KHUYNH HƯỚNG VÀ QUAN ĐIỂM VỀ LỢI ÍCH
Chúng ta thường nghe nhắc tới những cụm từ ‘’vì lợi ích cộng đồng’’ hoặc ‘’vì lợi ích cá nhân’’, đã làm ảnh hưởng đến lợi ích chung trong nhiều lĩnh vực, trong nhiều trường hợp. Nhưng suy nghĩ một cách sâu sắc và đưa ý nghĩa của vấn đề này vào đời sống, chúng ta thấy nhiều khi vẫn còn cạn cợt, bất lợi. Thế nên ta đã phạm những sai sót, đã làm nhiều điều bất lợi cho lợi ích của Phật Pháp hay toàn xã hội.
Quan sát đời sống của chư Tăng, Ni ở trong chùa, chúng ta thấy đôi khi các vị có những hành xử bất lợi cho đạo Phật; hoặc nhìn cuộc sống của cư sĩ ở ngoài xã hội, đôi khi họ có những hành động không vì lợi ích chung mà chỉ vì lợi ích cá nhân. Là đệ tử Phật, chúng ta hiểu đạo Phật là một tôn giáo đạo đức được cả thế giới công nhận, ca ngợi, nhưng chúng ta nhiều khi cũng không ứng dụng được đạo lý trong từng giây từng phút của cuộc sống. Đạo lý đã không thấm trong xương tủy, không trở thành dòng máu trong tim nên rất nhiều lúc chúng ta đã quên đạo, đã ứng xử một cách cạn cợt nông nổi và ích kỷ, làm bất lợi cho cộng đồng. Chỉ trừ những vị tôn túc đạo cao đức trọng, trong đời sống luôn luôn có tỉnh giác, có tư duy, nên khi làm việc gì các vị cũng cân nhắc đến lợi ích chung.
Chúng ta bàn với nhau điều này, để từ ngày hôm nay chúng ta cẩn thận hơn, khi làm điều gì phải biết nghĩ đến cái chung, chứ không lấy mục tiêu lợi ích cá nhân của mình nữa.
Như chúng ta biết, con người luôn luôn sống trong mối tương quan đa dạng. Không người nào có thể sống cô độc mà phải sống với một ai đó. Lúc đầu, chúng ta sống với cha mẹ trong một mái ấm gia đình để được nương tựa, dìu dắt, thương yêu... Sau đó, ra ngoài môi trường xã hội tiếp xúc với những người xung quanh không phải là ruột thịt. Chúng ta phải đi từ môi trường ruột thịt (gia đình) để bước ra ngoài môi trường chỉ toàn là “người dưng” (xã hội), thì mối quan hệ khác nhau như thế nào?
Ở môi trường ruột thịt, người ta sống gắn bó với nhau, có trách nhiệm với nhau trong đạo lý và trong pháp luật. Cha mẹ phải nuôi con, anh chị em tương trợ lẫn nhau. Đạo lý đó đã được pháp luật công nhận. Khi người ta có nỗi buồn không biết chia sẻ cùng ai thì gia đình là nơi để người ta trút mọi nỗi buồn; hoặc khi bị hất hủi, người ta tìm an ủi nơi mái ấm gia đình. Cũng có những gia đình, những con người bất hạnh không tìm thấy tình thương, nhưng căn bản đã là ruột thịt thì người ta thương yêu nhau, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với nhau. Còn nếu đi xa hơn trên đạo lý thì chỗ dựa vững chắc của con người là đạo đức. Bởi vì đạo đức cao hơn cả máu mủ ruột thịt. Tuy nhiên, nếu chúng ta chưa đạt được trình độ đạo đức sâu để có thể vượt xa hơn ruột thịt thì gia đình vẫn là nơi để chúng ta nương tựa.
Rồi từ nơi mái ấm gia đình người ta lớn dần, tự lo liệu để bước ra ngoài xã hội. Ở môi trường xã hội có học đường, có thầy cô, bạn bè, dần dần có đồng nghiệp, có đối thủ cạnh tranh... và có vô số chuyện phức tạp. Như vậy dù ở môi trường gia đình hay xã hội, người ta không bao giờ sống cô độc mà phải sống đối diện, giao tiếp với mọi người. Và trong sự tương quan đối diện, giao tiếp giữa người với người xuất hiện quyền lợi, lợi ích.
Thật ra nói đi tìm lợi ích, tìm quyền lợi là nói một cách cụ thể; còn nói một cách trừu tượng là người ta sống là để tìm hạnh phúc. Chỉ những người sống có lý tưởng là nguyện đem cuộc đời mình đi tìm hạnh phúc cho mọi người, còn đa phần người ta bị cái bản năng, cái ích kỷ tự nhiên là chỉ tìm hạnh phúc cho riêng mình. Và trong cuộc sống đa dạng, phức tạp thì quyền lợi của người này “đụng” với quyền lợi của người khác. Một ví dụ nhỏ, cả gia đình cùng ăn với nhau chung một mâm cơm, nếu có một người khởi tham ăn, gắp thức ăn nhiều một chút, thì những người khác sẽ bị giảm bớt phần thức ăn đi... Trừ những gia đình giàu có, thức ăn dư dả, ai cũng ăn no đủ thì không nói. Thường những gia đình nghèo, thỉnh thoảng mua được thức ăn ngon, cha mẹ luôn để cho các con ăn cho thỏa chí rồi phần còn lại mới ăn. Vì thương con mà nhường thức ăn cho con, hầu hết các bậc cha mẹ đều làm như vậy. Đó là bài học đầu tiên trong gia đình mà cha mẹ đã âm thầm dạy lại cho con cái, nhưng thường ít người con nào hiểu được bài học vô ngôn đó của cha mẹ. Tuy nhiên, một số ít người xuất thân từ gia đình nghèo khó đã thấy rất rõ sự hi sinh và học được bài học này. Họ học được rằng khi sống cùng nhau, đối với những điều là quyền lợi chung họ nên chấp nhận thiệt thòi một chút để nhường lại cho những người chung quanh. Có người kể lại rằng lúc bé, đôi khi cả bữa cơm họ không hề đụng đũa đến một món ngon để nhường món đó lại cho những thành viên khác trong gia đình. Điều này cho ta thấy: Khi gắn bó quyền lợi chung thì ta phải biết nhường nhịn cho những người chung quanh mà gần gũi nhất là những người trong gia đình.
Riêng người đệ tử Phật thì phải nguyện đem cả đời mình để đi tìm hạnh phúc cho mọi người, cho nhân loại.
Vượt ra khỏi phạm vi gia đình, trong xã hội, sự đấu tranh giành giật từng chút quyền lợi trở nên rất gay gắt, quyết liệt.
