NGÔN NGỮ LÀ PHƯƠNG TIỆN ĐỂ GIAO TIẾP
Con người không thể sống cô độc như một ốc đảo mà cần có sự tương quan, giao tiếp với mọi người. Có những ẩn sĩ giam mình trong cô tịch, trong hiu quạnh, đó là lúc họ quyết liệt tìm một sự giác ngộ tâm linh, họ tạm thời cắt đứt tương quan giữa mình với mọi người, nhằm dồn hết tâm trí trong việc thực hiện công phu tu tập. Đó chỉ là phương cách tạm thời, không phải là cứu cánh, là mẫu mực.
Vì thế, chúng ta không nên nghĩ rằng đạo Phật chủ trương sống cô độc. Không phải như vậy. Đối với những vị đắc đạo, ngã chấp đã chấm dứt, lòng từ bi của những vị đó đối với muôn loài rất mạnh mẽ nên tâm của những vị đó hoàn toàn sống vì chúng sinh, không còn sống cho mình nữa. Đó là những vị Thánh. Các Ngài hiện diện với một thân xác giữa thế gian này để sống vì mọi người. Hay dù ẩn thân đi chỉ còn lại tâm linh bàng bạc khắp vũ trụ thì những vị đó cũng không bao giờ quay lưng lại với chúng sanh, mà luôn có lòng thương yêu và gia hộ chúng sanh mãi mãi không bao giờ chấm dứt.
Còn những người phàm phu như chúng ta, nhu cầu tương quan, tiếp xúc với mọi người rất mãnh liệt. Đây là khuynh hướng tự nhiên trong tâm hồn mỗi người. Chúng ta cần có ai đó để thương yêu và luôn luôn cần có người thương yêu mình trở lại. Đó là nhu cầu thuộc bản năng của con người, và cũng làm cho con người hạnh phúc. Nếu một người nào đó không thích giao du với ai, thích sống cô độc thì chỉ có một trong hai trường hợp: hoặc là người này bị ai phụ bạc, ruồng rẫy nên hận đời, rồi không muốn giao du với ai, tâm trạng còn đang trong giai đoạn bệnh hoạn; hoặc là người đang tinh tấn tu hành, tạm thời muốn tránh duyên để không bị bận tâm.
Chúng ta xét lại mình có ở một trong hai trường hợp đó không? Có phải chúng ta đang ở giai đoạn tu tập một cách quyết liệt, nhập thất tránh duyên không tiếp xúc với ai? Hay chúng ta bị phụ bạc, thất tình, hận đời nên cũng không giao du với ai nữa? Nếu không phải là hai trường hợp trên thì chúng ta là những người luôn luôn cần sự giao tiếp.
Tuy nhiên, với những người đệ tử Phật chúng ta giao tiếp để làm gì? - Để tập luyện tâm từ bi thương yêu theo như lời Phật dạy, chứ không phải giao tiếp để thỏa mãn khuynh hướng tự nhiên của con người.
Trước đây, khi chưa biết Phật Pháp, do nhu cầu giao tiếp, chúng ta cần nói chuyện với người này người kia, hoặc tổ chức những cuộc đi chơi với nhóm bạn. Đó là thói quen tự nhiên, là sở thích, là giải trí. Còn bây giờ, biết Phật Pháp rồi, tuy chúng ta vẫn giao tiếp nhưng giao tiếp không còn là để nói chuyện vui chơi làm mất thời gian như trước kia nữa, mà vì lòng từ bi muốn làm cái gì đó lợi ích cho con người, cho cuộc đời. Chúng ta giao tiếp để bàn việc làm từ thiện; hoặc an ủi người đang gặp chuyện buồn; hoặc khuyên giải điều hay, lẽ phải cho người lầm lạc v.v... Như thế, mục tiêu giao tiếp của người đệ tử Phật từ hôm nay phải khác với sự giao tiếp trước đây, là phải đưa được điều thiện vào trong tâm mọi người.
CON NGƯỜI DÙNG NGÔN NGỮ ĐỂ GIAO TIẾP
Mỗi loài vật có một phương tiện để giao tiếp khác nhau.
Trong đại dương, có những loài cá phát ra tia siêu âm lan truyền trong môi trường nước. Chúng có thể dùng tia siêu âm để liên lạc và định vị đối tượng chung quanh. Khi một con cá này muốn giao tiếp với con cá khác, nó sẽ phát tia siêu âm thẳng đến con cá đó, không lạc ra ngoài. Khi tia siêu âm được bắt vào da con cá kia và rung động theo từng chập, từng đoạn mạnh yếu khác nhau, con cá đó cũng hiểu con cá này muốn nói điều gì.
Hoặc trên mặt đất có những loài sử dụng tiếng kêu để giao tiếp (giao tiếp bằng âm thanh) mà gần gũi với con người nhất là loài chó. Khi nghe tiếng chó sủa, chúng ta thường không hiểu con chó muốn nói điều gì nhưng những con chó thì hiểu với nhau, chúng phân biệt được những tiếng kêu để chào đón, vui mừng, cảnh giác hay giận dữ.
Riêng loài người sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với cách phát âm lắt léo, phức tạp hơn loài vật rất nhiều. Mỗi quốc gia có một ngôn ngữ riêng. Người của quốc gia này khi học cách sử dụng ngôn ngữ của quốc gia khác đều gặp một số trở ngại nhất định, đặc biệt đối với những âm không có trong ngôn ngữ bản địa của họ.
Ngôn ngữ là phương tiện chính của loài người để giao tiếp với nhau. Từ ngôn ngữ, người ta có thể truyền đạt cho nhau ý nghĩ, tình cảm, kiến thức, thái độ v.v... để con người đến với nhau, gần gũi, chan hòa với nhau trong cuộc sống. Ví dụ chúng ta nghe dự báo thời tiết ở miền Trung có bão. Nhìn mưa, chúng ta nghĩ ở ngoài đó đang bị ngập lụt, liền nói với người bạn: “Đồng bào ngoài đó đang trong cảnh khốn khổ và những người đi cứu trợ bão lụt thật đáng quý!” Đó là những tình cảm, cảm xúc được diễn đạt bằng ngôn ngữ qua câu nói.
Ngoài ra, sự giao tiếp có khi chỉ bộc lộ bằng nét mặt hay qua ánh mắt, qua thái độ im lặng. Ví dụ có vài người nói chuyện gây ồn ào trong một buổi hội họp. Có người nói: “Xin lỗi anh đừng nói lớn quá!” Nhưng cũng có người bày tỏ sự khó chịu bằng nét mặt nhăn nhó hay có người chỉ nhìn họ và im lặng. Họ có hiểu thái độ đó hay không tùy theo sức cảm nhận hay khả năng hiểu của mỗi người.
