Trong đạo Phật có một trí tuệ cao tột, đó là trí tuệ vô ngã. Chúng ta tu tập rất nhiều nhưng cuối cùng cũng hướng đến vô ngã. Có thể đang nhiếp tâm trong thiền định, tâm chúng ta sẽ được định. Nhưng phải nhớ một điều, chúng ta dùng cái định này để đi đến vô ngã, không còn thấy mình nữa. Càng hướng về vô ngã bằng thiền định, tâm tự nhiên sẽ chan hòa với mọi người, mọi vật. Chúng ta đừng bao giờ tự nhận mình đã giác ngộ, đã có trí tuệ, đã thành tựu, đã có sở đắc. Đây là điều nguy hiểm của một người tu thiền.
Thông thường, khi dụng công có kết quả, chúng ta hay nghĩ đến trí tuệ, thần thông, năng lực, và thấy giá trị của mình tăng lên. Khi đã nhiếp tâm vào định, hàng loạt những ý niệm bí mật ấy nảy sinh. Và chính những điều này đã làm cho định mất, hoặc làm cho ngã chấp tăng lên. Do vậy, một điều quan trọng chúng ta phải nhớ là khi tâm vừa vào được định, chúng ta vẫn nghĩ mình chưa đạt đến cái cần đến và nguyện buông bỏ hết mọi điều khác để hướng đến vô ngã. Phải tâm nguyện như vậy, chúng ta mới không bị cảm giác của cái định lừa.
Khi đi đến vô ngã, tâm chúng ta tự nhiên sẽ chan hòa với mọi người, mọi vật. Đây là một điều không có lý luận, không cần giải thích. Từ đầu, chúng ta đi tìm sự hòa hợp trên lý luận, giải thích vì sao chúng ta phải sống hòa hợp thương yêu nhau. Nhưng nếu một người vào được định và hướng về vô ngã thì không cần nói một lời nào, tâm vẫn tự nhiên chan hòa với mọi người. Trước khi chưa có định, chúng ta thấy tâm mình chỉ ở trong đầu mình thôi. Nhưng khi đã có định, chúng ta lại thấy mọi người ở ngay trong tâm mình và lòng thương yêu, sự hòa thuận tự nhiên lan tỏa. Đó chính là giá trị của định, mà phải là định hướng về vô ngã.
Ngược lại, người có định mà chỉ nghĩ đến những sự sai biệt với người khác, chấp ngã sẽ tăng lên, lại cách biệt với mọi người và càng rời xa vô ngã, vô ngã giúp chúng ta tìm thấy được sự tương đồng, còn chấp ngã khiến chúng ta tìm thấy sự sai biệt. Hiểu như vậy, mỗi người chúng ta cố gắng tu tập thiền định, siêng năng tinh tấn đến khi nào tâm chan hòa với mọi người, mọi vật. Dù không nói nhưng sự hòa hợp thương yêu trong chúng ta vẫn lan tỏa, vẫn tràn đầy với mọi người.
Trong Tiểu Kinh Rừng Sừng Bò, câu chuyện ba Tôn giả Anuruddha, Nadiya và Kimbila sống đời sống thanh tịnh hòa hợp được giới thiệu và tán thán. Đức Phật ấn chứng rằng, ai nghe đến tên của ba Tôn giả Alahán sống hòa hợp này sẽ được nhiều công đức lành. Khi Đức Phật đến thăm ba vị Tôn giả, Ngài hỏi:
- Các ông có thể sống hòa thuận với nhau được hay chăng?
Các Tôn giả trả lời:
- Chúng con sống với nhau hòa thuận như nước hòa với sữa. Đức Phật lại hỏi:
- Làm thế nào các ông sống được như vậy?
- Kính Bạch Đức Thế Tôn! Vì con không sống bằng tâm của con mà con sống bằng tâm của huynh đệ con.
Câu trả lời thật tuyệt vời! Trước thời Đức Phật chưa có câu trả lời này và vĩnh viễn đời sau không có câu trả lời hay hơn nữa. “Con không sống bằng tâm con mà con sống bằng tâm của huynh đệ con”. Sở dĩ các Tôn giả ấy sống hòa hợp một cách tuyệt vời như vậy vì họ sống bằng tâm của huynh đệ mình. Một khi thân khác nhau nhưng tâm vẫn tương đồng, họ sẽ nhìn nhau bằng ánh mắt thiện cảm, sống vui vẻ bên nhau, không tranh cãi hơn thua. Đó là một điều tuyệt đẹp trong cuộc sống. Chỉ trong đạo Phật, những vị chứng được cái vô ngã của Alahán mới có thể nói được như vậy, mới có thể sống được cuộc đời như vậy.
Là đệ tử Phật, chúng ta cần phải hướng đến điều này để sống hòa hợp với mọi người. Nghĩa là dù chưa đạt được Alahán, chưa đạt được Vô ngã nhưng nếu cố gắng bỏ ý riêng của mình để sống theo tâm ý của huynh đệ, chúng ta cũng gieo được nhân để đạt được vô ngã, đạt được Thánh vị Alahán. Hằng ngày, huynh đệ muốn làm việc gì có ích, chúng ta nên cùng làm với họ. Nghĩa là chúng ta sống hòa thuận theo huynh đệ, không còn cái gì của riêng mình nữa, nhất là về ý kiến, về tư tưởng. Tất nhiên, đạo lý phải thống nhất, không thể sai. Khi huynh đệ đi sai đạo lý, chúng ta kiên quyết không theo. Đạt được như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ có một cuộc sống hòa thuận tuyệt đẹp với mọi người.