Trong một doanh nghiệp, người chủ luôn có quyền quyết định sẽ chia lãi như thế nào khi doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận. Tuy nhiên, rất nhiều người trong số họ đã định một mức lương thật thấp cho người công nhân để thu được lãi lớn. Đó là những kẻ bóc lột. Hiếm người nào biết hi sinh để san sẻ nhiều quyền lợi hơn cho công nhân.
Rất nhiều công nhân làm việc trong các xí nghiệp của nước ngoài phải chịu mức lương rẻ mạt nhưng không thể lên tiếng, bởi nếu đấu tranh họ sẽ lập tức bị sa thải và thất nghiệp ngay. Tình trạng này cũng xuất hiện rất nhiều tại các quốc gia khác trên thế giới. Đây là điều rất đau lòng.
Chúng tôi nghe kể về gia đình nọ có anh chồng tàn tật, không làm gì được, chị vợ đi may tới một hai giờ khuya mới về, rất vất vả mà lương chỉ có ba, bốn trăm nghìn đồng một tháng. Rõ ràng, người công nhân bị chủ bóc lột quyền lợi để thu lãi cao. Vì vậy, thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác xuất hiện là để bênh vực quyền lợi, bênh vực lợi ích chung cho giai cấp công nhân là như thế.
Bên cạnh đó vẫn còn những người chủ có đạo đức. Khi nhận người công nhân vào làm, họ thỏa thuận một mức lương vừa phải vì không dự trù chắc chắn được công ty sẽ làm ăn có lãi hay thua lỗ. Nhưng hễ có lãi, họ lập tức trả thêm lương cho công nhân. Đó là những người có đạo đức, họ đã biết san sẻ lợi ích với cộng đồng. Cho nên, việc quy định chia nhau quyền lợi trong xã hội thì không có pháp luật hay cơ chế nào thật sự có thể can thiệp hay chấn chỉnh được tốt hơn, mà điều đó lệ thuộc vào đạo đức cá nhân.
Quan điểm về lợi ích trong kinh tế
Theo lý thuyết về kinh tế, chủ nghĩa tư bản cho rằng khi một người đầu tư kinh tế làm tăng lợi ích cá nhân thì cũng đồng thời đóng góp vào lợi ích xã hội. Bởi vì khi kinh doanh, ông chủ phải thuê công nhân, tạo công ăn việc làm cho nhiều người, phải đóng thuế thì đã làm lợi ích cho nhiều người, cho xã hội. Nghĩa là người ta theo đuổi lợi ích cá nhân miễn sao đem đến lợi ích chung cho xã hội. Như vậy cũng... “hay”, nhưng đi sâu vào chúng ta sẽ thấy điều gì?
Một người với tâm niệm ích kỷ, nếu là ông chủ, họ sẽ bóc lột công nhân, trả lương thấp và không chắc họ đóng thuế đầy đủ. Khi động cơ của họ là vị kỷ, nghĩa là khi làm họ chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân, quyền lợi của một nhóm người thì không tránh khỏi những tệ nạn do họ gây ra như tạo phe nhóm, mua chuộc cán bộ Nhà nước, hối lộ, tham nhũng... Người vị kỷ thì không chuyện gì mà không dám làm. Đó thực sự là một thảm họa cho xã hội.
Chỉ có người được giáo dục tốt, có tâm nguyện vị tha, thì người đó mới có thể làm lợi ích cho cộng đồng, cho xã hội. Điều này thuộc phạm vi giáo dục. Giáo dục giúp con người có ý thức tự giác sống vì mọi người. Người Phật tử phải luôn luôn suy nghĩ, phải tự giác làm việc mang lại lợi ích chung, không nên chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân mình, gia đình mình.
Xã hội muốn con người được tốt thì cần có hai yếu tố: Giáo dục và Pháp luật. Giáo dục dạy người ta không làm điều xấu. Pháp luật trừng phạt khi người ta đã làm điều xấu. Nếu giáo dục có hiệu quả, nghĩa là người ta sống tốt, không vi phạm pháp luật thì nhân viên Tư pháp và ngành Công an đỡ vất vả. Ngược lại, giáo dục không hiệu quả thì đạo đức xuống thấp, người ta vi phạm pháp luật, xã hội rối ren, bất ổn làm cho ngành Tư pháp vất vả, tốn kém. Pháp luật có tính bắt buộc, cưỡng bách con người. Cơ chế tổ chức chỉ đóng vai trò phụ, không hiệu quả như giáo dục. Giáo dục giúp con người tự giác tránh điều xấu, làm điều tốt, biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích chung. Vì vậy, vai trò của giáo dục và việc giáo dục đạo đức rất quan trọng đối với con người.
Hai khuynh hướng của lợi ích:
Khi mối tương quan giữa ta và người luôn chằng chịt phức tạp, khi quyền lợi chung của con người luôn ảnh hưởng, mâu thuẫn lẫn nhau như vậy đã xuất hiện hai khuynh hướng, hai quan điểm.
Trong cuộc đấu tranh sinh tồn khốc liệt giữa cuộc sống cá nhân với môi trường kinh tế, sự cạnh tranh nhau trong từng giờ, từng phút xuất hiện khuynh hướng chiếm lợi ích về phần mình càng nhiều càng tốt. Nhiều tầng lớp trẻ khi vừa mới rời khỏi môi trường đại học bước vào cuộc sống làm ăn, đa phần mang quyết tâm cao độ là làm ăn thật giỏi, cạnh tranh quyết liệt để giành được phần lợi tối đa cho mình. Đó là khuynh hướng thứ nhất.
Còn khuynh hướng thứ hai thì ngược lại, trong tương quan quyền lợi giữa mọi người, cũng có những người nghĩ đến lợi ích chung nhiều hơn. Dĩ nhiên ai cũng phải nuôi sống bản thân, chăm lo cho gia đình nên không ai có thể hoàn toàn khước từ quyền lợi. Nhưng trong cuộc mưu sinh vất vả đó, họ vẫn có trách nhiệm, vẫn nghĩ đến quyền lợi chung của cộng đồng nhiều hơn. Lợi ích chung đó có thể là trong một tổ hợp sản xuất, hoặc trong gia đình, hoặc cả công ty, hoặc toàn thể xã hội. Nghĩa là giữa cá nhân và cộng đồng có sự san sẻ quyền lợi, lợi ích.
Là đệ tử Phật, chúng ta chọn khuynh hướng nào?
