TÔN GIÁO xuất hiện từ rất sớm. Ở xã hội nguyên thủy đã có tôn giáo. Tôn giáo là một hiện tượng xã hội lớn của nhân loại luôn luôn tồn tại với một sức mạnh kỳ lạ. Tôn giáo đã hình thành, phát triển và biến thái ra sao? Tôn giáo đã thực sự đem lại lợi ích cho cuộc sống hay đi ngược lại sự tiến bộ của loài người như thế nào?
Trong bài này chúng ta sẽ đặt mình ra khỏi đạo Phật để quan sát, xem xét một cách khách quan tất cả mọi vấn đề về hiện tượng tôn giáo, các yếu tố làm cho tôn giáo được hình thành, tồn tại, rồi tại sao bị biến thái, vì sao có những tôn giáo thực sự đem được lợi ích cho cuộc đời, và cũng có những tôn giáo đã đi ngược lại sự tiến bộ của loài người.
NHỮNG YẾU TỐ HÌNH THÀNH TÔN GIÁO
Có hai yếu tố chính đã hình thành các tôn giáo cổ từ ngày xưa và sau này thì xuất hiện thêm những giáo phái mới mang hình thức giống như tôn giáo, nhưng chưa đáng gọi là tôn giáo, chỉ gọi là những giáo phái mới. Tuy nhiên, những giáo phái mới này cũng đều bắt chước, rập theo, trích dẫn thêm bớt giáo lý từ những tôn giáo đã có trước. Khi chúng ta xem xét nguyên nhân hình thành các tôn giáo cổ thì cũng sẽ hiểu được sự thành lập những giáo phái mới bây giờ.
Tôn giáo hình thành và phát triển được bởi ba yếu tố:
- Thứ nhất là lý thuyết về thần linh để giải thích về nhân sinh và vũ trụ.
- Thứ hai là nghi lễ.
- Thứ ba là có người tin theo.
Khi có đủ ba yếu tố trên thì tôn giáo xuất hiện.
Người lãnh đạo là người đề xướng lý thuyết ban đầu của tôn giáo đó, ta gọi là giáo chủ. Còn trong các bộ tộc thì gọi là tù trưởng hay phù thủy, cũng là người lãnh đạo tôn giáo trong cộng đồng đó. Tất cả các tôn giáo dù lớn hay nhỏ đều xuất phát từ lý thuyết ban đầu của một vị nào đó, rồi hình thành hai yếu tố kế tiếp thì tôn giáo đó được chấp nhận.
Như đạo Phật của chúng ta do Đức Thích Ca Mâu Ni là vị Giáo chủ khai sáng, cũng có một lý thuyết đồ sộ là Tam Tạng Kinh Điển, cũng có những nghi lễ tụng niệm – lễ bái, cũng có những người tin theo giáo thuyết đó gồm cả người xuất gia và người tại gia.
Tôn giáo đã xuất hiện như là một sự giải đáp những thắc mắc của con người về nhân sinh và vũ trụ trong thời đại đó.
Tôn thờ thần linh (độc thần, đa thần)
Một thời gian dài khoảng mấy nghìn năm, chấp nhận thần linh trở thành khuynh hướng chung của loài người. Người ta chấp nhận và tin thần linh mà không cần phải giải thích. Nếu nhớ lại được kiếp xưa của mình thì chúng ta cũng đã từng sống ở những thời đại thượng cổ, đã tin ông trời, tin thần linh. Và khi còn bé đang sống trong kiếp này, chúng ta đã bắt đầu nghe nói cái gì cũng do ông trời: “ơn trời...”, “nhờ trời...”, “con khổ quá trời ơi...”
Thời xa xưa, khi con người cần một sự giải thích về những điều chưa biết đối với vũ trụ và nhân sinh, nhưng lại không có các câu trả lời nên những lý thuyết về thần linh xuất hiện, không còn cách nào khác. Ngày nay, đứng trên quan điểm khoa học, người ta nói thần lửa, thần mưa, thần sét... là mê tín. Tuy vậy, chúng ta đừng trách quá khứ. Vì sao? Nếu chúng ta sống vào thời đó cũng phải chấp nhận như vậy thôi, vì lúc đó con người không đủ sức để biết nhiều hơn. Chúng ta phải cảm thông với người xưa. Đừng bao giờ nhìn lại những lý thuyết xưa với một ác ý, một sự chê bai, vì nghĩ rằng chúng ta hơn người xưa.
