KHÁI QUÁT
Kinh tế là một vấn đề quá lớn lao mà các nhà kinh tế học đã bỏ cả cuộc đời để nghiên cứu và tìm ra quy luật của nó. Ngày xưa chưa có môn Kinh tế học, người ta chỉ kinh doanh theo cảm tính, thói quen, sự khôn ngoan và theo cha truyền con nối. Đến sau thế kỷ thứ XVIII, Ông Adam Smith (người Anh) nghiên cứu đề tài kinh tế, từ đó đặt nền tảng cho môn Kinh tế học, trong đó bao gồm nhiều lĩnh vực như sản xuất, tiêu thụ, tiền tệ, tài chính... rất nhiều vấn đề liên quan đến cuộc sống của con người và xã hội. Trước năm 1975, ở Sài Gòn, khoa Kinh tế được học ở trường Đại học Luật. Bây giờ sinh viên học chuyên biệt ở trường Đại học Kinh tế hẳn hoi, trong đó có nhiều ngành, nhiều môn.
Trong đời sống xã hội, con người cần nhiều nhu cầu như ăn, ở, mặc... phải tham gia vào các hoạt động của xã hội, của đất nước, trong đó kinh tế – chính trị là yếu tố quan trọng chi phối, thúc đẩy cuộc sống của con người, của xã hội và đất nước. Kinh tế phát triển thì cuộc sống của con người, của xã hội đi lên. Ngược lại, kinh tế trì trệ, suy thoái thì xã hội bất ổn... Đưa vấn đề kinh tế ra bàn là “tham vọng”, một việc làm quá sức của một đệ tử Phật. Ở đây, chúng ta chỉ nhìn vấn đề kinh tế trên quan điểm đạo Phật, chứ không dám bàn đến những lĩnh vực chuyên sâu mà các nhà kinh tế học đã đưa ra.
MAY MẮN VÀ RỦI RO – PHƯỚC VÀ TỘI
Nhân quả thiện và ác, tội và phước chi phối kinh tế - xã hội như thế nào?
Các nhà kinh tế học, các nhà xã hội học quan sát sự biến động kinh tế của một đất nước để biết được sự thịnh suy, sự thăng trầm của xã hội đó, đất nước đó. Nhưng họ chỉ dựa vào kinh tế học chứ không dựa vào quan điểm tội – phước của con người.
Còn khi đứng trên quan điểm đạo Phật, dựa vào yếu tố tội – phước của con người trong xã hội để quan sát nền kinh tế thì chúng ta mới thấy yếu tố tội – phước cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế của một đất nước. Nhìn lối sống và cách sinh hoạt của người dân, chúng ta có thể biết được kinh tế của đất nước đó đang thịnh hay suy.
Sự thịnh suy có nguyên nhân từ đâu? Và thời thịnh suy như thế nào? Trên quan điểm tội – phước, chúng ta có thể nhận định, đánh giá được nhiều diễn biến của một nền kinh tế rất lý thú, và cũng khá chính xác. Ví dụ năm 1998, cuộc khủng hoảng kinh tế ở khu vực Đông Nam Á làm mọi người hoang mang và Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Chúng ta nhìn vào lối sống, lối sinh hoạt của người dân ở các nước đó, ta biết được nguyên nhân. Người Việt Nam có lối sống đậm đà tình nghĩa, biết làm điều thiện, biết tội – phước, nên dù Việt Nam có bị ảnh hưởng nhưng cũng “lách” qua được, vượt qua được “cơn sóng gió” khủng hoảng đó, rồi cũng đứng lên được. Trong sự khó khăn chung của toàn xã hội, người có phước tự nhiên vượt qua được, rồi có cơ hội vươn lên. Do vậy, yếu tố tội – phước rất quan trọng trong cuộc sống.
Chúng ta sẽ nhận định những cách làm kinh tế như thế nào làm cho phước tăng lên thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển và cách làm kinh tế như thế nào khiến bị tổn phước, nền kinh tế - xã hội suy thoái.
Kinh tế là sự trao đổi hàng hóa giữa người với người mà đồng tiền là vật trung gian để trao đổi. Nói đơn giản là chúng ta đem cái gì mình có để bán lấy tiền, rồi dùng tiền để mua những thứ chúng ta cần. Những thứ có thể bán được như sản phẩm, tài năng, kỹ thuật, công nghệ, sức lao động, kiến thức, niềm tin, uy tín... Uy tín cũng là yếu tố quan trọng trong lĩnh vực kinh tế. Một thương hiệu có uy tín có thể bán sản phẩm giá cao hơn sản phẩm cùng loại của một hãng khác chưa có uy tín bằng. Nhờ kinh doanh có uy tín mà chúng ta sẽ có nhiều khách hàng hơn. Do đó, nói rằng uy tín cũng tạo ra tiền chính là vậy.
Ví dụ, chúng ta nói bán sức lao động để có tiền (lãnh lương) rồi dùng tiền đó để mua những thứ cần dùng. Quan trọng là mình có cái gì để bán và yếu tố phước đã chi phối vấn đề này như thế nào? Có những người không có cái gì để bán cho đời, hoặc có bán mà không ai mua hay còn gọi là thất nghiệp (có nghề mà không được ai sử dụng). Tại sao vậy? Không chỉ riêng vấn đề thất nghiệp mà còn rất nhiều điều khác trong xã hội có những điều bí mật chi phối trong đó mà chúng ta không thể giải thích, không thể kết luận một cách vội vã, rõ ràng được. Nếu chúng ta nhìn vào yếu tố khoa học và đời sống xã hội, chúng ta sẽ không bao giờ trả lời được thỏa đáng mọi vấn đề trong cuộc s ống n ày.
Trong nền kinh tế của một đất nước, mọi yếu tố đều dựa vào nhau và yếu tố nào cũng biến động, không bao giờ có chỗ dựa ban đầu cố định để đặt nền móng. Ví dụ, sản xuất phải dựa vào công nhân và nguyên vật liệu, dựa vào tài tổ chức của doanh nhân, dựa vào luật pháp; dựa vào tình trạng ổn định của xã hội, dựa vào tình hình tài chính, đồng tiền mất giá hay không mất giá, và nhiều yếu tố khác nữa có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ.
Nếu ta muốn sản xuất, ta phải dựa vào nhiều yếu tố, mà yếu tố nào cũng biến động. Những doanh nhân có kinh nghiệm nắm bắt được xu thế của thời đại nên đánh giá thời điểm nào thì kinh doanh sản phẩm nào để có hiệu quả. Họ biết phán đoán sản xuất ra một mặt hàng để kinh doanh, tiên đoán sản phẩm của họ sẽ tồn tại trên thị trường được bao lâu. Doanh nhân đoán trước được giai đoạn suy vong của sản phẩm (nhu cầu thị trường không cần), hay sản phẩm này đã bị một sản phẩm khác cạnh tranh, hơn hẳn chất lượng nên thu hút khách hàng hơn. Lúc này, doanh nhân có kinh nghiệm sẽ sáng suốt xoay chuyển tình thế, hoặc là phải áp dụng khoa học công nghệ, loại bỏ khuyết điểm của sản phẩm, cải tiến sản phẩm để sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao hơn; hoặc doanh nhân biết sản phẩm này không còn khả năng cạnh tranh nên đổi qua kinh doanh mặt hàng khác.
Chúng ta thấy rằng có quá nhiều điều phải dựa vào hay lệ thuộc vào khi làm kinh tế. Vì thế, người làm kinh tế phải biết hết tất cả, mà trong cái “biết tất cả đó” không có điểm nào là điểm ban đầu để làm nền tảng dựa vào, để làm tiêu chuẩn. Ví dụ một doanh nghiệp không thể lấy vàng làm giá trị căn bản vì giá vàng cũng lên xuống bất chừng. Có thời gian ở nước Nga, nước Úc, các ngân hàng bán vàng ồ ạt ra thế giới làm cho giá vàng ở nhiều nước tuột giá, khiến cho giá cả thị trường bị xáo trộn.
Chuyện trong ngành thiên văn cũng giống như vậy. Ngày xưa, ngành thiên văn vũ trụ chưa tiến bộ người ta cho rằng (theo kinh Thánh) trái đất đứng yên một chỗ còn tất cả tinh tú, mặt trời, mặt trăng xoay quanh. Bởi trái đất do Chúa tạo nên trái đất đứng yên. Mãi nhiều thế kỷ sau, các nhà khoa học nói mặt trời đứng yên còn trái đất xoay quanh mặt trời. Nhưng gần đây, người ta lại khám phá ra cả mặt trời không đứng yên mà cũng quay trong dải Ngân Hà của chúng ta (vũ trụ có vô số thiên hà, các nhà khoa học đặt cho mỗi thiên hà một cái tên. Thiên Hà của chúng ta gọi là Ngân Hà). Sau đó, các nhà khoa học mới đưa ra một phỏng đoán rằng trong vũ trụ phải có một thiên thể ổn định làm chỗ dựa cho các thiên thể khác lập nên một quỹ đạo di chuyển của mình. Nhà bác học Einstein đã phủ nhận điều đó. Ông nói: “Trong vũ trụ không có cái gì cố định hết”. Tất cả các ngôi sao chuyển động dựa vào nhau, không có cái nào cố định làm gốc hết.
Những lý thuyết khoa học của Einstein rất đúng với tinh thần đạo Phật, là mọi thứ đều thay đổi. Những điều ngày hôm nay người ta hâm mộ, ngày mai sụp đổ, khủng hoảng... Đây là chỗ để chúng ta thấy rằng nếu chúng ta rời bỏ đạo đức, không biết tội – phước, mà đi tìm một chỗ dựa nào khác trong cuộc đời thì không có gì vững chắc hết. Đã có rất nhiều người có bằng cấp, có khả năng, có ý chí... nhưng vẫn thất bại khi bước vào kinh doanh, chỉ bởi vì những yếu tố bất ngờ bên ngoài như chiến tranh, thiên tai, hoặc rủi ro, bị tai nạn... đã khiến cho tất cả chương trình hoạt động phải bị bỏ ngang hoặc khó thực hiện.
Khi quan sát nền kinh tế của một xã hội, chúng ta phải hiểu rằng không có cái gì ổn định cả. Tuy các yếu tố có dựa vào nhau nhưng đều quay cuồng biến động với nhau. Vậy, chúng ta dựa vào cái gì để có niềm tin trong cuộc sống, để tiếp tục làm ăn mà không cảm thấy thất vọng khi biết mọi thứ đều không ổn định?
Chúng ta chỉ có thể dựa vào luật Nhân Quả mà thôi. Luật Nhân Quả không được nhắc đến trong các bài giảng về Kinh tế học, nhưng chính luật Nhân Quả đã chi phối hầu hết mọi biến động của nền kinh tế, dù là kinh tế cá nhân hay kinh tế quốc dân.
Trong diễn biến của một nền kinh tế, ngoài các yếu tố như tiền tệ, tài chính, công nhân, kỹ thuật, sản xuất, quảng cáo v.v... còn có yếu tố may mắn hay rủi ro. Các yếu tố này rất quan trọng.
Trong đời có nhiều người thành công nhờ may mắn. May mắn hay rủi ro trong cuộc sống không thể lường trước được. Các yếu tố may mắn và rủi ro quyết định khá quan trọng trong việc làm ăn kinh tế của con người. Ví dụ, có một vùng có điều kiện về kinh tế hải sản. Năm nào ngư nghiệp ở đó cũng trúng mùa, lúc đó chúng ta cho rằng họ may mắn. Nhưng một cơn lũ đi qua, quét sạch không còn gì. Sự bất ngờ này gọi là rủi ro. Ví dụ khác, có người vừa mua được một khu đất thì giá đất liền tăng lên ồ ạt, họ thu được lợi nhuận lớn khi bán khu đất đi. Một người khác thấy khu đất làm ăn được nên mua giá cao, khu đất này đã quy hoạch làm khu dân cư. Rất chắc ăn! Không ngờ có biến cố gì đó, khu đất được quy hoạch lại là khu quân sự, chỉ đền bù với giá rất thấp. Thật rủi ro! Hoặc, một doanh nhân vạch ra phương án kinh doanh rất khả thi. Để thực hiện phương án, họ phải vay tiền ngân hàng và đem nhà ra thế chấp. Theo luật Nhân Quả, hễ thế chấp, cầm cố tài sản thì chắc chắn tài sản đó sẽ mất vì người đó đã hưởng gấp đôi phước đang có. Nếu chúng ta đem nhà hay tài sản thế chấp cho ngân hàng để vay tiền, ta có thể mất luôn tài sản, chúng ta hãy lưu ý điều đó.
Sự may mắn hay rủi ro do đâu mà có? Tại sao người này được cơ hội quý giá trong khi người khác gặp toàn trở ngại? Chính phước hay tội đã mang tới may mắn hay rủi ro cho con người. Phước nghiệp sai biệt của chúng sinh đã khiến cho người có phúc đức thì thời vận hanh thông, kẻ phước mỏng nghiệp dày thì vận xui cứ theo đuổi, dồn họ vào thất bại. Điều này đã được quy định bởi nhân quả. Chúng ta là đệ tử Phật, chúng ta có niềm tin vào luật Nhân Quả. Dù chúng ta có bằng cấp gì đi nữa, khi bước ra kinh doanh đều phải có niềm tin vào luật Nhân Quả. Tin hiểu được luật Nhân Quả, chúng ta sẽ nhìn vấn đề chính xác hơn rất nhiều.
Chúng tôi có nghe một công ty nọ mời một ông tiến sĩ về làm Giám đốc, trả lương cao, không biết ông này điều hành như thế nào mà vài năm sau công ty phá sản. Người ta thắc mắc tại sao một người học đến tiến sĩ như ông với vô số các kiến thức chuyên ngành kinh tế mà lại thất bại nhanh chóng, vì sao vậy? Vì có một điều rất quan trọng mà ông không được học. Đó là sự may mắn hay rủi ro trong kinh doanh chính là do phước hay tội của mình quyết định.
Điều này không ai học được trong nhà trường. Ở đó, người ta chỉ nói đến sự may mắn hay rủi ro trong kinh doanh do tình hình kinh tế - xã hội tác động đến. Có một cử nhân kinh tế sau khi tốt nghiệp ra trường nói rằng: “Học xong ra trường em không biết bắt đầu từ đâu để làm kinh tế”. Nói như vậy là hiểu kinh tế luôn biến động, không ổn định, bấp bênh, chẳng có thể xác định được đâu là điểm khởi đầu...
