“Ai làm chủ giáo dục người đó có thể thay đổi thế giới.” – Gottfried Leibniz
Chúng ta ai cũng biết tầm quan trọng của nền giáo dục từ ngàn xưa đến nay, bao gồm giáo dục con người, giáo dục nhân cách và tri thức, điều này ảnh hưởng vô cùng to lớn đến tương lai của không chỉ cá nhân đó mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của đất nước. Giáo dục không còn là việc của riêng ai mà là công việc của toàn xã hội, từ gia đình, trường học trong việc tạo nên nhân cách và thói quen của con người.
Trong đời sống xã hội, giáo dục là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại. Con người được trang bị bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, giáo dục giữ vai trò cốt tử đối với mỗi quốc gia, phát triển giáo dục phải đi trước phát triển kinh tế.
Giáo dục không chỉ là học tiểu học – trung học – đại học mà còn là những bài học thiết thực từ cuộc sống. Mỗi quốc gia khác nhau thì có những nét đặc trưng khác nhau trong cách giáo dục cho các thế hệ tiếp nối. Chính điều đó đã tạo nên sự đa dạng và phát triển cho thế giới này. Bạn có bao giờ thắc mắc tại sao có nước thì hùng mạnh nước thì không, tại sao có những con người thích tạo ra cái mới còn những người khác lại chỉ thích ngồi đợi những cái mới ấy? Tại sao có người coi sách như vàng còn những người khác lại coi sách là thứ chỉ để bán đồng nát? Phải chăng tất cả đều bắt nguồn từ những suy nghĩ và nhận thức mà mỗi người đều mang sẵn trong đầu. Và nhận thức đó từ đâu mà có? Phải chăng tất cả từ sự giáo dục, dạy dỗ mà họ nhận được và luôn mang theo bên mình cho tới khi chết đi?
Ngày nay loài người tiến bộ đang khao khát hướng tới một mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đáng kể chất lượng sống cho con người trong sự kết hợp hài hòa giữa điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần, giữa mức sống cao và nếp sống đẹp, vừa an toàn, vừa bền vững cho tất cả mọi người, cho thế hệ ngày nay và muôn đời con cháu mai sau.
ĐỊNH NGHĨA
Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối tượng nào đó, làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đã đặt ra. Theo đó có hệ thống các biện pháp giáo dục và cơ quan giáo dục – giảng dạy.
Trong các loài trên trái đất, loài người có đặc tính truyền thừa kiến thức từ thế hệ trước đến thế hệ sau bằng đường lối giáo dục. Loài vật cũng có sự “giáo dục” ở con vật làm cha mẹ đối với các con của chúng. Như khỉ dạy con cách hái trái, tránh bẫy; lợn mẹ dạy lợn con cách tấn công đối thủ bằng nanh, đầu... Nói chung, dù thông minh nhưng sự “giáo dục” ở thú vật chỉ dừng lại ở chừng mực nào đó. Qua bao nhiêu triệu năm, việc “dạy dỗ” loài vật không vượt xa bản năng của chúng, nghĩa là kết quả của sự truyền thừa giữa các thế hệ chỉ giúp loài vật sống trong môi trường có ăn, tránh được nguy hiểm v.v...
Riêng ở con người, sự thông minh như không có giới hạn và cũng không bị giới hạn nào ràng buộc. Con người luôn luôn tìm tòi, phát minh, do đó nền văn minh của loài người ngày càng phát triển.
Cuộc sống của chúng ta với những tiện nghi ngày nay so với cha ông ngày trước có dễ chịu hơn do tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Với những công trình về xây dựng, y học, đường giao thông, vui chơi giải trí v.v... Sự phát triển của xã hội loài người chính là nhờ thế hệ trước nghiên cứu, phát minh rồi truyền lại thế hệ sau, tạo ra sự kết nối và tích lũy kiến thức bằng đường lối giáo dục. Vì thế, giáo dục có giá trị cực kỳ quan trọng.
Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển vượt trội nhưng không phải ai ai cũng có trình độ để theo kịp và ứng dụng. Khoa học kỹ thuật vẫn vượt lên, vượt lên cho đến một lúc nào đó, có thể sẽ đưa đến khủng hoảng về sự phát triển quá nhanh của khoa học kỹ thuật mà con người phải tìm cách giải quyết.
Chúng ta biết, giáo dục là sự tiếp nối kiến thức của thế hệ trước đến thế hệ sau. Giáo dục định hướng sự tiến bộ của một quốc gia. Giáo dục có tính quyết định tương lai của một quốc gia. Giáo dục có ảnh hưởng đến mọi vấn đề trong xã hội mà trước hết là ảnh hưởng đến kinh tế. Một quốc gia giàu hay nghèo, phát triển hay chậm tiến đều do nền giáo dục của nước đó tốt hay còn yếu kém. Nhìn qua một số nước ở gần, chúng ta thấy được điều đó.
Singapore là một trung tâm tài chính ở vùng Đông Nam Á do nước này dồn nhiều nguồn lực vào giáo dục và đào tạo con người thành nhân tài giúp nước. Dù chỉ là một đảo quốc nhỏ, tài nguyên ít, dân không nhiều so với nước ta nhưng ta thua Singapore về sự giàu có, đời sống, sự tiến bộ.
Nhật Bản thường động đất, tài nguyên không nhiều. Nhưng Nhật Bản có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến do đầu tư rất nhiều vào giáo dục và đào tạo. Nếu so sánh về tài nguyên và các mặt khác với Nhật
Bản, nước ta không thua nhưng ta thua về nhân sự, nghĩa là ta kém xa Nhật Bản về giáo dục. Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan... đều phát triển hơn nước ta. Hay nói cách khác, giáo dục của họ hơn nước ta. Có thể nói vai trò của giáo dục rất quan trọng vì giáo dục đào tạo con người mà con người thì tạo nên và nắm giữ vận mệnh quốc gia.
Giáo dục tốt đưa đến tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển kinh tế, kinh tế lại có ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Xã hội có nhiều tội phạm, người ta thường nghĩ tới biện pháp tăng nhân viên an ninh, xây nhà tù. Nhưng đó chỉ là cách giải quyết phần ngọn. Tại sao chúng ta không chặn ngay từ gốc, từ trong tâm hồn là làm cho con người có đạo đức, sống tốt, không gây tội lỗi? Giáo dục tốt thì ngân sách quốc gia ít phải chi cho việc giải quyết mọi tệ nạn xã hội, cho ngành an ninh trật tự xã hội. Ngược lại, giáo dục kém thì tội phạm nhiều, việc giải quyết hậu quả khó khăn không lường. Hiện nay, tình hình ma túy tràn lan khắp nơi và hậu quả của ma túy ảnh hưởng đến các mặt trong xã hội, gây nên nỗi nhức nhối trong toàn dân mà Nhà nước đang “đau đầu”, tìm mọi cách giải quyết.
Những biểu hiện văn hóa – văn minh của một xã hội cũng từ giáo dục. Khi chúng ta nhìn thấy người ta “tự do” vứt rác trên đường phố thì chúng ta hiểu rằng người dân chưa được giáo dục đến nơi đến chốn. Khi người ta trò chuyện với nhau mà văng tục, chửi thề thoải mái thì cũng lỗi ở giáo dục, ở môi trường giáo dục: gia đình – nhà trường – xã hội. Nếu trẻ em nghe những câu nói, thấy những việc làm của người lớn thiếu giáo dục như vậy thì làm sao chúng ta có được những con ngoan, những trò ngoan vì chúng ta chưa phải là tấm gương cho trẻ... Do trình độ văn hóa của người dân còn thấp kém nên mới có tình trạng đó. Thật đau lòng!
Nền giáo dục tốt mới đưa đến tiến bộ kỹ thuật cao. Nếu đào tạo con người mà kém đạo đức thì dẫn đến đất nước kém về kinh tế. Hiện tại chúng ta vẫn chưa sản xuất được nhiều linh kiện cho ngành công nghệ cao. Đó cũng là lỗi của giáo dục, từ giáo dục.
Triết gia nổi tiếng người Đức, ông Gottfried Leibniz nói rằng: “Ai làm chủ giáo dục người đó có thể thay đổi thế giới”. Ở đây, chúng ta chỉ mới bàn đến nền giáo dục nước ta, cần thay đổi quan điểm nội dung và phương pháp giảng dạy - đào tạo thì hy vọng học sinh, sinh viên nước ta mới theo kịp học sinh, sinh viên các nước phát triển trên thế giới vì người Việt Nam vốn cần cù, thông minh và đầy tiềm năng. Việc đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay đang là mối quan tâm của toàn xã hội. Chọn giáo dục làm khâu đột phá cho phát triển. Chọn giáo dục làm tiền đề, làm xương sống của phát triển bền vững là xác định đúng đắn và khoa học.
ĐẠO ĐỨC VÀ TÀI NĂNG
Trò chuyện với một vài Phật tử, khi nói về tôn giáo, chúng tôi cho rằng đạo Phật thiếu sức mạnh. Phật tử dù là tu sĩ hay cư sĩ còn hời hợt chưa nhiệt tình với đạo. Thiên Chúa giáo, Hồi giáo có sau Phật giáo nhưng tín đồ đông hơn. Các tôn giáo này đặt niềm tin vào Thượng đế. Tín đồ của các tôn giáo này tin một điều là cứ hết lòng làm việc gì đó cho đạo thì được cứu vớt lên thiên đàng. Còn Phật tử chúng ta chỉ tu cho bản thân do chưa hiểu giáo lý Phật-đà, bị những mâu thuẫn giằng co nội tâm.
Thật ra, đạo Phật như viên kim cương có nhiều mặt nhưng các mặt không hề đối lập nhau. Ví dụ, khi được hỏi đạo Phật đi tìm cái gì? Câu trả lời là giải thoát. Giải thoát chỉ là một mặt của đạo Phật, còn mặt kia là gì? Là xông xáo đi vào đời để làm những việc lợi ích cho chúng sanh. Đó là một cuộc sống vị tha. Sống vị tha tức là dấn thân vào đời. Ngược lại, vị kỷ là tách khỏi đời để tìm giải thoát. Cả hai đều là đường đi của đạo Phật.
Giải thoát cho mình? Hay dấn thân vào đời, làm lợi ích cho chúng sanh? Phân vân này đã làm cho người Phật tử “tu” không tới nơi tới chốn. Đó cũng là lý do làm cho đạo Phật yếu. Để tăng sức mạnh của đạo Phật, chúng ta phải hiểu lại rằng giải thoát cho bản thân và sống vị tha, tuy hai nhưng cùng mang một ý nghĩa cao cả. Người muốn đi tìm sự giải thoát, phải sống vị tha. Đây là cái nhân để đưa đến giải thoát. Vì giải thoát là vô ngã (không còn ích kỷ). Người sống trọn vẹn vị tha, chỉ lo cho người khác; phá được ích kỷ là phá được cái nhân chấp ngã, mà phá được chấp ngã là giải thoát. Hiểu được điều đó, chúng ta sẽ không còn mâu thuẫn nội tâm, sẽ sống tận tụy, nhiệt tình với đạo, với chúng sanh. Sống hằng ngày, chúng ta phải lo sinh kế nhưng cũng phải hết lòng vì đạo. Được như vậy đạo Phật sẽ dần dần mạnh hơn lên.
Đức Phật khi xuất gia chỉ đau đáu một điều trong lòng vì con người. Con người còn nhiều đau khổ quá! Sinh ra, con người vật vã với cuộc sống cho đến khi già yếu rồi chết, rồi tái sinh. Vòng luân hồi cứ quay, con người cứ hụp lặn không bao giờ có điểm dừng. Ngài thấy trên cõi đời này, con người dù giàu hay nghèo, vinh hay nhục đều có nỗi khổ như nhau. Và Ngài đi tìm con đường để giải thoát cho mọi người. Chính vì nghĩ tới chúng sanh đã thúc đẩy Ngài xuất gia tu hành. Mục đích của Ngài thật cao cả!
Đức Phật nhắm thẳng tới đích giải thoát vì nỗi khổ đau của chúng sanh, của nhân loại. Là đệ tử Phật, chúng ta cũng phải được như vậy! Từ đây, trong cuộc sống chúng ta, của tất cả đệ tử Phật, mọi ưu tư, lo lắng, suy nghĩ phải vì con người, vì nhân loại, vì chúng sanh. Là đệ tử Phật càng phải thấy trách nhiệm của mình đối với nhân loại, đối với thế giới này nhiều hơn.
Trong những điều chúng ta đã nói không có “đất nước”. Vì sao? Vì những suy nghĩ của đệ tử Phật vượt ra ngoài ranh giới quốc gia, dân tộc; vượt hẳn biên giới của tôn giáo, của giai cấp... Nghĩa là trong tâm chúng ta thương yêu tất cả chúng sanh. (Ở đây, chúng ta chưa dám nói tới vạn loài muôn thú; sự thật chúng ta cũng phải lưu ý). Quan điểm của người con Phật là như vậy nhưng còn tùy ở tài năng, khả năng của từng người có thể làm được điều gì đó nhiều hay ít, có khi cũng chẳng làm được gì. Điều quan trọng là trong tâm mỗi người vẫn cảm thấy luôn luôn có trách nhiệm với thế giới này. Thế giới này vẫn luôn luôn có những vấn đề để chúng ta phải ưu tư, lo lắng.