Ví dụ, có một người thời cổ xuất hiện tại đây. Ngồi tại đây nhưng họ không hiểu tại sao chúng ta nói phải cầm cái “mic” này, tại sao nó làm cho tiếng nói của chúng ta lớn lên, tại sao bóng đèn bé xíu lại thắp sáng cả căn phòng rộng,... nhưng con người ngày nay được tích lũy kiến thức của bao nhiêu thế hệ, bây giờ tiếp tục được học nên mình thì hiểu liền, mình có thể giải thích dễ dàng, còn người xưa họ không biết. Nếu qua thời gian được học hỏi thì họ cũng sẽ hiểu vì mức độ thông minh, suy luận, sáng tạo của người thời đó và chúng ta ngày nay như nhau.
Nhìn lên trời cao, người xưa tự hỏi mặt trăng từ đâu mà đến, ai đã thắp những ngôi sao trên bầu trời đêm. Nhìn xuống mặt đất, họ thắc mắc vì sao có cây cối đâm chồi, có các loài vật sinh sôi, có con người sống ở trên đời... Người xưa không hiểu lửa có từ đâu hoặc con người từ đâu sinh ra, hoặc tại sao có mưa, hoặc có những điều không rõ nguyên nhân, chẳng hạn tại sao đi con đường bên phải thì về tới nhà mà đi con đường bên trái thì bị cơn lũ cuốn trôi. Người ta không hiểu mọi việc do ngẫu nhiên mà có hay do “ông trời” định đoạt. Nghĩa là con người luôn luôn tìm hiểu và muốn biết rõ mọi sự việc, hiện tượng xảy ra quanh mình để yên tâm, để được thỏa mãn. Đó là khởi nguyên của tôn giáo và cũng là khởi điểm của khoa học. Khởi điểm giữa khoa học và tôn giáo đều giống nhau là cùng thắc mắc tại sao như vậy? Và khoa học đã làm rõ vấn đề theo một cách thức khác. Còn những nhà được gọi là tôn giáo đã giải thích theo một cách thức khác và tạo thành tôn giáo.
Thời xưa, có những điều không giải thích được như bệnh là do đâu? Vì sao sinh con trai mà không sinh con gái? Ai làm ra sấm sét? v.v... người ta tìm một câu trả lời đơn giản để được yên lòng. Người ta quy hết quyền năng, trách nhiệm cho một vị thần linh nào đó để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống, của nhân sinh và vũ trụ.
Khi hiện tượng còn đơn giản thì người ta tạo ra một vị thần chịu trách nhiệm chung cho mọi vấn đề của cuộc sống, của nhân sinh và vũ trụ này. Bây giờ thử hỏi trái đất từ đâu mà có? Thì họ không biết trái là gì đâu, chỉ biết đất thôi. Đất ở đâu thì nói do ông trời sinh ra. Hỏi trăng và sao do đâu mà có? Do ông trời. Rồi những hiện tượng mưa gió, sấm chớp đều do ông trời. Con người ta thương nhau, giận nhau là do ông trời, rồi người ta chết người ta bệnh cũng là do ông trời. Nghĩa là mọi thứ đều do ông trời hay là một vị thần nào đó, vì thế khởi nguyên của tôn giáo là tôn giáo độc thần, một vị thần tối cao.
Nhưng chúng ta thấy khuynh hướng của con người là phải phát triển, hễ thấy cái gì mà cứ lặp đi lặp lại hoài là bị nhàm chán, cần phải có sự đổi mới, nên nguyên tắc lấy một vị thần để giải thích cho tất cả những hiện tượng tự nhiên không kéo dài, chỉ khoảng một, hai trăm năm bắt đầu trở thành lỗi thời. Có những người thông minh, họ cảm thấy là trên trời cao mà có một ông trời thì hơi buồn nên phải tạo ra nhiều vị, thế là họ tạo ra những ông thần sấm, thần núi, thần sông, thần lửa v.v...