Vậy ta sẽ bắt đầu từ đâu?
Bắt đầu làm phước từ việc nhỏ nhặt, chắt chiu cho phước lớn dần dần, khi ra làm kinh tế ta mới thành công. Ta đừng ỷ vào tấm bằng, chỉ ỷ vào tấm bằng là suy sụp nhanh chóng. Không có điều gì có thể thành tựu tốt đẹp mà không có phước chi phối trong đó. Người có phước luôn có sự nhạy bén cần thiết trong công việc và dễ dàng gặp những cơ hội, may mắn bất ngờ. Hiểu điều này là chúng ta đã tin chắc vào luật Nhân Quả.
Là Phật tử, chúng ta nên nhớ rằng mình đang sống trong thế giới đầy xáo trộn, bất an, không có gì chắc chắn ở phía trước. Nhưng dù cuộc đời có ra sao, thậm chí dù có lúc ta phải đi mượn gạo để nấu cơm... nhưng chúng ta vẫn giữ vững niềm tin về luật Nhân Quả. Ta thấm nhuần lời Phật dạy là biết thương yêu con người. Mỗi đêm, chúng ta thường cầu nguyện:
Xin cho con mãi mãi
Lòng thương yêu không cùng
Trải thế giới tam thiên
Đến chúng sinh vô tận.
Nhờ mỗi đêm chúng ta đọc, tụng như vậy mà trong cuộc sống có khi đang nghèo đói, nhưng chúng ta vẫn thương yêu con người, vẫn làm phước từng chút, từng chút. Đó là khởi điểm làm kinh tế chắc chắn nhất. Từng người làm như vậy, dần dần lan rộng toàn xã hội. Chúng ta tin chắc rằng nếu toàn xã hội ai cũng suy nghĩ được điều đó, ai làm kinh tế cũng bắt đầu bằng việc làm phước trước thì không bao lâu cả xã hội sẽ tiến lên vượt bậc.
Chúng ta nghiên cứu thấy những quốc gia hiện nay đang giàu mạnh là do tổ tiên của họ đều có làm phước. Cũng có trường hợp người làm phước ở quốc gia này lại đầu thai ở quốc gia khác. Quan sát về tương quan chúng ta thấy những quốc gia dẫn đầu về kinh tế thế giới, tổ tiên họ đã làm nhiều điều tốt nên đất nước họ mới phát triển mạnh. Nhưng khi phát triển rồi những cái tốt đó còn nữa hay không lại là chuyện khác.
Chúng ta dựa vào tội phước để quan sát cách kinh doanh, cách làm kinh tế. Nếu trong một đất nước, mọi người làm việc gì đó (trong kinh tế) mà không tăng được phước thì dẫn đến sụp đổ và làm ảnh hưởng luôn đến tình hình của đất nước nếu sự ảnh hưởng của mọi người quá lớn. Còn ngược lại, nếu cách làm ăn của họ làm tăng phước thì việc làm ăn của họ phát triển dần. Chúng ta thấy có nhiều ngành kinh doanh nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì chạy theo lợi nhuận mà không nghĩ tới tai hại khác. Nhà nước cũng thu thuế được từ những hoạt động kinh doanh đó nên cho phép hành nghề. Nhưng về sau, đất nước đó sẽ rơi vào khủng hoảng. Ngược lại, nếu mọi người làm kinh tế bắt đầu bằng việc làm phước thì không bao lâu xã hội sẽ vươn lên và phát triển bền vững.
Nền kinh tế của toàn xã hội là tổng hợp phước của từng con người trong xã hội đó. Nói theo đạo Phật là cộng nghiệp (nghiệp chung của mọi người trong xã hội). Ngoài ra, cũng có nghiệp riêng. Như trong một xã hội giàu có nhưng cũng có những người không có nhà ở, sống lang thang hoặc trong một xã hội nghèo nhưng cũng có những người ở nhà lầu, có xe hơi hai, ba chiếc.
Nhìn chung, nền kinh tế của xã hội phát triển hay không là do phước hay tội của con người sống trong xã hội đó cộng lại (cộng nghiệp). Đây là điểm căn bản để chúng ta lấy đó làm chỗ dựa. Một khi phước của toàn xã hội đã hết thì dù có nhiều người tài giỏi cũng không thể thay đổi được nền kinh tế đang chậm lại, đi xuống. Vì thế, chúng ta đừng nghĩ rằng do tài của một cá nhân nào đó có thể xoay chuyển được nền kinh tế của một đất nước. Ví dụ có những nền kinh tế đang rơi vào khủng hoảng trầm trọng, trong khi những người lãnh đạo cũng rất ưu tú, xuất sắc nhưng vẫn không xoay chuyển được tình thế? Bởi nền kinh tế của một đất nước không thể được cải thiện chỉ bởi cái tài của riêng một cá nhân nào mà phải được vực dậy bởi số phước chung của toàn dân. Cái phước của toàn xã hội lúc đó chưa đủ. Khi nào họ đủ phước thì nền kinh tế sẽ xoay chuyển theo chiều hướng tốt. Do vậy, khi luật Nhân Quả được tin hiểu rộng rãi, đạo đức được tôn vinh, các thiện nghiệp được rất nhiều người gieo trồng thì vận mệnh một quốc gia mới theo đó mà xoay chuyển theo hướng tốt đẹp.
Ở Việt Nam, chúng ta luôn luôn mơ ước xây dựng đất nước giàu mạnh, hạnh phúc. Nhưng điều đó không phải chỉ là đóng góp của một tầng lớp người mà đòi hỏi phải là sự đóng góp của từng con người trong xã hội cùng biết làm phước, biết hy sinh, biết nhường nhịn nhau. Đó là yếu tố tạo nên sức mạnh đoàn kết của toàn xã hội. Đó cũng là yếu tố làm cho kinh tế đất nước ổn định.
CỐNG HIẾN VÀ HƯỞNG THỤ
Con người có phước hay không có phước là do thái độ của họ khi làm việc. Chúng ta chưa nói đến việc làm phước ra bên ngoài mà chỉ đề cập đến trong khi họ làm kinh tế. Thái độ của cá nhân làm việc như thế nào thì sẽ tạo thành phước hay thành tội của cá nhân đó. Và phước, tội của nhiều cá nhân trong xã hội gom lại được nhiều hay ít sẽ khiến cho toàn xã hội đó tiến bộ hay suy sụp.
Thái độ như thế nào thì gọi là phước hay tội? Nếu người nhân viên đi làm chỉ vì đồng lương và người chủ hoạt động kinh doanh chỉ vì lợi nhuận, tức là họ chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến lợi ích chung, thì một thời gian sau khi người nhân viên hưởng hết phước no đủ, người chủ hưởng hết phước giàu sang từ quá khứ, tất cả sẽ sụp đổ.
Hiện nay, người ta bị rơi vào thái độ làm việc đó rất nhiều. Khi tiếp xúc với một số sinh viên mới ra trường, nghe họ trao đổi với nhau, chỉ nói tới chuyện chọn nơi nào làm việc có lương cao thôi. Họ ít khi đặt vấn đề tìm một việc làm nào để phụng sự cho xã hội nhiều nhất. Họ đi làm mà cứ đứng núi này trông núi nọ, bỏ công ty này sang công ty khác, không tình nghĩa, không cần lợi ích cho ai, không quan tâm tới ai, miễn sao được ông chủ quan tâm, chấp nhận trả lương cao là được. Thái độ và động lực làm việc đó là chuẩn bị cho xã hội đi xuống. Vì từng cá nhân bị mất phước thì toàn xã hội cũng ảnh hưởng theo. Thái độ đó của người Âu Mỹ nay đã lan sang Việt Nam. Xã hội chúng ta hiện nay bị tình trạng này rất nhiều. Tuy nhiên, cũng có một số sinh viên trẻ là Phật tử hiểu đạo, họ mang trong tâm thái độ bước ra ngoài xã hội là để phục vụ.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, lớp người có bằng cấp, năng nổ, có tài chỉ muốn làm việc nơi nào có lương cao mà không xuất phát từ động cơ phục vụ xã hội. Có người làm việc qua loa đến cuối tháng nhận lương là được. Có những ông chủ chỉ nghĩ tới lợi nhuận, tìm cách bóc lột công nhân giống như sự bóc lột công nhân của giai cấp tư sản, một thời Các Mác – Ăng ghen đã nói cái gốc là do người chủ chỉ nghĩ tới lợi nhuận thôi. Toàn là động cơ của sự ích kỷ.
Thế nên muôn đời vấn đề lương bổng của công nhân và lợi nhuận của ông chủ luôn mâu thuẫn với nhau. Vì lòng ích kỷ, con người ai cũng muốn giành phần có lợi về cho mình.
Chúng ta cần thiện chí, tức mỗi người biết hy sinh một chút. Nhưng chúng ta khó tìm thấy điều đó trong cuộc đời này. Và kinh tế cứ biến động, thăng trầm vì sự ích kỷ chi phối trong từng con người. Vì phước của quá khứ, người ta có thể làm ăn phất lên nhanh chóng nhưng nếu chỉ lo ích kỷ hưởng cho hết thì phước cũng dần cạn. Sự suy sụp của họ khi hết phước kéo theo sự suy sụp của toàn xã hội. Vì vậy, nếu như mỗi người có thiện chí một chút, biết hy sinh một chút; người nhân viên biết phục vụ nhiều hơn là hưởng, ông chủ ít nghĩ tới lợi nhuận mà biết chăm lo đời sống cho nhân viên nhiều hơn, biết làm từ thiện nhiều hơn. Nghĩa là mọi người biết tạo phước thì nền kinh tế sẽ ổn định và phát triển dần.
Có nhiều nguyên nhân để nền kinh tế phát triển, trong đó có nguyên nhân từ phước và tội của con người. Từ lâu chúng tôi quan sát, ưu tư về kinh tế - xã hội của nhân loại, chúng tôi thấy rằng đất nước đó, xã hội đó giàu mạnh là do từng cá nhân làm việc với tinh thần không vụ lợi, và ngược lại đất nước kia, xã hội kia suy sụp do mọi người còn ích kỷ, chỉ lo làm giàu cho bản thân và gia đình mình.
Bất cứ ai muốn thành công lớn, bước đầu phải làm phước (tức là làm việc không lương) trừ những người có sẵn phước ở đời trước. Từ “không lương” sẽ làm nhiều người ngạc nhiên, bởi tìm đồng lương để nuôi gia đình là mục đích khi người ta đi làm việc. Tuy nhiên, nếu xét trên luật Nhân Quả, trừ những người có phước lớn từ đời trước, còn lại bất cứ ai muốn thành công lớn đều phải khởi đầu bằng những việc gọi là không lương như thế.
Những vĩ nhân của thế giới là những người làm việc không cần lương. Ban đầu, họ làm việc một cách âm thầm, đơn độc, không ai biết đến công việc của họ. Họ đã sống trong nghèo khổ, cơ cực, không ai biết để ủng hộ, giúp đỡ họ. Nhưng họ vẫn miệt mài làm việc, âm thầm nghiên cứu. Đó là những nhà bác học, những thiên tài âm nhạc, những họa sĩ trứ danh, những nhà kinh tế học, những lãnh tụ chính trị kiệt xuất của thế giới... Thành quả của họ để lại cho xã hội, cho loài người là một tài sản vĩ đại đáng khâm phục bằng sự hy sinh lớn lao của họ.
Còn chúng ta là những giáo viên, những bác sĩ mới ra trường khi chưa tìm được việc làm thì nên tham gia dạy các lớp học tình thương, khám chữa bệnh cho người nghèo. Đối với những nghề thủ công, như nghề lắp đặt ống nước, thấy nhà hàng xóm láng giềng hư ống nước, cần thay van nước, chúng ta sẵn sàng giúp đỡ. Đối với phụ nữ, ngoài giờ làm việc, tổ chức đi thăm các gia đình neo đơn, già cả; vận động chống ma túy, giữ gìn vệ sinh công cộng, giúp đỡ, hỗ trợ người nghèo. Sinh viên thì tham gia hướng dẫn an toàn giao thông, luật đi đường... Đối với nghề có kỹ năng kỹ thuật như kỹ sư xây dựng, kiến trúc sư, nếu có thiện nguyện thiện tâm sẽ giúp họ thành tựu nghề nghiệp, xây dựng những công trình phục vụ xã hội và con người. Những nghề lao động trí óc, “một người tính mà chín người làm”, một ngày làm việc của họ bằng một trăm ngày lao động của người khác. Kế hoạch hay phương án của họ đưa ra có kết quả (hay hậu quả) không lường được.
Mỗi người bắt đầu sự nghiệp của mình bằng việc làm thiện nguyện, vô vụ lợi thì sẽ khá dần lên. Đó cũng là khởi đầu cho sự thành công. Trừ những người có phước sẵn ra trường có ngay một chỗ làm tốt nhưng họ không hiểu được giá trị tinh thần thiện nguyện thì cũng có thể về lâu dài sẽ không bền, kết thúc không có hậu. Các bậc cha mẹ khôn ngoan phải hiểu được điều đó. Ví dụ, gia đình giàu và có quen biết nhiều nên khi con học ra trường xin việc dễ dàng, lương cao. Trong vấn đề này, nếu chúng ta dạy con không khéo sẽ dẫn đến sai lầm. Phải tạo điều kiện cho con làm phước một thời gian khi mới ra trường, làm việc không vụ lợi, làm với tinh thần thiện nguyện để rèn luyện tính cách của con. Nếu chúng ta thương con, chỉ nghĩ đến xin việc chỗ tốt, lương cao, thì con mình chỉ nghĩ đến đồng lương mà không rèn luyện đức tính phục vụ. Nghĩa là do phước của đời trước nên con chúng ta có thể giàu có, nhiều cơ hội may mắn được làm chỗ vinh quang và phất lên như diều gặp gió nhưng vì từ buổi đầu, cha mẹ không dạy con làm việc thiện nguyện, vô vụ lợi nên bản năng ích kỷ sẵn có phát triển mạnh và kèm theo phước đã có, chúng cứ tha hồ vơ vét không biết dừng lại. Cho dù nghèo hay giàu, chúng ta cũng dạy con cái sau khi học thành tài, ra trường phải có tinh thần hy sinh phụng sự xã hội, không vụ lợi thì cuộc đời mới có ý nghĩa. Còn ngược lại, con cái ỷ lại gia đình giàu có, không có tâm phục vụ thì không đem lại lợi ích gì cho ai và cuộc đời cũng không có ý nghĩa. Do đó, việc giàu hay nghèo ở buổi đầu cuộc đời không quan trọng lắm. Một nội tâm tốt đẹp tràn đầy đạo đức sẽ đưa người ta đến một kết thúc có hậu, dù họ có thể xuất thân nghèo khó, bần hàn.