Mỗi quốc gia có ngôn ngữ riêng và có cái khó khác nhau trong cách phát âm và truyền đạt. Vì thế, chúng ta có thể hiểu sự khó khăn của những người sống ở nước ngoài mà không hiểu được ngôn ngữ, văn hóa của đất nước mà mình đang sống. Người ta không hiểu mình, mình cũng không hiểu người ta. Không đi vào tâm hồn nhau, không đồng cảm với nhau là điều đau khổ của con người. Ngôn ngữ là phương tiện để chúng ta đi vào tâm hồn nhau, hiểu đuợc nhau là vậy.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, là con đường cho chúng ta đi vào tâm nhau, đến với cuộc đời nhau, gần gũi, thông cảm và thương yêu nhau. Tuy nhiên, ngôn ngữ đồng thời cũng là hàng rào ngăn cách con người với nhau. Vì sao vậy? Trên thế giới có quá nhiều ngôn ngữ. Sự khác biệt ngôn ngữ cũng làm cho con người ngăn cách, chia rẽ nhau (ngoài những nguyên nhân khác như tôn giáo, chủng tộc, quốc gia, ý thức chính trị, quan điểm triết học). Ví dụ, riêng Việt Nam chúng ta, tiếng nói, giọng nói khác nhau nhiều khi cũng không hiểu nhau. Một hay hai người Huế, người Quảng mà ở trong cộng đồng người Nam thế nào cũng bị chọc ghẹo, hoặc một hai người Bắc ở trong cộng đồng người Nam cũng thấy khó hiểu nhau, huống chi ngôn ngữ khác nhau hẳn sẽ làm cho con người càng chia cách nhau hơn!
Trong Kinh Cựu Ước (Thiên Chúa giáo) có câu chuyện sau:
Người dưới trái đất muốn lên cõi trời, họ xúm nhau làm một cái tháp gọi là tháp Baben. Họ xây cao, cao mãi... Họ nghĩ rằng từ cái tháp này họ sẽ đi lên trời, đi xuống đất lúc nào tùy ý, không còn cảnh ở dưới đất dang tay cầu nguyện nữa. Nghĩ vậy nên mọi người đổ dồn về nơi xây tháp ngày càng đông để khiêng đá, khiêng đất... Chúa Trời sợ tháp làm xong loài người sẽ ào ào lên trời, xuống đất một cách tự do thì sẽ làm cho cõi trời không còn trang nghiêm nữa.
Vì thế, ông Trời nghĩ cách phá kế hoạch xây tháp. Loài người đang đồng tâm hiệp lực với nhau để xây tháp. Muốn phá không còn cách nào khác hơn làm cho họ chia rẽ. Muốn họ chia rẽ thì làm cho họ nói khác nhau về ngôn ngữ. Ông Trời làm phép lạ, biến những người đang xúm nhau xây tháp bỗng mỗi người nói một thứ tiếng khác nhau, người nói tiếng Ý, người nói tiếng Do Thái, người nói tiếng Anh, người nói tiếng Ả Rập... có đến mấy ngàn ngôn ngữ. Từ đó, người ta không hiểu nhau. Người này bảo người kia vác cục đá qua chỗ khác thì họ vác đá phang vào nhau; mọi người cãi cọ, đánh lộn với nhau rồi từ từ bỏ đi. Những người có cùng ngôn ngữ thì đi với nhau. Tháp Baben xây không thành và cõi trời không còn lo lắng loài người xâm lấn.
Câu chuyện ngụ ngôn trong Kinh Cựu Ước này cho chúng ta bài học lý thú về ngôn ngữ. Chính ngôn ngữ đã làm con người chia rẽ nhau. Khi biết ngôn ngữ là nguyên nhân chia rẽ thì chúng ta phải có thái độ vượt qua sự khác biệt về ngôn ngữ.
Việc vượt qua sự khác biệt về ngôn ngữ có nhiều phương pháp, mà phạm vi gần nhất là chúng ta không nên phân biệt các miền và giọng nói, vì tất cả đều là người Việt Nam. Chúng ta tìm tới tình thương yêu, sự hòa hợp, sự đoàn kết trong cộng đồng người Việt Nam. Đồng thời, chúng ta cũng sẽ vượt ra khỏi biên giới Việt Nam, để thương yêu, đoàn kết tất cả, đi tới sự hòa hợp đại đồng mà ngôn ngữ không còn là chướng ngại. Còn cách thức vượt qua như thế nào thì tự nó sẽ đến từ từ.
NGÔN NGỮ LÀ KÝ HIỆU ĐỂ DIỄN TẢ TƯ TƯỞNG
Khi nghĩ về một điều gì, chúng ta sẽ diễn tả nó bằng một ký hiệu là ngôn ngữ. Ký hiệu này không thuộc về di truyền mà thuộc về yếu tố xã hội. Ví dụ một người Nga sinh trưởng ở Việt Nam, nếu không tiếp xúc với người Nga thì họ không biết nói tiếng Nga mà chỉ nói tiếng Việt. Hoặc một người Việt sinh trưởng ở Anh mà gia đình không dạy tiếng Việt thì cũng không biết nói tiếng Việt.
Tại sao giọng nói của những người trong một gia đình có thể giống nhau như vậy? Khi nghe một người nói qua tai, não bộ sẽ điều khiển cho các bộ phận phát âm như môi, răng, lưỡi, hàm dưới... kết hợp lại để phát ra âm thanh giống hệt âm thanh ta vừa nghe. Vì thế khi thường xuyên nghe ai nói, chúng ta sẽ bị nhập tâm để rồi phát âm giống như vậy. Chúng ta để ý thấy anh chị em trong cùng một gia đình thường có giọng nói giống nhau.
Rồi có người nói giọng cao, có người giọng trầm, hoặc người có giọng nói khiến người nghe có cảm tình; hoặc người có giọng nói chát chúa, khó gây được cảm tình. Giọng nói, giọng hát hay hoặc dở cũng đều do nhân quả.
Đối với trẻ chưa biết nói thì chúng nhận biết sự việc bằng trực giác, không bằng ngôn ngữ. Đứa trẻ mới sinh ra, tâm hồn của nó có khuynh hướng của kiếp trước đang ngủ ngầm trong đó, nhìn mặt có thể biết đứa nào hiền, đứa nào dữ. Tuy tâm hồn chưa bộc lộ và còn đang thụ động, nhưng đứa trẻ đón nhận được hoàn cảnh bên ngoài. Người tiếp xúc nó có thái độ gì, nó biết từ tâm trực tiếp với tâm người kia, không qua trung gian ngôn ngữ. Ví dụ nói: “Mẹ thương con lắm”, đứa trẻ không hiểu bốn tiếng đó nhưng nó hiểu cái tâm của người mẹ đang bày tỏ tình thương yêu đối với nó. Dựa vào tình thương yêu đó, nó biết nó được làm nũng, được khóc để đòi cái gì đó... Nó biết nhận ra được tình thương yêu từ trái tim của người mẹ, người cha.