Nhưng muốn làm điều gì đó tốt đẹp cho mọi người cũng phải tùy thuộc vào cái duyên. Duyên chưa tới hoặc tuổi già sức yếu chỉ còn biết cầu nguyện. Cái tâm cầu nguyện cho thế giới này, tuy âm thầm nhưng cũng là việc làm tốt. Còn những người có tài năng, tuổi còn trẻ, sức học còn nhiều cần nghĩ tới phải làm được điều gì đó cho nhân loại, cho thế giới này. Dù làm được hay chưa làm được điều gì tốt đẹp thì trong trái tim chúng ta phải chứa đựng cả trái đất này, nhân loại này bằng lòng thương yêu và nỗi ưu tư lo lắng. Nếu ưu tư về số phận, về nỗi đau khổ hay hạnh phúc của con người mà chúng ta ít lo lắng, ít quan tâm tới vấn đề giáo dục thì chúng ta vẫn chưa thấy giáo dục là chìa khóa mở vào những cánh cửa khác cho cuộc sống của con người trong xã hội.
Dù là người theo đạo Phật hay không, ai cũng đều mong ước thế giới này bớt đau khổ, sống trong hòa bình, hạnh phúc; niềm mong ước thế giới này ngày càng tiến bộ, văn minh như một nhu cầu tự nhiên và là xu thế thể hiện đức tính cao cả của loài người; chúng ta còn mong ước con người sống có đạo đức và chúng ta biết rằng tất cả những điều mong ước đó có được là do giáo dục mà có. Chúng ta suy tư nhiều về vấn đề giáo dục không có nghĩa là chúng ta sẽ làm được nhiều điều cho nền giáo dục nước nhà. Vì có nhiều Phật tử nghe nói rồi bỏ qua, bởi họ không phải là nhà giáo, là cán bộ giáo dục, mà họ cũng không viết được sách để kêu gọi ai.
Tuy nhiên, khi chúng ta trao đổi, đề cập đến vấn đề giáo dục trên quan điểm của đạo Phật với những người có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục của đất nước; những người này (dù là Phật tử hay không) sẽ đưa quan điểm, đường lối giáo dục mới vào nhà trường giảng dạy thì nền giáo dục sẽ tốt hơn. Từ đó, chúng ta sẽ giáo dục và đào tạo được một thế hệ xây dựng đất nước tốt đẹp theo quan điểm mới.
Thời Đức Phật, việc học đơn giản vì không có phương tiện, không có giấy để viết. Thời đó, viết trên lá bối, trên thẻ tre, trên vỏ cây. Viết một đoạn văn dài tốn nhiều vật liệu nên không ai bỏ công để viết, trừ những văn bản quan trọng do vua chúa, quan lại cần mới viết. Người xưa dạy học bằng cách truyền miệng, có lẽ người xưa có khiếu học thuộc lòng. Thầy ngồi trên cao, đệ tử ngồi thấp hơn một chút. Thầy ngồi xếp bằng, hoặc bán già hay kiết già; học trò ngồi xổm. Thầy đọc một đoạn kinh (Kinh như cuốn sách giáo khoa ngày nay. Đó là một văn bản thiêng liêng của tôn giáo), đệ tử lặp lại. Nếu lặp lại không đúng, thầy nhắc lại, đọc lại. Đệ tử lặp lại cho đến khi thuộc đoạn trước mới học tiếp đoạn khác. Sau đó, học trò muốn hỏi gì cứ hỏi, thầy giải thích theo hiểu biết của ông. Đó là cách ghi chép bằng bộ nhớ chứ không bằng chữ viết. Quan lại, vua chúa hay một số vị Bà La Môn mới dùng chữ viết như viết kinh Vệ Đà...
Trong Tam vô lậu học của đạo Phật có ba môn: Văn, Tư, Tu.
Văn: dịch sát nghĩa là “nghe”, nhưng nghĩa bây giờ là “học” mới đúng.
Tư: suy nghiệm đối chiếu với cuộc sống thực tế.
Tu: thực hành, nếu dịch sát chữ thì không đúng lắm.
Ngày nay, Văn, Tư, Tu hiểu nghĩa chung là học, tư duy, thực hành. Học, trong đó có sự nghe, ghi chép... với đầy đủ phương tiện học tập như nghe, nhìn v.v...
Nghiên cứu về Á Đông ngày xưa, kẻ sĩ được học nhiều về Đức hơn là Tài. Nghĩa là họ học đạo Thánh hiền, học về triết học, học về cách cư xử. Không như bây giờ, học nhiều kiến thức mà ít học đạo đức. Cho nên, ngày xưa kẻ sĩ được coi trọng. Ông cha ta nói:
“Nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ thương”, cho thấy người học trò được coi trọng. Vì người học trò đi học đạo lý Thánh hiền, mặc dù “dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm” (có lẽ lúc đó học trò thường nằm dài trên phản để học). Người ta tôn trọng người học trò về nhân cách, đạo đức, cuộc sống thanh cao.
Rồi khi Khổng Tử xuất hiện, ông giảng dạy đạo lý, nối tiếp đạo Nho. Từ đời ông, những kinh điển thời xưa được dạy sắc bén hơn do sự sáng tạo độc đáo của ông, nhất là Luận ngữ; từ đó phát triển qua nhiều bậc Thánh hiền kế tiếp, kẻ sĩ Á Đông ảnh hưởng như Nhật, Triều Tiên, Việt Nam (các nước xung quanh Trung Hoa). Học đạo Khổng, người ta học được cái đức nhiều hơn cái tài. Thời đó, kiến thức không nhiều, không có các môn toán học, vật lý, hóa học. Người xưa học không phải để làm bác sĩ, kỹ sư mà học để ra làm quan. Cho nên, đi học chỉ học đạo đức, người ta dạy đạo lý, dạy đạo làm người để làm ông quan tốt. Nhưng làm quan để làm gì? Làm quan không chỉ tận tụy phục vụ nhân dân mà còn để giáo dục cho dân biết cách sống.
Ngày xưa, người làm quan cũng là một nhà giáo dục. Còn ngày nay, người làm “quan” là người lãnh đạo tổng quát; còn ngành giáo dục thì có cán bộ giáo dục v.v... Nhiều khi nghĩ đời sống, xã hội ngày xưa tuy đơn giản mà hay: quan có nhiệm vụ dạy dân sống tốt. Ngày nay, không còn khái niệm đó nữa do xã hội phức tạp, cuộc sống đa dạng. Ví dụ, một quan chức lớn lãnh đạo tổng quát, việc giáo dục thuộc ngành giáo dục, có thầy cô giáo lo liệu. Có thể cũng chính vì lý do này mà trong suy nghĩ của các vị đứng đầu không đặt nặng phần trách nhiệm về giáo dục. Đi trên đường phố, khi nhìn có những lối sống thấp kém, chúng tôi nghĩ tại vì “quan” không dạy dân nhưng rồi lại nghĩ “quan” cũng có được ai dạy đâu để biết mà dạy lại dân. Do trình độ của cán bộ còn thấp, tầm nhìn không tổng quát nên ảnh hưởng đến hiệu quả lãnh đạo. Vì lẽ đó, Nhà nước có chính sách buộc cán bộ phải có bằng đại học, trên đại học, nên nhiều cán bộ không bằng cấp, hay bằng cấp không đạt yêu cầu công việc cũng ráng học lấy bằng. Họ học rất nhàn mà lại đậu cao, ai cũng đậu bằng này, cấp nọ... Số lượng nhiều mà chất lượng kém. Thật là nguy hiểm! Những “thạc sĩ, tiến sĩ giấy” thật sự làm được gì cho xã hội, cho đất nước? Bởi vậy, chúng ta cố gắng cho con em học giỏi, rèn luyện đạo đức tốt, sống theo quan điểm: làm quan là để dạy dân khi vào đời sau này.
Thời xưa, học thuật phương Tây và phương Đông khác nhau. Có một thời chúng ta bị phương Tây chinh phục là do học thuật, tài năng được giấu theo gia truyền. Những gia đình có tay nghề cao, chỉ truyền nghề trong thân thuộc, không dạy cho người ngoài. Còn phương Tây biết cái gì, sáng chế cái gì là công bố. Phương Tây ngày càng tiến bộ. Khi kỹ thuật cao, họ trở thành thực dân, đế quốc đi chinh phục khắp nơi với súng ống, tàu chiến; người phương Đông bị cảnh nô lệ cả một thời gian dài. (Có phải do sự sai lầm từ ngàn xưa của ông cha mà con cháu phải chịu hậu quả vì cái tâm ích kỷ, hẹp hòi? Do nhân quả từ bao nhiêu năm nên thấy hiện ra quả báo).
Người phương Tây, từ hóa học, vật lý, thiên văn... nếu ai nghiên cứu, phát minh được gì thì họ phổ biến khắp châu Âu. Nhờ vậy, người khác có cơ sở để phát triển tiếp. Do đó, chỉ khoảng một trăm năm sau, nền kinh tế châu Âu phát triển cao nên họ đủ sức chinh phục phần còn lại của thế giới.
(Người Á Đông chỉ vì hẹp hòi, giấu nghề mà con cháu bị nô lệ. Đó là nhân quả. Nghĩ đến nhân quả đó, chúng ta phải ý thức sau này có những phát minh có lợi cho loài người thì không giấu giếm. Nếu tâm chúng ta rộng rãi thì con cháu chúng ta được hưởng lợi từ những điều tốt. Nếu nghiên cứu, phát minh được gì phục vụ tốt cho con người, chúng ta cứ cho phổ biến dễ dàng, không cần đòi chi phí bản quyền nhiều miễn người sử dụng những nghiên cứu phát minh đó làm lợi ích cho cộng đồng xã hội, làm lợi ích cho nhân loại).
Có một vài Phật tử tốt nghiệp đại học lên thăm chùa, chúng tôi hỏi về đề tài tốt nghiệp, nhận thấy đề tài tương đương một người thợ, chỉ khác là có trình bày thêm về lý thuyết, có con số, có tính toán kết cấu. Thật buồn! Đất nước ta tụt hậu, nghèo hơn các nước khác cũng vì yêu cầu đào tạo quá thấp; kỹ sư nước ta khi qua Mỹ, Pháp phải học lại, vì bằng cấp nước ta không có giá trị bằng nước họ. Đó cũng do giáo dục!
Chúng tôi suy nghĩ điều này có hai lý do:
Thứ nhất, do ảnh hưởng thời Pháp thuộc, dân ta không học cao bằng dân “mẫu quốc” Pháp. Chương trình đại học ở Việt Nam luôn luôn thấp hơn chương trình Pháp. Sự ảnh hưởng Tây học cứ nối tiếp cho tới nay vẫn chưa thoát khỏi, chớ đâu phải dân ta kém thông minh.
Thứ hai, do giáo dục. Những người chỉ đạo giáo dục chưa có tầm nhìn xa, không so sánh với các nước trên thế giới để thấy cái dở, cái khuyết điểm của nền giáo dục nước nhà. So sánh cách giáo dục của ta và của Nhật thì thấy rõ. Trong sách giáo khoa địa lý, lịch sử, học sinh ta được học thế này: nước ta có rừng vàng, biển bạc, nhiều tài nguyên; nhân dân ta thông minh, cần cù, chăm chỉ, anh hùng chiến đấu thắng giặc ngoại xâm v.v... Chỉ toàn là khen. Từ đó, con em chúng ta quen dần thói chủ quan, tự cao. Còn Nhật dạy con em họ là đất nước thiếu tài nguyên, thường xuyên bị thiên tai: động đất, bão lụt. Nếu không cố gắng xây dựng đất nước giàu mạnh thì họ sẽ thua sút với các nước trên thế giới. Như vậy, ngay từ nhỏ con em Nhật đã được học tính cẩn thận, dè dặt, lo xa. Chỉ khởi đầu từ quan điểm giáo dục, phương pháp giáo dục đúng đắn, mà nước Nhật đã trở thành một cường quốc.
Do lối dạy, lối giáo dục không nhìn thấy cái dở, học sinh cứ được dạy cái tư tưởng tự hào, tự cao... Nếu chúng ta, ai cũng chủ quan, cũng tự cao thì nước ta sẽ tụt hậu mãi. Trong việc tu hành cũng vậy, nếu chúng ta chủ quan cho là đã tu khá giỏi thì chúng ta bắt đầu sa đọa. Đây là chỗ cẩn trọng trong đạo Phật. Nhân quả trên bình diện đất nước cũng vậy.
Cái học ở Á Đông ngày xưa chủ yếu là học đạo đức, đạo lý làm người; còn tài năng là của riêng từng gia đình, giấu kỹ, không phổ biến. Do vậy mà thua xa phương Tây về kỹ thuật. Ngày nay ngược lại là một cực đoan khác. Một số nước châu Á, trong đó có Việt Nam, thấy nước ta thua sút các nước về kỹ thuật nên vội vàng dồn tất cả kiến thức, khoa học kỹ thuật mà không chú ý tới giáo dục đạo đức như ngày xưa. Đây lại là sai lầm khác nữa. Sai lầm này như thế nào?
Chúng ta phải hiểu rằng phương Tây tiến bộ là do khởi điểm có đạo đức. Kỹ thuật phương Tây bắt đầu từ đạo đức (tâm rộng rãi, biết được hay phát minh được đều công bố) mà chúng ta không ngờ, cứ tưởng từ kiến thức nảy sinh kiến thức. Để theo kịp họ, chúng ta dồn kiến thức trong giảng dạy. Từng cấp học bị “quá tải” về nội dung giảng dạy, học sinh nắm bắt kiến thức không sâu, do yêu cầu học sinh học toàn môn trong khi học sinh chỉ có thể học giỏi một số môn khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội, hay không có năng khiếu, từ đó dẫn đến việc đánh giá năng lực học sinh thiếu chính xác, thiếu công bằng...
Ngày nay học sinh học quá nhiều. Học ở trường, học ở trung tâm, học kèm, học suốt ngày lẫn đêm. Con trẻ mới học lớp 1 đã thấy nặng nề. Thời trước, trẻ học nhẹ nhàng, vừa học vừa chơi để dưỡng bộ não chuẩn bị lên những lớp cao hơn, lên Trung học nỗ lực học tập đến Đại học, Cao học ...