Có nhiều Phật tử nói: “Con ráng làm ăn kiếm lời thật nhiều để cúng chùa”, hoặc: “Khi nào trúng số con cúng chùa”. Thật tội, vì không bao giờ trúng. Việc cúng dường tạo phước phải từ mồ hôi nước mắt của mình mới có giá trị. Nhiều khi chưa cúng chùa mà chính trong từng công việc làm của mỗi người, dù bất cứ ngành nghề nào, nếu tận tụy làm tròn bổn phận trách nhiệm, vượt trội công việc được giao, mang lại lợi ích chung cho cơ quan, cho công ty, cho cộng đồng thì đó chính là cúng dường, là tạo phước.
Người đệ tử Phật phải chọn khuynh hướng thứ hai. Mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi công việc của chúng ta đều vì lợi ích chung. Nói thì dễ, chúng ta thực hiện được những điều này trong từng giờ, từng phút mới là khó. Phải nhớ khi chúng ta nói gì, làm gì hãy xem chừng có làm tổn hại đến lợi ích chung hay không. Ví dụ, có Phật tử phát hiện một Tăng hay Ni làm sai, rồi kể với nhiều người: “Hôm đó tôi tới chùa thấy thầy A đánh bài”. Nói như vậy thì vị thầy đó có bỏ đánh bài được không, hay là mình đã làm mất uy tín chung đối với Tăng, Ni, đối với chùa đó và đối với đạo. Có những điều rất tế nhị mà chúng ta phải cẩn thận khi nói, khi làm. Nếu ta nghe kể chuyện xấu của người này, người nọ, thì nên bình thản và luôn giữ những điều nghe được trong lòng, đợi đến khi có duyên, chúng ta trực tiếp khuyên họ từ bỏ điều xấu thì may ra có kết quả.
Trong đạo Phật, những lời nói xấu nhau thường làm người ta mất tín tâm với đạo. Vì thế, ta hãy cẩn thận mỗi khi mở miệng cất lời bởi những lời nói xấu vừa làm mất danh dự của người khác, vừa làm hại đến lợi ích chung. Tuy nhiên, do những lúc nông nổi, giận hờn, ích kỷ, chúng ta nói và làm không cân nhắc, không vì lợi ích chung sẽ làm tổn hại đến nhiều người.
Có những hành vi tưởng chừng vô hại, nhỏ nhặt nhưng lại ảnh hưởng đến danh dự của cả một dân tộc. Hàng ngày khi đi trên đường phố, chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh một mảnh rác được quăng xuống đường bởi một bàn tay chìa ra từ chiếc xe hơi bóng loáng hay từ một người ăn mặc chỉnh tề. Hình ảnh này sẽ làm người nước ngoài hàng ngày qua lại rất nhiều trên đường phố Việt Nam đánh giá như thế nào về trình độ tri thức, về văn hóa chung của dân tộc này? Một mảnh rác rơi xuống mặt đường là chuyện nhỏ nhưng không nhỏ, bởi ảnh hưởng đến danh dự của cả một dân tộc.
Vì vậy, chúng ta cần hiểu rằng, giữ gìn vệ sinh công cộng cũng là vì lợi ích chung. Lắm lúc chúng ta thấy rất buồn khi đi đến đâu trên đường phố ta đều gặp rác đến đó. Như vậy, có khi nào chúng ta nghĩ đến sự cực nhọc, vất vả của công nhân vệ sinh hàng ngày phải quét dọn? Sống có đạo đức là chúng ta diệt trừ tâm ích kỷ, hướng tới lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội.
NHỮNG SỰ VIỆC LIÊN QUAN ĐẾN LỢI ÍCH CHUNG
Nhìn lại lịch sử thế giới, chúng ta thấy Hitler với tham vọng mở ra “kỷ nguyên thống trị của nước Đức trên Trái Đất”, nên đã gây ra cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại. Hay nước Nhật ngày xưa với chủ thuyết Đại Đông Á, muốn lãnh đạo cả Đông Á châu nên đã cùng với Đức và Ý gây chiến tranh thế giới lần thứ hai. Lợi ích của những kẻ đầy tham vọng này xuất phát từ đâu? Chính là xuất phát từ lòng vị kỷ của họ, mà không cần biết tới nỗi đau khổ của con người do chiến tranh gây ra.
Trong cuộc chiến đấu chống lại chủ nghĩa phát xít, nhân dân và quân đội Xô- viết đã đóng vai trò to lớn và quyết định nhất trong việc giải phóng nhân loại thoát khỏi thảm họa phát xít, vãn hồi hòa bình cho các dân tộc.
Liên bang Xô-viết đã phải chịu những hy sinh tổn thất vô cùng to lớn: hơn 27 triệu người chết, hàng chục triệu người bị thương, hơn 17.000 thành phố, thị xã, làng mạc bị tàn phá.
Nhân loại không thể quên sự hy sinh, lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng của những người lính Xô-viết phải đối mặt với kẻ thù hùng mạnh nhất lúc bấy giờ, trước đó đã dễ dàng xâm chiếm hầu hết lãnh thổ Tây Âu. Theo những ước tính khác nhau, Hồng quân đã giải phóng gần 50% lãnh thổ các nước châu Âu hiện đại, trong đó có cả nước Đức. Tổng dân số các nước được Hồng quân giải phóng là hơn 120 triệu người, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử và nghĩa vụ nhân đạo trước nền văn minh nhân loại.
Chuyện lịch sử
Vào thời Lý, Thái sư Trần Thủ Độ sắp xếp cuộc chuyển vương quyền từ nhà Lý sang nhà Trần. Khi Lý Chiêu Hoàng lên ngôi vua, lấy chồng là Trần Cảnh, không có con, sau đó nhường ngôi cho Trần Cảnh. Vì thế, Trần Thủ Độ buộc Lý Chiêu Thánh công chúa (chị của Lý Chiêu Hoàng) đã có chồng là Trần Liễu (anh của Trần Cảnh) đang mang thai mà phải lấy Trần Cảnh. Như vậy, đứa con sinh ra được xem là con của Trần Cảnh thì nhà Trần mới có người nối ngôi vua. Nghĩa là để bảo vệ vương quyền nhà Trần, Trần Thủ Độ đã không từ một thủ đoạn nào. Điều mà Trần Thủ Độ sắp xếp thấy như là một tội ác nhưng lại có lợi cho đất nước lúc đó, là lập nên một triều đại nhà Trần đủ sức mạnh để chống ngoại xâm. Nhưng cũng từ đó đã tạo nên mối thù riêng giữa Trần Liễu và Trần Cảnh.