Ví dụ, người thời cổ nghĩ có ông thần sét để đánh những người con bất hiếu với cha mẹ, hoặc thần lửa cho họ ánh sáng và hơi nóng để nướng thịt săn, hoặc thần sông cho nước để sinh sống... người cổ xưa đã tạo ra các thần và sùng bái, tôn thờ những thần linh đó. Đây là khởi nguyên những lý thuyết tôn giáo đa thần. Nên ở đây, chúng ta thấy có sự mâu thuẫn và chua chát là chính con người tạo ra thần linh, rồi lại cho là thần linh tạo ra con người và tự khép mình khuất phục trước những vị thần linh do chính mình tạo ra. Đó là mâu thuẫn căn bản.
Nhưng tại sao niềm tin đó tồn tại? Vì con người ngoài việc hay thắc mắc, còn có một đặc tính nữa là dễ tin. Người xưa thì dễ tin như vậy, người thời nay có dễ tin hay không? Không khác xưa, thật lạ lùng! Không hiểu sao người ta vẫn cứ dễ tin vào “một điều lạ” nào đó.
Chính vì vậy mà ngày nay càng có nhiều giáo phái mới xuất hiện. Họ nói những chuyện rất là vô lý mà cũng có những người tín đồ là những người rất trí thức tin theo, phục vụ cho họ. Như chúng ta nghe giáo phái AUM ở Nhật, rất nhiều kỹ sư, bác sĩ hết sức sùng bái đã bỏ tiền bỏ của dâng hiến cho giáo chủ (giáo phái này bị xã hội Nhật lên án, giáo chủ bị đưa ra tòa vì tội làm chết hàng ngàn người). Hoặc xứ sở rất văn minh như Thụy Sĩ cũng có không ít giáo phái “lạ” ra đời, thu hút nhiều người trí thức tin theo. Chúng ta cứ tưởng rằng thời nay người ta khôn ngoan hơn, học cao hiểu rộng hơn, có nhận xét sâu sắc đúng đắn hơn, thì họ sẽ không dễ tin vào những điều phản lại đạo đức, văn minh của loài người. Vậy mà vẫn có người thuộc tầng lớp trí thức đã tin và theo phục vụ các giáo chủ của những giáo phái được cho là “mới lạ” đó.
Chính từ tâm lý dễ tin này, con người đã chấp nhận giả thuyết là vạn vật do một vài vị nào đó bất ngờ sáng tạo, nên lý thuyết về thần linh đã được sùng bái, lan truyền và tồn tại rất lâu. Những lý thuyết đó đã tạo thành một nếp nghĩ, lan vào số đông của nhiều người, tạo thành văn hóa chung của họ, dần dần trở thành một lối ứng xử riêng. Mà người ta đã tin vào thần linh rồi thì họ cảm thấy ông thần đó rất cao siêu và đầy đủ quyền năng, buộc họ phải có một cách ứng xử, một nghi lễ, nên họ đã làm những lễ tế, lễ cúng cho ông trời, ông thần linh đó. Trong những bộ tộc thời sơ khai, tùy theo mức độ dã man nhiều hay ít của bộ tộc mà người ta giết những con thú săn được, hoặc giết người để tế lễ. Mà khi có một lý thuyết được người ta sùng bái, có một nghi thức để hành lễ, có nhiều người tin theo thì tôn giáo hình thành.
Hiện tượng siêu nhiên
Đứng trên quan điểm khoa học, người ta cho rằng thần lửa, thần sấm sét là mê tín. Nhưng ngày xưa, khi con người cần một sự giải thích về những điều họ chưa biết về nhân sinh và vũ trụ thì không có cách nào khác hơn là lấy lý thuyết về thần linh làm câu trả lời. Người xưa ngoài sùng bái thần linh, còn tin vào những hiện tượng siêu nhiên. Siêu nhiên là một mặt của tôn giáo. Siêu nhiên là gì? Là hiện tượng vượt ra ngoài tự nhiên, không thể giải thích bằng các quy luật tự nhiên. Điều này khoa học khó chấp nhận, chưa chấp nhận.