Sống vị tha, lo nghĩ tới mọi người, phước từ đó mà có. Có phước thì sẽ có việc làm. Thông thường mới ra trường nhiều người khó tìm được việc làm. Ta có đăng báo tìm việc làm và chờ mãi cũng chưa thấy nơi nào tuyển dụng vì chưa có phước. Nhưng nếu một thời gian làm phước, làm việc từ thiện không hưởng lương thì phước bắt đầu xuất hiện, rồi đến một hôm mình được tuyển dụng, được hưởng lương. Phước bền hay không còn do động cơ làm việc của mỗi người. Mặc dù làm có lương nhưng chúng ta vẫn nghĩ rằng làm việc để phục vụ xã hội chứ không phải làm việc chỉ để lãnh lương. Có lý tưởng đó trong tâm thì ta mới có thể làm việc tốt lâu dài. Tất cả mọi người trên trái đất này đều như vậy thì đất nước nào, xã hội nào cũng sẽ phát triển. Ví dụ có hai người có bằng cấp giống nhau, lương như nhau. Nhưng có một người làm việc chỉ để lãnh lương còn người kia làm việc với ý nghĩa phục vụ xã hội. Vậy ai làm việc tận tình và năng suất cao? Người nghĩ đến làm việc phục vụ xã hội sẽ làm việc tận tình và năng suất cao. Nếu toàn xã hội ai cũng làm việc như vậy, xã hội sẽ có một bước nhảy vọt thần kỳ trong sự tăng trưởng kinh tế.
Muốn nền kinh tế quốc gia tăng trưởng, nhảy vọt, ta phải có điểm ban đầu là tinh thần và thái độ làm việc của mỗi người sao cho đầy thiện chí, đầy trách nhiệm.
Chính luật Nhân Quả cho người ta tin rằng công sức lao động hăng hái đầy trách nhiệm của con người bỏ ra sẽ được đền bù. Nếu không tin có nhân quả, dù kêu gọi các anh chị ráng làm việc tốt, cứ phục vụ xã hội đi anh chị sẽ được tuyên dương, không chắc ai ai cũng làm theo chỉ để nhận được bằng khen mà thôi. Còn nếu họ tin có nhân quả, dù không có thượng đế hay ai biết đến việc làm của họ, dù không bằng khen cho việc làm của họ, thì họ vẫn sống tốt, vẫn lo cho mọi người và hạnh phúc vẫn đón chờ họ ở mai sau. Mọi người ai cũng nghĩ rằng làm việc để phục vụ xã hội, phục vụ con người thì năng suất lao động tăng lên, góp phần làm cho xã hội phát triển hơn.
Ở mức độ đơn giản ban đầu, ta tin nhân quả rồi cố gắng làm điều tốt để được hưởng phước về sau. Như vậy cũng tốt là tuy tâm còn ích kỷ nhưng ta cũng đóng góp được điều thiện cho xã hội. Đến khi đạo đức đã phát triển cao hơn, ta vẫn tiếp tục làm điều tốt, và làm nhiều hơn nữa, nhưng không còn mong cầu quả báo, không còn nghĩ đến quả báo dù biết rằng quả báo lành vẫn phải có.
Đạo Phật nhìn thấy được vấn đề không chỉ ở kiếp này mà còn ở vô lượng kiếp sau của chúng sinh. Người biết Phật Pháp, tin nhân quả, làm phước rồi quên luôn quả báo, không nghĩ tới việc hưởng phước, thì tránh được quả báo đau khổ sẽ xuất hiện ở kiếp thứ ba. Nghĩa là sao? Nghĩa là kiếp thứ nhất ta làm phước với tâm mong cầu quả báo; kiếp thứ hai ta sẽ được hưởng phước giàu sang song song với tâm ích kỷ đã biến thành tâm kiêu căng ác độc. Kiếp thứ ba ta sẽ chịu quả báo đau khổ do sự kiêu căng ác độc ở kiếp thứ hai gây ra.
Vì thế, ngay từ ban đầu, chúng ta làm phước không cầu phước, thì phước tăng trưởng dần dần đến vô lượng kiếp mà không bị quả báo do sự kiêu căng ác độc gây ra.
Khi hiểu sâu đạo lý nhân quả, người Phật tử phải có tâm nguyện làm nhiều hơn nữa, đóng góp nhiều hơn nữa cho xã hội dù đồng lương không xứng đáng. Có nhiều người cứ thích đi làm chỗ nhàn, lương cao. Quan niệm đó là sai lầm. Người như thế không hiểu Phật Pháp, vì hưởng nhiều hơn công sức mình bỏ ra thì một ngày nào đó phước cũng hết. Hưởng nhiều ở buổi ban đầu về sau ta không còn gì để hưởng, đến tuổi già cuộc sống càng thê thảm hơn. Điều quan trọng ở người Phật tử là đóng góp nhiều hơn hưởng thụ để tích phước chứ không phải “ngồi mát ăn bát vàng”. Vì thế hãy chấp nhận một công việc gì đó cực nhọc hơn nhưng lại đóng góp cho xã hội nhiều hơn, dù đồng lương có thể chưa xứng đáng với công sức ta bỏ ra.
Có trường hợp do nhân duyên khiến cho chúng ta có được việc làm không cực lắm mà vẫn được nhận lương cao. Đó là do phước đời trước. Người Phật tử hiểu điều đó nên tìm cách giúp đỡ đồng sự, giúp người cùng làm cơ quan để thấy luôn luôn mình phải làm nhiều hơn hưởng. Tùy vào duyên của mỗi người, ta có thể giúp đỡ, hỗ trợ các bạn đồng nghiệp, hoặc chỉ một vài lời nói nhẹ nhàng nhưng vẫn làm lợi cho người khác được. Đó cũng gọi là đóng góp. Làm nhiều không có nghĩa là làm quần quật, mà chính là làm sao đó để mang lại lợi ích cho đời. Ví dụ, một công ty có chi nhánh khắp trên thế giới. Người Tổng giám đốc được trả lương rất cao vì cái đầu của ông làm việc rất giỏi. Hội đồng quản trị lý luận rằng nhờ tài điều hành của con người này mà các công ty của họ được phát triển. So với lợi nhuận công ty thu được, chi trả lương cho vị Tổng giám đốc này một năm mấy trăm ngàn đô la cũng xứng đáng. Có thể ông không làm việc quần quật, nhưng chỉ một lời nói nhẹ nhàng của ông cũng đem lại lợi ích cho rất nhiều người.
Có cô Phật tử ở Mỹ kể, cô nhờ nghe Pháp mà thấy tâm mỗi ngày một mới, mỗi ngày một thay đổi: hoan hỉ, an vui, thấy thương người. Đêm nào cô cũng cầu nguyện trước Phật: “Con nguyện đem cả cuộc đời này để sống cho mọi người”. Chỉ có tâm nguyện đó mà bao nhiêu đức tính trong tâm cô phát triển dần dần. Trong sở, ngoài công việc cô đang làm, thấy ai làm việc nặng là cô giúp liền. Nhiều người Mỹ ngạc nhiên: “Ủa, mày điên hả? Đâu phải việc của mày mà mày làm?” “Tôi cảm thấy hạnh phúc khi được giúp bạn”. Cô trả lời đồng nghiệp của mình, và thực sự cảm thấy vui về điều đó... Một người khác thì kể rằng: trước kia em có tham vọng làm giàu nhưng sau khi nghe Pháp tự nhiên tham vọng biến mất mà chỉ muốn làm phước, không còn đặt mục tiêu làm giàu nữa...
Vì thế hãy tình nguyện đóng góp nhiều hơn, làm vượt hơn công việc được giao, có thể lương của ta vẫn không tăng nhưng sự an vui sẽ tràn đầy và phước lành sẽ lớn dần. Nếu ai cũng có tinh thần này, kinh tế của toàn xã hội cũng theo đó mà đi lên. Ngược lại, mỗi người ích kỷ một chút sẽ kéo toàn xã hội đi xuống.
Hiểu như vậy là rất tốt. Khi đã có phước tự nhiên ta khôn ngoan ra, không cần phải “lao vào” làm giàu mà cơ hội vẫn đến dễ dàng, cuộc sống bình an thanh thản. Nếu thiếu phước, ta sẽ đoán sai làm bậy rồi đưa đến thất bại.
Còn sự sai biệt giàu nghèo giữa mọi người là do Phước nhiều hay ít. Người có phước làm một ngày bằng ba mươi ngày lao động của người khác. Trên thế giới có một số nhà tỷ phú nổi tiếng, mà Bill Gates là số một. Nhìn vào phước báu quá lớn của ông, ta có thể đoán được đây là con người vào đời trước đã làm phước với tài sản rất nhiều và lòng nhiệt thành rất cao. Chính cái phước đó vừa tạo nên tài năng, vừa tạo nên cơ hội một cách rất tự nhiên để ông đi đến thành công. Nếu hiểu được tính chất này của phước, lòng ta sẽ rất bình an, không còn tham vọng nữa bởi ta biết rằng phước mới là cái gốc của mọi sự thành công, thất bại trên đời. Sự giàu nghèo bị phân hóa cực độ trên thế giới cũng có nguyên nhân từ sự sai biệt về phước của con người.
Giá trị lao động khác nhau ở mỗi người do cái phước sai biệt của mỗi người. Phước sai biệt nên lĩnh vực hoạt động cũng khác nhau, kết quả lao động khác nhau. Ví dụ lao động thủ công giản đơn thì ai làm cũng được, kết quả sản phẩm vừa vừa, nên không thể có lương cao. Còn lao động trí óc, kỹ thuật, nghệ thuật chuyên sâu... thì đòi hỏi nghiệp vụ cao. Những lao động loại này thì hầu như đều sử dụng máy móc nên năng suất cao, và dĩ nhiên xứng đáng được trả lương cao.
Riêng lao động thuộc phạm vi đạo đức không được tính giá vì nó vô giá. Ví dụ khi quý Thầy đi tụng cầu siêu cầu an giùm cho gia đình Phật tử thì không thể tính ra công cán trị giá cụ thể vì công việc này thuộc về tâm linh đạo đức. Sự an ủi tinh thần cho thân nhân người chết, việc cầu siêu độ giúp cho người qua đời thì không được tính công, nếu ai tính giá là sai với quy luật đạo đức. Vì thế, các Phật tử thỉnh thầy về nhà tụng kinh không được hỏi: “Thưa thầy tụng thời kinh đó bao nhiêu?” Phật tử hỏi vậy đã sai, mà nếu ông thầy ra giá cũng sai luôn.
Nhất là việc thuyết Kinh, giảng Pháp lại càng thiêng liêng bội phần, càng không thể đưa ra một giá tiền hoặc so đo tính toán. Người giảng sư cũng không được đánh giá chùa đó đông người, giàu có, sẽ thù lao nhiều, sẽ được uy tín lớn... Đôi khi hoàn cảnh bất ngờ đưa ta đến một ngôi chùa chỉ có năm bảy người, ta cũng phải nhiệt tình giảng như là giảng cho đông đảo thính chúng vậy. Có lần vì cầm lòng không được trước lời mời tha thiết của một thầy trụ trì miền quê xa, một giảng sư lặn lội về giảng thì mới thấy chùa chỉ có ít Tăng Ni đến tham dự. Nhưng rồi vị giảng sư cũng vẫn giảng nhiệt tình đầy đủ. Đó cũng là một tấm gương về hoạt động hoằng pháp cho đàn hậu học noi theo về sau. Chẳng những giảng tận tình mà vị giảng sư cũng không hề nhận thù lao vì thấy chùa đó không khá giả gì, còn phải lo rất nhiều việc khác. Lao động đạo đức tâm linh là như vậy, không được tính toán hơn thua.
Giảng viên đại học thì có quyền thương lượng giá cả khi nhận lời giảng bài vở vì việc này vẫn được xếp vào lao động trí óc chứ không phải tâm linh.
Do phước chênh lệch nên công lao động chênh lệch, từ đó xã hội có sự phân hóa giàu nghèo. Người ta tính tài sản của ba, bốn người giàu nhất thế giới gộp lại thành tài sản của tám mươi quốc gia, trong đó có Bill Gates. Dĩ nhiên, không có luật nào buộc những người giàu đem tiền chia đều cho mọi người. Nhưng sự chênh lệch giàu nghèo quá mức là điều làm chúng ta cảm thấy rất đau lòng. Người ta than phiền tiền của đổ dồn về một số người trong khi biết bao nhiêu người nghèo khổ hoặc thậm chí đang mấp mé ở bờ vực cái chết vì thiếu ăn.
Trên quan điểm đạo Phật, vấn đề này phải giải quyết như thế nào để khoảng cách giàu nghèo rút ngắn lại?
Trong những chuyện kiếm hiệp có những hiệp sĩ bịt mặt, phi thân lên nóc nhà, dỡ ngói vào nhà những người giàu, điểm huyệt người nhà rồi mở tủ lấy tiền, vác bao tiền về một làng nào đó chia cho người nghèo. Làm vậy có san bằng hố ngăn cách giàu nghèo không? Không. Một thời gian sau, tiền cũng tự nhiên “chạy” vào nhà mấy người giàu trở lại vì phước của họ chưa hết. Dĩ nhiên là nếu họ giàu có một cách bất lương thì tự khắc sau này tiền bạc, tài sản sẽ đội nón ra đi. Còn nếu họ làm giàu chân chính, sống đời tử tế thì phước rất bền, khiến cho làm gì cũng thành công, tiền vào như nước. Phước từ quá khứ đã mang sự sung túc dư dả đến cho họ ở hiện đời. Nhân quả là vậy.