Ở Nhật đã có nhiều trường hợp tự tử vì chịu không nổi sức ép của việc học hành. Vì sao? Học sinh được cung cấp kiến thức càng nhiều càng tốt, phải học cho nhanh, cho nhiều để theo kịp những phát minh mới. Chính vì suy nghĩ sai lầm nên giáo dục cũng đang gặp khủng hoảng.
Thật ra, tài năng, sự phát triển kỹ thuật khởi điểm từ đạo đức; cho nên phải chú ý giáo dục đạo đức làm nền tảng cho sự phát triển về các mặt. Chỉ cần cho trẻ học tăng giờ đạo đức, cho trẻ hiểu được nhân quả và thực hành làm việc từ thiện. Điều đó, làm tăng sức mạnh tinh thần, nâng cao tâm hồn trẻ. Khi một người có đạo đức, làm được nhiều việc từ thiện thì chính con người đó sẽ phát triển tài năng. Chúng ta cần khẳng định như thế trên bình diện cả nước.
Ngày nay, giáo dục mất cân đối giữa đạo đức và kiến thức. Vì sao? Vì giáo dục trong gia đình lỏng lẻo, cha mẹ không có kinh nghiệm dạy con hoặc không có thời gian dạy con. Vì thế, đến tuổi lập gia đình, phần đông các bạn trẻ thiếu chuẩn bị hoặc không biết làm gì trong thời gian tới. Yêu nhau, lấy nhau, làm sao cho đám cưới thật linh đình. Điều quan trọng là yêu nhau, sống với nhau suốt đời mới thật là khó!
Thêm nữa, là phải biết dạy con nên người, nhưng mấy ai chú ý! Có thể thế hệ cha mẹ không có kiến thức rõ ràng về vấn đề cư xử vợ chồng để dạy con. Cho nên, khi con lập gia đình cha mẹ như không có gì để dạy con, tự con bươn chải. Gia đình lỏng lẻo, thất bại trong hôn nhân khó tránh khỏi! Ở Hàn Quốc, có những lớp học giảng dạy các cô gái trẻ sắp lập gia đình về cách cư xử với chồng, cha mẹ chồng, bà con thân thuộc v.v... vừa theo truyền thống vừa hiện đại phù hợp với đạo lý. Có lẽ nước ta cũng cần có những lớp học như vậy. Chúng tôi có giảng đề tài Đạo Phật trong gia đình và mong ước đề tài này được nối tiếp, mở rộng để tầng lớp trẻ tuổi đều được học. Nếu ở ngoài đời không dạy thì quý Tăng Ni, chúng ta lớn tuổi giàu kinh nghiệm mở lớp dạy, cấp chứng chỉ đàng hoàng. Chúng tôi rất mong giới trẻ cần học cách cư xử vợ chồng, cách nuôi dạy con, học cách quan hệ thân thuộc rồi mới lập gia đình, chứ đừng vội vàng, hấp tấp trong việc xây dựng gia đình mà hỏng cả đời.
Nhà trường chỉ dạy kiến thức, gia đình cũng không dạy đạo đức nhiều; còn vào chùa thì Phật tử học tu giải thoát, vãng sanh cực lạc... cũng không quan tâm tới đạo đức. Đó là những lý do một mảng đạo đức không được dạy nên phần đông thanh thiếu niên thiếu nền tảng đạo đức. Ví dụ, Phật tử thọ Bát Quan Trai: có khi Thầy giảng cao siêu, không hiểu nổi, đạo đức không được nâng lên.
Thật ra, ngày nay đạo Phật cũng như các tôn giáo khác, nhìn chung thường chú ý tới chuyện siêu hình, ít chú ý tới đạo đức căn bản. Đây là một khoảng trống lớn. Do đó, đạo Phật của chúng ta cần chú ý tới điều này. Những tư tưởng về đạo đức trong đạo Phật không thiếu: lòng từ bi, vị tha, khiêm hạ mà một thời gian dài không được khai thác sâu rộng, chỉ nói tới việc tu hành cao siêu. Ngay cả người xuất gia (tu sĩ) trong một thời gian dài cũng không được dạy về đạo đức. Bây giờ, chúng ta cần phải quan tâm đến việc giáo dục đạo đức. Chính vì điều đó nên chúng tôi dạy môn đạo đức cho những người xuất gia. Và không ít Tăng Ni rất ngạc nhiên về điều này. Có lần chúng tôi gặp một sư huynh, chúng tôi nói về đạo đức, ông hỏi đạo đức là gì? Nghe thật buồn! Không biết sao người tu theo đạo Phật chính là tu luyện đạo đức mà khi nghe nói tới đạo đức thì như nghe nói tới cái gì xa lạ. Lần gặp một Sư cô, nghe chúng tôi dạy về đạo đức, Sư cô nói: “Giới là đủ rồi, có tánh giới ở trong”. Chúng tôi không cãi. Nhưng khi nghe giảng, Sư cô mới biết là cả một vấn đề lớn không được chú ý tới.
Rồi có vị Thượng tọa nổi tiếng khi nghe chúng tôi nói về việc dạy đạo đức, môn “Tâm lý đạo đức”, ông nhíu mày vì nghe môn học này lạ quá. Qua đó, chúng ta thấy trong đạo Phật cả một thời gian dài không được nghe nhắc tới đạo đức trong giới xuất gia huống chi cư sĩ tại gia. Đây là điều làm chúng ta đau xót mà nhìn nhận. Phải lập lại từ đầu! Chúng ta chưa cần tu thành Phật, trước hết cần tu luyện đạo đức, đạo làm người cho vững.
Như có câu chuyện về một người ở Long Xuyên: thời trẻ đi học khóa giáo lý, học rất giỏi. Đang học, anh nghe tin cha bệnh nặng, hấp hối. Anh vội vàng xin về. Những vị giảng sư nói: “Con ráng ở lại học!” Anh trả lời: “Thưa Thầy, học khóa này xong mà con thành Phật, con cũng không học tiếp, đợi khóa sau. Con phải gấp lo cho cha”. Mấy vị sư bảo: “Gương người xưa còn sót lại chỉ có anh!”, nghĩa là các vị ngợi khen anh là người con hiếu thảo. Thật vậy, với người xung quanh mà chúng ta lạnh lùng, thờ ơ; chỉ nghĩ đến chuyện cao siêu thì vô lý. Vì thế, ngày nay, đạo Phật phải thay đổi từ người xuất gia đến người tại gia. Phải củng cố và phát triển đạo đức. Có đạo đức, chúng ta mới biết dạy lại con em. Đây cũng là cách lấp vào khoảng trống về đạo đức mà ngành giáo dục chưa quan tâm nhiều.
Trong việc giáo dục, người thầy có nhiệm vụ và trách nhiệm rất lớn, rất quan trọng.
Người Á Đông xưa quan niệm ba ngôi theo thứ tự: Quân – Sư – Phụ. Quân là vua ở vị trí cao nhất điều hành đất nước; rồi tới Sư là thầy, mới tới Phụ là cha. Cha mẹ sinh thành, dưỡng dục con mà không bằng vị trí của người thầy. Thầy truyền bá kiến thức, dạy đạo làm người; xem ra người nuôi dưỡng tinh thần quan trọng hơn người cho ta hình hài này. Quan niệm này cũng giống đạo Phật. Chúng tôi còn nhớ trong một buổi giỗ Hòa thượng (HT) Thiện Hoa, HT. Thanh Từ nguyện hương: Sinh con ra là cha mẹ cho con tấm thân này nhưng thầy mới là người cho con trí tuệ để con biết đường tìm về với giải thoát. Vì cái thân cha mẹ cho này được bao nhiêu năm cũng đến lúc tan hoại. Còn trí tuệ giác ngộ khi đã mở ra rồi thì vĩnh viễn thoát khỏi trầm luân. Chính giá trị tinh thần cao hơn giá trị vật chất.
Nhưng ngày nay, mọi việc có thay đổi. Hình ảnh người thầy (cô) giáo không còn thiêng liêng, cao quý như xưa! Vì sao? Có nhiều nguyên nhân:
Thứ nhất, từ Trung học trở lên người thầy không dạy tất cả các môn học; không dạy đạo đức (trừ giáo viên dạy môn giáo dục công dân nhưng chưa hẳn đã dạy đạo đức cho học sinh), mà giá trị con người lại nằm ở đạo đức.
Thứ hai, nhiều khi học trò bằng thầy, ân nghĩa không còn nhiều; có khi tư cách thầy không đúng đắn làm cho trò không nể như cờ bạc, rượu chè, trai gái, hút sách.
Thứ ba, lương quá thấp, đời sống kinh tế khó khăn, thầy cô phải dạy kèm, dạy thêm, bán bánh kẹo cho học trò, làm thêm những việc khác v.v...
Tất cả vừa do kinh tế và tư cách người thầy, vừa do quan điểm xã hội thay đổi đã làm cho vai trò, vị trí người thầy, người làm công tác giáo dục không còn cao quý. Khi người học trò không tôn kính thầy thì chắc chắn sau này người ấy sẽ không nên người, khó thành công trên đường đời. Đây là nhân quả.
Chúng tôi còn nhớ một chuyện: có anh bạn chăm học để thi đại học. Thi rớt anh cặm cụi luyện thi để thi vào năm tới; thi rớt anh lại luyện thi, lại thi rớt... Những lúc thích chí, anh kể chuyện anh đã chọc phá thầy ngày xưa. Thầy ngồi ở ghế giáo viên, anh bò lòn xuống ghế bạn bè, tới chỗ thầy ngồi, anh dùng đinh bấm ống quần thầy dính vào chân bàn. Thầy muốn đứng lên mà không đứng được, rút chân ra cũng không được ...
Lúc đó, chúng tôi còn nhỏ không có ý kiến gì, chỉ nhớ câu: “Kính thầy mới được làm thầy”. Có lẽ vì không kính thầy nên anh không đậu đại học! Hiện giờ, anh sống cuộc đời tầm thường, không làm được việc gì. Một lần về Sài Gòn, chúng tôi thấy anh thật thê thảm, đạp chiếc xe cũ kỹ, cọc cạch, đằng trước chở đứa con nhỏ. Chúng tôi nghĩ tới nhân quả! Anh gieo “nhân” xấu nên hái “quả” xấu.
“Kính thầy mới được làm thầy”! Mỗi gia đình cần dạy con em kính thầy cô giáo. Có khi các bậc cha mẹ cư xử khiếm nhã với thầy cô làm cho con em bắt chước. Có nhiều trường hợp cha mẹ có chức, có quyền, tuổi lại cao; còn thầy cô giáo còn trẻ tuổi. Khi nói về thầy cô, các bậc phụ huynh trên thường dùng từ “nó” thế này, thế kia... Thế là con em bắt chước, học thói xem thường thầy cô giáo từ cha anh. Không ngờ chính tư tưởng xem thường đó hại con em mình mà không hay. Có thể sau này con em không đạt được những điều mong ước. Đó là nhân quả.
Cho nên, cha mẹ có trách nhiệm nói tốt về thầy cô giáo, biểu lộ lối ứng xử thích hợp, hàm ý nể trọng để con em bắt chước mới nên người. Kính trọng thầy cô giáo biểu hiện đạo đức của người học trò. Thật khó kêu gọi xã hội thay đổi quan điểm. Riêng chúng ta là những đệ tử Phật, biết nhân quả, hãy cố gắng nhắc nhở con em tôn trọng thầy cô giáo. Dù thầy cô giáo có hoàn cảnh nghèo khổ thế nào cũng không được xem thường. “Tôn sư trọng đạo” mới nên người. Mặt khác, chúng ta cũng đòi hỏi thầy cô giáo phải thương yêu học trò, chăm lo cho học trò như con; tự nhiên vị trí của thầy cô giáo trở nên cao cả trong lòng học trò. Thầy thương trò thì trò cũng kính yêu thầy; thầy không thương trò thì trò cũng không thương thầy. Đừng bắt học trò học thêm mới cho điểm nhiều; không học thêm thì không được điểm cao, nếu bắt như vậy, người thầy (cô) tự đánh mất giá trị của mình trong tâm hồn học sinh. Đó là những điều mà các Phật tử đi dạy học phải nhớ.
Theo nhân quả, chúng ta lo việc cho cuộc đời thì tự nhiên cuộc đời sẽ lo lại cho ta theo một cách nào khác rất mầu nhiệm.
Như chùa chúng tôi ở trên núi, không làm ra được tiền. Trồng chuối có trái, thấy ai cũng cho. Chùa có vài chục người, bao nhiêu năm qua chưa bao giờ hết gạo. Ngẫm nghĩ Tam Bảo thật vi diệu. Chúng tôi chỉ có tấm lòng thương yêu con người, cứ tận tụy đi giảng, cứ nghĩ đem chánh pháp đến với mọi người được đến đâu hay đến đó, không nghĩ gì về mình. Vậy mà Phật tử mến thương, giúp đỡ lại. Chúng tôi cứ lo việc Phật Pháp, tự nhiên Phật lo lại chuyện của chúng tôi. Chúng ta làm thầy cũng vậy, cứ lo cho học trò, cứ hy sinh cho nghề nghiệp thì sẽ được no ấm, đầy đủ.
Như câu chuyện của bác Sáu Viên ở Long Xuyên:
Lần đó, bác đi buôn cây cùng các bạn. Trước chuyến đi, bác tuyên bố: “Hôm nay tôi thử sách Thánh hiền để lại có đúng không. Sách có câu: Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhơn, nghĩa là ông Trời không phụ người có lòng tốt. Rồi ông cùng mấy người bạn đi mua cây tràm, bác nhường cho các bạn mua hết cây tốt; chỉ còn lại những cây cong, u nần bác cũng mua. Đoàn ghe chở cây tràm đi bán nối tiếp nhau. Có một ông ngoắc tay hỏi mua cây tràm. Ông khách không mua những cây tràm tốt mà chỉ hỏi mua những cây tràm cong, có u nần trên ghe bác Sáu. Mọi người ngạc nhiên. Bác Sáu hỏi người khách: “ Mắt cụ tỏ không? Người ta mua cây thẳng chứ ai mua cây cong”. Người khách trả lời: “Trứng mà đòi khôn hơn vịt. Tôi mua cây cong để làm cầu mà!” Bác Sáu nghĩ sách xưa nói đúng, bác đã nhường hết thứ tốt cho các bạn mà bác lại bán được giá, bán trước các bạn.