Ví dụ những hiện tượng tiên tri, một người tự nhiên có trực giác mạnh, biết trước chuyện vị lai sắp xảy ra, hoặc nhìn một người mà đoán được những bí ẩn của họ... mà bây giờ ta gọi là những hiện tượng siêu nhiên. Nhưng thời xưa ít nghe nói, vì lúc đó thông tin chưa phát triển, không có báo chí, không có đài phát thanh, không có người phỏng vấn điều tra nghiên cứu để đưa lên đài, lên báo, nên mình nghĩ rằng sao người xưa họ dễ tin như vậy. Không phải, chính vì họ tự thân kinh nghiệm, họ chứng kiến những hiện tượng dị thường đó nên dĩ nhiên họ tin theo lối giải thích: ngoài cõi đời này, ngoài thế giới vật chất này, vẫn còn những cõi đời khác, còn một thế giới tâm linh nào nữa và đó là điều hợp lý.
Hoặc là hiện tượng ma quỷ. Ma quỷ là sao? Chúng ta phải hiểu là thế này, đó là cuộc sống tồn tại sau khi chết. Như mình có người thân qua đời, ít bữa thấy họ cứ luẩn quẩn ở trong nhà. Có khi mơ thấy họ về ngồi lặng lẽ ở một góc nhà, dặn chuyện này, chuyện nọ... Vì nhiều hiện tượng như vậy xảy ra, nên người ta tin rằng con người có một linh hồn chứ không chỉ là thể xác không.
Có những bộ tộc người ta còn khai thác cả hiện tượng ma nữa, tức là họ dùng phương pháp nào đó để luyện thành một loại ma xó giữ nhà. Nhiều người kể rằng khi có việc phải đi vào buôn làng của người dân tộc, gặp lúc khát nước nên họ đã vào nhà xin chủ nhà một ít nước uống. Nhà trống không nhưng họ nghe tiếng nói: “Nước để ở chỗ kia, cứ uống”. Sau khi uống nước, họ nhìn quanh quất, thậm chí đi tìm cũng không thấy ai. Có người thử hái bừa một trái bầu, khi hái rồi thì đứng yên tại chỗ, không thể bước thêm một bước nào được nữa, giống như đã bị ai giữ luôn ở đó vậy. Chúng ta không biết họ cúng và chú nguyện thế nào mà vong hồn đó ở luôn trong nhà để giữ nhà, có thể phát lên tiếng nói, có thể tác động vào người sống được, nghĩa là ai ăn cắp rồi không đi ra được nữa. Từ ngày xưa, họ biết khai thác các hiện tượng siêu nhiên nên họ có niềm tin rất vững chắc vào đó. Thế hệ này nối truyền thế hệ khác, cho đến ngày hôm nay, những hiện tượng này vẫn còn được khai thác, áp dụng vào trong cuộc sống của họ. Về sau, ở các cộng đồng rộng lớn hơn với nền văn minh vượt lên, niềm tin vào siêu nhiên và các phương pháp bí truyền đó dần bị mai một, lãng quên đi.
Ngay cả như hiện tượng bùa chú cũng vậy. Dĩ nhiên, đạo Phật không chấp nhận việc sử dụng bùa chú vì nó làm cho con người rời xa đạo đức của Luật Nhân Quả công bằng. Tuy nhiên, không ai có thể phủ nhận rằng bùa chú vẫn có sức mạnh đặc biệt: có thể vượt không gian để tác động vào vật lý, vào đầu óc, suy nghĩ, vào sức khỏe hay thậm chí cả sinh mạng của con người.
Ví dụ, có anh chàng thương một cô gái, vì tình cảm không được chấp nhận nên anh đã tìm đến cầu cứu ông thầy bùa. Sau khi làm phép, ông đưa cho anh ta một cái khăn, nói rằng anh hãy khoác cái khăn vào cổ của cô gái để cô ta xiêu lòng. Anh này làm đúng như vậy, quả nhiên cô gái liền bỏ nhà để theo anh ngay. Nhưng một thời gian sau, khi sức mạnh của bùa chú đã hết thì cô liền bỏ anh ta đi mà trong lòng nuôi sự hận thù dữ dội và căm ghét cực độ không giải thích được, ghét như để bù lại thời gian cô đã thương anh kia một cách vô lý. Bùa chú đã tác động vào tình cảm của con người như thế.