Vì thế cái gốc vấn đề ở đây không phải là dùng cơ chế, quyền lực, bạo lực hay phi thân điểm huyệt mà chính là vấn đề nhân quả tội phước. Người giàu là do nhờ có phước. Nếu ta tăng được phước của người nghèo lên thì họ sẽ bớt nghèo, và như vậy hố ngăn cách giàu nghèo sẽ bớt đi. Tuy ở trong chùa, nhưng chúng tôi hay ưu tư về cuộc đời. Thấy người nghèo chúng tôi hay nhìn gương mặt họ để hiểu nội tâm. Ví dụ thấy người đạp xe ba gác nghèo khổ, quần áo không tươm tất, đôi mắt họ hiện ra cái tâm không biết phước đức là gì mà chỉ thích ăn nhậu, không lo cho vợ con chứ đừng nói giúp cho hàng xóm. Dĩ nhiên, cũng có những người nghèo mà tâm rất tốt. Những người này bị một cái nghiệp xa xưa nào đó tạm thời che lấp nên lâm vào cảnh nghèo khổ một thời gian, rồi về sau cũng sẽ khá giả.
Ở đây, cái chìa khóa của kinh tế là vấn đề giáo dục hay giáo hóa đạo đức khiến cho nhiều người biết hướng thiện. Nhất là đối với những Phật tử càng phải hiểu việc này hơn cả, càng phải có trách nhiệm đem đạo đức nhân quả ra giới thiệu với mọi người, khuyên mọi người tin sâu nhân quả, siêng làm phước. Đối với những người đã được phước giàu có, đã có một số ưu thế trong xã hội, nên xóa ngăn cách giàu nghèo bằng cách san sẻ bớt cho người nghèo chứ đừng ôm giữ. Khi chết đi, điều chúng ta mang theo không phải là tiền bạc của cải mà chính là công đức. Công đức có hai cấp độ: cấp độ một là giúp đỡ vật chất, cấp độ hai là giúp đỡ tăng trưởng đạo đức bằng con đường giáo hóa để mọi người biết sống tử tế với nhau và tăng trưởng phước đức.
Tóm lại, chúng ta nhìn vấn đề kinh tế trên quan điểm đạo Phật thì thấy sự thành công hay thất bại, may mắn hay rủi ro có tương quan đến phước và tội. Quan trọng là người làm kinh tế biết làm việc thiện bằng tâm vị tha, hy sinh cho xã hội và con người. Xã hội tăng trưởng phước đức thì kinh tế đi lên, đất nước thịnh vượng.
SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ - TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Sản xuất và tiêu thụ là hai hoạt động lớn của kinh tế. Qua đó, sản phẩm hay dịch vụ sẽ có người sản xuất và cũng sẽ có người tiêu thụ sản phẩm. Nếu đều đặn như vậy thì gọi là hoạt động kinh tế bình thường trong một xã hội, mọi người có công ăn việc làm, không bị thất nghiệp. Nếu sản phẩm cung cấp ra với nhu cầu tiêu thụ bằng nhau, cung bằng cầu thì kinh tế ổn định, xã hội phát triển đều. Người ta cũng tìm cách tăng sức tiêu thụ bằng cách quảng cáo, khuyến mãi, tiếp thị... tức là tạo ra nhiều tác động với mọi hình thức nhằm khuyến khích mọi người mua hàng nhiều hơn, để sản xuất sản phẩm nhiều hơn. Sản phẩm được tiêu thụ nhiều thì lợi nhuận nhiều, đồng thời cũng tạo công ăn việc làm cho nhiều người. Tiêu thụ có vai trò rất quan trọng, tức có tiêu thụ nhiều mới kích thích sản xuất. Nếu sản xuất được nhiều và mua sắm cũng nhiều là cách làm cho kinh tế - xã hội ngày càng giàu mạnh lên.
Có những giai đoạn nền kinh tế suy thoái khiến Chính phủ phải đứng ra kêu gọi, khuyến khích người dân mua sắm, nghĩa là không để dành tiền, mà dùng tiền mua sắm để sức tiêu thụ tăng làm cho sản xuất được tăng, công nhân có việc làm. Đó là ý nghĩa tích cực của tiêu thụ. Theo tinh thần của đạo Phật, chúng ta mua sắm cũng là việc làm phước vì sức tiêu thụ được kích thích, sản phẩm sản xuất nhiều, tạo công ăn việc làm cho nhiều người, người sản xuất được nhiều lợi nhuận và làm tròn nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển mạnh. Vì thế, các nước kinh tế thị trường rất quan tâm tới việc khuyến khích tiêu thụ như bán trả góp, trao đổi hàng hóa, khuyến mãi, mua hàng có trúng thưởng... đến nỗi người ta xem khách hàng như Vua, nhân viên công ty có thái độ phục vụ với khách rất ân cần.
Đứng trên lĩnh vực kinh tế thì đòi hỏi sản xuất và tiêu thụ phải phát triển mạnh nhưng nếu chúng ta bước sang lĩnh vực tài nguyên và môi trường thì đây lại là cả một vấn đề nan giải.
Muốn sản xuất nhiều, chúng ta phải lấy tài nguyên trong thiên nhiên. Như một nhà hàng muốn đông khách ăn uống, tức là sức tiêu thụ nhiều thì phải giết nhiều trâu bò, các mặt hàng hải sản phải đa dạng mới đủ cung cấp và khuyến khích khách hàng đến tiêu thụ. Hoặc sản xuất xe nhiều phải khai thác quặng mỏ trong lòng đất hay phải phá rừng nhiều hơn để lấy gỗ v.v... Nếu tiêu thụ và sản xuất càng mạnh thì khai thác thiên nhiên càng nhiều hơn nữa. Chính vì sự khai thác tài nguyên ngày càng nhiều làm cho môi trường bị phá hủy. Và sự khai thác tài nguyên thiên nhiên tất yếu đẫn đến việc tiêu diệt môi trường sống của con người và vạn vật. Thực tế, trên toàn cầu hiện nay, con người khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách triệt để. Dưới lòng biển, người ta dò tìm và khai thác các mỏ dầu. Trên mặt đất, người ta đào xới khai thác quặng mỏ, than đá, đốn gỗ... Hậu quả của việc khai thác tài nguyên là gì? Là sóng thần, bão, lũ lụt, hạn hán... Những thảm họa đó đổ ập lên đầu con người, đưa con người đến cảnh sống bệnh tật, nghèo đói, không nhà cửa, thất học.
Để kiến tạo sự sống, con người khởi đầu bằng việc sản xuất và tiêu thụ. Nhưng chính sự khai thác tài nguyên, phá hủy môi trường lại tiêu diệt sự sống của con người. Đây là vòng lẩn quẩn, mâu thuẫn cứ đè nặng tâm hồn của những ai có trách nhiệm với xã hội.
Đây là lý do tại sao cuối cùng con người cứ muốn hướng về sự giải thoát. Nói theo đạo Phật là giải thoát khỏi luân hồi sinh tử, thoát khỏi đau khổ. Nghe nói vậy thấy hay nên người ta tu theo đạo Phật để giải thoát! Thật ra, không đơn giản, chỉ có những bậc trí tuệ mới thấy được giải thoát là sâu sắc như thế nào. Vì trong cuộc sống này, mọi sự việc đều nghịch lý và tất cả đều mâu thuẫn nhau. Trong cái tốt có cái xấu kèm theo. Trong cái xấu cũng có cái tốt kèm theo. Một thiện chí của một con người lúc nào cũng có cái xấu đi kèm, cứ lẩn quẩn như vậy, không có lối thoát. Trong cái ác có cái thiện, trong cái thiện có cái ác; không có điều gì thuần thiện mà cũng chẳng có điều gì thuần ác.
Ví dụ, một người đem tiền bạc, phẩm vật, thuốc men cứu trợ người nghèo, người bị thiên tai thì việc làm đó là tốt hay xấu? Mới nhìn vào, chúng ta thấy rất tốt nhưng cũng từ đây, xuất hiện cái xấu. Có những người nghèo cứ ỷ lại, chỉ biết ngồi chờ cứu trợ rồi ganh tị hơn thua, giành giật với nhau. Họ ỷ lại, không lo làm ăn, không làm phước để cải tạo cuộc sống của mình (có trường hợp dùng tiền cứu trợ để đánh bài, ăn nhậu). Điều khác nữa là người dùng tiền của mình để góp phần cứu trợ phải cắt xén bớt chi phí trong gia đình của mình, đó cũng là bất thiện đối với gia đình mình, dù điều bất thiện này có thể chấp nhận được. Vì vậy, cái tốt chỗ này lại là cái xấu chỗ khác. Cuộc đời luôn là vậy.
Đi tu có thể được xem là rất tốt, nhưng cũng chưa hẳn như thế. Nếu ta xuất gia tu hành chân chính, mẫu mực, học hỏi lời Phật dạy, làm tấm gương trong cuộc sống để dạy lại đệ tử, cư sĩ sau này thì rất là tốt. Người cư sĩ không có thì giờ nghiên cứu nhiều, Phật thì đã nhập Niết Bàn, kinh điển thì khó hiểu, chỉ còn hình ảnh sống động của chư Tăng để mọi người chiêm ngưỡng. Xuất gia mà làm được những việc đó là vô cùng cao quý. Nhưng rồi điều tốt đẹp đó cũng có cái xấu đi kèm là xuất hiện một giai cấp mới, giai cấp tăng lữ.
Giai cấp này được ưu đãi, được tôn trọng, nhưng vẫn có những người không xứng đáng đứng trong hàng ngũ và gây bất bình trong xã hội. Sự thật có như vậy. Đó cũng là điều bất thiện lẫn trong điều thiện. Chư Tăng là những người đang tu nên còn nhiều điều sơ xuất, nhưng có nhiều người đòi hỏi quá cao, mà chư Tăng chưa thể đáp ứng được nên bất mãn, bỏ đạo.
Và cũng có những lý luận sai, chống lại sự tín ngưỡng của người theo đạo Phật. Nhiều bậc Thầy có trí tuệ, tu đến mức độ nào đó rồi giải thoát luôn khỏi cái tốt - cái xấu của cuộc đời, vì cuộc đời luôn luôn là nghịch lý và mâu thuẫn với nhau. Còn Bồ tát là những người chịu cực khổ, họ chấp nhận đi trong mâu thuẫn, đi trong nghịch lý, luồn lách giữa cái xấu và cái tốt, giữa thiện và ác để xây dựng điều thiện, giảm bớt điều ác, điều xấu cho cuộc đời. Chỉ những bậc chứng đạo siêu phàm mới làm được hạnh Bồ tát như thế.
Bình thường, chúng ta không đủ kiên nhẫn, không đủ dũng lực, không đủ sự sâu sắc tinh tế, không dám làm hạnh Bồ tát. Chúng ta tu tinh tấn vài chục kiếp nữa, vào được định, trí tuệ mở ra rồi mới thấy được sự vĩ đại của Bồ tát. Những vị được gọi là Phật, là Bồ tát thì sự cao cả của các Ngài không thể diễn tả được.
Trở lại vấn đề sản xuất và tiêu thụ trong nền kinh tế là luôn luôn có sự mâu thuẫn. Sản xuất nhiều, tiêu thụ mạnh, làm cho kinh tế – xã hội phát triển nhưng môi trường bị tổn hại, hủy hoại. Nếu giảm sản xuất và giảm tiêu thụ thì kinh tế- xã hội bị trì trệ nhưng môi trường ít bị tác động xấu. Đây là mâu thuẫn khó giải quyết.
Vì thế, con người phải có một quan điểm mới về kinh tế và nhân sinh, một đạo lý mới cho nhân loại thì mới có thể giải quyết được vấn đề bế tắc này. Và đây là vấn đề lớn của nhân loại: vấn đề xây dựng lại quan điểm về kinh tế và hạnh phúc.
XÂY DỰNG LẠI QUAN ĐIỂM KINH TẾ VÀ HẠNH PHÚC
Con người cần xác định rõ mục tiêu của cuộc sống. Chúng ta sống để tìm hạnh phúc hay để làm giàu? Từ lâu, chúng ta cho rằng giàu là hạnh phúc. Vì thế, mọi người cứ lao vào làm giàu. Cả xã hội cứ phải đi tìm sự giàu mạnh, tiện nghi vật chất, kỹ thuật cao. Cả xã hội và cả thế giới lao vào cơn lốc đó không dừng lại... Chúng ta xem xét lại có phải sự giàu có, sự tiện nghi, có phải kỹ thuật cao thật sự là hạnh phúc? Chúng ta phải xác định lại là chúng ta sống để đi tìm kỹ thuật cao, đi tìm giàu mạnh hay đi tìm hạnh phúc?
Nói chung, ai ai cũng thấy được hạnh phúc là quan trọng đối với cuộc đời của mỗi con người. Giàu có không hẳn là có hạnh phúc, giàu có chỉ là một yếu tố làm nên hạnh phúc, nhưng giàu chưa bao giờ là tất cả hạnh phúc. Có vật chất dư dả, chúng ta được thong thả, có điều kiện phục vụ các nhu cầu của cuộc sống.
Cái gốc của hạnh phúc chính là con người sống yêu thương nhau, đồng cảm chia sẻ niềm vui nỗi buồn của nhau, nâng đỡ nhau trong khó khăn hoạn nạn, làm tròn bổn phận, nghĩa vụ của mình... Ví dụ đi chùa (hay bất cứ nơi đâu) gặp nhau, chúng ta nhìn nhau bằng đôi mắt thân ái, không nói xấu chê bai nhau, biết khen một cách chân thành cái hay cái tốt của nhau. Hoặc nuôi dạy con cái ăn học thành tài, ngoan hiền, dựng vợ gả chồng v.v... những điều đó làm người ta thấy hạnh phúc.
Còn nếu cho rằng giàu có là hạnh phúc thì suốt đời người ta chỉ dồn tâm lực để lo kiếm tiền. Và chuyện gì sẽ xảy ra? Tranh đua đố kỵ, tính toán hơn thua, con cái hư hỏng, lạc lõng v.v...đến khi đạt được mục tiêu, ôm được mớ tiền, nhìn lại thì hạnh phúc đã biến mất từ lâu, chỉ còn lại sự cô độc và những lời chê bai của mọi người.