Người thầy (cô) giáo cũng vậy, đừng nghĩ tới chuyện đói, chuyện nghèo; cứ hy sinh cho học trò; vừa dạy kiến thức vừa dạy đạo đức thì giá trị bản thân mới được nâng cao và đời sống sẽ không thiếu thốn; còn nếu cứ lo nghĩ về kinh tế quá nhiều tức là người thầy tự đánh mất mình.
ĐẠO ĐỨC LÀ NHÂN – TÀI NĂNG LÀ QUẢ
Ngày nay, một bộ phận lớp trẻ hư hỏng, bướng bỉnh, khó dạy, ăn chơi sa đọa... Đó là do đạo đức không được củng cố. Không được đề cao khiến cho tội phạm gia tăng, ma túy có điều kiện phát sinh tràn lan. Phải chăng do có sai lầm trong đường lối giáo dục? Mục đích của giáo dục là đào tạo nhân tài cho đất nước. Muốn có nhân tài, nhà trường phải có kế hoạch dạy đạo đức. Chúng ta phải hiểu rằng đạo đức là nhân, tài năng là quả. Vì sao? Ví dụ với một đứa trẻ bình thường, dạy cho em sống đạo đức như dạy lễ phép, dạy giúp đỡ bạn bè, dạy làm việc từ thiện quanh hàng xóm. Khi trẻ ngoan thì kết quả học tập cũng tiến bộ. Đó là sự tương quan giữa các vùng não. Nghĩa là khi vùng não lễ độ, thương yêu, vị tha phát triển, kích thích vùng não thông minh phát triển theo. Sự tương quan giữa các vùng não còn đòi hỏi nhiều khám phá mới của khoa học.
Đứng trên quan điểm đạo Phật nhìn khía cạnh này sẽ rõ hơn. Ví dụ vùng não tự cao hoạt động mạnh mẽ sẽ kích thích vùng não tham sân hoạt động mạnh theo. Cho nên, người nào có tính tự cao trở nên tham lam, nóng nảy, sa đọa. Còn người nào vùng não tự cao yếu thì tính tham lam, nóng nảy, đồi trụy yếu. Hoặc vùng não đạo đức phát triển, những đức tính vị tha, thương người phát triển theo, sức thông minh tăng, sự nhạy bén tăng. Đây là “nhân quả” rất rõ ràng. Vì thế, muốn con em học giỏi chúng ta phải lưu ý đạo đức của các em; chấn chỉnh đạo đức, từ từ các em sẽ học giỏi. Đừng thấy con em học giỏi mà lơ là việc dạy đạo đức; đạo đức xuống thấp thì con em cũng học hành sa sút. Đây là nguyên lý tuyệt đối đúng.
Còn những thiên tài? Đó là sự tích lũy của nhiều kiếp. Đó là nhân quả. Chúng ta đừng nghĩ đời trước học giỏi, đời sau cũng học giỏi; trong nhân quả không có như vậy. Chúng tôi có cô đệ tử tu rất tinh tấn, trong chùa ai cũng quý cô. Khi xuất gia, vào chùa cô không biết chữ. Chúng tôi cho cô học chữ để biết đọc, biết viết. Thấy cô tu tốt, chúng tôi khuyên cô cố gắng học để tăng kiến thức sau này có thể làm việc Phật Pháp. Nhưng cô nói: “Hễ cầm cuốn sách học thì con bị nhức đầu”. Cô khổ sở lắm, lạy Phật sám hối, không biết bị nghiệp gì? Một đêm cô nằm mộng thấy lại tiền kiếp cô là người nam, học giỏi nhưng không muốn ai bằng mình. Cô không giúp đỡ người khác trong học tập, vì sợ người ta hơn cô... Trở lại kiếp này làm thân nữ, không biết chữ, không học được, cầm sách lên bị nhức đầu. Quả báo đã cản cô trong việc học tập là như vậy.
Có khi đời trước người học dở nhưng đã từng cho sách vở, giúp đỡ nhiều người. Do đời trước có làm phước nên đời này, người đó trở thành người học giỏi. Hoặc một người đời trước học giỏi mà đời này trở thành người học dở là do nhân quả ngược lại. Đừng tưởng chúng ta luôn luôn mang được tài năng hay sự kém dở từ kiếp này sang kiếp kia. Không phải vậy, mà chính nhân quả quyết định. Từ đó, chúng ta khẳng định: đạo đức là nhân, tài năng là quả.
Ngày nay, đất nước ta muốn có nhiều nhân tài, Nhà nước cần phải nhanh chóng chỉnh đốn lại môn học đạo đức thật sâu sắc, toàn diện để làm cho học sinh Việt Nam đều có đạo đức cao, biết sống theo đạo làm người. Chính tầng lớp sinh viên, học sinh này vừa học giỏi, vừa có đạo đức sẽ xây dựng đất nước này tốt đẹp hơn. Như Bác Hồ đã từng nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không. Dân tộc Việt Nam có vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu hay không. Đó chính là nhờ vào công học tập của các cháu”. Để ước mong của Bác Hồ trở thành hiện thực, ngoài việc giảng dạy kiến thức, ngành giáo dục cần quan tâm nhiều hơn việc giảng dạy đạo đức trong nhà trường ở hầu hết các cấp học.
Dạy đạo đức trong nhà trường, chúng ta cần dạy môn nào trước? Dạy môn Nhân Quả Nghiệp Báo. Chúng tôi có một ước mơ; ước mơ tha thiết, ước mơ ray rứt, khắc khoải làm sao một ngày nào đó môn Nhân Quả Nghiệp Báo được giảng dạy trong các nhà trường. Học sinh lớp 1 đã mang máng biết được khái niệm Nhân Quả và chương trình học cứ nâng cao dần đến lớp 12, lên đại học. Nghĩa là các em hiểu biết rất sâu về Luật Nhân Quả từng đường đi nước bước... Nếu tất cả các học sinh, sinh viên ở nước ta đều học và hiểu về Luật Nhân Quả thì khi đó không còn dè dặt trước nhau, không ai xúc phạm ai, ai ai cũng giúp đỡ nhau, thương yêu nhau. Từ lối sống có đạo đức, cuộc sống người dân tiến bộ thì đất nước trở nên giàu mạnh như ước mơ của Bác Hồ! Chúng tôi mơ ước được soạn giáo trình đạo đức từ lớp 1 đến lớp 12. Sau khi học qua lớp 12, học sinh hiểu rõ Luật Nhân Quả một cách sâu sắc. Chúng ta sẽ thấy cách ứng xử khác hơn bây giờ, người ta tốt với nhau hơn, xã hội thay đổi theo hướng tốt hơn.
Và còn cần phải đưa vào nhà trường dạy môn “Thiền định”. Từ khi sinh ra, bộ não đã hoạt động liên tục. Người ta nghĩ rằng càng suy nghĩ càng tìm ra được nhiều điều mới. Sự thật, những điều tìm ra được do suy nghĩ đưa đến kết quả là phát minh, là văn minh vật lý. Còn có một nền văn minh khác, đó là văn minh của vũ trụ, của tâm linh do thiền định mà có.
Tại sao nói văn minh của tâm linh là văn minh của vũ trụ? Đã có nhiều bài báo nói về việc người ngoài hành tinh đã đến tiếp xúc với người ở địa cầu. Một điều mà chúng ta ghi nhận được là dường như người ngoài hành tinh có khả năng tâm linh rất cao. Báo An Ninh Thế Giới có đăng tin một người phụ nữ Úc bị người ngoài hành tinh bắt lên đĩa bay rồi trả về. Có lẽ họ có đạo đức, họ không làm tổn hại con người. Họ còn đọc được ý nghĩ của con người. Có một em bé được họ bế và bay lên (như họ có khả năng bay, có thần thông...). Hoặc máy bay của Mỹ trên bầu trời Trung Đông, gặp được đĩa bay và tấn công. Nhưng khi nhấn nút để bắn hỏa tiễn thì bộ phận đó không hoạt động, trong khi đĩa bay của người vũ trụ vẫn lơ lửng trên bầu trời... Người ngoài hành tinh điều khiển được máy móc từ xa bằng ý nghĩ. Ngoài nền văn minh vật lý, người ngoài vũ trụ còn có nền văn minh tâm linh. Người trái đất không theo kịp nền văn minh tâm linh của vũ trụ, vì chúng ta thiếu hẳn khía cạnh tâm linh. Chúng ta chỉ đi tìm những kiến thức do suy nghĩ mà có được, chứ chúng ta chưa đi tìm những kiến thức do định mà có.
Chúng ta có một môn thực hành quan trọng. Đó là tu tập Thiền định. Tương lai thế giới sẽ đi theo con đường này. Có một Phật tử từ Mỹ gửi về cho chúng tôi một đoạn băng video thu cảnh một nhà tù ở Ấn Độ. Bà Tổng Thanh Tra nhà tù, thấy tù nhân bất an, hay nổi loạn và thù oán, chờ ngày ra tù thanh toán nhau. Bạo lực, ma túy, tham nhũng... đủ thứ. Bà tìm cách giải quyết. Bà nói nếu cứ giam tù nhân quá lâu, hết hạn tù thả ra chẳng khác nào thả thú hoang về rừng! Có người mách cho bà hãy cho tù nhân thực tập Thiền định. Bà mời một Thiền sư đến dạy tù nhân. Tất cả các tù nhân như bị buộc phải tập Thiền, họ ngồi thực hành ngay trong ngục. Ở giai đoạn đầu ngồi Thiền, có những người tâm chưa lắng xuống, cứ suy nghĩ về người yêu, hận thù ngày xưa. Lâu ngày tâm yên lắng dần dần, những phiền muộn, hận thù trước đây biến mất. Cả ngàn người cùng ngồi với nhau trong yên lặng. Những cảnh trong phim thật thanh bình, an lạc...
Bà Tổng Thanh Tra ngồi Thiền cùng với tù nhân. Tập Thiền một thời gian, tù nhân trở nên hiền lành, dễ mến. Họ sống với nhau rất tốt, không còn nghĩ đến chuyện thù oán, mà đối xử với nhau hiền lành, không có bạo lực. Đoạn cuối phim, quay cảnh một tù nhân do có hành vi tốt nên được ân xá sớm hơn thời hạn, từng người ra đi, ôm người Cai tù rất cảm động (thường Cai tù với tù nhân như mặt trời với mặt trăng!), trong đó có một người vừa ôm Cai tù vừa khóc nức nở. Vì sao? Vì lúc này, nhà tù đối với họ không còn là nơi chịu hình phạt mà là một tổ ấm yêu thương mà họ phải rời xa. Những giọt nước mắt biết ơn, luyến tiếc... Nhờ đâu mà được như thế? Nhờ Thiền định, tâm hận thù lắng xuống và tình thương yêu xuất hiện. Cuốn phim thật cảm động!
Vị Phật tử viết thư cho chúng tôi kèm theo cuốn băng đó như sau: “Bài Thầy giảng là đi tìm và thực hành Thiền định cho nhân loại, ngày nay nhiều nước trên thế giới đang thực hiện...”. Như trong cuốn phim này, các nhà tù ở Ấn Độ đã thực hiện Thiền định. Một số nhà tù và trường học ở Mỹ đã dạy Phật Pháp và Thiền định. Ở Thái Lan, Thiền định đã được đưa vào các trại cai nghiện. Ở Hàn Quốc đã đưa
Thiền định vào thực tập cho trẻ em trường mẫu giáo. Trẻ em trường Mẫu giáo ở Hàn Quốc được thực tập Thiền định v.v... Thiền định không những làm thay đổi tâm thức con người theo chiều hướng tích cực mà còn là phương pháp trị liệu. Ngày nay, Thiền định còn được áp dụng cho những nhà chính trị, những doanh nhân mà tư duy của họ có tác động quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.
Những nước đưa Thiền định vào nhà trường, vào nhà tù là quá khôn ngoan, nếu họ đưa môn Nhân Quả vào nữa thì quá tuyệt, rất hiệu quả. Chúng ta cần đưa môn học Nhân Quả, Thiền định vào nhà trường ngay, dạy cho triệt để thì hy vọng đất nước ta có thể sánh vai với các cường quốc năm châu. Bởi vì Nhân Quả cho người ta đạo đức, Thiền định cho người ta cái sắc bén của trí tuệ. Đây là mũi nhọn, nghĩa là nếu môn Nhân Quả và Thiền định được đưa vào nhà trường giảng dạy, học sinh và sinh viên nước ta sẽ trở thành những con người khác hẳn: có đạo đức, có trí tuệ sắc bén, để đưa đất nước vượt lên không thể tưởng tượng.
Ngày trước, tốt nghiệp Đại học tạm gọi là học hết kiến thức của ngành học. Còn lên cao nữa thì nghiên cứu chuyên sâu, tìm ra cái mới. Ngày nay, kiến thức mỗi ngày mỗi nhiều thêm nên thời gian học ở Đại học không đủ. Do đó, nhiều nước trên thế giới, trong đó có Nhật Bản và Việt Nam đưa thêm kiến thức mới vào Đại học và đưa một phần chương trình ở Đại học xuống Trung học. Đường lối giáo dục hiện nay là nhồi nhét kiến thức làm cho học sinh, sinh viên căng thẳng... tạo sự khủng hoảng trong giáo dục!