Hoặc trong cộng đồng của người dân tộc ít người thường có những thầy thư, thầy ếm. Khi ghét ai, họ thường viết tên người đó vào hình nhân đã được vẽ sẵn; sau đó chú nguyện lầm bầm, nguyền rủa, dùng dao đâm vào các vị trí ở phần đầu, tay chân, trái tim của hình nhân. Thế là người bị nguyền rủa lâm bệnh, đau đớn trong cơ thể dù ở rất xa ông thầy ếm. Bùa chú đã vượt không gian để tác động vào sức khỏe của con người là như vậy.
Trong bộ tộc xưa còn có một hạng người được gọi là phù thủy. Đó không phải là một mụ già ác độc cưỡi trên cái chổi bay đi nơi này nơi kia như người ta vẫn tưởng và có ác cảm. Ngày xưa ai được phong là phù thủy là vinh quang lắm, ai trong bộ tộc thấy phù thủy cũng đều cúi lạy. Người phù thủy có trực giác bẩm sinh kỳ lạ, nói đâu trúng đó, chuyện gì cũng biết, nên người trong bộ tộc có chuyện gì thắc mắc cũng tới gặp phù thủy: “Thưa bà, con trâu nhà con đi lạc, xin bà chỉ giùm”. Phù thủy lầm bầm trong miệng, rồi nói: “Con trâu đang chạy theo hướng đó, chạy về hướng đó mau bắt nó về”. Và mọi việc diễn ra đúng như vậy. Nên buộc lòng người ta phải tin rõ ràng là có một thế giới tâm linh tồn tại song song với thế giới vật chất này. Niềm tin đó là một trong những yếu tố thúc đẩy sự hình thành của tôn giáo. Bên cạnh đó, ngoài việc tin rằng thế giới thần linh là có thật thì người thời xưa còn rất tin vào những người đặc biệt làm trung gian giữa con người và Thần Thánh như thầy bùa, thầy phù thủy, thầy thư, thầy ếm. Chính ý niệm đó đã thúc đẩy sự hình thành của giai cấp tăng lữ trong tôn giáo.
Ngoài ra, còn có hiện tượng đồng bóng. Đó là hiện tượng thân của người này bị linh hồn của người khác nhập vào, chiếm giữ, tiếp xúc với con người. Nghĩa là, có linh hồn nào đó muốn nói chuyện với loài người, vì không nói được nên họ đã nhập vào thân xác một người nào đó để tiếp xúc, nói chuyện, và người ta kiểm chứng thấy không sai.
Ví dụ, người con gái bị hồn người cha nhập vào. Thì lúc người cha nhập vào, ổng cũng hút thuốc phì phèo, nói giọng ồ ề như giọng người đàn ông và nói những chuyện mà chỉ có người cha ngày xưa mới biết, chớ con gái còn nhỏ không thể biết được. Vô số những điều như thế xảy ra khiến người ta tin là có linh hồn.
Linh hồn trong đạo Phật gọi là gì? Là thần thức. Trong tiếng Pali của Ấn Độ, chữ At-man vừa có nghĩa là bản ngã vừa có nghĩa là linh hồn. Nếu dịch là bản ngã thì phải hiểu rằng không thật sự có một bản ngã vĩnh hằng, điều này đạo Phật trước sau không chấp nhận. Nhưng nếu nói rằng có một linh hồn tạm bợ thì có thật. Nghĩa là kiếp này con người có hình hài này, gương mặt này thì khi chết còn có linh hồn đi theo, tùy theo phước đức của mỗi người mà linh hồn sẽ đẹp hơn hay xấu hơn so với lúc sống. Với người đã gây tạo nhiều nghiệp bất thiện, linh hồn có gương mặt xấu đi, thậm chí ghê rợn nếu bị đọa ở những cõi giới thấp. Đối với những người gieo trồng nhiều thiện nghiệp và được về cõi giới an lành, linh hồn mang gương mặt quang minh, xinh đẹp hơn rất nhiều. Nên gương mặt thì không đổi nhưng mức độ đẹp xấu thì thay đổi, tăng giảm khác nhau khi người ta lọt vào thế giới của cái chết, của thế giới siêu nhiên tâm linh. Chỉ khi nào con người đầu thai qua kiếp khác thì linh hồn đó mới mất, rồi bắt đầu xuất hiện một linh hồn khác, nghĩa là linh hồn có hình hài, gương mặt giống với cái xác mới.