Trần Cảnh lên ngôi (tức Trần Thái Tông) bị người anh là Trần Liễu thù đến tận xương tủy vì nghĩ tới việc người em lấy vợ mình. Trước khi chết, Trần Liễu gởi gấm mối thù đó lại cho con là Trần Quốc Tuấn (tức Trần Hưng Đạo), dặn dò con phải trả mối thù này cho cha. Trần Quốc Tuấn là người con có hiếu, thương cha, vẫn nhớ mối thù xưa cha gửi lại nhưng ông vẫn để đó. Mấy mươi năm sau, trong số những người con của Trần Quốc Tuấn có Trần Quốc Tảng vẫn còn nhớ mối thù xưa của ông nội. Khi quân Nguyên sang đánh nước ta lần thứ hai với lực lượng hùng mạnh (bách chiến bách thắng), vận mệnh của đất nước như chỉ mành treo chuông. Vua Trần Nhân Tông đã phong cho Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh quân đội để chống giặc ngoại xâm. Nếu Trần Quốc Tuấn vì mối thù xưa của cha mà đem quân chiếm hoàng cung, tiêu diệt vua quan nhà Trần, chiếm ngôi vua thì không có gì khó khăn.
Ở đây, ta thấy sự vĩ đại của Trần Quốc Tuấn. Ông e ngại các con nhớ mối thù xưa của ông nội mà không hết lòng chiến đấu chống giặc. Ông nói với các con rằng ông nội dặn phải trả mối thù xưa. Đây là cơ hội để trả thù nhưng chúng ta không nên trả thù, các con nghĩ sao? Chỉ có người con út là Trần Quốc Tảng muốn đánh chiếm ngôi vua để trả thù. Trần Quốc Tuấn ra lệnh bắt chém Trần Quốc Tảng do không đồng quan điểm với ông, nghĩa là Trần Quốc Tảng chỉ nghĩ đến mối thù riêng mà không vì lợi ích chung của đất nước. Nhờ dòng họ lạy lục, van xin nên Trần Quốc Tảng mới được tha tội chết.
Trần Quốc Tuấn đã vì lợi ích chung, “vì nợ nước, quên thù nhà”. Khí tiết lẫm liệt của Trần Quốc
Tuấn, tâm hồn bao dung độ lượng vị tha của ông đã tạo nên sức mạnh đoàn kết, tạo nên những chiến công hiển hách, bảo vệ đất nước thoát khỏi cảnh ngoại xâm. Trong số mười vị tướng kiệt xuất nhất được cả thế giới khâm phục có hai người Việt Nam. Đó là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Cũng vì lợi ích chung của đất nước mà đã có biết bao anh hùng chiến sĩ lặng lẽ hy sinh cả cuộc đời mình, nhất là những người làm công tác tình báo. Nhà Lý, nhà Trần cũng đã cho người sang phương Bắc để thăm dò tình hình; thời chống Pháp, Mỹ cũng có những chiến sĩ tình báo của ta lặng lẽ hoạt động trong lòng địch. Gia đình, bạn bè không ai biết được việc làm âm thầm của họ. Họ hy sinh cả danh dự tiếng tăm. Đối với nhân dân, họ là những anh hùng vô danh.
Chuyện thời kháng chiến
Có một câu chuyện, nghe thì buồn cười nhưng mà rất cảm động.
“Anh ấy ngày xưa là người chiến sĩ. Anh về làng và yêu một cô gái. Sau đó cô gái trở thành vợ anh, họ cùng nhau sống và chiến đấu.
Trong số những đồng đội của anh có một người cũng yêu vợ anh. Có lần bắt gặp họ bên nhau, anh suy nghĩ, nếu báo việc này lên cấp chỉ huy thì người bạn sẽ bị kỷ luật, sẽ không còn được đi chiến đấu nữa. Rồi chuyện cũng đến tai nhiều người. Anh vội báo cáo với cấp trên là thật ra anh lấy vợ không phải cho anh mà lấy vợ giùm người đó, vì người đó không có điều kiện để nói chuyện với cô gái kia. Thế là anh tự nguyện trao vợ cho bạn mình và... sự việc êm xuôi. Anh xin qua đơn vị khác chiến đấu. Sau ngày kết thúc chiến tranh, trở thành thương binh, anh tu theo đạo Phật, rồi sau đó cũng mất sớm”.
Qua câu chuyện này làm chúng ta suy nghĩ: khi chưa biết đạo Phật mà anh ấy đã biết vì lợi ích chung, chấp nhận thiệt thòi về phần mình để sống vị tha, bao dung, độ lượng với người vợ lầm lỗi, và giữ êm xuôi cho đồng đội. Quả thật không phải dễ làm.
Chuyện trong chùa
Đâu phải ai ở trong chùa cũng là Thánh mà chỉ là những người mới bắt đầu tu để được giải thoát. Người huynh đệ có lỡ mắng một câu cũng phải nghĩ: “Nếu mình mắng lại thì trong chùa cứ xung đột, chia rẽ. Chi bằng nhường nhịn nhau để giữ hòa khí trong chùa.” Nhường nhịn ở đây không phải vì cá nhân mà vì lợi ích chung. Được như vậy, người nhường nhịn có công đức lớn.
Hoặc chúng ta vào chùa tụng kinh, thọ Bát Quan Trai. Khi xuống bếp hay làm việc gì đó bất đồng bị sư huynh nạt mà biết nhịn vì biết tu thì được phước lớn. Nhịn mà suy nghĩ để tránh tiếng cãi cọ, để buổi tu Bát Quan Trai được trang nghiêm, thanh tịnh, để chung quanh không nghe trong chùa có lớn tiếng cãi vã, đó là sự nhẫn nhục, vị tha. Khác với vị kỷ mà nhẫn nhục, nghĩa là vì mình mà nhẫn nhục chứ không phải vì lợi ích chung. Như có một vị tu sĩ trẻ kể lại lỗi của mình là lúc mới xuất gia, ai khen chê gì cũng không tự ái, luôn luôn giữ tâm bình thản. Sau đó vị ấy mới hiểu rằng tâm lý đó không tốt, tu như vậy chẳng qua là vì nghĩ đến đạo hạnh của mình mà thôi (vì lợi ích cá nhân mà không phải vì lợi ích của chùa). Chúng ta có được bài học kinh nghiệm từ cái lỗi khi xưa của vị tu sĩ, để bây giờ khi làm gì chúng ta cũng nhớ nghĩ tới lợi ích chung thì sức mạnh trong lòng sẽ tăng lên mà công đức cũng lớn hơn.
Hoặc có trường hợp vì lợi ích chung mà nhường bớt tiếng tăm, danh dự. Chúng tôi biết ở chùa Huệ Quang có thầy Nguyên Hiền cùng nhiều người khác làm cuốn tập san cho chùa. Thầy rất có tài, viết rất nhiều bài hay, nhưng mỗi bài thầy ký một tên khác (thay vì thầy chỉ ký một tên thì sẽ rất nổi tiếng), và làm như vậy thì bên ngoài mọi người sẽ thấy trong chùa có nhiều người tài giỏi. Điều này chứng tỏ Thầy Nguyên Hiền đã vì Phật Pháp mà tự nguyện bỏ bớt đi danh tiếng của mình. Đây cũng là một trường hợp hy sinh danh dự của mình vì lợi ích chung.