Chúng ta phải thay đổi lại nội dung và phương pháp giáo dục bằng hai cách:
Cách thứ nhất, mở rộng thời gian học. Ví dụ thay vì đến lớp 12 là xong Trung học, chúng ta thêm 2 năm nữa: lớp 13 và 14. Cần thêm 2 năm nữa không sao vì tuổi thọ con người ngày nay dài hơn (trung bình trên 60, nhiều cụ thọ tới trên 100) do điều kiện về y tế, sinh hoạt, dinh dưỡng tốt hơn ngày xưa. Thêm 2 năm nữa cho bậc Trung học, học sinh không phải học nhồi nhét như trước.
Cách thứ hai, phương tiện computer càng phát triển, không bắt học sinh phải thuộc bài nhiều, chỉ cần dạy học sinh biết tra cứu. Ví dụ muốn học về châu Âu, cứ nhấp chuột (Mouse) trên máy, những dữ liệu hiện ra, tham khảo rồi cất lại, chứ không cần phải đưa vào đầu, để thời gian làm nhiều chuyện khác... Cách học như vậy rất có kết quả.
Thêm nữa, phải cho các em thư giãn, dừng suy nghĩ lại bằng Thiền định, làm cho não bộ bền hơn. Phương pháp này khôn ngoan: vừa dựa vào đạo đức vừa dựa vào Thiền định. Đường lối giáo dục mới này tốt hơn, hiệu quả hơn. Tăng giờ học đạo đức và làm việc từ thiện để củng cố nhân cách, chứ không phải nghe mà biết rồi thôi, mà phải thực hành. Nói học hành là vậy.
Phật tử cũng vậy, nghe quý thầy giảng về nhân quả thấy hay nhưng về nhà đạo đức không tiến bộ hơn. Vì sao? Vì chưa thực hành. Chỉ khi nào thực hành tốt thì bộ não mới được củng cố! Khuynh hướng tốt, nhân cách đúng, xác định điều thiện ở tâm nằm trong bộ não. Nghe nói, nghe giảng điều thiện chưa chắc chúng ta thành người thiện, vì cái ác vẫn còn tồn tại. Có thực hành điều thiện, khi gặp điều ác, chúng ta vẫn không làm vì điều thiện đã được khẳng định trong tâm hồn. Sự khẳng định này là do thực hành, chứ không phải do nghe, do hiểu. Chỉ khi nào biết giúp đỡ người hàng xóm đang nghèo khổ, neo đơn, bệnh hoạn; chỉ khi nào nghe nơi có lụt lội, hạn hán biết gửi tiền, vật dụng cứu trợ hay ủy lạo; hoặc chuyện hàng xóm, chuyện Phật Pháp, Phật sự, chuyện xã hội v.v... đều tham gia thì lúc đó tâm hồn chúng ta mới được nâng cao bởi điều thiện.
Phương pháp giáo dục cũng vậy. Không chỉ giảng mà còn phải thực hành. Ví dụ môn đạo đức: dạy các em thương yêu, vị tha, lễ phép, khiêm hạ, tận tụy, kiên nhẫn, hy sinh... Dạy rồi trả bài; lại tiếp tục dạy rồi trả bài (như vẹt) thì các em vẫn tiếp tục hư. Cho nên phải có chương trình thực hành. Thầy cô giáo thử tìm những việc nào đó hay, tốt cho các em thực hành, làm thử và chấm điểm. Khi các em được thực tế làm những việc thiện thì đạo đức của các em mới được củng cố và nâng cao. Tạo điều kiện cho các em làm từ thiện, trở thành thú vui, sự say mê trong đời học sinh. Các trò chơi: Water Park, Bowling, Bi- da, Karaoke mất thì giờ! Không bằng làm việc thiện. Làm việc thiện, phước tăng lên, đạo đức được củng cố và một thế hệ mới sẽ xuất hiện trên đất nước ta. Lớp trẻ sau này có làm công tác giáo dục nên nhớ và thực hiện những điều trên.
Còn điều nữa, dạy học sinh phải dạy cho các em có lý tưởng lớn. Dù có thể sau này, không làm được việc gì lớn lao nhưng các em cũng đã có một lý tưởng trong tâm hồn, cuộc đời các em cũng rất tốt. Lý tưởng sẽ dẫn dắt các em hành động. Ví dụ các em nghĩ rằng sẽ đi tới vùng cao, vùng sâu, nơi có dân tộc ít người ở, các em sẽ đem đến đó ánh sáng văn minh. Đó là lý tưởng, ước mơ cao đẹp dù có thể lớn lên các em quên mất, hoặc không thực hiện được do hoàn cảnh chi phối. Nhưng dù sao có lý tưởng, ước mơ cao đẹp vẫn làm cho tâm hồn được nâng cao, trong sáng, cũng là có phước.
Tuy nhiên, nhà trường cần dạy học sinh lý tưởng lớn đối với toàn thể nhân loại, chứ không phải chỉ phạm vi quốc gia. Vì thế giới ngày càng gần lại.
Có thể chừng vài ba chục năm nữa, sự liên kết toàn cầu sẽ chặt chẽ hơn ngày nay. Các nước Đông Nam Á liên kết thành khối ASEAN; các nước châu Âu liên kết thành khối EU... Lý tưởng cần phải trải lớn hơn trong nhân loại, chứ không dừng ở phạm vi quốc gia. Đó là lý do chúng tôi soạn kinh tụng Lời cầu nguyện buổi sáng dành cho trẻ. Trong đó, trẻ nguyện cầu siêng năng học tập, ước mơ học giỏi để đền đáp công ơn cha mẹ, dựng xây thế giới đẹp hơn. Bài tụng đó gieo cho trẻ một lý tưởng hướng về nhân loại. Một lý tưởng lớn trong một tâm hồn lớn sẽ làm được nhiều công đức lớn. Từ bây giờ, chúng ta phải cho các em nhìn thấy cả thế giới chứ không chỉ nhìn thấy trong phạm vi quốc gia. Nếu không dạy tốt, con em chúng ta chỉ nhìn thấy gia đình, dòng họ, sự nghiệp các em thôi. Ví dụ như hỏi lớn lên con sẽ làm gì để nuôi cha mẹ hoặc bảo con ráng học làm kỹ sư, bác sĩ để nuôi cha mẹ. Như thế, cha mẹ đã gieo vào tâm con mình mục tiêu sống vẫn còn nhỏ hẹp. Chúng ta có thể hỏi: “Lớn lên con làm gì cho mọi người?” hoặc “ Lớn lên con làm gì cho thế giới?”. Hỏi như vậy, các em chưa hiểu gì nhưng câu hỏi làm cho các em suy nghĩ những vấn đề lớn lao, tâm các em trở nên trùm khắp thế giới. Sau này Việt Nam chuyên đào tạo ra những công dân tốt lành cho thế giới vì nền giáo dục Việt Nam đã ươm mầm lý tưởng cao cả đó cho trẻ từ ban đầu rồi. Một tâm hồn lớn sẽ hình thành một con người vĩ đại, đó là công lao của các bậc cha mẹ. Có thể nói những bậc cha mẹ có tâm hồn lớn sẽ sản sinh những người con vĩ đại. Trên đây là những cách gợi ý để mở rộng tâm hồn cho các em.
Còn một điều nữa là trong vấn đề giáo dục, chúng ta cần phục hồi truyền thống tốt đẹp Á Đông. Lễ giáo Á Đông rất hay, có thể chống lại loại văn hóa đồi trụy phương Tây. Chúng tôi được nghe một người ở nước ngoài về kể lại một số biểu hiện của lối sống phương Tây. Các cô gái đưa bạn trai về nhà ăn ở tự do. Cha mẹ không được nói tới, nói là cô báo cảnh sát hoặc nghĩ là cha mẹ ác. Trong khi đạo lý Á Đông ca ngợi tiết hạnh của phụ nữ và sự đứng đắn của nam giới. Thì ngược lại, lối sống buông tuồng, phóng túng như thế không thể chấp nhận. Ngày nay, không riêng gì giới trẻ mà còn có một bộ phận công chúng đã choáng ngợp trước văn minh phương Tây. Cứ tưởng rằng cái gì của phương Tây cũng hay cũng tốt nên bắt chước theo; thậm chí bắt chước cả lối sống phóng túng bừa bãi...
Chúng ta cần bảo vệ truyền thống văn hóa Á Đông, truyền thống văn hóa dân tộc. Hiện nay, Nhà nước kêu gọi bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc là rất tốt. Tuy nhiên, bản sắc văn hóa dân tộc là những gì phải tìm cho ra, phải hiểu cho thấu. Bởi vì qua con đường giao lưu, hội nhập, chúng ta đang tiếp cận nhiều luồng văn hóa khác nhau, trong đó có cái gọi là văn hóa “đồi trụy” đang tràn lan khắp nơi. Một trong những cách bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, chính là các tầng lớp trẻ cần học tập, rèn luyện đạo đức bằng cách ăn, ở, mặc, ứng xử... Tất cả đều thuộc về trách nhiệm của ngành giáo dục.
CHÂN LÝ CHỈ CÓ MỘT
Nói đến nền văn hóa Á Đông không có nghĩa là chúng ta muốn phân biệt văn hóa Á Đông khác với văn hóa phương Tây, muốn phân biệt tôi là người phương Đông anh là người phương Tây. Chúng ta nói đến văn hóa Á Đông là đúng, là đẹp mà hàng ngàn năm qua dân tộc ta hấp thụ, đã trở thành truyền thống. Hôm nay, chúng ta lặp lại vì vẫn còn đúng, còn đẹp. Chúng ta muốn tìm lẽ phải duy nhất cho mọi người. Khi nói quan niệm sống của phương Tây là như thế này, của phương Đông là như thế kia hoặc nói anh ấy sống ở phương Đông thấy dễ chịu, tôi sống ở phương Tây thấy dễ chịu, đó chỉ là thói quen, là tập quán. Chân lý là cái đúng nhất cho mọi người. Chân lý chỉ có một nhích qua bên này hay bên kia một tí là thấy sai. Chân lý rất khắt khe, chỉ là một điểm duy nhất.
Khi chúng ta đặt vấn đề lễ giáo Á Đông trong việc giáo dục không có nghĩa là chúng ta kỳ thị (với văn hóa phương Tây) mà chúng ta tin rằng và nhận thấy rằng điều đó là đúng, đúng không chỉ riêng cho người Á Đông mà cho cả nhân loại, nhất là tình trạng suy đồi đạo đức ở phương Tây hiện nay. Như ở Mỹ, học trò cầm súng xả đạn vô trường, hoặc tội phạm giết người hàng loạt khiến chúng ta không tin vào giá trị văn minh phương Tây nữa. Chúng ta đi tìm cái khác. Hình ảnh người học trò khoanh tay, cúi đầu chào thầy rất đẹp. Hình ảnh của Á Đông ngày xưa là hình ảnh đẹp, đang phai dần mà chúng ta phải tìm cách phục hồi, nhất là người Phật tử. Chúng ta không phục hồi “giá trị phong kiến” mà phục hồi giá trị tinh thần của người Việt Nam, của người Á Đông...
Chẳng hạn, chúng ta phục hồi cái tâm kính trọng người thầy của người học trò. Đó là cái đẹp trong tâm hồn con người nói chung và cũng là cái đẹp đã có từ ngàn xưa trong tâm hồn người Việt Nam. Do mấy mươi năm qua, chúng ta không chú ý điều này đúng nghĩa nên bây giờ mới bắt đầu phục hồi xây dựng lại. Thế hệ chúng tôi trở về trước được dạy đạo đức từ những việc làm nhỏ. Thấy thầy từ xa đã lấy nón xuống chào, thầy đến gần thì khoanh tay, cúi đầu... Đó là những hình ảnh đẹp để lại dấu ấn trong tâm hồn mỗi người. Cho nên, có chú ý xây dựng lại đạo làm người, chấn chỉnh cách ứng xử giữa thầy-trò dù muộn nhưng vẫn tốt hơn là bỏ qua.
Trong tâm hồn đứa trẻ cần có sự kính trọng người dạy dỗ mình ngay từ ban đầu, nếu không thì đứa trẻ bị thiếu căn bản về đạo đức thì dù sau này lớn lên, người đó có bao nhiêu bằng cử nhân, tiến sĩ cũng vô ích. Nếu chúng ta kính trọng người khác thì mọi biểu hiện đạo đức sẽ nảy nở, phát triển và tài năng cũng phát triển trên nền tảng đạo đức. Đây là quy luật của loài người. Chúng ta đã nói Đạo đức là nhân, tài năng là quả. Muốn đứa trẻ sau này trở thành nhân tài, chúng ta phải giáo dục đạo đức cho trẻ ngay từ ban đầu. Dù đứa trẻ học dở, học không khá nhưng trẻ được dạy đạo đức từ ban đầu, từ từ mức học sẽ tiến xa hơn. Đây là điều tuyệt đối đúng. Chúng ta cứ dạy con cháu về lễ nghi như cúi đầu chào, đưa vật gì cho người lớn phải đưa bằng hai tay, vào nơi tôn nghiêm biết ăn mặc đàng hoàng, kính trọng người cao tuổi... Hồi nhỏ chúng tôi được dạy phải lấy mũ xuống khi đám tang đi qua, gặp lúc công sở, hay trường học đang chào cờ phải đứng lại, lấy mũ xuống, người học trò phải “tôn sư trọng đạo”, kính trọng người già, giúp đỡ người tàn tật, dẫn người mù qua đường, thật thà, không nói dối...
Đó là những điểm quan trọng, là nền tảng đạo đức mà ngày nay lớp trẻ phần đông còn xa lạ. Chúng ta cần phục hồi những giá trị truyền thống Á Đông (từ trong gia đình, học đường và ngoài xã hội).
