạn Xá Lợi Phất đang kể. Khi bài kệ sau đây vừa được đọc dứt lời: Các Pháp do duyên sinh Rồi cũng do duyên diệt Thầy ta Đại Sa Môn Đã tuyên thuyết như thế! Ngài Mục Kiền Liên hốt nhiên cũng thấy tâm trí bừng sáng. Ngài không còn một chút nghi ngờ rằng đây chính là con đường chân lý, là cánh cửa của bầu trời giác ngộ đã mở toang trước mắt. Đó là khoảnh khắc Ngài Mục Kiền Liên chứng đạt quả vị Dự Lưu giống như người bạn của mình, trở thành vị Thánh Tu Đà Hoàn. Niềm hạnh phúc bất ngờ đó thôi thúc hai người bước thật nhanh đến tinh xá Trúc Lâm (Veluvana) để gặp Thế Tôn Gotama, nhưng hai vị biết rằng mình nên đến gặp Đạo sư Sanjaya trước, vì dù sao hai vị cũng từng là đệ tử của ông. Ngài Mục Kiền Liên và Ngài Xá Lợi Phất thiết tha thuyết phục thầy cùng mình tới gặp Đức Thế Tôn. Hai Ngài mong rằng thầy cũng tìm được ánh sáng chân lý. Nhưng thầy Sanjaya lại ham thích danh vọng và lợi dưỡng. Ông từ chối đi cùng hai vị với lý do lớn tuổi hơn Thế Tôn Gotama, hơn nữa ông đang là vị Đạo sư không thể trở xuống làm đệ tử được. Các Ngài vô cùng thất vọng, cả hai quỳ lạy thầy rồi quay lưng bước đi, theo sau là rất đông các môn đệ. Đoàn người chỉ trong thoáng chốc đã đến nơi. Tinh xá Trúc Lâm hiện ra trong vẻ đẹp đơn sơ của khu rừng tre xanh mát. Giữa hội chúng đông đảo nhưng rất trang nghiêm, Đức Phật đang thuyết Pháp. Thấy hai người từ xa Người dừng lại và nói: "Đó là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, thật là đôi bạn phước duyên hoàn hảo. Hãy đến đây với Như Lai". Rồi Phật cho phép hai vị cùng các môn đệ được xuất gia. Tôn giả Mục Kiền Liên chọn một hang động nhỏ trên rặng núi gần làng Kalavala chuyên tu thiền định. Nhưng khi Ngài dụng công, những cơn hôn trầm liên tục tìm đến làm trở ngại công phu. Đức Phật quan sát thấy liền dùng thần lực hiện ra trước mặt Ngài, đọc lên bài kệ: Ai diệt được si ám Của nhiều kiếp trầm luân Thoát khỏi lưới Ác ma Ta gọi là chiến thắng. Ngài chợt bừng tỉnh và hốt nhiên chứng đạo. Kể từ đây, có thêm một vị Thánh giác ngộ giữa thế gian này. Ngài sẽ dùng thần thông quảng đại của mình để mang lại những lợi ích lớn lao cho chúng sinh. Thế Tôn có thêm thời gian cho việc giáo hóa độ sinh. Dưới sự lãnh đạo của hai vị, Tăng đoàn ngày càng phát triển lớn mạnh, dân chúng từ khắp mọi miền đổ về nghe Phật thuyết Pháp ngày càng đông. Những đoàn người từ xa muốn ở lại tinh xá, những vị tu hành tầm đạo, những vua quan muốn được gặp để vấn an thưa hỏi Thế Tôn, những gia chủ đang chờ để được thỉnh chư Tăng về nhà cúng dường... tất cả đều được chào đón và chăm sóc không một điều sơ suất. Nơi sinh hoạt của đại chúng cũng đầy đủ tiện nghi, thuận lợi. Từng ngôi am tre nhỏ làm nơi tu hành yên tĩnh, những khu giảng đường thoáng rộng, dãy bàn ghế đá để các vị Tỳ kheo đàm luận đạo lý, từng lối đi, hàng rào, bờ cây cũng được sắp xếp trong một bức tranh cân đối. Các vật dụng cá nhân luôn luôn sẵn sàng. Khi một vị Tỳ kheo thiếu chăn mền hay tấm y bị rách, vị ấy chỉ cần báo lại là sẽ ngay lập tức được cung cấp. Hoặc khi vị ấy muốn có một khoảng thời gian tinh cần chuyên sâu, sẽ có những vị khác đi khất thực và san sẻ thức ăn. Những khi có vị Tỳ kheo bị ốm, hai Ngài luôn hỏi thăm và sắp người chăm sóc. Những vị tân Tỳ kheo thì dễ gặp phải nhiều khó khăn trong đời sống khi mới xuất gia, rồi tâm lý của từng vị trong cả đại chúng lớn ấy đều được quan tâm tận tình và tinh tế. Sự bảo ban và chăm nom vừa thiêng liêng lại vừa gần gũi còn hơn cả thân quyến trong nhà. Các Ngài như người anh, người bạn đồng tu hết mực yêu thương trân quý huynh đệ của mình. Tăng đoàn cứ như thế mà ổn định và phát triển. Các vị Tỳ kheo vì chuyên chú vào sự học tập và tu hành cho rốt ráo mà nhiều khi không để ý đến những công đức tận tụy âm thầm của hai vị Thượng Thủ. Chỉ có Thế Tôn là người thấu hiểu tất cả. Người đã nhiều lần khen ngợi hai Ngài trong các bài Pháp: “Các Đức Phật thời quá khứ đều có hai vị hiền sĩ đệ nhất ở bên, hai vị hiền sĩ đệ nhất của Như Lai chính là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên”. Một bên đầy thông tuệ, uyển chuyển, tinh tế, cả cuộc đời chưa từng làm phiền lòng bất kỳ ai. Người còn lại thì năng lực phi thường, là hiện thân của đức tính nghiêm nghị, đưa chúng Tăng vào nề nếp ổn định. Tôn giả Mục Kiền Liên như một vị Hộ Pháp cứng rắn. Hình ảnh của Ngài khiến kẻ xấu ác không dám làm quấy, những lời dạy răn nhắc nhở của Ngài giúp các Tỳ kheo luôn ý thức giữ sự tu hành nghiêm túc. Ngài thường cương trực mà bày tỏ những quan điểm của giáo đoàn với những nhóm ngoại đạo khác, cũng như thẳng thắn chỉ lỗi khi các vị còn mắc sơ suất. Ngài bảo vệ chúng Tăng khỏi những âm mưu chia rẽ, xây dựng cho đại chúng một môi trường hòa thuận như nước với sữa. Một lần Tôn giả Xá Lợi Phất bị nói xấu, Ngài lập tức triệu tập chúng Tăng để làm rõ tới cùng. Lần khác Ngài nghiêm khắc trục xuất nhóm sáu Tỳ kheo bất phục thiện. Thậm chí khi Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) ly khai lôi cuốn theo rất nhiều Tỳ kheo, cũng chính là Tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên tới thuyết phục, tuyên giảng về sự vĩ đại của Đức Thế Tôn là bậc Thánh cao cả nhất trong vũ trụ, mở mắt cho những người đã tin tưởng mù quáng và đưa họ về với chánh Pháp. hiện. Vì thế, khi chứng đắc Thánh quả A La Hán thì Tôn giả cũng đồng thời thành tựu được dũng lực và thần thông biến hóa chấn động Thiên hà. Khi Đức Phật lên cõi trời Đao Lợi trong ba tháng để hóa độ cho Mẫu thân và các Thiên tử ở đó, Tôn giả chính là cầu nối giữa cõi trời và cõi người để truyền đạt những bài Pháp vô giá của Thế Tôn. Ngài có thể hóa hiện nghìn lâu đài lơ lửng giữa không trung hay có thể nối liền cả ba nghìn thế giới lại trong một vầng sáng. Với năng lực phi phàm, Tôn giả chu du tới khắp các thế giới trong vũ trụ, dễ dàng như một người lực sĩ co hay duỗi cánh tay. Ngài biến mất và ngay lập tức xuất hiện tại các tầng trời, cõi A Tu La, ngạ quỷ, địa ngục. Nghiệp duyên của vô số chúng sinh trong pháp giới đều sáng tỏ trước đạo nhãn thanh tịnh. Oai lực thần thông của Tôn giả vừa rộng khắp, vừa kỳ diệu, nhiếp hóa hết thảy chúng sinh trong chánh Pháp. Kinh Đoạn Tận Ái có ghi, Ngài đã từng dùng một ngón chân cái để làm rung chuyển tòa lâu đài của chư Thiên khi các vị này đắm say hưởng thụ mà quên mất việc tu hành. Lần khác thì có vị Phạm Thiên khởi lên suy nghĩ cao ngạo rằng không có một vị Sa môn hay Bà la môn nào có thể lên đến được cõi giới của ông ta. Quán sát được suy nghĩ sai lầm ấy, Đức Phật cùng các vị đại Tôn giả lần lượt hiện đến, rồi Tôn giả Mục Kiền Liên thuyết Pháp để hóa độ cho ông. Cảm phục trước Tha Tâm Thông, Thiên Nhãn Thông và Thiên Nhĩ Thông của Ngài Mục Kiền Liên, Tôn giả Xá Lợi Phất đã nhiều lần tán thán người huynh đệ thân thiết: “So với năng lực thần thông của Tôn giả, tôi chỉ như một hòn đá nằm ở chân núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya) hùng vĩ mà thôi”. Tôn giả Mục Kiền Liên với sự biết ơn chân thành cũng đáp lại rằng: “Trước Tôn giả, tôi cũng chỉ như một nắm muối nhỏ bên một ghè muối lớn”. Thế rồi, hai bậc long tượng ấy cùng hoan hỷ mỉm cười trong tấm lòng kính mến nhau. 12

Thánh Độ Mệnh
02. Tôn giả Mục Kiền Liên
IV. THẦN THÔNG ĐỆ NHẤT
Thích Chân Quang
Đọc sách: 02. Tôn giả Mục Kiền Liên — Thiền Tôn Phật Quang
- 1. (MAHA MOGGALLANA)
- 2. NHÀ XUẤT BẢN THẾ GIỚI
- 3. I. THỜI THƠ ẤU
- 4. I. THỜI THƠ ẤU
- 5. II. HÀNH TRÌNH TÌM CHÂN LÝ
- 6. II. HÀNH TRÌNH TÌM CHÂN LÝ
- 7. II. HÀNH TRÌNH TÌM CHÂN LÝ
- 8. II. HÀNH TRÌNH TÌM CHÂN LÝ
- 9. III. THƯỢNG THỦ TĂNG ĐOÀN
- 10. III. THƯỢNG THỦ TĂNG ĐOÀN
- 11. IV. THẦN THÔNG ĐỆ NHẤT
- 12. IV. THẦN THÔNG ĐỆ NHẤT
- 13. IV. THẦN THÔNG ĐỆ NHẤT
- 14. V. VỊ THÁNH ĐỆ TỬ ƯU TÚ CỦA PHẬT
- 15. VI. Ý NGHĨA ĐỘ MỆNH
- 16. VI. Ý NGHĨA ĐỘ MỆNH
- 17. VII. THƠ TỤNG
- 18. VII. THƠ TỤNG
- 19. MỤC LỤC