Ví dụ khác: Có một vị làm Chánh đại diện (huyện hay tỉnh gì đó) thấy có một vị thầy khác trẻ và nhiều tiềm năng. Nếu đưa thầy đó vào Ban đại diện thì nhân sự trong Ban sẽ bị dư, nên vị Chánh đại diện đã tự nguyện xin từ chức, nhường chỗ cho vị thầy trẻ tài giỏi kia vào Ban đại diện để vị ấy có điều kiện làm việc Phật Pháp hiệu quả hơn.
Đó là những người có tâm đạo biết vì lợi ích chung mà khước từ, hy sinh danh dự, địa vị của mình, là những tấm gương mà chúng ta cần phải noi theo. Khi nghe những tấm gương này rồi, từ đây về sau chúng ta nhớ làm việc gì phải cẩn thận, lúc nào cũng vì lợi ích chung mà chấp nhận hy sinh, thiệt thòi.
Chuyện ngoài xã hội
Môi trường xã hội đa dạng và phức tạp, mỗi người phải làm việc để sinh sống. Những lợi ích mỗi người mang lại cho xã hội hay cho bản thân do công việc, xuất phát từ những động cơ khác nhau, đó có thể từ tâm vị tha hay vị kỷ.
Học sinh, sinh viên đều phải chọn cho mình một ngành học sau này ra đời sinh sống, dù khó khăn vẫn phải theo đuổi. Nhưng không nên suy nghĩ phải chọn ngành nghề nào dễ kiếm tiền nhất, mà phải nghĩ rằng cần chọn ngành nghề nào phù hợp với năng khiếu để có thể phục vụ được cho xã hội nhiều nhất. Ví dụ: Người có khiếu về vi tính nhưng chỉ nghĩ về tiền bạc khi theo nghề, họ đã xuất phát từ một động cơ ích kỷ. Ngược lại, có người cũng chọn ngành nghề như thế nhưng luôn mong muốn tìm tòi ra những cái hay phục vụ cho xã hội, để chống lại những hacker, dẹp tan những trang web đen đang hủy hoại tâm hồn con người... Họ đã nghĩ đến lợi ích cho cộng đồng hơn là lợi ích cá nhân khi chọn nghề nghiệp.
Chúng ta chọn cách hành xử nào không làm ảnh hưởng đến cộng đồng. Ví dụ, chúng ta quen hút thuốc lá. Nay biết được rằng các nhà Y học qua thử nghiệm, cảnh báo khói thuốc lá gây ung thư, nên chúng ta nhịn hút thuốc lá để không gây tổn hại đến người chung quanh, đó là vì lợi ích chung. Rồi có những việc tuy nhỏ nhặt nhưng ảnh hưởng lớn đến lợi ích chung. Ví dụ đi trên đường thấy rác, chúng ta chỉ biết than thở chứ chưa ai “dám” lượm rác. Vất rác bừa bãi là thiếu văn minh, văn hóa. Vì lợi ích chung, chúng ta cần phải giữ vệ sinh công cộng.
Hoặc việc sản xuất băng đĩa lậu, phổ biến văn hóa phẩm đồi trụy đã không chịu thuế mà còn gây ảnh hưởng xấu trong tâm hồn con người là việc làm ác độc. Khi con người bị dục lạc kích động là mất đạo đức. Có người vẫn đều đặn đến chùa để tu hành nhưng nếu chỉ trong một đêm họ được ai đó cho xem một cuốn phim đồi trụy, họ có thể không đến chùa trong một tháng sau nữa. Bởi hễ cái xấu đã đánh vào, tâm hồn không còn chỗ để dung chứa cái tốt nữa. Vì thế, phổ biến loại văn hóa đồi trụy là tàn phá biết bao nhiêu người và để trả giá thì những người này phải bị đọa nhiều kiếp.
Người đãi vàng cần phải dùng chất độc cực mạnh là chất Cyanur. Họ đã dùng hàng tấn chất cực độc này trong quá trình đãi vàng. Cyanur là chất ngăn cản việc lấy oxy của những tế bào trong cơ thể làm cho những tế bào này chết đi, ở mức độ cao hơn có thể gây chết người nhanh chóng do bị ngạt thở. Chất độc này ngấm vào nước ngầm, chảy ra sông làm chết sinh vật, tàn phá môi trường khủng khiếp, cá chết nổi lềnh bềnh, tôm tép, rong tảo chết hết, nguồn lợi sinh sống của ngư dân sống quanh vùng đó không còn gì. Vì lợi ích riêng, người ta không nghĩ đến hậu quả tai hại mà cộng đồng phải gánh chịu. Vì thế, thường những người đi đãi vàng về sau đời họ rất thê thảm.
Trong cuộc sống cũng vậy, nhiều khi chúng ta cần phải hy sinh quyền lợi riêng cho quyền lợi chung. Chúng tôi được biết có một người làm thầy thuốc nam. Khi Nhà nước giải phóng mặt bằng để làm con đường băng ngang qua khu đất nhà anh và nhiều nhà khác, Nhà nước đã có họp dân để đền bù giá đất, nhưng anh không nhận tiền đền bù, nhiều người cự nự, anh nói tỉnh bơ: “Làm đường cho gia đình tôi đi, cho nhiều người đi, lương tâm không cho phép tôi lấy tiền của Nhà nước”. Hoặc trường hợp có hai mẹ con nghèo, trong đợt Nhà nước khuyến khích mua công trái, người mẹ nói nếu mua công trái thì không còn tiền đi chợ. Nhưng lúc đó, cô con gái đã lấy một trăm ngàn của mình dành dụm được để mua công trái, điều này làm cho người bán công trái cảm động... Thì đây dù chỉ là chuyện nhỏ nhưng cũng vì lợi ích chung.
Sống vị kỷ hay vị tha đều có nhân quả khác nhau lúc về già. Ví dụ như ông Eiffel người Pháp - một trong những kiến trúc sư vĩ đại nhất mọi thời đại (Tháp Eiffel ở Paris nổi tiếng là mang tên ông). Nhớ lại chuyện khi ông mới còn ở trình độ trung cấp (chưa là kỹ sư cầu đường), nhưng trong tâm ông luôn luôn có ý nghĩ làm được nhiều cây cầu để giúp mọi người đi lại dễ dàng mà không hề nghĩ tới đồng lương nhiều hay ít. Ông đã nghĩ ra cách làm cây cầu treo, và đã giúp người Ý làm chiếc cầu treo bắc qua con sông nước chảy xiết. Thời thuộc Pháp, ông có sang Việt Nam xây dựng cây cầu ở Long An (cầu được tu sửa lại, có cắm bảng ghi tên ông). Về già, ông sống tự tại, con cháu đông, trong dịp sinh nhật ông năm 90 tuổi, con cháu tề tựu đông đủ làm lễ chúc thọ vui vẻ, và cũng trong ngày đó, ông bình thản trút hơi thở cuối cùng. Cách ra đi nhẹ nhàng đó là do cái phước của ông suốt cuộc đời tận tụy chăm lo cho mọi người.