Hoặc nếu người chung quanh thường gây cho đứa trẻ sự sợ hãi như hù dọa dữ dằn, đứa trẻ quen sợ hãi rồi thì lớn lên nó trở nên nhút nhát, thụ động, tinh thần, tâm lý trở nên bệnh hoạn. Vì sao? Vì lúc đó tuy chưa có ngôn ngữ nhưng nó đoán được thái độ, cái tâm của người chung quanh bằng trực giác.
Chúng ta cũng vậy, là đứa trẻ ngày xưa, rồi bây giờ lớn lên, chúng ta quên hết tâm niệm, đời sống của mình lúc còn nhỏ, chỉ trừ những trường hợp như sau:
Một là chúng ta bị thôi miên. Có người nào đó có khả năng thôi miên, họ giúp chúng ta nhớ lại quãng đời lúc chúng ta chưa biết nói, nhớ lại cái tâm chúng ta lúc nhận được thái độ của người chung quanh, lúc đó, chúng ta hiểu trực tiếp bằng tâm chứ không phải bằng ngôn ngữ.
Hoặc là người tu được định sâu, lần lần nhớ lại kiếp quá khứ. Trước khi nhớ được kiếp quá khứ xưa, người tu nhớ lại quãng thời gian gần nhất của kiếp này từ lúc mới sinh, đến một hai tuổi tới bây giờ. Tuy nhớ lui lại, nhưng cũng không hiểu trong thời gian đó mẹ mình đã nói gì mà chỉ nhận được tình thương yêu, sự giận dữ, sự buồn bã của mẹ, của người chung quanh trực tiếp từ tâm đến tâm.
Đứa trẻ học ngôn ngữ (học nói) cũng do năng lực hiểu từ tâm đến tâm, dần dần nó hiểu và nhận ra được lời nói của người khác. Ví dụ nói: “Lại đây con!”, đứa trẻ hiểu được cái tâm của người mẹ là gọi nó tới; đồng thời nó nghe được âm thanh của ba tiếng “lại đây con” và dần dần đứa trẻ học được ngôn ngữ (nghe, nói). Theo thời gian đứa trẻ lớn lên, nó không còn “nhận” được tâm để hiểu nữa mà chỉ dựa vào ngôn ngữ để hiểu, để giao tiếp. Ví dụ chúng ta nghe người khác nói “Tôi thương chị lắm”, chúng ta dựa vào ngôn ngữ (câu nói đó) để tin, nhưng trong tâm họ thương hay ghét mình cũng không biết rõ, nghĩa là chúng ta bám vào ngôn ngữ hoàn toàn chứ không còn hiểu, không còn biết trực tiếp từ tâm đến tâm như khi còn là đứa trẻ nữa.
Cũng vậy, chúng ta học ngoại ngữ phải biết nghĩa trước rồi mới biết nói. Ví dụ, tiếng Anh dịch chữ Buddha là Phật, hay Pagoda là Chùa. Chúng ta không biết vì sao cái khả năng biết trực tiếp tâm người khác lại bị mất đi. Không hiểu có phải do chúng ta bị động tâm, rồi qua thời gian dùng ngôn ngữ mà mất khả năng có thể biết được thẳng tới tâm người khác (trực giác), một khả năng mà ngay khi còn là đứa trẻ, chúng ta đã có.
Có hiện tượng người sói. Một đứa trẻ không biết vì lý do gì bị sói bắt đi, không ăn thịt mà nuôi đứa trẻ lớn lên, chuyện này chúng ta có thể giải thích sau: Người mẹ đã bị con sói ăn thịt no nê rồi nên nó không ăn thịt đứa con nữa, nó tha đứa con vào rừng. Đây có thể là con sói vừa đẻ, đang căng sữa, nó cho đứa trẻ bú. Đứa trẻ cứ bú sữa sói mẹ rồi lớn lên từ từ. Đứa trẻ sống với bầy sói nên nó không nói được tiếng người, khi gặp con người nó chỉ biết tru lên từng hồi. Cả đàn sói và đứa trẻ như đồng loại, quấn quít nhau.
Sau này, người ta thấy đứa trẻ lạc trong đàn sói, nên đuổi đàn sói đi để bắt đứa trẻ về nuôi. Nó tru tréo, cào cấu dữ dằn. Người ta tìm cách dạy dỗ nó nhưng không được, vì đứa trẻ lúc này đã mất cái khả năng biết, hiểu từ tâm đến tâm. Vì ngay từ nhỏ, ngôn ngữ mà đứa trẻ học được không phải là tiếng người nên bây giờ nó không nói được tiếng người. (Thú vật cũng có ngôn ngữ của chúng. Có thể đứa trẻ đã học được ngôn ngữ của loài sói).
Còn chuyện Tarzan là một đứa trẻ bị lạc vào rừng, ở chung với thú vật. Lớn lên, Tarzan có năng lực làm bạn của muôn loài và là chúa tể rừng xanh. Tarzan cưỡi voi, chơi với khỉ, cười với gấu v.v... và lớn lên vẫn không biết nói cho đến khi gặp cô gái người Anh (lúc đó người Anh cai trị Ấn Độ, châu Phi), do bản năng, Tarzan yêu cô gái này, tìm cách đột nhập vào lâu đài của cô gái ở (cha cô là một sĩ quan Anh cai trị vùng đó), Tarzan bị bắt. Người ta dạy tiếng Anh cho Tarzan. Cuối cùng Tarzan cũng nói được tiếng Anh.
Chuyện Tarzan là một chuyện phim. Thực tế, không có người nào sống với thú từ nhỏ tới lớn mà nói được tiếng người. Đứa bé người sói được con người nuôi một thời gian, do không thích hợp với tập tính của nó nên nó chết.
Đa phần chúng ta mất trực giác, nhưng cũng có nhiều người vẫn giữ được trực giác từ nhỏ nên khi lớn lên có thể hiểu được trực tiếp qua tâm người khác, nhất là phụ nữ. Phụ nữ có sự nhạy cảm của tâm hồn và trực giác nhạy bén. Tuy nhiên, phụ nữ cũng nên cảnh giác vì dễ tin vào lời nói ngon ngọt. Ví dụ cô gái gặp một anh chàng, ngay từ ban đầu cô gái đã cảm thấy không vừa lòng lắm. Nhưng mỗi ngày, anh ta cứ mang hoa hồng đến tặng, rồi cô xiêu lòng, tin theo. Về sau mới biết anh ta không phải là người tốt, không thật lòng thương yêu cô.
Vì thế, muốn hiểu một người như thế nào, chúng ta phải tiếp xúc, phải biết cách sống của người đó một thời gian dài, và không nên tin vào ngôn ngữ lúc giao tiếp ban đầu.
SO SÁNH NGÔN NGỮ VÀ TƯ TƯỞNG
Ngôn ngữ và tư tưởng có liên quan đến năm ấm, bao gồm: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Năm ấm là một trong những giáo lý của đạo Phật.