Có một lần, chúng tôi đến tiệm mua một cái máy, gặp bà chủ tiệm là người dưới quê lên thành phố làm ăn. Trò chuyện một lát, chúng tôi khen bà từ miền quê lên đây mà sở hữu một căn nhà mặt tiền, buôn bán máy móc điện tử có giá trị như vậy, là người có phước. Nhưng bà lắc đầu, nói: “Không, Thầy ơi, con nhớ lại quãng đời tuổi thơ của con ở miền quê chẳng có đồng nào mà lại hạnh phúc. Ngủ không thèm đóng cửa, đường làng là đường đất sình lầy thôi mà con người sống với nhau vui lắm. Khi lên đây thì có tiền, sang trọng, giàu có, tiện nghi hơn nhưng con không còn tìm được cảm giác hạnh phúc như hồi trước nữa”. Chúng tôi mừng vì có một con người nhìn ra được điều đó. Dù sống trong nhung lụa nhưng họ không lấy đó làm hãnh diện vì hiểu rằng đó không phải là hạnh phúc chân thật. Họ hiểu rằng còn một thứ hạnh phúc gì đó nằm ngoài tiền bạc.
Khi hiểu hạnh phúc là do nhiều yếu tố, chúng ta sẽ không dồn tâm lực vào một yếu tố nào (như tiền bạc). Hiểu như vậy, chúng ta xác định sống là đi tìm hạnh phúc chứ không phải đi tìm sự giàu có. Đây không phải là vấn đề của từng cá nhân mà là vấn đề của nhân loại. Xác định được như vậy thì quan điểm kinh tế cũng thay đổi. Nghĩa là người ta không cần thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy tiêu thụ một cách gay gắt để môi trường sẽ bớt bị phá hoại. Con người sẽ hướng về những mục tiêu khác cao cả hơn: nâng cao đạo đức, nâng cao nhận thức, nâng cao nghệ thuật, nâng cao nhân cách, xây dựng tương quan tốt đẹp giữa con người với nhau. Lúc đó con người sống tốt đẹp hơn... Đó là đạo lý, là sự dung hòa, là giải pháp cho tình trạng khủng hoảng về môi trường hiện nay.
NHẬN ĐỊNH MỘT SỐ LOẠI HÌNH KINH DOANH
Luật pháp cho phép mọi người được quyền tự do kinh doanh miễn sao người kinh doanh đóng thuế đầy đủ và không phạm pháp. Tuy nhiên, chúng ta nhìn vấn đề trên quan điểm của đạo Phật, trên quan điểm nhân quả thì không đơn giản như vậy.
Không phải là những loại hình kinh doanh nào cũng cần thiết cho con người. Có những loại hình kinh doanh làm băng hoại đạo đức, phá tan xã hội, phá tan nền kinh tế. Tuy ta thấy có những loại hình kinh doanh ăn nên làm ra, nhưng chính nó là nguyên nhân phá hoại nền móng kinh tế, làm cho xã hội suy đồi, ví dụ những loại hình kinh doanh giải trí vui chơi sa đọa.
Có những quốc gia đạo Phật được coi là quốc giáo. Tuy nhiên, tinh thần của đạo Phật lại không được những nhà lãnh đạo đất nước đó ứng dụng vào việc xây dựng kinh tế, để có quá nhiều kẽ hở cho những loại hình kinh doanh đi ngược lại với đạo đức. Đất nước của họ nổi tiếng về các khu ăn chơi sa đọa. Tới đó, khách du lịch cần, sẽ gặp những trò mại dâm. Vào hộp đêm có nhạc nhảy, đèn chớp đủ màu, có những cô gái ăn mặc hở hang nhảy múa cho khách vừa ăn vừa thưởng thức.
Rồi dịch vụ tắm nước nóng, xông hơi, mát- xa... mỗi người tắm tiêu thụ hàng trăm lít nước sạch và phải nấu nước ấm. Họ lãng phí điện nước để phục vụ những trò giải trí (không đáng) cho những người có tiền. Kinh doanh những loại dịch vụ này rất có lời, họ đóng thuế đầy đủ, họ không hề được sự nhắc nhở của bất cứ cơ quan chức năng nào nên họ cho rằng đó là một việc làm chính đáng!
Phải chăng do những loại hình kinh doanh sa đọa như vậy là một trong những nguyên nhân làm cho các nước đó rơi vào khủng hoảng kinh tế. Nhưng có lẽ nhờ tinh thần tôn trọng đạo Phật nên họ vẫn còn cái phước gì đó mà đất nước này dường như đang có dấu hiệu phục hồi kinh tế. Nhưng nếu họ không hối hận, không tỉnh giác, cứ tiếp tục lao vào những loại hình kinh doanh như vậy thì không bao lâu họ sẽ rơi vào một cuộc khủng hoảng khác.
Nhà nước nào đứng trên quan điểm kinh tế thông thường mà cho phép kinh doanh loại hình kinh tế sa đọa, nuôi dưỡng các loại hình kinh tế đó để thu thuế thì có lúc nó sẽ quay lại phá hoại toàn bộ nền kinh tế và xã hội. Hầu hết các Nhà nước đều không đứng trên quan điểm đạo Phật nên họ không biết điều này. Chỉ những đệ tử Phật đứng trên quan điểm đạo Phật mới thấy rõ nhân quả của vấn đề. Chúng ta có thể dùng luật nhân quả để lý giải được vì sao những ngành kinh doanh như vậy tuy khấm khá, đóng thuế đầy đủ nhưng lại phá hủy nền kinh tế của đất nước. Tại các điểm ăn chơi giải trí sa đọa, tiền bạc đã bị sử dụng quá phung phí và sai lầm, con người đã hưởng thụ rồi đốt tan cái phước của mình, đạo đức của xã hội bị băng hoại nhanh chóng. Tiếc rằng hầu hết các nước không đứng trên quan điểm của luật Nhân Quả nên họ không nhìn ra, không công nhận điều này.
Loại hình kinh doanh giải trí, dịch vụ đa dạng, phong phú không thể kể hết. Một bài báo viết: ở một số thành phố, cứ chiều xuống đến khuya người ta ăn nhậu tràn lan. Thoạt nhìn, loại hình kinh doanh này không có gì sai trái, vì ăn uống là nhu cầu của con người. Nhưng nếu đi sâu vào thì quả thật, tội lỗi chồng chất ở những nơi ăn nhậu như vậy. Để phục vụ cho ăn nhậu, người ta phải giết thú vật, nhất là những cửa hàng kinh doanh đặc sản thú rừng, họ phải săn bắt, làm tuyệt chủng thú hoang dã. Thật sai lầm! Sự ăn nhậu đó không phải là nhu cầu cần thiết cho cơ thể để sống và làm việc mà chỉ để nhằm thỏa mãn cái tham ăn của con người mà thôi. Bao nhiêu thảm cảnh gia đình sinh ra từ việc ăn nhậu, rượu bia tràn lan, (rượu, thuốc lá, tai hại chỉ sau ma túy...). Những cửa hàng như thế ngày càng giàu lên, vẫn đóng thuế đầy đủ. Nhưng chính đó là những hang ổ của sự tàn phá xã hội, tàn phá nhân cách con người và cũng là nguyên nhân gây ra sự sụp đổ của nền kinh tế. Ở đất nước chúng ta có hiện tượng không hay là mọi người thích bàn chuyện làm ăn ở quán nhậu hoặc trên bàn tiệc, rồi quà cáp bằng bì thư. Có cái gì đó không đàng hoàng, không nghiêm túc. Đa số cho rằng muốn làm ăn thì phải biết ăn nhậu! Đó là “căn bệnh” của một số người làm kinh tế ở nước ta. Chính những tư tưởng như vậy cũng làm cho đất nước chậm tiến lại.
Bên cạnh đó còn có các sòng bạc, casino hay vũ trường là những loại hình kinh doanh được cấp phép nhưng đem lại tác hại khôn lường cho xã hội. Tại đó có những kẻ cho vay nặng lãi, các tay anh chị bảo kê, những cô vũ nữ bán thân xác để mang lại cho người ta những cuộc vui thâu đêm suốt sáng, những cơn say thuốc điên cuồng, sự hưởng thụ dục lạc thấp hèn. Hậu quả là không chỉ tiền bạc ra đi mà sức khỏe, nhân cách và cái phước của người ta cũng dần dần bốc hơi. Rất đông người cùng hưởng thụ như vậy sẽ kéo theo sự trì trệ của cả một đất nước. Loại hình kinh doanh này lợi nhuận rất lớn. Tuy trước mắt thấy lời nhưng rất nguy hiểm. Đây cũng là hình thức phá hoại đất nước, phá hoại kinh tế.
Còn loại hình kinh doanh nhẹ nhàng hơn như sân golf. Ở Thái Lan và Đài Loan mở nhiều sân golf cho khách nước ngoài. Chơi golf là trò chơi thời thượng của những người giàu tiền lắm bạc, vì muốn mở một sân golf, người ta phải phá một diện tích rừng rất lớn, cần nhiều thiết bị san lấp và nhiều người phục vụ mà hội viên phải đóng tiền rất nhiều mới đủ trang trải. Chơi golf hoàn toàn không phải là nhu cầu cần thiết cho cuộc sống nhưng những người giàu có vẫn đổ tiền vào đó một cách không suy nghĩ. Thay vì dùng để mua tấm thẻ hội viên sân golf, số tiền đó có thể cứu trợ được cho những người nghèo, xây dựng được vài trường học, bệnh viện, làm được rất nhiều điều tốt đẹp hơn cho thế giới này.
Hoặc bóng đá là môn thể thao khiến hàng tỷ con người say mê. Nhiều nước đã phải chi dùng một khoản tiền khá lớn thuê huấn luyện viên nước ngoài về huấn luyện đội bóng quốc gia để thi đấu khắp nơi trong nước, ngoài nước. Nước Brazil ngày xưa có Pêlê được tôn vinh là vua bóng đá, ông từng đem chức vô địch về cho đất nước. Người Brazil xem bóng đá là niềm say mê trên hết. Bóng đá như tôn giáo.
Vì sao họ bị khủng hoảng như vậy? Vì quan tâm của họ sai hướng: họ chỉ quan tâm và cuồng nhiệt với bóng đá. Họ không quan tâm về đạo đức. Người cầu thủ khi ra nước ngoài thi đấu bị thua, về nhà có khi bị Mafia đón đường bắn chết. Sự cuồng nhiệt như thế là cuồng tín, là sai lầm. Chúng ta nên xem bóng đá cũng chỉ như một trò giải trí nhẹ nhàng, đừng quá cuồng nhiệt.
Như vậy, có những loại hình kinh doanh không làm phát triển đạo đức, không đáp ứng được nhu cầu cần thiết thật sự cho con người mà còn làm phá vỡ đạo đức con người, đạo đức xã hội. Tuy trước mắt, lợi nhuận của những loại hình kinh doanh đó thu hút được nhiều người, thu được nhiều thuế nhưng đó là những nguy cơ tiềm tàng đưa đến việc phá vỡ nền kinh tế.
Trên quan điểm nhân quả, bằng cảm nhận và niềm tin, chúng tôi nói như vậy để nhắn nhủ, trước hết là các tầng lớp Phật tử phải hiểu biết như thế và tránh sa vào những điều đó. Còn nếu chứng minh thì ai cũng thấy rõ ràng không ít người có quyền, có chức, có thừa tiền đã đem tiền đổ vào những nơi đầy lôi cuốn, hấp dẫn đó. Họ đi ăn nhậu, đi vũ trường, đi bia ôm, karaoke ôm... rồi bị tha hoá, họ lại là những người nhận hối lộ, tham nhũng. Những con người biến chất đó vi phạm pháp luật và còn góp phần làm suy yếu kinh tế đất nước, làm xã hội suy thoái đạo đức.
LÀM KINH TẾ CẦN CÓ SỰ HY SINH
Người tiêu dùng luôn luôn thích mua sản phẩm vừa tốt, vừa rẻ. Như vậy, nhà sản xuất, kinh doanh phải có ba điều:
Thứ nhất, kỹ thuật cao mới làm ra sản phẩm tốt. Điều này cần có những con người đam mê nghiên cứu, tha thiết sáng tạo kỹ thuật và chỉ nghĩ tới lợi ích chung của toàn xã hội, của loài người. Nếu một người làm việc chỉ vì đồng lương thì cả đời không bao giờ phát minh được điều gì. Vấn đề này thuộc về lĩnh vực đạo đức vì đạo đức là nền tảng.
Trong bài “Lời Nguyện Cầu Buổi Sáng” dành cho trẻ, chúng ta xây dựng cho trẻ lý tưởng:
...Còn con xin nguyện từ đây
Siêng năng học tập để ngày lớn khôn
Đáp đền cha mẹ công ơn
Đắp xây thế giới đẹp hơn bây giờ.
Xây dựng cho trẻ lý tưởng học hành để xây dựng thế giới tốt đẹp chứ không phải làm giàu cho mình. Chính lý tưởng tốt đẹp đó mới đưa đến những phát minh làm lợi ích cho con người mà không đòi hỏi đồng lương cao (đây là yếu tố làm cho giá thành sản phẩm thấp). Còn những người đổi chất xám của mình bằng tiền bạc, tức là đòi lương cao khi thấy chất xám của mình tạo ra kỹ thuật mới, thì có thể cũng làm được điều gì khi còn phước, nhưng sau này hết phước, người này cũng không làm được gì nữa. Điều này có nghĩa là người nào có tài năng sáng tạo nhưng không biết phục vụ cho xã hội mà chỉ biết đòi hỏi lợi ích cho riêng mình, thì sau này người đó sẽ mất hết tài năng.
Ví dụ một ca sĩ hát hay, được nhiều người ngưỡng mộ, đòi cát-sê cao thì dần dần giọng hát sẽ mất và quần chúng không còn ngưỡng mộ nữa. Hoặc một kỹ sư giỏi, có vài phát minh ban đầu, rồi đòi lương cao mới hợp tác làm việc thì sau này không làm được hiệu quả cao. Vì họ đã chú trọng vào đồng tiền, nên hết phước. Chỉ người nào khiêm tốn, hy sinh, không đòi hỏi, người đó vẫn sáng suốt, tiếp tục sáng tạo, phát minh làm lợi ích cho đời.
Thứ hai, lương công nhân phải thấp thì giá thành sản phẩm mới thấp. Nếu lương công nhân quá cao thì chi phí đó tính vào giá thành sản phẩm sẽ cao.
Thứ ba, ông chủ công ty đó phải chấp nhận lợi nhuận thấp. Còn thu lợi nhuận cao, tức là bán sản phẩm giá cao, không thể cạnh tranh.
Tóm lại, muốn đạt được ba điều trên đòi hỏi sự hy sinh của những người làm kinh tế, trong đó có những người nghiên cứu kỹ thuật, những ông chủ, những công nhân, nhân viên...
Chúng tôi luôn luôn mơ ước một điều là cả xã hội, cả quốc gia, cả thế giới này, ai ai cũng hết lòng làm việc phụng sự con người mà không đòi hỏi gì cho mình thì chúng ta sẽ không bao giờ đói, không bao giờ thiếu. Giáo viên đi dạy không lương có lẽ không ai muốn đi dạy. Tuy nhiên, hãy tin một điều rằng, cứ đi dạy, một thời gian sau tự nhiên sẽ đầy đủ.
Hoặc khi chư Tăng đi giảng pháp, không đặt vấn đề tiền bạc, có khi giảng ở chùa có đông Tăng, Ni còn phải cúng dường trở lại, làm được như vậy mà không sợ đói vì có những người khác nuôi mình. Đó là theo tinh thần đạo Phật, chứ ngoài đời không ai dám “liều” như vậy. Nhưng không biết sao chúng tôi có niềm tin mãnh liệt nếu toàn xã hội ai cũng “liều” làm việc không lương... lúc đó thế giới này như thiên đường, mọi người như thiên tử, ai cũng có hào quang. Điều này có vẻ như không tưởng nhưng chúng tôi vẫn ước mơ.
Trong lao động sản xuất, có những người đưa ra ý tưởng mới, đầy sáng tạo. Nhưng người có ý tưởng đôi khi chỉ là công nhân nên cần phải có kỹ sư thực hiện ý tưởng. Tại sao kỹ sư giỏi kỹ thuật chớp được ý tưởng là làm được ngay mà không có ý tưởng trước đó? Trong khi người công nhân bình thường lại có ý tưởng mà không thực hiện được ý tưởng? Đó là điều lạ. Cái lạ ở đây đòi hỏi hai điều. Một là người đưa ra ý tưởng. Hai là người giỏi kỹ thuật. Cả hai đều có nhân quả. Một người phải có phước, có đạo đức mới nghĩ ra ý tưởng mới lạ, người kia cũng phải có phước mới có trí tuệ, học thành tài thành kỹ sư để thực hiện ý tưởng. Cả hai đều có phước tạo nên thành quả.
Khi vào cuộc đời, những người có lòng từ bi thương yêu con người luôn thấy vô số điều khiếm khuyết cần phải bổ sung, sửa đổi; vô số điều thiện lành cần được chung tay đắp xây, bảo vệ.
Người có tâm hay lo nghĩ tới người khác. Khi thấy con người chưa viên mãn, chưa hoàn hảo về một khía cạnh nào đó là phải nghĩ ra cách làm sao cho họ tốt hơn. Là giảng sư, là Tăng Ni, khi chúng ta nhìn thấy Phật tử chưa hiểu sâu về nhân quả, chúng ta soạn giảng về luật Nhân Quả; Phật tử chưa hiểu về Tứ Diệu Đế, sợ Phật tử mất căn bản giáo lý nên chúng ta soạn giảng về Tứ Diệu Đế... Đó là trong đạo Phật.
Ngoài đời cũng vậy, đi trên đường xuôi ngược, chúng ta nhìn thấy những chiếc xe ba bánh chở cồng kềnh những loại hàng hóa dễ va quẹt, gây ra tai nạn.
Lòng lo lắng, yêu thương con người khiến chúng ta phải suy nghĩ làm sao đừng có tai nạn, hay có ai chế ra được chiếc xe bốn bánh có thùng phía sau để chở được những món hàng rẻ tiền, không cồng kềnh mà được an toàn.
Ví dụ khác, đi trên đường, chúng ta thấy nhiều người đi sai luật an toàn giao thông. Như một số học sinh trung học chở hai ba bạn, lạng lách giữa dòng xe cộ hay đùa giỡn dưới vỉa hè đường, ngay cả người trưởng thành vẫn sai luật. Chúng ta không an tâm khi quan sát những hiện tượng đó và suy nghĩ phải có cách nào để thức tỉnh ý thức của mọi người về luật an toàn giao thông để tránh xảy ra tai nạn. Sự yêu thương con người khiến chúng ta có những ý tưởng góp phần làm lợi ích cộng đồng, phục vụ xã hội.
TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP
VÒNG XOÁY TUẦN HOÀN ÁC TÍNH CỦA SUY THOÁI KINH TẾ
Trong thời gian gần đây, rất nhiều người trong chúng ta đang ở độ tuổi lao động, có khả năng lao động, muốn có việc làm mà không tìm được việc làm. Vì sao chúng ta lại rơi vào hoàn cảnh thất nghiệp như vậy? Vì không có ai thuê, không có công ty, xí nghiệp, công sở ... nào thuê ta làm việc.
Tại sao người ta không thuê mình? Vì người ta không có nhiều việc cần làm. Tại sao người ta không có nhiều việc cần làm, vì không có ai mua dịch vụ, mua sản phẩm của công ty, xí nghiệp của họ. Mà khi không có người tiêu thụ, thì vấn đề sản xuất kinh doanh sẽ gặp khó khăn, nên nhu cầu tuyển dụng lao động bị thu hẹp. Do đó, chúng ta bị thất nghiệp.
Phải chăng do người tiêu dùng đã không tiêu thụ nhiều. Đó là theo lý luận của kinh tế Tư bản thị trường. Muốn thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh lên, tạo được nhiều công ăn việc làm thì người ta yêu cầu mỗi người tiêu thụ nhiều lên một chút.
Nhưng câu hỏi đặt ra là lấy tiền ở đâu để mua sắm và sử dụng dịch vụ nhiều hơn?
Vì sao người ta phải thắt lưng buộc bụng, giảm thiểu tiêu thụ? Câu trả lời là do nghèo. Vì sao nghèo? Vì không có việc làm.
Không có việc làm → Nghèo → Không tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ → Công ty, xí nghiệp thu hẹp sản xuất → Không thuê nhân công → Thất nghiệp → Nghèo → Không tiêu thụ dịch vụ, sản phẩm, v.v... Và chúng ta thấy đó là một vòng tròn khép kín, một vòng xoáy lẩn quẩn, một vòng tuần hoàn ác tính.
Nếu bất cứ đất nước nào rơi vào vòng xoáy suy thoái kinh tế này, cứ tuột dần tuột dần, dù cố gắng giãy giụa đều không thể thoát ra được, kể cả Mỹ và châu Âu cũng vậy.
Trong hồi ký của một nhà văn lớn người Đức, ông ghi lại thời điểm năm 1933: “Khi Hitler phá giá đồng Marks và tuyên bố vỡ nợ để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh thế giới thứ II. Ông này có một số tiền gửi trong ngân hàng có thể xây được một ngôi nhà bốn tầng, nhưng chỉ sau một đêm thì số tiền đó của ông chỉ mua nổi một viên gạch”.
Hay năm 2001, khi Argentina bị vỡ nợ, thì trên truyền hình đưa những hình ảnh người dân không có gì ăn phải đến cướp bóc và đập phá các siêu thị, những thanh niên lực lưỡng cởi trần ôm mấy ổ bánh mì vừa cướp được chạy hùng hục trên đường.
Từ vài năm gần đây, thế giới chứng kiến những cuộc khủng hoảng nợ công lan rộng tại các nước châu Âu, nhất là Hy Lạp, với kiểu chi tiêu vung tay quá trán ở Olympic Athens, nước này cũng gần vỡ nợ, khiến cho quỹ tiền tệ quốc tế IMF và cộng đồng EU phải xúm vào “cứu trợ” (nói là “cứu trợ” nhưng thực ra có ai cho không ai cái gì bao giờ, IMF đã đặt ra rất nhiều ràng buộc, người dân phải thắt lưng buộc bụng, rồi Hy Lạp còn phải rao bán cả những hòn đảo đẹp để trả nợ), cứu trợ cũng chỉ giúp vượt qua “vỡ nợ” nhưng tỉ lệ thất nghiệp lên đến 25%, số nợ đó sẽ bị dồn sang cho thế hệ con cháu.
Và dù người ta có biểu tình tuần hành... thì cũng không làm sao thoát ra được.
Sự thật là tất cả những nhà xã hội học, những chuyên gia kinh tế hàng đầu thế giới đều biết về cái vòng xoáy suy thoái kinh tế này, và họ cũng ra sức phân tích, đánh giá thị trường... và đưa ra giải pháp kinh tế tưởng chừng rất lý tưởng, nhưng một khi đã lọt vào vòng xoáy ác tính này rồi thì giải pháp đó không có hiệu quả, không ai gỡ ra được, khủng hoảng và suy thoái càng ngày càng trầm trọng.
Tại sao lại xảy ra hiện tượng không thể lý giải, không thể thoát ra bằng những quy luật kinh tế, bằng những lý lẽ thường tình như thế? Phải chăng có một lý do sâu xa khác, phải chăng bằng một phương pháp khác mới có thể giải quyết tận gốc vấn đề này?
NGUYÊN NHÂN BỊ THẤT NGHIỆP
Theo Nhân quả - Nghiệp báo thì có được công việc vừa ý, kiếm được nhiều tiền hoặc bị thất nghiệp là do chúng ta đã gieo những cái nhân nào đó khiến quả báo trở lại là dễ hay khó tìm được việc làm.
Thất nghiệp hoặc có việc làm là do phước quyết định
Người có việc làm tốt, thu nhập cao, nhiều cơ hội lựa chọn trong cuộc sống của mình chắc chắn là người rất có phước. Nhưng phước này từ đâu mà có?
Thứ nhất, từ thời thơ ấu, họ là người yêu quý mọi công việc dù rất đỗi bình thường như quét nhà, lau nhà, rửa chén, hay dọn vệ sinh, v.v... trong trái tim họ luôn ghi nhớ lời ông bà mình dạy: Nhà sạch thì mát, chén (bát) sạch ngon cơm, nên đã tìm thấy niềm vui trong từng việc làm nhỏ bé. Chính tình cảm, thái độ yêu lao động đã tạo thành cái phước giúp họ lớn lên không bị thất nghiệp.
Chúng ta hãy tự nhìn lại bản thân mình từ khi còn bé đến giờ, mình có yêu công việc hay không? Nếu mình cứ tìm cách lảng tránh thì công việc sẽ tránh né mình, và hậu quả là mình không có việc làm.
Thứ hai, cha mẹ sai bảo việc gì thì siêng năng chăm chỉ làm tốt mọi việc. Ví dụ: nhà chúng ta có khách từ xa đến thăm. Cha mẹ bảo mình phụ lo cơm nước, lo chỗ nghỉ ngơi cho khách, mình luôn lo lắng, quan tâm săn sóc chu đáo, khiến cho khách và cha mẹ được hài lòng.
Hoặc khi được người lớn sai bảo làm những việc lặt vặt trong nhà, hay nơi xóm phố mà người ta hay gọi là việc không tên. Ví dụ, trên đường làng rơi rớt nhiều mảnh chai, mảnh thủy tinh, gai nhọn, vỏ chuối... Thấy vậy, cha mẹ dặn: “Con đi nhặt những mảnh chai, gai góc... đó đem xếp vào góc đường, để mọi người đi lại tránh được tai nạn”. Vâng lời, mình đi gom rác với thái độ hoan hỉ, lúc nào cũng thích làm việc tốt, thì lớn lên việc làm không hết. Chỉ vì chúng ta yêu quý một điều gì đúng, sẽ luôn luôn làm chúng ta dồi dào về điều đó.
Ngược lại, chúng ta cứ tìm cách trốn tránh, đẩy việc cho anh, chị, em trong nhà,... thì đây chính là cái nhân của thất nghiệp sau này.
Thứ ba, khi được bà con lối xóm nhờ cậy thì ráng làm, ráng giúp đỡ. Ví dụ: Người hàng xóm nhà mình cần cày ruộng. Họ bị thiếu dầu chạy máy nên chạy sang nhà mình mượn đỡ. Lúc đó, mình nhiệt tình mang đến tận nơi, rồi quan tâm xem người ta cày ở đám ruộng nào, chừng đó dầu có đủ chạy máy hay không? ... Khi mình giúp người với tâm ân cần như thế thì sau này phước tăng lên rất nhiều, cuộc đời mình luôn gặp nhiều may mắn.
Hoặc lần đó, mình trên đường đi học về, bụng rất đói, mong sao nhanh chóng về đến nhà để nghỉ ngơi, ăn uống. Nhưng lúc đó, bác hàng xóm đang chở bao gạo rất nặng bị rớt giữa đường. Bác ấy vội nhờ chúng ta giúp khiêng gạo lên xe, ràng cột lại cho chắc chắn. Thấy thương người vất vả, dù bụng đói nhưng mình vẫn vui vẻ làm, chia sẻ một chút gánh nặng với người, đem lại chút niềm vui cho người. Như vậy là mình đã gieo nhân lành để lớn lên có vô số cơ hội làm việc mở ra cho mình.
Trong suốt những năm tháng tuổi thơ, nếu chúng ta biết tự giác siêng năng, chăm chỉ, cần mẫn thì mình trở thành người có đạo đức. Và điều đó sẽ ảnh hưởng tới quyết định chọn nghề của chúng ta s au n ày.
Khi quyết định chọn nghề ta chọn nghề mình thích hay nghề xã hội cần?
Nếu tâm chọn nghề mình thích thì đã gieo nhân thất nghiệp.
Nếu chọn nghề xã hội cần thì đó là người có đạo đức, là người vì cộng đồng.
Ngay khi còn niên thiếu, chúng ta cũng thường có những mơ ước, tự mình mong muốn sau này lớn lên sẽ làm gì? Sẽ trở thành một người như thế nào? Làm kỹ sư, thợ máy, phi công hay làm bác sĩ? Làm luật sư, nhà văn, nhà báo, hay nghệ sĩ, ca sĩ, thời trang biểu diễn?... Đó là cả một dãy ước mơ, mong muốn, tưởng tượng trở thành những người mình ngưỡng mộ, yêu mến, tin cậy.