Tại sao mà ngày nay ma túy tràn lan, tại sao có một bộ phận lớp trẻ suy thoái đạo đức? Hậu quả này xuất phát từ sự đổ vỡ trong tâm hồn trẻ trong nhiều năm tháng, từng chút, từng lúc cho đến khi tâm hồn trẻ không còn giữ lại điều gì tốt đẹp thì ma túy đến thế chỗ. Hiện nay, trong các trường học có treo biểu ngữ: “Hãy nói không với ma túy!” Hoặc “Hãy nói không với cái xấu!”. Thật sự muốn nói KHÔNG với những tệ nạn trên thì tâm hồn phải đủ sức mạnh, phải có lý tưởng và cái tốt đẹp đã được tích lũy từ nhiều năm tháng (từ những hành vi, thái độ, cử chỉ trong cuộc sống hàng ngày như kính yêu thầy cô, hiếu thảo với cha mẹ, lòng biết ơn...). Đó là viên gạch xây dựng nền móng đạo đức, tạo sức đề kháng cái xấu trong tâm hồn trẻ. Điều này nhà trường chúng ta cần phải xem là điều quan trọng, cần chú ý xây dựng lại ngay chứ không thì quá muộn! Tuy nhiên, việc xây dựng lại đạo đức học sinh trong nhà trường đòi hỏi nhiều công sức, đòi hỏi lương tâm của người thầy, những nhà quản lý giáo dục. Vì hiện nay, những trò chơi điện tử có tính bạo lực, những hình ảnh có tính gợi dục trên mạng Internet lôi cuốn, hấp dẫn đang dần dần phá hoại tâm hồn trong sáng của con em chúng ta. Rồi tình trạng “mua bán điểm” làm cho người ta nghi ngờ ý nghĩa cao đẹp của chức năng giáo dục.
Và một điều nữa là sự tách biệt nam nữ cần được khôi phục mặc dù chúng ta vẫn chấp nhận nam nữ bình đẳng. Nói nam nữ bình đẳng là tôn trọng phụ nữ. Vì người phụ nữ có nhiều điểm đáng quý, có năng lực góp phần cùng nam giới xây dựng xã hội. Ở thời đại mới, người ta kêu gọi bình đẳng nam nữ vì suốt một thời gian dài người ta đối xử bất công đối với người phụ nữ. Nhưng bình đẳng nam nữ không phải là “sự xô bồ, lộn xộn” giữa người nam và người nữ một cách “tự nhiên” như người phương Tây. Vì hiện nay, việc giáo dục giới tính cho trẻ, chúng ta chưa thực hiện tốt nên sự tách biệt nam nữ là cần thiết. Dù sự hoàn toàn tách biệt cũng không phải là điều hay, phải có nam có nữ cùng chung tay góp sức xây dựng xã hội. Nhưng ở một khía cạnh nào đó nam nữ “lộn xộn” cũng không phải là điều tốt. Ông bà ta đã từng nói: “Nam nữ thọ thọ bất thân”.
Theo truyền thống Á Đông, người phụ nữ phải giữ tiết hạnh, nam giới phải đứng đắn. Chúng tôi cho rằng về điểm này, người Á Đông vẫn hay hơn người phương Tây. Ví dụ phương Tây quan niệm vợ chồng sống với nhau nếu không hạnh phúc thì tại sao phải cứ chịu đựng đau khổ. Họ dễ dàng ly hôn để trả tự do cho nhau, mỗi người tìm hạnh phúc cho riêng mình. Còn con cái thì sao? Quan điểm này, chúng ta thấy người phương Tây chưa sâu sắc lắm.
Người Á Đông không dễ dàng ly hôn, họ có thể chấp nhận hoàn cảnh không thuận lợi. Sự chịu đựng có thể kéo dài, rồi đau khổ cũng qua đi. Điều đó xuất phát từ đâu? Chính là vì con cái. Người phương Đông nhìn xa, trông rộng hơn người phương Tây ở điểm này. Họ chấp nhận, chịu đựng nhau để gia đình ổn định, con cái có chỗ dựa, tâm lý trẻ được quân bình; trẻ được hướng dẫn, được dạy dỗ để trưởng thành, để xã hội có công dân được giáo dục, có đạo đức... Còn phương Tây theo quan niệm tự do ly hôn nên cha mẹ không ai có trách nhiệm một cách đầy đủ về việc nuôi dạy con cái. Còn nhà trường và xã hội phương Tây không đặt nặng vấn đề giáo dục, đạo đức học sinh. Từ đó, người phương Tây từ thế hệ này sang thế hệ khác, sống buông thả dễ dãi: người nữ không cần phải giữ tiết hạnh, người nam không cần phải đứng đắn. Nếu lớp trẻ không được dạy dỗ, uốn nắn thì đạo đức xã hội dần dần đi xuống.
Ở phương Tây có cuộc cách mạng tình dục vào những thập niên 50 – 60, dẫn đến lối sống buông thả trong quan hệ nam nữ. Có chú Phật tử lên thăm chùa chúng tôi, dắt theo cô bạn người nước ngoài. Chúng tôi hỏi:
- Ai đây?
- Dạ vợ con, con mới cưới ở nước ngoài.
Rồi khi không có cô đó, anh tâm sự:
- Con khổ tâm lắm thầy ơi!
- Vì sao khổ tâm?
- Nó là vợ con, vậy chớ có lúc nó mất tiêu. Gọi
điện thoại về bảo tối nay em gặp ông A, em ngủ với ổng một chút. Hôm nay em không có về, đừng chờ.
- Trời ơi, vậy sao con lấy nó làm vợ?
- Dạ, bên đó như vậy. Nó có ba đứa bồ chính
thức, còn những đứa khác vui thì gần, không vui thì bỏ nhau.
- Còn mẹ nó thì sao?
- Cũng vậy.
- Trời ơi, vợ chồng gì kỳ vậy?
- Bên đó sống vậy thầy ơi!
Một số người khác về kể cũng tương tự như vậy. Văn minh ở chỗ nào, chúng tôi không hiểu nổi. Sống hoàn toàn theo cảm tính và bản năng, lý trí gạt qua một bên, trong khi cái quý giá của con người là lý trí chứ không phải cảm tính, bản năng. Với lý trí, người Á Đông đề cao tiết hạnh người nữ, sự đứng đắn của người nam. Đó không chỉ trong một thế hệ mà truyền từ thế hệ cha ông sang thế hệ con cái làm cho nền tảng gia đình được bền vững, xã hội ổn định. Người phụ nữ Việt Nam thật tuyệt vời: giỏi chịu đựng, hy sinh để giữ mái ấm gia đình, tương lai con cái. Có lẽ người phương Tây không có khái niệm thủy chung, họ thường thay chồng đổi vợ. Chúng ta không nên chạy theo lối sống phương Tây mà phải có lập trường, bản lĩnh mới giữ gìn được truyền thống phương Đông: giữ gìn tiết hạnh, thủy chung, một chồng, một vợ, nuôi dưỡng và chăm sóc con cái...
Có một bộ phận lớp trẻ “đua đòi” theo lối sống phương Tây, họ thường có mặt ở những tụ điểm vui chơi, giải trí ít mang tính giáo dục như vũ trường, karaoke. Đằng sau những nơi vui chơi, giải trí ấy là gì? Là sa đọa, đồi trụy, ma túy... Chúng ta không khắt khe như quan niệm của đạo Hồi đối với người phụ nữ, nhưng không nên sống buông thả theo bản năng. Lớp trẻ cần ý thức vị trí, vai trò của tuổi trẻ đối với cộng đồng, với xã hội. Sự bình ổn xã hội, sự phồn vinh của đất nước nằm trong tay lớp người trẻ tuổi tương lai. Với khát vọng vươn lên, lớp người trẻ hãy học tập, tu luyện đạo đức, biến ước mơ cao đẹp thành hiện thực. Chúng ta phải có bản lĩnh, có lập trường của phương Đông, hãy xem giá trị của phương Tây như điều cần phải xem xét.
TIÊU ĐIỂM GIÁO DỤC
Hiện nay, Nhà nước cho mở rộng trường dân lập. Chúng ta hy vọng Nhà nước sẽ cho mở lại các trường của Phật giáo (trước năm 1975, Phật giáo có những trường như trung học Bồ Đề, đại học Vạn Hạnh). Con em được gửi vào các trường đó học theo tín ngưỡng của mình. Ngoài học chương trình hiện hành của Bộ Giáo dục, con em Phật tử sẽ được học thêm về Luật Nhân Quả; về tọa thiền, tập định; về giáo lý của đạo Phật. Như vậy, trẻ được học nhiều hơn về đạo đức (những người con ngoan, những công dân tốt trong tương lai). Ngoài ra, chúng ta cũng sẽ có những Phật tử thừa kế, giữ gìn Phật Pháp. Dạy các tầng lớp trẻ biết Phật Pháp là điều quan trọng (không khéo người đi chùa chỉ toàn là các cụ... rồi đến lúc nào đó không còn ai đi chùa, thầy trụ trì cũng buồn!). Ví dụ chúng ta mở nhà trẻ của Phật giáo do quý sư cô điều hành hoặc quý thầy, cô mở trường trung học, đại học nếu chính sách Nhà nước cho phép.
Chúng tôi mong ước làm sao tầng lớp trẻ được học Luật Nhân Quả. Đây là chìa khóa mở cánh cửa đi sâu vào bầu trời đạo đức. Đạo đức là một mảng lớn cực kỳ quan trọng cho con người và xã hội. Qua những vụ án lớn như vụ án Tân Trường Sanh hay vụ án EPCO Minh Phụng... người ta bàn cãi nhiều, tại sao có thể xảy ra những điều vi phạm pháp luật quá nặng? Nguyên nhân gốc nằm ở đâu? Chính là ở chỗ không có đạo đức. Luật pháp không đủ để ngăn chận người ta làm điều “tội lỗi” mà đến khi người ta gây tội lỗi rồi mới dùng luật pháp trị tội. Chỉ có đạo đức mới chận đứng được từ trong ý nghĩ “sẽ gây tội ác”, nghĩa là nếu con người đã hiểu đạo đức, đã có đạo đức khi người ta khởi một niệm, biết niệm sai thì xóa bỏ ngay. Cho nên, đạo đức rất quan trọng trong sự hoàn thiện cá nhân, cho sự phát triển xã hội, đất nước, cho cả nhân loại. Chỉ có tin và hiểu sâu sắc Luật Nhân Quả thì cái mảng đạo đức lớn vô cùng này mới được quan tâm, mới được đặt lên hàng đầu trong sự nghiệp “trồng người”. Nhưng muốn hiểu về Luật Nhân Quả cho sâu, cho thấm không phải chỉ một ngày, một giờ mà đòi hỏi phải được học, được giáo dục qua nhiều thời gian.
Phật chỉ cho chúng ta lấy nhân quả để phân biệt thiện ác. Chúng tôi vẫn mơ ước môn Luật Nhân Quả Nghiệp Báo được đưa vào nhà trường dạy cho trẻ thì cứu không biết bao nhiêu người. Cứ tăng một người tin nhân quả thì kéo được một người về với cái thiện. Và ngược lại, bỏ một người không biết nhân quả như thả một người về với cái ác. Giữa cái thiện và cái ác là một cuộc đấu tranh giằng co dai dẳng mà chúng ta không chắc rằng cái thiện sẽ thắng. Do đó, phải có “vũ khí” nào khác, biện pháp nào khác; vũ khí và biện pháp đó là luật nhân quả. Môn Luật Nhân Quả được dạy trong nhà trường từ lớp nhỏ... cho đến đại học thì đạo đức, triết lý được đào sâu để khi lớn lên, mọi người biết và tin nhân quả họ sẽ tự điều chỉnh, cân nhắc suy nghĩ, hành động trước mọi tình huống, mọi hoàn cảnh. Do đó, con người sẽ sống có đạo đức và xã hội tốt hơn...
Bác Hồ đã nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng...” cho thấy tầm quan trọng của đạo đức con người. Rất tiếc ngày nay người ta tập trung đào tạo con người có tài mà quên một mảng lớn trong tâm hồn con người là đạo đức. Thật là một thiếu sót trầm trọng! Vì thế, chúng ta phải ấp ủ, phải suy nghĩ về điều đó một cách sâu sắc. Có thể ở kiếp này chúng ta chưa làm gì được cho nền giáo dục nước nhà nhưng ở kiếp sau, chúng ta sẽ làm được, sẽ đóng góp những điều hay, điều tốt đẹp đã từng ấp ủ thiết tha. Hoặc là con em chúng ta lớn lên làm Bộ trưởng giáo dục, làm Thủ tướng... thì vấn đề giáo dục đạo đức sẽ được đặt lên hàng đầu để đạo đức không còn bị xem thường.
Thế giới ngày nay, người ta đánh nhau, giết nhau, con người sống đồi trụy, sa đọa... cũng vì thiếu giáo dục đạo đức. Vì vậy, cần phải thay đổi đường lối giáo dục, cần phải tăng giờ giáo dục đạo đức. Đứa trẻ ngày nay không nhất thiết phải thành tài sớm, nghĩa là không cần phải theo chương trình học 12 năm trung, tiểu học, 4 năm đại học. Ngày nay, tuổi thọ tăng so với trước (trung bình trên 60) nên tăng thêm 2 năm học trung học để đưa vào môn đạo đức sau 14 năm trung tiểu học, đứa trẻ có tư cách tốt hơn, đàng hoàng hơn, làm người đúng nghĩa hơn. Còn 12 năm chỉ để nhồi nhét kiến thức, thành ra con người này có kiến thức, có tài năng mà tư cách kém thì cũng không mang lại lợi ích gì cho xã hội. Chúng ta thấy trong những vụ án, có nhiều tội phạm là người trí thức, tức là những người có tài, có hiểu biết mà họ gây tội lỗi, tội ác. Như vậy, đây là những người có tài mà thiếu đạo đức.
UNESCO (tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên Hiệp Quốc) đưa ra bốn tiêu điểm về giáo dục:
Học để biết, tức là mở mang kiến thức về mọi lĩnh vực.