Thường thường tư tưởng (ý) đi nhanh hơn ngôn ngữ. Ngôn ngữ bộc lộ ở hai chỗ: Một là bộc lộ ở trong tâm; hai là bộc lộ ra ngoài miệng (khẩu).
Ngôn ngữ bộc lộ ở trong tâm
Ví dụ 1, khi thấy một người ăn mặc sang trọng đẹp đẽ, trong tích tắc ta khởi lên một ý nhận xét: người này mặc đồ rất đẹp. Đó chỉ là ý, chưa thành ngôn ngữ. Cái ý đó nhá rất nhanh, sau đó cái tâm mới diễn tả câu: “Người này mặc đồ rất đẹp”.
Ví dụ 2, đi ngoài đường, chúng ta gặp một bà cụ già lọm khọm, nghèo nàn, chống gậy đi một mình. Tích tắc cái ý khởi lên rất nhanh: không hiểu cụ già sống với ai, con cháu ra sao, có ai chăm sóc cho cụ không? Sau đó, từ từ trong tâm mới diễn tả: “Tội nghiệp bà cụ quá, không biết bà cụ sống như thế nào? Có ai nuôi dưỡng, chăm sóc cụ không?”
Ví dụ 3, khi giảng Pháp, những câu giảng sư nói ra có suy nghĩ kịp không? Không. Trước đó, vị thầy có soạn dàn bài để lúc giảng không bị động, không đi xa chủ đề chính. Khi trình bày bài giảng, trong tâm vị thầy có cái ý rất nhanh xuất hiện trước, còn câu nói thì trình bày từ từ qua miệng sau để nói những điều muốn nói. Như khi người thầy nói: “Người Phật tử phải biết làm phước”, trong tâm nói trước rồi ngoài miệng mới nói: “Người Phật tử phải biết làm phước”. Ngôn ngữ trong tâm nhanh hơn, ngôn ngữ ra ngoài miệng thì chậm hơn.
Tóm lại, cái ý có trước trong tâm rất nhanh, rồi sau đó tâm mới diễn đạt ý (ý tưởng) bằng ngôn ngữ. Nói cách khác, ngôn ngữ là phương tiện để tâm diễn tả tư tưởng.
Muốn hiểu rõ hơn, chúng ta liên tưởng đến những người đang đá bóng. Chúng ta thấy người ta lừa bóng lúc nhanh lúc chậm, phải móc chân thế này, phải xử lý nhanh gọn thế kia, bóng tới phải đá... Những hành động đó không phải được suy nghĩ hay chuẩn bị trước. Vậy cái gì chỉ đạo đôi chân người đó? Do cái ý ở trong tâm chỉ đạo, cái ý xuất hiện nhanh điều khiển đôi chân.
Như vậy, ngôn ngữ đã có trong tâm. Tâm chúng ta nói lải nhải suốt ngày. Có khi chúng ta nghĩ điều gì đó vẩn vơ hoặc tưởng tượng đang nói chuyện với ai đó.
Hoặc một người biết tu đôi khi cứ tư duy, suy tưởng cái đạo lý trong tâm mình. Ví dụ: “Cuộc sống là như vậy thì đạo lý nằm ở chỗ nào?” - “Đạo lý đạo Phật phải ứng dụng như thế nào trong xã hội ngày nay?” Đó là loại ngôn ngữ trong tâm. Đến khi biết tu tập, ngôn ngữ trong tâm mới dừng lại, những câu nói lải nhải trong tâm mới chấm dứt. Có nhiều phương pháp để nhiếp tâm như niệm Phật hoặc theo dõi hơi thở; hoặc quán từ bi, quán vô thường... Khi những câu nói lải nhải trong tâm dừng lại rồi thì tâm im phăng phắc không còn nói câu gì trong tâm nữa.
Để có thể nhiếp tâm thành công trong thiền định là điều không dễ dàng. Thực hành thiền định để làm chủ tâm thức là vô cùng khó khăn, đòi hỏi ý chí phi thường, và có thể lấy mất vài mươi năm khổ nhọc.
Đầu tiên ta phải ngồi đúng tư thế kiết già hoa sen; kế đến phải giữ thân mềm mại và bất động; tiếp theo là tập biết rõ toàn thân, cảm giác toàn thân, an trú toàn thân. Thời gian điều thân như thế này phải mất vài ba tháng cho thật thuần thục.
Sau đó ta tập quán thân là vô thường, ngày nào sẽ rã tan về với cát bụi, cả xương cốt cũng sẽ tan thành bụi đất, mất luôn. Công phu an trú toàn thân, cộng với biết thân vô thường luôn luôn đi đôi và tồn tại mãi mãi trong sự tu tập của chúng ta.
Tiếp theo nữa, khi tâm lắng xuống, ta thấy rõ hơi thở vào, hơi thở ra nhẹ nhàng rõ ràng. Ta sẽ không được điều khiển hơi thở theo ý muốn của mình, mà chỉ lặng lẽ biết rõ hơi thở vào ra tự nhiên mà thôi. Có khi hơi thở nhiều, có khi hơi thở ít, có khi hơi thở dài, có khi hơi thở ngắn, ta chỉ biết mà không được điều khiển gì cả. Vừa theo dõi hơi thở như thế, vừa an trú toàn thân, vừa biết thân vô thường. Hay nói cách khác, ta thấy trong thân vô thường này có hơi thở vào, có hơi thở ra rõ ràng như thế.
Mỗi khi vọng tưởng khởi lên, ta chỉ cần quay lại an trú toàn thân là vọng tưởng biến mất. Vọng tưởng có một đặc tính là kéo sự chú ý của ta rời khỏi thân, vì thế khi ta trở lại an trú toàn thân thì vọng tưởng tắt. Đến khi nào ta luôn an trú toàn thân, luôn biết thân vô thường thì vọng tưởng rất nhạt nhòa. Lúc đó hơi thở vào ra đều hiện bày rõ ràng, và góp phần giúp ta nhiếp tâm sâu hơn nữa.
Có nhiều khi ta đạt được tâm an tịnh lạ thường, nhưng thật ra chưa phải là chứng đắc đạo quả gì cả, vì sâu hơn bên trong vẫn còn những ý niệm vi tế đang liên tục suy luận đánh giá sự tu hành của ta. Phật gọi những ý niệm vi tế đó là tầm tứ. Nếu khi xả thiền ra, gặp người khác, ta khoe rằng mình ngồi thiền đã nhập được định, là bị tổn phước. Tiết lộ như thế là ta mắc hai lỗi: một là khoe khoang (khi tu tập phải kín đáo, không được khoe khoang); hai là tưởng mình đã tu cao trong khi đang còn thấp, vì chưa phải thật sự nhập định. Tâm họ chưa đến mức nhập được định bởi còn những ý niệm vi tế nhá lên rất nhanh. Vì hai lỗi trên, người đó bị tổn phước nặng nề, qua ngày mai, ngồi thiền tâm sẽ bị loạn như chưa từng tu gì cả.