Song việc chọn nghề của thanh niên khi đã lớn khôn lại đòi hỏi một sự cân nhắc, thận trọng. Nếu chúng ta chọn nghề mà chỉ vì mình yêu thích, để được giống như những thần tượng của mình thì chính ta đã gieo nhân thất nghiệp. Vì sao?
Vì chúng ta sống trong làng xóm, trong xã hội thì phải có trách nhiệm với cả cộng đồng của mình, không phải việc của ai người nấy lo. Điều này làm cho tình cảm cộng đồng thêm gắn kết, xã hội thêm bền chặt. Nhưng, nếu chúng ta là người ích kỷ, không biết quan tâm đến lợi ích chung, chỉ làm theo ý thích cá nhân.
Ví dụ: Nhà nước đang cần nhiều giáo viên đến những vùng sâu, vùng xa để dạy học cho trẻ em nghèo. Nhưng chúng ta vì không thích ở những nơi hoang vu, công việc vất vả với đồng lương ít ỏi, nên không thích chọn ngành Sư phạm.
Hoặc mình không trân trọng nghề này, không yêu quý nghề kia. Đứng núi này trông núi nọ, không thích làm lao động phổ thông. Lúc nào cũng chờ đợi có một công việc khác “xứng đáng với trình độ” của mình hơn. Thế là mình cứ chờ hoài, đợi hoài mà thôi.
Còn đối với những ai khi chọn nghề biết đặt lợi ích cộng đồng lên trên hết, chọn bất cứ công việc nào xã hội đang cần, biết hướng tới kết quả thực tế chứ không mù quáng chạy theo những hư danh, những giá trị ảo. Thì đó là người đạo đức, được mọi người yêu mến và luôn luôn đầy ắp công việc chờ đón họ.
Khi có việc thì mục tiêu phụng sự cao hơn mục tiêu lương hay lợi nhuận. Công sức bỏ ra nhiều hơn thu nhập của mình thì mới có phước (bất kể làm cho tư nhân hay Nhà nước)
Theo nhân quả, hưởng ít hơn phước mình có thì sẽ bền, hưởng nhiều hơn phước mình có sẽ mất hết và nghèo khổ.
Những ai đang có việc làm thường nghĩ đến lợi ích chung, vui với công việc mình làm, luôn chu đáo đầy trách nhiệm mà không cần tính công - nghĩa là “đóng góp nhiều hơn hưởng thụ”, đặt mục tiêu phụng sự cao hơn lợi nhuận, hơn số tiền lương được trả mỗi tháng, thì phần dư do cống hiến sẽ thành phước để dành.
Sau mỗi tuần, mỗi tháng, khi kiểm lại số tiền kiếm được đem so sánh với công sức, lợi ích đã đóng góp. Nếu thấy công sức nhiều hơn, người đó có thể nở một nụ cười vui vẻ vì biết rằng mình đang tích lũy phước dần theo năm tháng. Ngược lại, nếu thấy mình không làm được lợi ích gì mà tiền thì nhiều quá. Lúc đó, họ lo lắng hơn là mừng rỡ, và tìm cách làm phước bố thí để bù đắp lại cái phước đang bị hao tổn kia. Đây cũng chính là người có lương tâm, có đạo đức.
Một yếu tố nữa giúp cho người có lương tâm nghề nghiệp không bao giờ mất việc, là khi làm việc cho bất kỳ công ty tư nhân hay Nhà nước nào, thì họ luôn biết đồng cảm với người lãnh đạo. Sống trọn tình vẹn nghĩa, sát cánh cùng với Ban lãnh đạo, Ban
Giám đốc để cùng đi qua những giai đoạn khó khăn, xây dựng công ty, xí nghiệp,... phát triển tốt đẹp.
Đối với đồng nghiệp, họ cũng là những đồng nghiệp hòa thuận, biết thương yêu, giúp đỡ, linh hoạt hỗ trợ những lúc đồng nghiệp gặp khó khăn.
Người hiền đi đến đâu
Nơi ấy sẽ vui lâu
Bởi tình thương lan tỏa
Làm tan hết hận sầu.
Và mặc dù không phải lúc nào cũng tìm được đúng việc mình yêu thích, nhưng lúc nào họ cũng vui với công việc mình làm. Với những người đó, trời đất cho việc gì, họ đều yêu quý việc đó, không bao giờ phụ bạc.
Có một bạn trẻ từng tâm sự: Từ lúc còn đi học, bạn ấy sẵn sàng lao vào cuộc sống thực sự ở bên ngoài nhà trường, sẵn sàng từ chối “tiền lương đi học” là những đồng tiền xương máu của cha mẹ gửi cho.
Từ khi ra trường bạn vẫn có việc làm mặc dù không đúng chuyên ngành đã học. Do chịu khó tìm tòi và khát vọng vươn lên, nên đã gặt hái được những thành quả lao động ngọt bùi.
Những người như vậy đã biết gieo nhân lành không bao giờ bị thất nghiệp.
Còn những ai chỉ muốn hưởng thụ tối đa với công sức bỏ ra tối thiểu, làm việc cẩu thả, hời hợt, thì trước mắt, họ có vẻ giàu sang, nhưng tương lai sẽ là người khốn khổ vì thiếu phước, vì họ đang gieo những “mầm mống tiềm ẩn” đưa đến mất việc về sau.
CÁCH THOÁT RA KHỎI TÌNH TRẠNG THẤT NGHIỆP
Mỗi người sinh ra đều có một định lượng tội phước nhất định do duyên nghiệp ta đã gieo từ trước.
Người đang thất nghiệp, nghĩa là đang bị thiếu phước. Chúng ta chỉ có thể điều chỉnh đồ thị số phận mình bằng nhân quả mà thôi. Nghĩa là, muốn thoát khỏi tình trạng bế tắc đó, chúng ta phải:
Thứ nhất: Tranh thủ đi làm những việc không công, phục vụ xã hội như đắp đường, xây nhà, vào chùa công quả, việc gì đến cũng yêu thích. Ham học, ham làm để làm người có ích cho xã hội.
Trước kia mình không biết giúp đỡ ai, tránh né những việc công ích như đắp đường, phụ làm cầu, dọn vệ sinh xóm làng - khu phố,... thì bây giờ phải biết siêng năng mọi việc, dù không được trả lương, vẫn phải làm rất nhiệt tình làm mà không cần đợi ai nhắc nhở, xem mọi việc của bà con lối xóm, xã phường,... như của chính gia đình mình. Vậy là một hạt giống thiện đã được gieo, và bánh xe nhân quả sẽ chuyển động.
Rồi vào chùa công quả, phụ giúp trong các ngày Lễ (như trong Đại Lễ Vesak, hay ở trên chùa Phật Quang, mỗi dịp như thế là ta có cơ hội phụng sự hàng chục ngàn người).
Chúng ta đừng sợ bị hạ thấp cái gọi là “địa vị xã hội”, đừng nghĩ rằng việc đó gây tổn thương đến lòng tự trọng của mình vì “mình vừa được tốt nghiệp ở những trường nổi tiếng” ra... Có như vậy, sau này mình mới có cơ hội tìm được việc làm.
Thứ hai: Biết cứu giúp người trong cơn nguy khốn.
Ví dụ có lần mình đi trên con đường vắng, bất chợt nhìn thấy một người bị đau đớn nằm lăn lộn trên đường. Do động lòng trắc ẩn, mình dừng lại hỏi han, và biết họ đang đau bụng. Sợ họ bị đau ruột thừa nên mình vội đỡ lên xe đưa ngay tới bệnh viện. Nhờ được cấp cứu kịp thời nên họ thoát chết. Chỉ có thế thôi mà sau này nhiều quả báo lành sẽ trở lại với mình dù chỉ một lần giúp người trong cơn nguy khốn.
Thứ ba: Mỗi người chúng ta phải trở thành một trung tâm tìm kiếm việc làm cho mọi người. Mình chưa có việc làm nhưng hễ thấy bất kỳ cơ hội nào dù nhỏ, mình cũng tìm cách giới thiệu cho bạn bè, người quen... Có như vậy, chúng ta sẽ chuyển hóa dần tâm ích kỷ hẹp hòi, từ từ xóa cái nghiệp nghèo khổ, thất nghiệp.
Thứ tư: Sám hối những lỗi lầm do cố ý hay do si mê mà ta đã gây ra từ kiếp xưa.
Thứ năm: Hàng ngày lễ Phật và nguyện rằng: Lạy Phật từ bi, con hiện tại do thiếu phước nên không có việc làm. Xin Phật gia hộ cho con, nếu có nơi nào làm ra những sản phẩm hữu ích mà đồng ý tiếp nhận con vào làm, dù lương nhiều hoặc ít thì con sẽ cố gắng sử dụng hợp lý, tiết kiệm mà làm phước, để đền bù những ác nghiệp quá khứ của con, (thậm chí đem toàn bộ tiền lương mỗi tháng đi làm phước hết).
Thứ sáu: Tinh tấn tu tập thiền định theo mục tiêu Vô ngã để nhận ra và chỉnh sửa lại cách sống sai lầm của mình.
Thứ bảy: Chúng ta còn trẻ, phải tránh xa những thứ cám dỗ nguy hiểm: tiền bạc, danh vọng, quyền lực, và tình dục, giống như tránh lửa. Hạn chế tối đa sự hưởng thụ, vì người nào hưởng thụ qua nhiều nhất là về tình dục, nó sẽ đốt hết phước của họ rất nhanh, chẳng mấy chốc mà “thân tàn ma dại”, vì những thứ cám dỗ đó sẽ lấy mất sức khỏe, sự minh mẫn, và tâm hồn trong sáng của mình.
Nếu mỗi bạn trẻ chúng ta luôn có ý thức vươn tới sự tốt đẹp, biết quý trọng thành quả lao động của người khác như quý trọng thành quả của mình, hạn chế sự hưởng thụ, sống vị tha phụng sự, biết tu tập thì trong trái tim sẽ nảy nở niềm vui chân chính, chăm chỉ cần mẫn, say mê sáng tạo, tìm thấy giá trị và ý nghĩa cuộc sống cho mình, cho xã hội.
Đó cũng là yếu tố nhân quả, phước đức giúp ta thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn của thất nghiệp và đói nghèo.
LUẬT NHÂN QUẢ CHI PHỐI HOẠT ĐỘNG KINH TẾ
Ích kỷ là bản chất căn bản của con người. Nền kinh tế thị trường đặt trên nền tảng triết lý đó. Nói đến kinh tế là có nói đến cạnh tranh. Doanh nhân, bằng tư duy sáng tạo, vạch ra phương hướng cạnh tranh để doanh nghiệp đi đến mục tiêu cần đạt. Nhưng cũng có dạng cạnh tranh không lành mạnh, tức là người ta dùng thủ đoạn để hạ “đối thủ”. Chính sự cạnh tranh thúc đẩy kinh tế phát triển, nhưng có cạnh tranh thì có hơn thua, thành bại, nên cạnh tranh cũng là cơ hội làm cho tính ích kỷ của con người phát triển.
Vì thế, chính phủ phải ban hành luật về kinh tế giúp kiềm chế (tính ích kỷ) để không gây hại lẫn nhau. Ví dụ cấm bán sản phẩm độc quyền. Vì độc quyền thì người bán có quyền tăng giá bao nhiêu cũng được: Có mười hãng sản xuất kem đánh răng. Mười ông chủ kết hợp lại thành một hãng duy nhất nên họ muốn bán giá cao bao nhiêu, người mua vẫn phải tiêu thụ. Luật cấm độc quyền để các hãng tự do cạnh tranh, từ đó sản phẩm ngày càng tốt hơn mà giá thành lại rẻ hơn.
Trong sự cạnh tranh, người ta luôn tìm cách có lợi nhuận cao cho mình mà không nghĩ tới lợi ích cho xã hội. Ví dụ một nhà máy dệt sản xuất sản phẩm nhưng họ không nghĩ loại hàng đó bền đẹp sẽ làm cho người mặc thoải mái, tức là họ không nghĩ tới cái lợi của con người mà chỉ nghĩ tới lợi nhuận, do cạnh tranh mà phải bán giá thế này, thế kia... cạnh tranh hơn thua là có ích kỷ. Về lý luận, ích kỷ (do cạnh tranh) là có lợi nhưng cũng từ ích kỷ mà kinh tế thị trường bấp bênh, biến động. Nền kinh tế thị trường năng động nhưng thật ra cũng tạo nghiệp dữ dội.
Đó là lý do kinh tế lúc thịnh lúc suy đến nỗi các nhà kinh tế học cho rằng suy thoái là chu kỳ bắt buộc của nền kinh tế hay một đất nước. Không phải vậy, tại vì họ chưa hiểu nhân quả. Tất cả nằm trong cái tâm và cái nghiệp của mỗi con người. Làm kinh tế vì lý do ích kỷ, chỉ làm lợi cho mình thì có lúc việc làm ăn, kinh tế phải suy thoái. Chúng ta quan sát một xã hội mà nền kinh tế đang lên thì đạo đức cũng lên theo, vì trước đó những vị lãnh đạo đã làm nhiều việc phước như viện trợ, cứu trợ các nước nghèo, làm nhiều việc công ích v.v...
Vấn đề thịnh hay suy là do cái tâm vì lợi ích cho mọi người. Kinh tế phát triển đều có nguồn gốc thiện nghiệp chung của nhiều người. Đó là lý do tại sao xưa nay biết bao vị Thánh đều mơ ước thế giới mà mỗi người làm trọn vẹn bổn phận bình thường của mình: Người công nhân vệ sinh nghĩ rằng việc mình làm là làm đẹp cho đời; người giáo viên nghĩ rằng mình đi dạy là truyền bá kiến thức, dạy dỗ đạo đức cho học sinh. Hoặc người buôn bán không vì lợi nhuận cao mà dùng những thủ đoạn làm hại người khác. Ví dụ, để bảo đảm an toàn thực phẩm, người kinh doanh chấp nhận bảo quản thực phẩm bằng đông lạnh (chứ không sử dụng phân u rê) dù lợi nhuận ít hơn.