Học để làm, tức là vận dụng kiến thức đi vào cuộc sống, xây dựng xã hội, đất nước, thế giới...
Học để làm người, tức là có tư cách của con người.
Học để chung sống với người khác, tức là sống phải hòa hợp, phải có trách nhiệm với cộng đồng về mọi khía cạnh của cuộc sống.
Qua bốn tiêu điểm về giáo dục của Liên Hiệp Quốc, chúng ta thấy có hai điểm thuộc về tài năng, hai điểm thuộc về đạo đức. Như vậy, người ta ngầm công nhận đạo đức không kém phần quan trọng so với tài năng của mỗi con người.
Trong chương trình học của nhà trường nước ta, việc giáo dục đạo đức chưa được đặt thành vấn đề cần quan tâm (học ít tiết, hệ số thấp...). Vì thế, có một số nơi dạy sao cũng được, học sao cũng xong, kết quả không quan trọng. Nếu như chúng ta biết rằng nhân quả là chìa khóa để mở cánh cửa đạo đức thì chúng ta mới thảng thốt; nhà khoa học, nhà trí thức cũng chưa đủ niềm tin để chấp nhận điều này trừ những người theo đạo Phật hiểu và tin Phật Pháp. Đây là một thiệt thòi cho xã hội và cho nhân loại. Chừng nào mọi người đều có chìa khóa này thì mới mở tung cánh cửa vào thế giới của đạo đức được.
Chúng ta phải xác định mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người. Và có phải con người làm nên thế giới? Thế giới này hạnh phúc hay khổ đau, văn minh hay lạc hậu, đạo đức hay xấu xa, thiện hay bất thiện đều do con người mà ra. Nếu chúng ta mong muốn thế giới này hạnh phúc, văn minh, đạo đức thì chúng ta phải quan tâm giáo dục lại con người. Bởi con người không thể chia rẽ, hận thù. Nước mắt không thể tiếp tục chảy; máu không thể tiếp tục rơi; trẻ em không thể mãi bơ vơ, lạc loài; tham lam, ích kỷ, đố kỵ không thể cứ tồn tại. Ngược lại, thế giới này phải được hòa bình, yên vui. Suy cho cùng, mục tiêu chúng ta cần phải hướng tới là một thế giới hạnh phúc.
Mỗi người có một quan niệm khác nhau về hạnh phúc. Ví dụ, người ta thấy hạnh phúc khi đời sống sung mãn về vật chất, kinh tế phát triển, xã hội giàu có v.v... Nhưng “người giàu cũng khóc” nên giàu có không hẳn đã hạnh phúc. Chúng ta đi tìm hạnh phúc chứ không phải đi tìm cái gọi là giàu có. Vậy cái gốc của hạnh phúc là gì? Là đạo đức. Chính đạo đức làm nên hạnh phúc. Đạo đức là nhân và hạnh phúc là quả. Đây là nhân quả hết sức chặt chẽ, logic và thực tế. Chúng ta nói điều này không phải là áp đặt hay suy luận viển vông. Đạo đức hàm chứa tình thương yêu. Biểu hiện của đạo đức là tình thương yêu. Còn tham lam, ích kỷ, thù ghét là phi đạo đức. Nói theo nhân quả: thù ghét có mặt thì đau khổ có mặt, tình thương có mặt thì niềm vui có mặt, hạnh phúc có mặt.
Con người có nhu cầu yêu thương ngoài nhu cầu vật chất. Con người luôn luôn khao khát yêu thương: sinh con cho vui nhà vui cửa; có ai đó để nghĩ tới, để yêu thương thì vui; không ai để yêu thương ta thấy buồn chán, trống vắng, cô đơn... nhưng phía sau tình cảm yêu thương đó để lại hậu quả tùy “loại”. Như lứa đôi yêu nhau, tình yêu đó làm họ vui buổi ban đầu nhưng về sau muốn người mình yêu phải thế này, thế nọ (do ích kỷ) mà không được như ý thì đau khổ xuất hiện, hoặc do ghen tuông, giận hờn gây đau khổ cho nhau (đúng như nhân quả). Tình cảm của thế gian thông thường là như vậy. Nếu yêu thương mà không đòi hỏi trở lại cho bản thân thì đau khổ không xuất hiện. Yêu thương như theo Đức Phật, trải lòng từ bi mênh mông với chúng sanh. Vì vậy, khi người đệ tử Phật mỗi ngày quỳ lạy Phật hay khi ngồi thiền trải lòng yêu thương tất cả chúng sanh, chúng ta cảm thấy hạnh phúc, không đau khổ về sau vì không có ích kỷ.
Nếu chúng ta ước mơ xây dựng đất nước này hòa bình, an vui thì trước hết phải xây dựng con người có đạo đức. Từ đó, con người có đạo đức sẽ xây dựng thế giới tràn ngập yêu thương, hạnh phúc. Từ những thế kỷ XVIII, XIX trước sự thành công của kỹ thuật Âu Mỹ người ta tôn thờ khoa học kỹ thuật mà không còn chuộng giá trị tinh thần, giá trị tâm linh. Hồi nào tới giờ, người ta đi chùa lạy Phật, người ta sống cuộc đời tốt đẹp mà không thấy “được” cái gì. Còn ở bên kia, tôn thờ khoa học kỹ thuật, người ta có xe hơi, máy bay, đồng hồ, máy hát v.v... quá tiện nghi, quá thuyết phục! Từ đó, suy nghĩ của người phương Đông đã thay đổi gọi là cải cách, là duy tân để theo kịp đà tiến hóa của nhân loại. Nói cách khác, phương Đông đang chạy theo khuynh hướng học hỏi, phải tôn thờ giá trị khoa học kỹ thuật của phương Tây.
Một số người “mê tín” khoa học còn cho rằng điều gì khoa học công nhận thì đó là sự thật, là lẽ phải. Còn điều gì khoa học chưa công nhận thì đó không phải là lẽ phải, không đúng. Những sinh viên này ỷ lại mình đã qua đại học, nhiều kiến thức về khoa học nên cho rằng những người già, cha mẹ, ông bà đã lạc hậu, không có kiến thức khoa học. Đây cũng là một sự hiểu lầm. Thật ra còn nhiều điều khoa học chưa biết tới, chưa tìm ra. Có lần chúng tôi bị bệnh khá nặng, đi Trung tâm Hòa Hảo khám bệnh tổng quát: Siêu âm tim, điện tâm đồ, chụp X-quang, thử nước tiểu... Kết quả cho thấy không có bệnh gì hết. Mà trong người chúng tôi bệnh muốn chết! Buồn tình, chúng tôi tìm đến ông thầy Đông Y. Thầy để hai ngón tay bắt mạch. Xong, ông nói toạc tất cả những bệnh tiềm tàng trong người chúng tôi. Nên chúng tôi nghĩ kỹ thuật phương Tây cũng không nói được hết sự thật, còn phương Đông chỉ để mấy ngón tay xem mạch trông có vẻ “mơ hồ” vậy mà tìm ra được cái bệnh.
Phương Đông có một giá trị tinh thần rất tốt mà chúng ta đã bỏ phí, không khai thác. Nếu chúng ta duy trì, phát triển giá trị tâm linh, giá trị tinh thần, lễ giáo, lễ nghĩa thì chúng ta sẽ thấy phương Đông vượt lên trở lại. Như những thập niên gần đây, xuất hiện những quốc gia Á Đông phát triển nhanh gọi là những con rồng châu Á, tất nhiên bước đầu cũng có vay mượn kiến thức, kỹ thuật của phương Tây. Tuy nhiên, sự vươn lên bị “quá đà” nên rơi vào khủng hoảng mà nguyên nhân trước hết là chạy theo lối sống phương Tây. Đó là dấu hiệu giá trị tư tưởng hay tự do của phương Tây không phải là tuyệt đối để tôn thờ. Vì thế, người ta cầm súng bắn xả vào trường học, bắn cho vui, giết cho vui, vũ khí tiêu diệt cả thế giới xuất hiện... Cái gọi là nền văn minh đó sẽ đưa nhân loại về đâu? Đưa đến diệt vong! Vì thế, con người sẽ phải xem xét lại, sẽ tìm giá trị khác; sẽ không chạy theo văn minh, kỹ thuật nữa. Con người sẽ biết tìm hạnh phúc của thiền định, của đạo lý, của triết lý. Và khi người ta tìm thấy hạnh phúc đích thực, người ta sẽ bớt ham mê tiện nghi vật chất hơn. Ví dụ bây giờ chúng ta vẫn còn ao ước có căn nhà lầu, thích có xe đắt tiền... nghĩa là mọi người đều khao khát tiện nghi vật chất. Nhưng đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ cần đến nhu cầu cao hơn vật chất, đó là đời sống tâm linh.
Trong thế kỷ XXI, chúng ta sẽ nghe, sẽ thấy từ phương Đông đến Âu Mỹ lên tiếng kêu gọi con người tìm về giá trị văn minh tâm linh; người ta sẽ báo động nền văn minh kỹ thuật không phải là cách giải quyết tối ưu cho các vấn nạn của thế giới mà chính là vấn đề văn minh tâm linh.
Khi con người quay về với văn minh tâm linh trong thiền định, trong sự tĩnh tâm, người ta cũng sẽ tìm lối sống đơn giản, chấp nhận giảm bớt tiện nghi vật chất, sống gần với thiên nhiên hơn. Chúng tôi nghe kể có hai vợ chồng ở bên Mỹ vào rừng sống. Họ tự trồng các loại rau để ăn, khước từ tiện nghi... Có thể xem như là thái độ chống đối văn minh, kỹ thuật, vì họ cho rằng không đưa con người đến hạnh phúc đích thực. Đó là những điểm nho nhỏ thể hiện thái độ sống mới.
Dần dần chúng ta sẽ thấy con người có khuynh hướng sống đơn giản, ít lệ thuộc vào tiện nghi vật chất hơn. Trời nóng không cần bật quạt máy, cầm quạt lá, quạt giấy phe phẩy nhẹ nhàng mà tâm hồn thanh thản; nhà gần chùa không cần đi xe máy, cứ thong thả đi bộ... Dần dần, người ta hướng về hạnh phúc nội tại hơn là hạnh phúc lệ thuộc vào trần cảnh, ngoại cảnh. Thay vì tìm niềm vui ở vũ trường, ở phòng karaoke, người ta sẽ tìm niềm vui ở nội tại với tâm yên tĩnh, với lòng yêu thương, con người sẽ có trách nhiệm với nhau hơn, ý thức cộng đồng cao hơn. Người ta sẽ kêu gọi tình thương giữa người với người mà không còn kêu gọi tự do cá nhân nữa.
DẠY CON TRẺ
Các nước Âu Mỹ cho trẻ phát triển theo cá tính. Đây là điều phương Tây còn sai lầm. Nghe kể chuyện trong một lớp học ở Mỹ, một vài em gác chân lên bàn nghe thầy giáo giảng bài. Thầy không được quyền nói vì tôn trọng quyền tự do cá nhân của trẻ. Đó gọi là văn minh hay sao? Nếu suy nghĩ như vậy thì quá đơn giản. Sự thật, ở đứa trẻ trong quá trình phát triển, cái tốt và cái xấu đều có mặt. Không có đứa trẻ nào tự nhiên hoàn toàn tốt hay hoàn toàn xấu. Mỗi đứa trẻ đều có điểm tốt điểm xấu lẫn lộn mà đứa trẻ chưa nhận biết điều nào tốt, điều nào xấu. Vì thế trẻ phải được hướng dẫn, dạy dỗ, uốn nắn. Đây là trách nhiệm của các bậc cha mẹ và của chúng ta. Điểm nào tốt có sẵn nơi trẻ, cho tự do phát triển; điểm nào xấu phải nhiếp phục, uốn nắn và sửa chữa. Phải giúp trẻ điều đó. Còn nếu để trẻ lớn lên theo cá tính thì cái xấu và cái tốt cùng lúc phát triển. Mà ở con người, cái xấu thường lấn lướt cái tốt. Cái xấu có khuynh hướng mạnh hơn cái tốt vì đó là bản năng. Còn cái tốt thuộc về lý trí, thuộc về lương tâm.
Khi trí tuệ phát triển cao, con người mới “gặp” lương tâm, để tự mình tìm ra cái tốt. Còn khi trí tuệ chưa phát triển cao (để “gặp” lương tâm) thì chúng ta bị bản năng chi phối. Bản năng của con người: ích kỷ là gốc. Ích kỷ, ác độc là cái gốc của con người. Do đó, để cho trẻ tự do phát triển là một quan niệm sai lầm. Vậy mà phương Tây đang tôn thờ. Vì sao vậy? Họ chỉ vịn vào một vài trường hợp trẻ em bị ngược đãi mà áp đặt hết. Ví dụ đánh trẻ đau quá, cha mẹ cãi cọ, cha uống rượu say đánh con v.v... Thế là họ ra luật “quyền trẻ em”. Có thể do quyền này mà trẻ “tự do” xả súng vào bạn, gọi cảnh sát khi cha mẹ la rầy...
Chúng ta hãy đặt vấn đề: quyền trẻ em là đúng, còn quyền của người dạy trẻ em ở đâu? Như vậy là cực đoan. Phương Đông còn đang giữ lại sự quân bình là tôn trọng trẻ em mà vẫn tôn trọng quyền người dạy trẻ. Do vậy, gia đình ổn định, xã hội không gặp những vấn đề bất ổn từ “quyền trẻ em”.