Ví dụ, khi chúng ta nhiếp tâm, trong tâm không còn nói lải nhải. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn sâu vào trong tâm mới thấy còn rất nhiều ý vi tế liên tục xuất hiện rất nhanh. Nên hành giả khi tu đến giai đoạn tâm yên bặt không còn ngôn ngữ, họ có thể được thêm chút niềm tin trong việc tu tập nhưng hoàn toàn vẫn có thể bị loạn tâm, thoái đọa, thậm chí điên loạn. Đây là chỗ rất nguy hiểm. Ở điểm này chúng ta phải nhờ thầy hướng dẫn. Thầy hướng dẫn cho đệ tử biết rằng đệ tử chưa vào định, đệ tử chỉ mới dừng lại được ngôn ngữ nhưng chưa dừng được ý niệm. Sau sự giải thích cảnh báo đó, người đệ tử trở lại nhiếp tâm vào mới thấy rõ đúng như thầy nói. Tâm yên phăng phắc, không còn nói lời nào nhưng vẫn còn nhiều ý vi tế xuất hiện. Biết như vậy nên ta phải gắng tu cho đến khi nào những ý vi tế đó tắt luôn. Lúc đó mới thật sự vào định ban đầu. Bước đầu chỉ vào định, chứ đi vào định còn sâu nữa, sâu thăm thẳm. Tắt được những ý niệm vi tế mới thật sự gọi là nhập định.
Thường thì trước khi tắt được vọng tưởng, thân của ta phải xuất hiện trạng thái bất động tự nhiên cái đã. Thân bị khóa cứng trước rồi tâm sẽ yên sau.
Ý niệm đi trước ngôn ngữ
Đó là ý niệm gốc của mọi người trên thế giới này. Trên thế giới, con người có thể khác nhau về ngôn ngữ nhưng đều giống nhau về ý niệm gốc. Cái ý niệm đó chưa là ngôn ngữ, nhưng nó được đi qua vùng não, lập trình, biến thành ngôn ngữ. Ví dụ ta nói: “Thầy trụ trì chùa ta rất dễ thương”. Câu nói đó là câu nói tiếng Việt (cái ý này nghĩ ra rất nhanh trước khi có câu nói). Nếu một người nước Anh đến đây, tiếp xúc với thầy trụ trì họ cũng nói như vậy bằng tiếng Anh: “The headmonk here is very nice”. Nghĩa là ý giống nhau nhưng mỗi người nói ra ý đó bằng ngôn ngữ khác nhau.
Hoặc đối trước cùng một sự việc, khi người Việt Nam nói: “Ích kỷ là nguyên nhân của đau khổ” thì người Anh nói: “Selfishness is the cause of suffering”. Như vậy, hai ngôn ngữ khác nhau nhưng cái ý giống nhau. Cái ý nằm ở đâu? Ý (niệm gốc) nằm ở trong tâm mỗi người khi chưa có ngôn ngữ.
Một vị Thánh hiểu được tâm của chúng sinh là vậy, tức là hiểu trực tiếp vào ý niệm gốc. Ví dụ một người Việt Nam niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm cầu xin một điều gì đó, như: xin cho con vững vàng trước nghịch cảnh và đau khổ; xin cho con vững bước đi trên con đường đạo... Nếu người Pháp, người Anh v.v... cũng cầu nguyện với cái ý như vậy nhưng bằng ngôn ngữ của họ thì Bồ tát Quan Thế Âm vẫn hiểu luôn tất cả. Các bậc Thánh hiểu như vậy vì các Ngài hiểu qua ý niệm gốc, không phải qua ngôn ngữ.
Có những điều chúng ta chưa kịp nghĩ, hoàn cảnh chưa xảy tới mà những vị đắc đạo đã biết trước được. Có một Phật tử lớn tuổi, giỏi đạo lý, đọc kinh Tệ Túc bằng chữ Nho rồi dịch luôn sang tiếng Việt. Bác kể cho chúng tôi nghe là bác đã từng xuất gia ở Huế, đã từng đi giảng Pháp. Lần đó, nơi bác ở có mở Giới đàn, bác xin thầy cho đi thọ giới Tỳ kheo. Vị Thầy nói với bác: “Con sẽ hoàn tục. Con không cần thọ giới Tỳ Kheo”. Bác nói: “Thưa thầy! Thầy cho con thọ giới. Bây giờ con quá tha thiết tu hành, con quá ham thọ giới”. Người thầy thương nên cho bác thọ
Tỳ Kheo. Mà đúng như thầy đã nói trước, sau này bác hoàn tục.
Hoặc có một thanh niên đến gặp một vị Thầy, lúc đó anh chỉ có một ước mơ, một lý tưởng tu hành. Vị Thầy có trực giác về việc xin xuất gia của anh, Thầy nói: “Con không tu được đâu vì hai năm nữa con sẽ gặp một người con gái mà con sẽ thương yêu suốt đời, con sẽ không bỏ được người đó”. Nghĩa là vị Thầy đã biết trước những điều sắp xảy ra với người thanh niên, dù người thanh niên không hề biết có cô gái đó.
Hoặc một người nếu có trực giác mạnh vẫn có thể nhanh chóng đoán được nhu cầu của người chung quanh. Họ hiểu người khác đang đói bụng, khát nước, đang cần nghỉ ngơi... dù người kia chưa kịp nói ra hay không thể diễn đạt được suy nghĩ của mình do những bất đồng vì ngôn ngữ. Họ thậm chí còn đoán trước người khác đang định nói về điều gì, định nói câu nào tiếp theo. Khả năng này gọi là trực giác. Họ đã hiểu trực tiếp vào ý niệm gốc trong tâm của tha nhân.
Một người trong tâm không ác độc, không bao giờ muốn giết người. Tuy nhiên, người có trực giác mạnh lại cảm nhận được họ sẽ khởi tâm giết người ngay nếu gặp chuyện trái ý nghịch lòng hay ai gây cho họ một cái tham nào đó. Bởi ý nghĩ giết người thì chưa xuất hiện nhưng chủng tử ác lại nằm sâu ở trong lòng, có thể trỗi dậy, bùng phát lên khi gặp hoàn cảnh phù hợp. Hoặc một người nhìn có vẻ hiền lành nhưng người có trực giác lại đoán được họ sẽ dửng dưng vô cảm khi đối trước sự khổ đau, bất hạnh của đồng loại. Trực giác đã cho con người biết được tâm người khác đến mức độ thấy cả những điều chưa kịp được suy nghĩ đến. Họ cảm nhận được những chủng tử, những khuynh hướng kết đặc trong tâm hồn mỗi người.