Nhưng, ngược lại, cũng có nhiều người chỉ thích ăn ngon, mặc đẹp, vào cuối đời lại lăn lộn trên giường bệnh, ra đi trong đau đớn khổ sở. Cuộc sống của họ vì thế có khi lại trở thành gánh nặng đối với con cháu lúc tuổi già.
Cho nên, để cuộc đời của chúng ta có ý nghĩa, khi còn khỏe mạnh, chúng ta hãy sống tận tụy, hy sinh vì lợi ích chung của những người chung quanh, làm được nhiều điều có lợi cho cộng đồng xã hội. Chúng ta tạo công đức để cuối đời được an lạc, hạnh phúc và ra đi trong êm ái, tĩnh lặng.
Cải hóa tâm hồn con người
Ngay sau khi mãn hạn tù và được tự do, rất nhiều phạm nhân liền tái phạm. Hoặc có người chưa quá hung dữ khi mới vào tù, nhưng khi ra tù họ đã ác độc, dữ dằn hơn lúc mới vào rất nhiều. Một phòng giam trong tù thường rất chật chội. Khi lọt vào cộng đồng mà ai cũng quá hung dữ ác độc, người ta thường bị lây nhiễm những tâm bất thiện đó; tâm hồn họ bị nhuốm đen nhiều hơn chỉ sau vài năm.
Bởi vậy, có người đã cho rằng môi trường trong tù là nơi người ta dạy lẫn nhau về điều ác. Khoảng thời gian bị giam trong trại tù, tội nhân không thể hại ai được bên ngoài nữa nhưng trong lòng họ, điều ác vẫn được nuôi dưỡng để trở thành tay tội phạm độc ác hơn hồi chưa vào tù.
Trước tình trạng người tù quá hung ác và thường gia nhập băng nhóm, làm nhiều điều xấu ngay khi vừa ra tù. Tại một trại tù của Ấn Độ, bà giám thị trưởng trại giam đã rất băn khoăn tìm cách giáo dục để cải tạo tâm hồn họ. Một nhân viên cảnh sát dưới quyền đã thưa với bà rằng: “Thưa bà, tôi có học thiền với một vị thiền sư. Sau khi thực tập thiền, tôi thấy tâm hồn mình đã thay đổi rất nhiều. Bà hãy thử mời vị thiền sư đến dạy thiền cho phạm nhân xem”.
Ông nói rất nhiều và bà đã chấp nhận cho phạm nhân tập ngồi thiền. Ban đầu họ phải ngồi rất khổ sở. Họ kể rằng khi nhắm mắt lại, những mối thù ngày xưa còn nung nấu trong tâm lại bùng cháy dữ dội; nỗi nhớ nhung, hình ảnh người yêu lại hiện về chập chùng... Nhưng vị thiền sư vẫn kiên trì dạy dỗ, hướng dẫn. Thời gian trôi qua, nhiều năm sau tâm hồn họ dần yên tĩnh lại. Khi tâm hồn yên tĩnh, tự nhiên lòng thương yêu bắt đầu nảy nở giữa phạm nhân với nhau, giữa giám thị với tù nhân.
Ánh mắt khinh bỉ, thù hận giữa họ từ từ biến mất. Thay vào đó là những cái nhìn thương yêu và sự đối xử tử tế. Dần dần, người giám thị đi giữa các phạm nhân như những người anh em đi với nhau. Đến ngày phạm nhân mãn hạn tù và được cấp giấy ra trại, những người giám thị trại giam đã đứng chào, cấp giấy, kí tên, giao lại cho họ những vật dụng cũ rồi tặng họ một ít tiền về xe.
Cảnh quay phim thật cảm động. Những người tù nhân ôm các giám thị khóc nức nở vì họ thấy thực sự trong mấy năm qua trại giam như tổ ấm của họ, từ nơi đó tâm hồn của họ được thay đổi, những hận thù ngày xưa hoặc vơi đi hoặc tan biến hết, họ không còn nuôi ý định phải tìm ai trả thù khi ra tù nữa.
Ở một số quốc gia, những tu sĩ được phép vào nhà tù để thuyết pháp, tạo điều kiện để phạm nhân được giáo dục, chuyển hóa những tâm bất thiện cắm rễ quá sâu trong lòng. Chúng ta mơ ước một ngày Nhà nước sẽ cho phép tù nhân được tiếp cận với những bài giảng về đạo lý, những cuốn sách về nhân quả để tâm hồn họ được cải hóa tốt đẹp hơn.
VÌ LỢI ÍCH CHUNG, CHÚNG TA PHẢI CÓ THÁI ĐỘ NHƯ THẾ NÀO?
Có khi chúng ta phải nhường nhịn để giữ gìn danh dự, hòa khí, sự đoàn kết cho tập thể nhưng cũng có khi vì lợi ích chung mà chúng ta phải đấu tranh.
Đối với ma túy, tham nhũng, hối lộ
Hiện nay, tệ nạn ma túy như vòi bạch tuộc lan xa, lan nhanh từ thành thị đến thôn quê, vào mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi. Chúng ta làm sao có thể sống bình thản trước thảm trạng này? Vì lợi ích chung, chúng ta phải đấu tranh chống lại một cách cương quyết, có bản lĩnh.
“Hối lộ”, “tham nhũng” là “căn bệnh” khó chữa của nhiều nước, nhất là ở các nước Đông Nam Á, từ Thái Lan đến Mayanmar, Malaysia, Philippines, Indonésia,... gây bất bình trong nhân dân. Tham nhũng, hối lộ tạo nên sự bất công trong xã hội, người dân mất niềm tin ở bản thân, ở Nhà nước v.v... Chúng ta phải xông xáo, chấp nhận nguy hiểm đấu tranh cho công bằng, lẽ phải. Sự thụ động của chúng ta trước cái xấu, cái ác không phải là bao dung mà là đồng lõa với tội ác, là mang nghiệp. Sống vì lợi ích chung mới là lẽ sống của người Phật tử, của tất cả mọi người.