Nếu áp dụng quyền trẻ em mà không tôn trọng quyền của người dạy trẻ thì là một khiếm khuyết không nhỏ. Trẻ em chưa thật sự ý thức điều đúng, điều sai theo lý luận; chính sự dạy dỗ (có trừng phạt) làm cho trẻ xa lánh những điều xấu, giữ lại điều tốt thành thói quen. Ví dụ trong nhà có người ăn kẻ làm, đứa trẻ thấy người làm luôn bị cha mẹ sai bảo, rầy la và em hiểu em được thương yêu chiều chuộng. Lâu dần, em cũng sai bảo, cáu gắt người làm. Em đâu biết việc làm đó của em là xấu, khi lớn lên thói quen đó phát triển, em trở nên người hỗn láo, không tôn trọng người khác... Nếu là cha mẹ tốt, những trường hợp như thế, chúng ta sửa chữa, uốn nắn con cái ngay từ đầu, có thể “trừng phạt” thì trẻ nhớ mãi và chừa thói hư tật xấu (dĩ nhiên không phải là những trận đòn quá đau đến nỗi biến thành trẻ bị ngược đãi).
Cũng có nhiều trường hợp cha mẹ dạy con không được. Chúng tôi từng chứng kiến một người cha bồng con lên thăm chùa. Nhìn đứa bé, chúng tôi nói: “Con dạy nó không được đâu. Nó dữ còn hơn bố nó”. Mà thật cậu bảo nó ngồi, nó vẫn đứng, vẫn chạy đi, cậu bảo gì nó cũng không làm theo. Nói không nghe, đánh thì không dám vì quá thương con. Nên con hư từ đó. Do cái thần của cha mẹ không đủ khống chế tinh thần người con. Hoặc như cha, mẹ la: “Con không nghe lời, cha mẹ đánh chết!”. Vậy mà con vẫn không chừa thói hư tật xấu. Vì cái thần, cái tâm người cha, người mẹ yếu nên con không sợ. Trẻ con thường biết sợ, nên việc phát đòn roi hiệu quả hơn lời nói vì trẻ chưa đủ sức hiểu những lời lẽ giáo huấn trừu tượng. Dân gian có câu: “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Ông cha ta quả thật sáng suốt, việc phát đòn roi đúng mức để dạy trẻ không phải là xấu mà là điều cần thiết cho chúng ta, cho nhân loại.
Hiện nay, người ta đã khám phá loại gène (gien) gây nên tính hiếu động nơi trẻ. Đứa trẻ thích chạy nhảy, đùa giỡn, nghịch ngợm. Mà nói theo đạo Phật, đó là do nhân quả. Do gieo nhân nào đó từ trước nên đời này trẻ có khuynh hướng hiếu động. Sự hiếu động cần cho trẻ phát triển cơ thể, chứ đứa trẻ ngồi đâu ngồi một chỗ thì không lớn nổi. Nhờ vận động, trẻ phát triển như cây cần có gió để lớn. Sự hiếu động của trẻ trong giai đoạn đầu là cần thiết. Tuy nhiên, để tính hiếu động kéo dài thì không tốt. Sự hiếu động cần cho cơ thể nhưng tai hại cho bộ não, còn sự thâm trầm cần cho bộ não nhưng không có lợi cho cơ thể.
Bộ não cần có sự trầm tĩnh, sự yên ắng, sự rỗng rang, ít suy nghĩ. Đây là thiền. Hễ tâm yên ắng chừng nào thì bộ não càng phát triển, càng thông minh chừng nấy. Thật ra, bộ não được định chừng nào thì con người thông minh hơn, nhớ lâu hơn; còn cơ thể nằm, ngồi một chỗ càng ốm yếu. Chính sự trái ngược giữa cơ thể và bộ não như thế, nên chúng ta cần có sự quân bình trong giáo dục thể chất và tinh thần. Phải cho trẻ luyện tập thể dục thể thao để cơ thể phát triển. Song chúng ta cũng chuẩn bị cho trẻ kiềm chế sự hiếu động từ từ, nghĩa là giúp trẻ có sự thanh thản, thâm trầm, nhẹ nhàng, khoan thai, thong thả... có tư cách để làm người lớn. Phương Tây lại trật một lần nữa ở chỗ này: giải trí hướng về sự hiếu động. Các loại nhạc kích động được xem là “mẫu mực” của một tầng lớp trẻ và như vậy khuynh hướng hiếu động được nuôi dưỡng, mà sự nuôi dưỡng quá lâu thì không thể kiềm chế được... Con người ở tuổi 30-40, bộ não bắt đầu hơi mệt, dễ bị căng thẳng, gọi là suy nhược thần kinh. Bệnh thần kinh, tâm thần phổ biến ở phương Tây, vì lý do sự hiếu động không được kiềm chế mà lại được khuyến khích chỉ bởi vì họ chưa biết rằng hoạt động của bộ não và cơ thể trái ngược nhau. Cơ thể cần hiếu động nhưng bộ não cần cái định. Phương Đông hay hơn phương Tây ở điểm này. Các môn nghệ thuật ở phương Đông đi vào sự trầm lắng sâu xa, như nghệ thuật cắm hoa hay trà đạo của Nhật Bản thể hiện sự trầm lắng, yên tĩnh. Do vậy, bộ não người Nhật phát triển tốt hơn.
Vì thế, về đường lối giáo dục chúng ta phải hiểu rõ vấn đề này. Trẻ hiếu động ở giai đoạn đầu, nhưng chúng ta chuẩn bị kiềm chế sự hiếu động từ lúc trên 9 tuổi dần dần đến tuổi 20, cho các em những bài học triết lý, hiểu đạo lý để kiềm chế sự hiếu động. Đến tuổi 30 là vừa “tam thập như lập”: chững chạc, thâm trầm... rất người lớn! Đó là quan điểm giáo dục mà chúng ta cần chú ý, cần quan tâm.
Đồng thời, chúng ta cũng giáo dục các mặt khác:
Giáo dục trẻ có ý thức cộng đồng: giữ gìn vệ sinh chung, giữ gìn an ninh trật tự chung trong làng xóm như mở máy hát vừa đủ nghe để không làm phiền hàng xóm (vì biết đâu bên hàng xóm có người bệnh, người mất ngủ cần sự yên tĩnh). Đó là cách sống biết quan tâm tới người chung quanh. Dạy trẻ sống trong bất cứ môi trường nào cũng phải biết quan tâm đến quyền lợi, niềm vui, hạnh phúc của những người chung quanh mình. Dần dần đứa trẻ lớn lên, trưởng thành là người có đạo đức, sống không ích kỷ, không tham lam.
Luật giao thông cũng được dạy kỹ cho trẻ. Hơn mấy mươi năm trước, luật giao thông ít được chú ý. Trẻ lớn lên có tiền mua xe chạy ào ào; có thi bằng lái cũng “đậu” dễ dàng, tai nạn giao thông xảy ra liên tục. Hiện nay, nhất là ở các thành phố lớn, người ta vi phạm luật giao thông hàng giờ, hàng ngày. Chạy vượt đèn đỏ, chạy quá tốc độ, tranh đường làm cho bộ mặt thành phố lộn xộn, nét đẹp, nét văn hóa mất dần...
Trang bị cho trẻ kiến thức về y tế để trẻ biết tự chăm sóc, bảo vệ bằng cách biết sử dụng một số loại thuốc căn bản...
Chúng ta cũng dạy trẻ biết yêu thiên nhiên, yêu màu xanh hoa lá; không được hái hoa, bẻ cành, lặt lá; dạy trẻ lớn lên biết tạo màu xanh, bảo vệ môi trường trái đất này... Yêu thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật hoang dã là đạo đức quan trọng mà người tại gia lẫn người xuất gia (Tăng, Ni) đều phải quan tâm.
Dạy trẻ biết yêu súc vật, từ con vật nhỏ đến con vật lớn. Không được bẻ cánh, ngắt đầu con gián, con dế chơi cho... vui; mèo chó đều biết đau, không nên hành hạ, đánh đập chúng ...
Dạy trẻ có tinh thần thượng tôn pháp luật. Chúng tôi nghe người thầy đi Ấn Độ về kể người dân Ấn tự giác tôn trọng luật giao thông. Ví dụ tới ngã tư có đèn đỏ, dù bên kia đường không có ai, họ vẫn đứng đợi đèn xanh bật mới đi (bên ta, có người liếc thấy không ai, chạy vèo qua...).
Trẻ phải được dạy kỹ từ nhỏ. Như dạy điều này là tham nhũng, điều kia là hối lộ, tiền bồi dưỡng này sai trái không được nhận v.v... Chúng tôi đọc trên báo Tuổi Trẻ có bài: “Bài học hối lộ” đại ý như sau: Cô bé học bài đến giờ đi ngủ vẫn còn ngồi học. Người mẹ bảo tắt đèn đi ngủ, cô bé khóc nói chưa thuộc bài, ngày mai sợ bạn lớp trưởng dò bài không thuộc, mét lại cô. Mẹ dỗ dành con đi ngủ, mẹ cho tiền mua cuốn Đôrêmon cho bạn lớp trưởng, dặn bạn báo cáo với cô là con có thuộc bài... Tác giả bài báo bình luận việc cho bạn lớp trưởng quyển sách để chuộc “tội” không thuộc bài và việc đưa hối lộ của người lớn tuy có khác nhau về hiện tượng nhưng bản chất chỉ là một. Như thế, có phải người ta đã dạy con biết hối lộ, tham nhũng ngay từ còn nhỏ? Người ta quên dạy trẻ biết cám ơn khi được giúp đỡ, làm lỗi biết xin lỗi, đưa vật gì cho người lớn phải đưa bằng hai tay v.v...
Có một điều làm cho chúng tôi băn khoăn là dù lúc còn nhỏ, trẻ được dạy những điều tốt đẹp, là đứa trẻ ngoan, nhưng lớn lên, học cao hơn, tính tình lại thay đổi. Vì sao các em thay đổi quan điểm khi qua đại học. Vì đạo đức truyền thống không còn được tôn vinh mà tôn trọng giá trị vật chất, quá đề cao khoa học kỹ thuật. Hiện nay, nhiều điều khoa học vẫn chưa tìm ra. Ví dụ khoa học không tin có thế giới siêu hình, không tin có việc đầu thai chuyển kiếp, không tin có các cõi trời... không thấy, không tin nhưng đó là điều có thật. Do đó, những điều mà chúng ta chưa biết, phải khiêm tốn tìm hiểu. Chúng ta tôn trọng khoa học vì đó là sự tích lũy kiến thức của không biết bao nhiêu vĩ nhân, nhà bác học. Nhưng chúng ta cũng hiểu tất cả những kiến thức mà nhân loại đang có như hạt cát so với những điều xảy ra trong vũ trụ.
Cho dù ở tuổi 18 được quy định là đủ tư cách làm công dân nhưng chúng ta nhìn người 18 tuổi đã trưởng thành chưa? Chưa đâu. Còn non nớt, suy nghĩ chưa chín chắn, mọi thứ còn cạn cợt... Đừng nghĩ là sinh viên, là qua đại học thì người đó suy nghĩ đúng, hành động đúng. Việc sinh viên, học sinh sử dụng ma túy không phải là hiếm. Nhà nước đang báo động việc bọn buôn ma túy nhắm vào lớp trẻ bởi vì đánh vào lớp trẻ là đánh vào tương lai của dân tộc, vào sự thịnh suy của đất nước. Vì thế, học sinh sinh viên cần phải được dạy về đạo đức thường xuyên. Các em không chỉ được dạy lòng yêu nước mà còn được dạy phải có trách nhiệm với cộng đồng; phải yêu thương cả nhân loại, cả thế giới này.
Có lẽ đến cuối thế kỷ XXI, thế giới sẽ bớt đi sự cách biệt, trái đất này như một đất nước chung. Để chuẩn bị cho điều này, lớp trẻ phải được chuẩn bị tư tưởng từ bây giờ. Do đó, trong bài kinh tụng: “LỜI NGUYỆN CẦU BUỔI SÁNG DÀNH CHO TRẺ” chúng tôi viết câu này:
Xin cho con nguyện từ đây
Siêng năng học tập để ngày lớn khôn
Đáp đền cha mẹ công ơn
Đắp xây thế giới đẹp hơn bây giờ.
Chuẩn bị cho trẻ trở thành công dân thế giới, ý thức về thế giới chứ không hạn hẹp trong một quốc gia mà vẫn giữ gốc quốc gia, vì đó là nơi xuất phát, nơi ràng buộc về pháp luật, về truyền thống, về đời sống tinh thần, tâm linh của phương Đông.
THAY LỜI KẾT
Có một cô gái xin việc làm ở công ty Mỹ. Cô không dám ghi lý lịch có anh là tu sĩ Phật giáo, vì cô sợ người ta... cười chê sao đó. Nhưng cô hỏi người bạn Mỹ: “Tôi có anh là tu sĩ Phật giáo. Vậy có nên ghi vào không?” Người bạn Mỹ bảo: “Hãy ghi vào”. Đối với bên Mỹ ngày nay, đạo Phật là “very nice” (rất tốt, rất đẹp). Cho nên, chúng ta không ngạc nhiên khi biết môn PHẬT GIÁO HỌC được dạy nghiêm túc trong các trường đại học ở Mỹ và là một môn học quan trọng. Ở phương Tây, các tôn giáo như: Anh giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành v.v... có mặt trước Phật giáo. Vậy mà ngày nay, họ tiếp nhận Phật giáo, đưa môn Phật giáo vào học đường. Chúng ta chưa làm được điều đó...
***
Nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục cao hơn, sâu hơn, chúng ta đã bàn về vấn đề giáo dục trên quan điểm của đạo Phật, trong đó mảng giáo dục đạo đức cực kỳ quan trọng mà chúng ta cần phải quan tâm rất nhiều. Bác Hồ từng nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Trên quan điểm đạo Phật, chúng ta giáo dục và đào tạo một tầng lớp trẻ vừa có đức vừa có tài để gánh vác vận mệnh quốc gia, xây dựng một đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc; xây dựng một thế giới hòa bình, an vui, hạnh phúc.