Ngôn ngữ bộc lộ ra ngoài miệng
Đạo Phật, trong giới về miệng (khẩu), cấm bốn điều ác về lời nói: nói ác, nói dối, nói chia rẽ, nói lời vô nghĩa.
Thứ nhất là không ác ngữ, nghĩa là không nói lời ác độc, không chửi mắng người thậm tệ. Những lời chửi mắng người khác là thú vật, là ma quỷ, là gái điếm, là kẻ cướp, v.v... đều là ác ngữ. Những lời hăm dọa, đánh giết thô bạo... cũng đều là ác ngữ. Đạo Phật cấm những lời nói ác, cấm tuyệt đối. Người Phật tử phải cẩn thận đừng nói lời ác mà phạm giới.
Thứ hai là không nói dối. Chúng ta đừng nói dối để lừa gạt người khác, lấy lợi về phần mình; đừng nói dối để khoe khoang. Chúng ta nhớ sống một cuộc đời thanh bạch để không có gì phải che đậy, chỉ trừ trường hợp buộc không được nói thật để cứu người.
Thứ ba là không nói lời chia rẽ. Ở bên người này nói xấu người kia làm cho họ ghét lẫn nhau, chia rẽ nhau là không nên. Người gây chia rẽ, nói xấu sau lưng như thế, sau này mắc quả báo cô độc cực kỳ, chẳng ai thương mến đoái hoài đến.
Một điều nữa là nói lời khoe khoang. Chúng ta phải kín đáo, không được khoe khoang để giữ cái phước của mình. Ví dụ như khi tu có kết quả gì đó, ta cũng phải kín đáo, không khoe khoang bộc lộ. Có những chuyện nghe thì hay mà lại dở. Ví dụ như huynh đệ trao đổi kinh nghiệm tu tập với nhau, nói: “Anh ngồi thiền ra sao, anh nói cho tôi nghe?” Hoặc: “Chị niệm Phật thấy sao?” - “Tôi niệm Phật thấy tâm thanh tịnh” - “Có lúc hào quang sáng lên rồi tắt” - “Tôi thấy lòng thanh thản, bớt sân”... Như vậy gọi là trao đổi nhưng không ngờ rơi vào lỗi khoe khoang, đường tu rất khó khăn. Chỉ nên im lặng. Trường hợp nào quá nghi ngờ, không biết mình sai hay đúng thì phải tìm thầy để hỏi, để nương tựa thì đỡ bị tổn phước. Tu có gì lạ mà đem ra kể là mất hết.
Thứ tư là không nói lời vô nghĩa. Chúng ta thường nghe người ta, nhất là đàn ông thường nói tục, chửi thề. Họ nói oang oang trong xóm dù không giận hờn ai; hoặc nói trong bàn nhậu một cách vui vẻ. Nói như thế, trước hết họ đã làm bẩn nhân cách, làm bẩn tâm hồn mình. Người hay nói tục, thiện pháp khó xuất hiện được trong tâm. Đây là điều chúng ta phải đấu tranh từ trường học đến gia đình, để những đứa trẻ lớn lên không bị nhiễm thói quen nói tục làm mất văn hóa mà thiện pháp trong tâm trẻ cũng không vươn lên được.
Một điều nữa là chúng ta đừng nói lời chê bai. Vì lời nói chê bai gây oán thù, gây chia rẽ làm cho mình bị quả báo. Sau lưng người khác, chúng ta cẩn thận không chê bai. Khen được cứ khen, vì lời khen đem được nhiều lợi ích. Ví dụ, có một ông cụ hồi nào giờ ai cũng mến ông. Bữa nọ trong một nhóm Phật tử, có người nói ông ở gần nhà tôi, ông tạt nước qua nhà tôi hoài. Có thể điều đó có, nhưng không nên nói, vì điều đó làm người khác có ác cảm với ông cụ.
Chúng ta nên tập hạn chế nói điều chê bai, nói gây oán thù, gây chia rẽ. Nếu không tránh những điều này, chúng ta mắc quả báo y như vậy. Chê bai người ta điều gì thì đời sau phạm y như thế, không gỡ ra được mà phải trả cho hết cái xấu đó.
Có nhiều người nhìn vào nhân duyên thấy tốt, tự nhiên họ làm sai, làm bậy. Không phải do họ xấu mà do đời trước làm sai nên đời này phải gánh chịu. Đây là bài học để chúng ta thương yêu người lầm lỗi. Mọi việc trên đời đều là bài học cho chúng ta, dù là thuận cảnh hay nghịch cảnh. Nếu chúng ta không biết học thì tất cả là cạm bẫy. Thuận cảnh như giàu sang, vinh quang là cạm bẫy đưa chúng ta vào sa đọa. Nghịch cảnh như đau khổ đưa chúng ta vào tuyệt vọng, oán thù. Nếu biết học đạo lý thì giàu sang sẽ tạo điều kiện cho chúng ta biết buông xả, bố thí, còn đau khổ tạo điều kiện cho chúng ta biết nhẫn nhục. Biết đạo lý thì tất cả đều tốt.
Đạo lý ngôn ngữ mà chúng ta phải để ý trong lời nói là gì? Chúng ta phải cẩn thận tạo thành văn hóa trong lời nói. Ví dụ, nói lời tôn trọng và khen ngợi người khác, khen ngợi trước mặt, khen ngợi sau lưng. Xưng hô dạ thưa nhã nhặn. Như vậy làm cho mọi người gần gũi, thương yêu nhau hơn.
Và, khi nói chuyện với nhau chỉ nên nói về đạo lý để gợi cho người khác điều tốt như nói về đạo lý nhân quả, tu hành, đi chùa, làm phước... để thúc đẩy đạo tâm của nhau, khuyến tấn nhau, tinh tấn tu hành.
Cố gắng khen người tốt
Khen cho người khác nghe
Để mọi người phát tâm
Rồi hướng theo điều thiện.
Luôn ngợi ca Phật Pháp
Kiên nhẫn độ từng người
Về với bóng từ bi
Để rời xa đau khổ.
Hay nói về Nhân Quả
Về nhiều kiếp luân hồi
Cho người biết tin sâu
Mà làm lành lánh dữ.
Không nói điều dơ bẩn
Không nói điều khen mình
Không nói điều đua ganh
Không nói điều giả dối.
Vô số điều phải nói
Tạo nên công đức lành
Nên cẩn thận thông minh
Khi cất lời mở miệng.
Chúng ta cần hiểu thêm một điều nữa là “tâm nói nhiều hơn miệng”. Dù chúng ta có nói ngàn lời yêu thương người khác mà tâm mình không thật thì từ từ người ta cũng biết, cũng cảm nhận được. Thương người, chúng ta không cần nói mà chỉ một cái nhìn thôi cũng làm ấm lòng nhau. Dù không còn cái khả năng của thời thơ ấu, dù chưa nhạy như lúc trẻ, nhưng chúng ta vẫn còn biết được từ tâm đến tâm.