Việc tin nhân quả luân hồi sẽ tạo cho chúng ta đạo đức sâu thẳm. Khi tin có nhân quả, chúng ta mới biết tránh điều ác, làm điều thiện. Đây là nền tảng đạo đức của toàn xã hội. Những người chưa biết nhân quả thì việc làm của họ, hành động của họ chỉ vì lợi ích cá nhân. Họ không lo lắng, bận tâm gì đến tội lỗi nên dễ dàng gây tội ác. Hậu quả xấu không chỉ đến với họ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng xã hội, đất nước. Những người buôn bán ma túy, nhận hối lộ, tham nhũng, gây không ít tội lỗi đối với cuộc sống của con người. Vì vậy, chúng ta phải suy nghĩ làm thế nào để mọi người đều biết tin nhân quả luân hồi, nhưng không phải chỉ cầu nguyện suông mà phải dấn thân. Chúng ta phải tìm cách tiếp xúc với bạn bè, xóm giềng, nói chuyện, cho mượn sách, hoặc băng, đĩa nói về nhân quả để mọi người tin nhân quả mà tự hoàn thiện bản thân để đạo đức toàn xã hội được nâng lên từng bước... Có khi vì lợi ích mình nhường nhịn, nhưng có khi cũng vì lợi ích mà mình phải dấn thân.
Đối với trẻ em
Trách nhiệm của gia đình và nhà trường là dạy dỗ con em chúng ta, nhưng chúng ta không thể kiểm soát hành vi của chúng từng giờ, từng phút được. Ngoài giờ ăn, giờ ngủ, giờ ngồi vào bàn học (nhưng không chắc chúng ngồi học bài, làm bài nghiêm túc hay lén xem truyện!) thì chúng ta nhìn thấy chúng. Còn lúc chúng ra đường, lúc đến trường, lúc đi với bạn bè thì chúng ta không thể kiểm soát được. Biết đâu những bài giáo dục công dân mà thầy cô hết lòng giảng dạy, biết đâu những lời dặn dò “con học cho giỏi, cho ngoan...” mà con em chúng ta chỉ nghe như gió thoảng qua tai. Cha mẹ cứ tưởng con em mình còn ngây thơ mà không biết chúng truyền tay nhau sách báo có nội dung xấu, xem phim ảnh đồi trụy, tìm kiếm trên mạng Internet những thông tin, những hình ảnh “hấp dẫn”... Chính những điều bí mật này là một loại nọc độc làm vẩn đục tâm hồn trẻ, làm cho tâm hồn trẻ không còn trong trắng bình thường nữa, tự nhiên chúng sẽ quay lưng với đạo đức. Chúng sẽ có những dấu hiệu thay đổi trong tâm hồn, trong tính cách so với trước kia, các bậc cha mẹ phải để ý kỹ điều này. Từ một đứa trẻ hàng tuần ngoan ngoãn theo cha mẹ đến chùa và gặp gỡ chư Tăng Ni, nếu trẻ bỗng thờ ơ, lảng tránh không chịu đến chùa nữa, cha mẹ hãy tìm cách nói chuyện với trẻ để tìm ra nguyên nhân bởi khả năng trẻ đã bị nhuốm đen tâm hồn là rất cao. Còn những đứa trẻ có tâm hồn trong trắng bình thường sẽ dễ đến với đạo một cách tự nhiên hơn, để nương tựa quý Tăng Ni, học hỏi đạo lý.
Những bậc cha mẹ hãy cảnh giác về điều này để xây dựng tâm hồn con trẻ, phải làm sao sự giáo dục công khai của chúng ta phải thắng được sự tuyên truyền lén lút bí mật. Mà cái công khai thì luôn luôn thua cái bí mật, nên bây giờ chúng ta phải moi cái bí mật ra thành công khai luôn. Chúng ta hãy khéo léo, tìm cách cho con cảm thấy thân thiết với cha mẹ hơn bạn bè. Nghĩa là chúng ta phải dụ, phải dỗ con em mình nói ra những điều thầm kín để kịp thời uốn nắn, sửa chữa, giúp chúng hoàn thiện nhân cách dần dần. Nếu chúng ta không quan tâm đến con cái, lớp trẻ bị đầu độc, thì tội nghiệp chúng biết bao! Những đứa trẻ ít có thiện căn mới dễ bị ảnh hưởng ở cái xấu, còn những đứa trẻ có thiện căn từ đời trước mới không bị đầu độc bởi cái xấu, có thể “tu” được vì tâm hồn vững mạnh. Đây chính là cái gốc mà chúng ta phải biết để hướng dẫn trẻ. Cái gốc là ở chỗ: Lòng kính trọng các bậc Thánh ở kiếp trước hoặc kiếp này làm cho trẻ có thiện căn.
Ở một khía cạnh khác, đối với trẻ, lòng kính trọng vĩ nhân coi vậy chứ không bằng lòng tôn kính thần thánh. Chúng ta có thể kể cho trẻ nghe nhiều về những tấm gương của các bậc danh nhân như
Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Trần Bình Trọng v.v... đều là những chất liệu để nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, nhưng thật sự vẫn không mạnh bằng những câu chuyện thần tiên và lòng tôn kính thần thánh. Những truyện cổ tích nuôi dưỡng tâm hồn trẻ rất tốt. Khi kể về Tiên hiện ra ban phép lành, Bụt hiện ra giúp người hoạn nạn thoát qua cơn khốn khó... là chúng ta đã nhen nhúm vào tâm hồn trẻ tin có Tiên, có Phật, có Thánh, có ông Trời mang đến sự công bằng, tình thương yêu... thì thiện căn mới được gieo và bắt rễ sâu trong tâm hồn con trẻ.
Những điều trên mới nghe như mê tín nhưng hiệu quả rất lớn. Điều này quan trọng như thuốc đề kháng tạo nên sức mạnh nơi tâm hồn trẻ đối với điều xấu. Còn những đứa trẻ không biết tin thần thánh, không bao giờ biết có sự trừng phạt, chúng ta tin chắc đứa trẻ đó lớn lên sẽ thành người xấu. Trong đạo Phật, chúng ta rất may mắn khi có Đức Phật là một vị Thánh tuyệt đối, ngoài ra còn có các vị Bồ tát với vô số công hạnh vĩ đại. Vì thế, hãy kể cho trẻ nghe về Đức Phật, về các vị Bồ tát, mỗi tuần cố gắng cho con em mình đến chùa lạy Phật, nghe giảng Pháp, sinh hoạt tập thể v.v... để giữ tâm hồn trẻ tin Phật, tin Bồ tát, nuôi dưỡng thiện căn lớn dần trong tâm của trẻ. Vì lợi ích chung của xã hội mà chúng ta phải ưu tư đến việc giáo dục cho thế hệ trẻ.
Đối với tha nhân
Chia rẽ là căn bệnh lớn của loài người nói chung và xã hội Việt Nam nói riêng.