Những ai đã làm trọn vẹn bổn phận của mình với tâm vị tha, thì kiếp sau sẽ được sinh ra ở một thế giới toàn là Thánh. Thế giới đó ở đâu thì với cặp mắt phàm mình chưa biết, nhưng thật sự có những thế giới như vậy tồn tại trong vũ trụ. Trong thế giới đó chỉ có Thánh, mọi người luôn luôn thương nhau và lo cho nhau, không còn ai chỉ nghĩ tới mình. Như một người đi lo cho thiên hạ thì cũng có người khác lo cho mình. Họ sống rất hạnh phúc. Trái đất này chưa thể là một thế giới như vậy vì con người còn ích kỷ quá!
Chúng tôi nghe kể có một vị thầy tu rất tốt, rất giỏi, thiết tha với Phật Pháp. Trước khi mất, ông nằm mơ thấy mình ở trong một ngôi chùa cực kỳ đẹp mà ở thế gian này không có. Ít lâu sau ông qua đời. Nghe chuyện, chúng ta biết ngôi chùa đó ở cõi trời, có các vị chân tu, các vị Thánh sống ở đó. Họ sống với nhau bằng tâm từ ái và thanh tịnh. Chúng ta gieo nhân lành mới được hưởng quả hạnh phúc yên lành, sống mà biết tu hành thì thoát được nghiệp trần gian khổ ải, đầy hơn thua, ích kỷ, hận thù. Nếu ở cõi ích kỷ này mà chúng ta sống không ích kỷ, ở nơi tham lam này mà chúng ta sống không tham lam thì chúng ta sẽ sinh về cõi Thánh. Thật hạnh phúc!
Cũng vậy, nếu sống trong thế gian này chúng ta làm những nghề bình thường như bán xôi, bán vải, thầy giáo, bác sĩ, đạp xích lô... mà lúc làm việc chúng ta làm với cái tâm giúp người chứ không làm vì đồng tiền, thì có thể ở cõi đời này chưa kịp hưởng phước để được an vui, hạnh phúc, nhưng chắc chắn khi bỏ xác thân này chúng ta sẽ đi về một nơi chỉ có những con người thương yêu nhau thôi. Chúng ta muốn đi về cõi đó thì ngay ở cõi đời này phải làm những việc thiện. Tất cả đều là nhân quả. Chúng ta nói Tây phương là cõi Thánh thì ngay trong cõi này phải sống có tư cách của Thánh thì mới về cõi đó được, chứ không chỉ là những lời cầu nguyện, vì nhân quả rất công bằng.
Có câu chuyện về ngài Tế Công, còn gọi là Tế Điên, ngài ngộ đạo mà có hành vi hết sức kỳ lạ. Một lần nọ, trong làng có một người chết. Người nhà lên chùa thỉnh quý thầy đến tụng kinh. Chùa cử ngài Tế Điên đi. Khi ngài tới, vợ của người chết đãi ngài ăn bún trước khi tụng kinh. Ăn xong, thay vì tụng kinh, ngài tụng bốn câu kệ:
“ Bà vợ ông cho tôi ăn bún than
Nhờ tôi cầu cho ông về Tây phang (phương)
Nhưng Tây phang xa lơ xa lắc
Thôi ông về ở đỡ Dư Hàng”.
Huyện Dư Hàng ở gần đó, người ta không hiểu ngài nói gì kỳ lạ vậy. Mấy ngày sau có người bà con ở Dư Hàng sinh ra thằng con trai có ghi mấy câu đúng như ngài đã đọc. Có nghĩa là ngài Tế Điên biết trước ông chồng đầu thai về bên Dư Hàng. Đó là trí tuệ của bậc Thánh.
Tóm lại, trong làm ăn kinh tế, chúng ta hoạt động với cái tâm tốt (có lương tâm) thì sẽ gặt hái được thành quả tốt đẹp, lâu dài, bền vững. Nếu chúng ta chỉ vì lợi nhuận, vì ham làm giàu bất chấp thủ đoạn để đạt được kết quả thì hậu quả khó lường được. Tức là có luật nhân quả chi phối trong hoạt động kinh tế ở từng quốc gia, từng xã hội, từng con người.
NHÂN QUẢ TRONG VIỆC ĐÓNG THUẾ VÀ SỬ DỤNG TIỀN THUẾ
Nhà nước cho chúng ta làm ăn tự do mà kiểm soát đóng thuế rất chặt chẽ. Như vậy, trong việc làm ăn, doanh nhân vừa làm lợi cho mình vừa làm lợi cho đất nước bằng việc đóng thuế. Nhà nước dùng tiền thuế để làm gì? Hàng nghìn công việc phải dùng tới tiền thuế: trả lương cho công chức, công nhân, nuôi quân đội, xây dựng cơ sở hạ tầng, sắm sửa trang thiết bị v.v... Đóng thuế, chính là chúng ta lo cho đất nước.
Có người lo bằng hành động mà không lo bằng cái tâm. Ví dụ trường hợp thứ nhất, một người làm ăn phát đạt, kê khai thuế đóng rất cao vì không thể trốn thuế. Ông ta đóng thuế mà tiếc số tiền. Chúng ta thấy ông ta cũng có công đóng góp xây dựng đất nước nhưng cái tâm không có, sau này ông cũng được chút phước gì đó thôi. Trường hợp thứ hai, người đóng thuế ý thức được tiền thuế này trang trải công việc chung cho đất nước và vui vẻ đóng thuế thì họ có cả phước và đức. (Chúng ta đừng nghĩ chỉ bố thí hay cúng chùa mới là làm phước, rồi tiền đó thay vì đóng thuế lại dùng để cúng chùa hay bố thí là không đúng).
Tiền do nhân dân đóng thuế được Nhà nước sử dụng hợp lý hay không hợp lý là điều cần bàn tới. Nếu một Nhà nước giỏi, sáng suốt, lấy tiền nhân dân đóng thuế xây dựng những công trình, làm những việc có hiệu quả, tất nhiên người dân được hưởng phước. Còn những người lãnh đạo, người đưa ra kế hoạch, chính sách được hưởng phước gấp bội lần người dân.
Nói cách khác, người lãnh đạo rất có phước nếu họ biết sử dụng tiền thuế hợp lý, ngược lại là thiếu phước nếu họ sử dụng tiền thuế không hợp lý. Ví dụ Nhà nước xây dựng một công trình đầu tư khá tốn kém mà không sử dụng được hoặc xây dựng nửa chừng thấy sai nên đập bỏ, làm lại. Như vậy, tiền thuế thu của nhân dân sử dụng không hiệu quả.
Cho nên, thuế sẽ đem lại phước cho người lãnh đạo lẫn người dân nếu người dân đóng thuế đầy đủ, đúng hạn định và Nhà nước sử dụng tiền thuế hợp lý. Chúng ta nhắc nhở người dân đóng thuế và Nhà nước sử dụng thuế theo tinh thần nhân quả. Đồng thời, chúng ta cũng nhắc nhở công chức Nhà nước phải sử dụng tiền thuế cho hợp lý. Nếu không biết sử dụng tiền thuế hợp lý thì kiếp sau không còn được làm lớn nữa vì hết phước. Còn người lãnh đạo biết sử dụng tiền thuế hợp lý thì phước rất lớn, kiếp sau tiếp tục làm lớn nữa. Luật nhân quả là như vậy. Ví dụ Nhà nước trích ngân sách viện trợ các nước nghèo hoặc một nước đang bị thiên tai. Việc này giống như toàn dân đi làm từ thiện. Như vậy, cả nước đều có phước.
Có một vấn đề tế nhị trong việc đóng thuế và thu thuế. Đó là, nếu Nhà nước ra mức thuế quá nặng, và dùng tiền đó để đầu tư cho tương lai (xây dựng bệnh viện, trường học, đường sá v.v...) thì hiện tại không được hưởng bao nhiêu mà tương lai các thế hệ con cháu hưởng. Còn nếu đóng thuế nhẹ thì hiện tại có lợi mà không có nhiều tiền đầu tư cho tương lai. Đó là mâu thuẫn giữa việc đóng thuế nặng và nhẹ. Nhà nước thu thuế nặng giống như mang tiếng ác, mà nhân dân đóng thuế quá nhẹ thì như không hy sinh cũng thành ác... Cho nên, chúng ta phải cân đối thu chi như thế nào rồi chọn ra một mức thuế cho phù hợp. Đó là trung đạo.
Có một khía cạnh nhỏ cần nhắc là chúng ta không nên tiêu thụ hàng lậu thuế. Việc này đòi hỏi sự tự giác của mọi người, nhất là Phật tử. Tiêu dùng hàng lậu là tiếp tay cho người trốn thuế. Hàng lậu thuế thường được bán với giá rẻ so với mặt hàng cùng loại. Nếu chúng ta ham rẻ, tiêu thụ hàng lậu thuế (thường được nhập về từ nước ngoài) làm ảnh hưởng đến hàng hóa trong nước bị bán ế, sản xuất bị chậm lại, các công ty làm ăn thua lỗ, công nhân bị thất nghiệp v.v...
Như vậy, dùng hàng lậu thuế là chúng ta -kể cả người làm hải quan- đã tác động xấu, khiến nền kinh tế của đất nước bị đi xuống. Vấn đề hàng lậu và người buôn hàng lậu thuộc về pháp luật. Nhưng khi xét trên nhân quả thì cũng có liên quan đến đạo đức, vì nó ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước và cuộc sống của nhiều người dân.
Người Phật tử trong cuộc sống cần quan sát những việc có liên quan đến đạo đức mà hành xử cho đúng đạo lý. Chúng ta nên chống hàng giả, không mua hàng lậu. Chúng ta mua những món hàng tuy đắt một chút nhưng đó là hàng thật, có đóng thuế đàng hoàng, đồng thời cũng giúp cho người dân có việc làm ổn định. Đó cũng là cách làm phước.
NHU CẦU CĂN BẢN CỦA CON NGƯỜI
Kinh tế xây dựng trên ba nhu cầu căn bản của con người. Đó là ăn, mặc, ở. Từ ba nhu cầu này tạo ra hàng trăm nghề nghiệp trong xã hội và hàng loạt công việc phức tạp khác trong xã hội. Khi loài người tiến bộ, ba nhu cầu này được xem là giải quyết thỏa đáng. Khi việc ăn, ở, mặc được ổn định; chúng ta làm việc có lương, sau khi trả tiền nhà, ăn ở, may mặc đã giải quyết, chúng ta phát triển những nhu cầu cao hơn về tinh thần, về tâm linh. Như học thêm để mở mang kiến thức, đọc sách, nghe nhạc giải trí, đi chùa để học hỏi giáo lý v.v...
Những nhu cầu cao hỗ trợ cho nhu cầu căn bản. Nghĩa là khi nhu cầu thấp được giải quyết xong, chúng ta mới tạo thêm nhu cầu cao. Và nhu cầu cao được giải quyết thì bổ sung cho nhu cầu thấp. Nhưng, cũng có những trường hợp nhu cầu cao không hỗ trợ được cho nhu cầu thấp (ăn, ở, mặc).
Ví dụ giải trí bằng các loại hình sa đọa như quán nhậu, bia ôm... Nếu chúng ta dư tiền, dư thì giờ mà tìm tới những thứ đó thì phước mất, sau này chúng ta thiếu ăn, thiếu mặc và mất luôn nhà ở. Còn nếu sau khi ăn, ở, mặc đầy đủ, chúng ta đi chùa, làm phước, giúp người này người nọ, học hỏi giáo lý, tu tập thiền định, tạo ra những nhu cầu cao hơn thì các nhu cầu ăn, ở, mặc của chúng ta luôn luôn đầy đủ từ kiếp này sang kiếp khác. Bởi vì chúng ta chọn đúng hướng đi, chúng ta lo xây dựng đạo đức, kiến thức cần thiết cho con người.
Có một điều chúng ta thấy những nghề như giáo sư, bác sĩ (tức thầy giáo, thầy thuốc) là những nghề không trực tiếp đi vào ba nhu cầu căn bản: ăn, ở, mặc mà các nghề này như có giá trị tinh thần cao hơn. Người làm nghề giảng dạy và nghề chăm sóc cứu chữa bệnh nhân (nói chung là làm thầy); trước đây, họ đã làm phước, lo cái ăn, ở, mặc cho nhiều người nên mới xuất hiện được năng lực tinh thần cao hơn việc lo ăn, ở, mặc.
Hay như có vị thầy giảng rất hay, cất được chùa có nhiều cơ sở, tức là kiếp trước vị thầy đó đã lo cho nhiều người cái ăn, ở, mặc thì nay cũng được cúng dường ba nhu cầu trên. Nếu chúng ta không biết những điều này, chỉ mơ làm giảng sư để được trọng vọng, cúng dường là sai lầm. Vậy, muốn làm giảng sư giỏi phải lao động, phải làm phước, phải lo ăn, ở, mặc cho đại chúng... Giảng được hay không là do cái phước. Giáo hội đào tạo nhiều khóa giảng sư mà quên dạy chư Tăng Ni làm phước trước; ba điều trên lo chưa xong thì sẽ không xuất hiện những điều cao hơn. Cứ lo ăn, lo mặc, lo ở cho mọi người thì tự nhiên năng lực tinh thần xuất hiện. Nhân quả là như vậy.
Sự thành công- thất bại trong làm ăn, sự thịnh
– suy của một nền kinh tế đều có nhân quả chi phối, tác động. Con người tham gia vào hoạt động kinh tế, ngoài tài năng còn cần phải có đức, có phước mới thành công lâu dài, bền vững. Đức biểu hiện ở lòng hy sinh, vị tha; phước (hay tội) cho chúng ta sự may mắn (hay bị rủi ro) trong khi làm kinh tế.
Chúng ta nhìn vấn đề kinh tế trên quan điểm của đạo Phật để xác định mục tiêu của cuộc sống. “Mục tiêu của cuộc sống là đi tìm hạnh phúc, chứ không phải đi tìm sự giàu sang”. Giàu sang chỉ là một khía cạnh nhỏ của mục đích cuộc sống. Và việc xây dựng nền kinh tế cho một cộng đồng, một xã hội, một đất nước và cả thế giới cũng phải đặt trên nền tảng của đạo đức và phước. Trong tất cả những điều nói trên thì nhân quả là kim chỉ nam cho con người và xã hội.
Hãy nhớ như vậy!