Chúng ta muốn nói toàn những lời yêu thương nhau, thì trong tâm mình cũng phải như vậy, phải thương yêu mọi người trước cái đã. Trong kiếp này ta thương yêu được mọi người thì kiếp sau đi đâu ta cũng được mọi người thương yêu cả.
NGÔN NGỮ TRONG ĐẠO PHẬT
Đạo Phật Việt Nam trải qua một thời gian dài tụng kinh hay học đạo bằng chữ Nho hoặc những vị sư Nam Tông học bằng tiếng Pali. Đó là nguyên nhân đạo Phật không phổ cập trong quần chúng. Có nhiều người theo đạo Phật mà không biết giáo lý, hoặc gia đình có thờ Phật mà chưa từng biết quy y hoặc không đọc được cuốn kinh nào của đạo Phật. Tình trạng này phổ biến trên khắp đất nước ta. Chúng ta nói rằng bảy tám mươi phần trăm người dân Việt Nam theo đạo Phật, nhưng thật sự hiểu kinh, hiểu đạo chừng hai, ba mươi phần trăm.
Các chùa thật sự đã quá sức lạc hậu so với sự tiến bộ của xã hội, so với sự phát tâm của nhân dân. Cái lạc hậu đầu tiên dễ thấy là nghi thức tụng niệm, cứ ôm các bản kinh khó hiểu, ít có tính giáo dục đạo lý sâu sắc, không dùng ngôn ngữ thời đại, khiến cho bao nhiêu người trẻ đến chùa ngơ ngác rồi thoái lui.
Muốn biết Phật Pháp có phát triển hay không, hãy nhìn nghi thức tụng niệm. Nghi thức lạc hậu, khó hiểu, không có tính giáo dục đạo lý thực tế, thì Phật Pháp suy tàn. Nếu nghi thức dùng ngôn ngữ hiện đại, âm điệu hiện đại, dễ hiểu, có tính giáo dục đạo lý thực tế, thì Phật Pháp sẽ hưng thịnh. Ai chấp giữ nghi thức lạc hậu là kẻ gây hại cho Phật Pháp.
Vì sao? Vì một thời gian dài các vị tôn túc quên Việt hóa ngôn ngữ trong đạo Phật.
Gần đây, các vị tôn túc của chúng ta, những vị Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức đều ý thức điều đó rất cao nên đã kêu gọi các chùa, quý thầy nên Việt hóa kinh tụng để đem lời Kinh, tiếng Phật phổ biến rộng rãi đến mọi người. Từ đó, bắt đầu xuất hiện những bài sám trong kinh tụng cách đây khoảng chừng mười lăm năm. Chúng ta đến chùa mỗi tối, thường tụng kinh chữ Nho, sau đó an ủi bằng bài sám tiếng Việt: “Cha lành vốn thiệt Di Đà. Soi hào quang tịnh chói lòa thân con”.
Đọc “Ma ha bát nhã ba la mật đa... Quán Tư Tại Bồ Tát hành thâm bát nhã...” chúng ta không hiểu gì hết. Về sau các vị tôn túc ý thức điều đó rất rõ nên đang ngôn ngữ Việt hóa các kinh Phật. Các vị đã dịch những kinh tụng từ tiếng Nho, tiếng Pali, tiếng Sanskrit... sang tiếng Việt. Vị này dịch, vị kia chỉnh ý lại, dần dần theo nhu cầu thiết yếu nên Giáo hội đã thành lập luôn một Phật học viện để thực hiện việc dịch thuật, chỉnh sửa, bổ sung... làm cho những bài kinh dịch đó được hoàn chỉnh về câu cú, ý nghĩa, có giá trị mãi mãi và được phổ biến rộng khắp.
Đó là việc mà các tăng tài đang làm trong các
Phật học viện, trong các trường Phật học hoặc âm thầm ở một nơi nào đó. Đây là những tấm gương sáng đáng ca ngợi.
Có những từ chuyên môn Phật Pháp từ xưa rất khó hiểu. Ví dụ “lậu hoặc”, “quả dị thục”, “sanh đã diệt” v.v... (nghĩa là mọi việc tái sinh đã chấm dứt, không còn luân hồi trở lại nữa). Hoặc trong kinh Đại thừa như: “Bất sanh, bất diệt, vô sở đắc, nhất thiết pháp không”... những từ chuyên môn này cũng có một số người đã học hoặc thường nghiên cứu kinh điển mới hiểu, còn đa phần Phật tử chúng ta không hiểu, nghe hơi khựng lại một chút, chưa vô tâm liền. Đây là rào cản ngôn ngữ làm cho đông đảo quần chúng Phật tử giảm bớt khả năng hiểu sâu vào kinh điển. Vì vậy, Việt hóa ngôn ngữ trong đạo Phật là điều cần thiết sau này.
Cho nên, chư Tăng Ni nếu là giảng sư phải tùy từng thời đại mà giảng, chú ý không dùng từ chuyên môn hoặc phải giảng rõ từ chuyên môn. Người giảng dễ hiểu, nghe hay là do biết dùng từ của thời đại, ít dùng từ chuyên môn của kinh điển nên mọi người nghe và chấp nhận được.
Có những loại kinh rất khó giảng như Kinh Pháp Hoa, các vị không dùng từ trong kinh điển mà cố gắng diễn dịch bằng ngôn ngữ thời đại. Người đương thời nói bằng ngôn ngữ gì, khi giảng các vị cũng nói bằng ngôn ngữ đó nên mọi người nghe cảm thấy vui lòng. Đây là cái khéo của vị giảng sư, chúng ta chú ý nói bằng ngôn ngữ của thời đại.
Ví dụ, một Ni sinh viết trong bài làm của mình: “Chúng ta phải am hiểu giáo lý Bổn Tôn”. Bổn tôn là tôn giáo của mình, nhưng đọc lên bị khựng lại ngay. Phải sửa lại như sau: “Chúng ta phải hiểu giáo lý của tôn giáo mình”. Bình thường, chúng ta dùng ngôn ngữ gì trong cuộc sống thì khi lên thuyết pháp cũng dùng ngôn ngữ bình thường đó, đừng dùng từ ngữ xa xôi làm người nghe khó hiểu.
Trong đạo Phật, ngôn ngữ khó hiểu nhất là thần chú. Ví dụ, đọc “án ma ni bác di hồng” hay “nam mô tô rô bà da đát tha nga đa da đát diệt tha”. “An nga nga nẳng tam bà phạ phiệt nhật ra hồng”... Ở đây, chúng ta đọc chú không hiểu mà chỉ tin thôi. Tụng chú rất linh nên chú còn gọi là “linh ngữ”. Ví dụ, đi trong bóng tối, tự dưng nghe như sau lưng có ai đi theo, quay lại không thấy ai cả. Lúc đó phải làm sao? Phải bắt ấn, vừa đi vừa luôn miệng niệm “Nam mô án ma ni bát di hồng” thì tin rằng trừ ma. Phải có niềm tin mới thành tựu được.