Tâm đố kỵ là một trong những nguyên nhân gây chia rẽ. Trong xã hội, khi thấy ai leo cao hơn mình, vì lòng ganh ghét nên rất nhiều người đã tìm cách kéo cho họ rơi xuống.
Trong đạo, tâm đố kỵ này làm Phật Pháp chia rẽ. Giữa cuộc đời, đố kỵ làm xã hội bị phân hóa. Đối với chúng sinh, đố kỵ làm mỗi người tự đốt sạch số phước trong quá khứ của mình.
Khi thấy người khác làm được việc, có những người đã sợ mình bị bỏ lại phía sau nên họ tìm đủ mọi cách phá hoại, khích bác. Đó là việc làm tổn phước khiến xã hội đầy bất ổn và đạo Phật cũng suy yếu. Mỗi người hãy tỉnh táo để vượt qua tâm hơn thua của mình bằng lời nguyện: nguyện không bao giờ thèm khát danh vọng, nguyện lòng chỉ như đất âm thầm giấu mình phía sau để hỗ trợ cho người khác được giẫm lên rồi thành công; nguyện mãi mãi không cần ai biết đến hay nhớ về tên tuổi, công lao của mình.
Hãy cân nhắc đến lợi ích của toàn xã hội trong khi đang vun vén cho gia đình.
Một người cha khi muốn mở mang một xí nghiệp, một công việc để cho các con mình cũng phải cân nhắc xem xí nghiệp đó với cách làm ăn như thế có gây hại gì cho xã hội hay không? Vì sự độc quyền trong kinh doanh có thể làm xã hội bất ổn, hoặc lối sản xuất cẩu thả vô trách nhiệm có khả năng đe dọa đến môi trường sinh thái...
Đối với chính chúng ta
Hơn ai hết, chính mỗi người chúng ta phải diệt được lòng tham, sự nóng giận, sự mê muội. Thật không dễ dàng! Cho nên, mỗi người phải tự hoàn thiện bản thân mình mới có thể đòi hỏi được ở người khác. Nếu người Phật tử là viên chức, là cán bộ Nhà nước, thì phải vì lợi ích chung mà vượt qua sự cám dỗ của đồng tiền, của vật chất thực dụng tầm thường.
Có ba quan điểm giữa quan và dân. Theo nho giáo thời phong kiến, quan như cha mẹ của dân, hết lòng lo cho dân. Nghĩa là quan phước lớn hơn dân. Thời Bác Hồ thì cán bộ là công bộc, tức là đày tớ của dân, phải hết lòng phục vụ nhân dân. Nhưng hiện nay, đau lòng, khi có những cán bộ đã không giữ được lập trường, không thắng được sự cám dỗ của vật chất tầm thường, để rồi làm trái với luật pháp, làm mất lòng tin của nhân dân.
Tuy nhiên, là đệ tử Phật, chúng ta đã chọn và đi theo con đường của Phật, là con đường lý tưởng vượt ngoài thực tế, để kéo cái thực tế lại thành cái gì đó tốt đẹp hơn. Nghĩa là chúng ta phải lãng mạn một chút (vì thực tế luôn luôn phũ phàng) là sống có lý tưởng, luôn luôn xem mình thấp đi một chút và vị tha nhiều hơn. Nếu làm quan thì phải nhớ tuy không đến nỗi coi mình là đày tớ, thì cũng phải nghĩ mình là người phục vụ, là em hay là con của nhân dân. Phải nghĩ mình thấp xuống một chút, cho có lý tưởng một chút là vậy. Còn nếu làm được cái gì đó cho lợi ích chung, cho xã hội, cho đất nước thì xem đó chính là niềm vui, là an lạc hạnh phúc.
Tăng, Ni, hoặc Phật tử chúng ta sau này có xuất gia, thì cũng phải biết cân nhắc giữa lợi ích của chùa mình, của tông phái mình với lợi ích của toàn Phật Pháp, không được chấp tông phái. Ví dụ, một người tu theo hệ phái này, chỉ nghĩ vun vén cho hệ phái của mình mà coi nhẹ các hệ phái khác là sai lầm. Hoặc Bắc tông kỳ thị các tông phái khác. Hoặc vun vén cho ngôi chùa của mình lộng lẫy hơn chùa khác. Như vậy là chấp tông phái, là phân biệt chùa này, chùa kia làm chia rẽ trong Phật Pháp. Là người đệ tử Phật, chúng ta đi theo con đường vô ngã mà Phật dạy, lúc nào cũng đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng; lợi ích tập thể nhỏ quanh mình thấp hơn lợi ích của cộng đồng. Hãy cẩn thận với từng lời nói, từng hành động dù nhỏ nhặt của mình để nhìn thấy ta sẽ vun đắp hay phá hủy lợi ích chung. Chúng ta mơ ước một ngày nào đó trên thế giới luật Nhân Quả sẽ được thắp sáng, nhất là trong học đường và phương pháp Thiền định sẽ được phổ cập rộng rãi để con người tìm về sự an tĩnh trong tâm hồn. Đó là lợi ích chung lớn nhất, là nguồn hạnh phúc ngập tràn cho hành tinh này.
Trong cuộc sống hiện đại, mỗi người bị cuốn hút vào vòng xoáy đến chóng mặt, mà tiền là tâm điểm. Vì thế, mỗi người buộc phải đứng trước sự chọn lựa giữa lý tưởng và thực tế cuộc sống. Theo quan điểm thực dụng thì cho rằng đồng tiền có sức mạnh vượt bậc, như đũa thần thiên biến vạn hóa: Làm được, hoặc có được tất cả những gì mà chủ nhân của đồng tiền muốn. Thực tế thì họ đã có những gì mà họ muốn, trừ đạo đức. Nếu không tin có nhân quả, không có đạo đức thì thực tế đó cũng rất phũ phàng, vì đến lúc nào đó họ cũng mất tất cả: tiền bạc, danh dự,... chỉ còn nhà tù và chờ đợi hình phạt bằng những bản án (không cần chứng minh vì điều này quá rõ ràng, ai cũng thấy).
***
Thế nên, “Vì Lợi Ích Chung” tuy là vấn đề rất cũ, nhưng nếu chúng ta biết quan tâm, biết vận dụng vào đời sống, biết gắn lợi ích cá nhân với lợi ích chung, biết gắn lợi ích của quốc gia với lợi ích của nhân loại, với nền hòa bình của thế giới thì loài người luôn luôn được sống trong sự đoàn kết, gắn bó yêu thương nhau, khiến cho đời người tuy ngắn ngủi mà đầy ý nghĩa.
Và đó, chính là việc mà chúng ta phải làm.