Riêng người Ấn Độ và Tây Tạng khi đọc chú là họ hiểu hoàn toàn vì những bài chú được viết bằng tiếng Sanskrit của Ấn Độ. Chúng ta cũng đừng tưởng chú chỉ để tin mà không cần hiểu. Người Ấn Độ, Tây Tạng đọc chú hiểu hết mà chú vẫn linh, vì họ tải được cái ý trong đó.
Ví dụ, bài chú “Đại Bi” nói gì?
Gần đây, có một vị tên Hiền Thanh dịch hết bài chú này từ tiếng Sanskrit. Bài chú nói: “Một lời dâng nguyện lên Bồ Tát Quán Thế Âm và nhiều vị Bồ Tát khác, xin Bồ Tát đem đến cho con người sự bình an, sự thông thái, sự sáng suốt...” (Ở đây, chỉ tạm trích một ít bản dịch của bài chú). Đây là một lời cầu nguyện thể hiện lòng tôn kính Phật và lòng vị tha.
Tụng chú rất linh, nhưng có người vì không hiểu sâu ý nghĩa của ngôn ngữ thì phê phán rằng tụng chú là mê tín. Hiểu được ý nghĩa của ngôn ngữ là do ý niệm gốc thành tựu thì chúng ta biết vì sao thần chú linh nghiệm như vậy. Chú có cái ý ở trong, khi đọc bài chú, tức là chúng ta đã đọc cái ý ra rồi.
Hoặc là chúng ta tin vào cái ý. Ví dụ tin chú “đại bi” trừ ma thì trừ được ma. Chú này do người Ấn Độ soạn. Bài “Lời Nguyện Cầu” do người Việt Nam soạn, nghĩa rõ ràng nói về đạo đức và từ bi, người Việt Nam đọc hiểu hoàn toàn. Vậy, chú linh hay không là do người tụng hướng về cái ý gốc nói điều gì sẽ thành điều đó.
Chúng ta thử suy nghĩ về một buổi cầu siêu cho người chết. Người ta thỉnh quý Tăng Ni cúng cơm cho vong. Trước hết là cúng Phật cầu siêu cho người mất, rồi mới đến cúng cơm. Khi tụng quý Tăng Ni có hiểu không? Đa phần chúng ta không hiểu bài kinh. Vừa rồi có người đề nghị chúng tôi soạn bài cúng cơm cho vong, chúng tôi cố gắng soạn từ từ. Bởi vì tụng kinh không chỉ cho người chết nghe mà còn cho người sống nghe nữa. Những bài kinh tụng trong buổi lễ cầu siêu phải đảm bảo được hai tiêu chí: thứ nhất là cầu siêu cho người đã mất, thứ hai là vun bồi đạo tâm cho người sống. Đôi khi thân nhân của người mất chưa biết đạo nhưng nếu được nghe, được đọc tụng những bài nói lên đạo lý về lòng từ bi, về nhân quả, luân hồi... họ có thể bắt đầu yêu mến, tìm hiểu rồi nương tựa vào đạo lý Phật dạy từ đó. Mong rằng những vị có tài năng cố gắng soạn những nghi thức bằng tiếng Việt dần dần về sau.
Vừa rồi, chúng tôi có soạn bài cầu siêu, trong đó có một đoạn như sau:
... Vì không còn chấp ngã nhân
Người thành vũ trụ, người thành trăng sao
Tâm vô ngã là đỉnh cao
Con xin phát nguyện ngày nào chứng nên...
Đại khái bài “Sám Cầu Siêu” đó tụng vừa để cho hương linh nghe vừa để cho thân nhân trong nhà nghe. Nhiều khi họ chưa biết đạo nhưng nghe tụng một bài nói lên đạo lý về từ bi, về nhân quả, về luân hồi... và vì thương người mất, thân nhân cũng quỳ xuống tụng với quý Tăng Ni, tụng từ từ họ có thể hiểu đạo. Những bài kinh tụng hoàn toàn bằng tiếng Việt sẽ độ được cả hai là như vậy.
MỘT NGÔN NGỮ CHUNG CHO THẾ GIỚI
Chúng ta đã biết ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp, đồng thời cũng là rào cản làm cho con người ngăn cách với nhau. Hôm nay, chúng ta mơ ước một ngôn ngữ chung cho thế giới để con người gần gũi nhau hơn. Một nhà ngôn ngữ học người Ba Lan tìm ra được những điểm tương đồng của ngôn ngữ các nước trên thế giới, ông đã sáng tạo quốc tế ngữ Esperanto (ngôn ngữ có từ vựng xây dựng trên cơ sở những căn tố chung của nhiều ngôn ngữ châu Âu). Hy vọng thế giới sẽ nói ngôn ngữ này để con người được gần gũi nhau hơn, để thế giới không còn chia rẽ.
Chúng tôi có viết một cuốn sách để nói về Esperanto, ca ngợi Esperanto và kêu gọi mọi người hướng tới một ngôn ngữ chung của thế giới.
Mỗi ngôn ngữ có cái đẹp riêng. Ví dụ, Việt Nam có những câu thơ rất hay của Bà Huyện Thanh Quan:
“Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn
Gác mái, ngư ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn”.
Chỉ với hai mươi tám tiếng mà chúng ta thấy có cả màu sắc, âm thanh, hình ảnh của nông thôn Việt Nam vào buổi hoàng hôn. Những câu thơ trên mà nếu dịch sang tiếng Anh thì sẽ không còn hay nữa, bởi vì nó không thể tải được cái hồn, cái tình cảm sâu lắng của người Việt Nam.
Tuy nhiên, đến một lúc nào đó, chúng ta cũng phải hy sinh ngôn ngữ riêng của mình để tìm đến một ngôn ngữ chung. Nhất định đến một lúc nào đó buộc thế giới phải có một ngôn ngữ chung. Nhiều người nghĩ rằng tiếng Anh sẽ chiếm vị trí đó. Nhưng tiếng Anh còn nhiều bất cập trong văn phạm và phát âm, các nhà ngôn ngữ học không (chưa) chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ quốc tế mà chỉ dùng làm ngôn ngữ giao dịch tạm thời cho thế giới ngày hôm nay. Một vài thế kỷ tới, chúng ta chưa biết ngôn ngữ nào sẽ được chọn làm quốc tế ngữ.
Khi văn minh của con người tiến đến mức độ cao thì ngôn ngữ chung cũng phải xuất hiện. Còn chúng ta, những người đệ tử Phật luôn luôn mơ ước về một thế giới đại đồng. Trong đó, con người sống với nhau bằng những trái tim có một nhịp đập và một ngôn ngữ chung. Mọi người trên thế giới sẽ thương yêu nhau và sẽ nói với nhau bằng một ngôn ngữ chung để con người không còn chia cách nha nữa.