Cho nên, theo quan điểm của đạo Phật thì linh hồn tạm bợ là có, mà bản ngã vĩnh hằng thì không thật có. Chính chỗ này mà Phật giáo Nguyên Thủy bị lúng túng. Phật giáo Nam Tông chỉ dùng một chữ Át-man cho bản ngã, không chấp nhận có linh hồn sau khi chết, không tin có thần thức hay thân trung ấm sau khi chết, do vậy, không giải thích được nhiều hiện tượng siêu nhiên sau khi con người mất đi. Phật giáo Bắc Tông tránh dùng chữ linh hồn (dịch từ chữ Át-man), mà gọi là thần thức hay thân trung ấm. Còn dân gian gọi đơn giản là linh hồn.
Vì đã chứng kiến quá nhiều hiện tượng siêu nhiên nên người ta tin có một thế giới của thần linh, ma quỷ, tuy không thấy mặt nhưng chi phối thế giới của con người rất mạnh mẽ. Đó là khởi điểm tạo thành tôn giáo. Khi lý thuyết được phát triển thì tín đồ càng đông, nghi thức lễ bái càng nhiều, các tôn giáo càng hình thành rõ nét hơn. Mỗi tôn giáo đặt tên cho vị thần của mình mỗi tên khác nhau. Trong Kinh Cựu Ước của Do Thái giáo có thần Giêhôva, Rahô... Hồi giáo tin vào thánh Allah, người Hy Lạp xưa tin vào thần Zeus, Ấn Độ giáo thờ thần Vishnou và nhiều vị thần khác... Nghĩa là theo thời gian, càng về sau thì càng nhiều vị thần xuất hiện, rồi từ từ cũng nhiều vị thần mất đi, không ai nhắc tới nữa. Quy luật vô thường là vậy.
ĐẠO VÀ TÔN GIÁO
Tôn giáo, ngày xưa gọi là đạo. Đạo nghĩa là gì? Là con đường. Mà tại sao lại gọi là con đường? Bởi vì, đó là phương pháp dạy con người ta sống giữa cuộc đời đầy rối rắm phức tạp này. Đạo hay tôn giáo còn có tính cách giáo dục nên chữ đạo còn tồn tại đến ngày nay.
Hồi xưa không có từ tôn giáo, từ tôn giáo tín ngưỡng là do thời bây giờ đặt ra, nhưng mà ngày xưa người ta đã gọi đó là đạo, là con đường, là phương pháp để dạy cho con người, vì sao vậy? Vì lúc đó đạo có vị trí như khoa học ngày hôm nay. Cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, con người ngày nay dần dần không công nhận tôn giáo là con đường, là phương pháp giáo dục cần thiết nữa nên người ta thường dùng từ “tôn giáo” hay “tín ngưỡng” để thay thế cho “đạo”. Giá trị của người tu sĩ, sự trọng vọng dành cho họ cũng vì thế mà giảm dần. Nhưng với người xưa, nơi mà người ta phải dựa vào để học hỏi cách sống trong cuộc đời là tôn giáo, vì thế những vị tu sĩ hay tăng lữ đóng vai trò như một vị thầy giáo. Vào thời đó vị trí của người tu sĩ là rất thiêng liêng, bởi họ làm được hai điều mà người bình thường rất khó làm nổi.
Điều khó thứ nhất là các tu sĩ phải có năng lực tâm linh rất mạnh, có thể sai khiến quỷ thần, chữa được bệnh, biết được quá khứ vị lai như một vị Thánh sống giữa cuộc đời. Không phải dễ dàng tìm ra người tu sĩ như vậy, vì thế khi gặp vị đó người ta có thể quỳ phục mà lạy lục.
Điều khó thứ hai là tu sĩ phải sống cuộc đời độc thân. Con người thường có khuynh hướng phải thương yêu rồi lập gia đình với nhau, vì thế những người có thể sống đời độc thân để làm công việc của đạo, hướng dẫn về tâm linh cho mọi người được cộng đồng rất kính trọng.
Ở trên chúng ta đã nói tôn giáo có khởi nguyên là sự giải thích cho con người về mọi điều trong cuộc đời, vũ trụ này. Nhưng dù giải thích những chuyện xa xôi, huyền bí đến đâu thì cuối cùng vẫn phải đi vào thực tế cuộc sống giữa con người với nhau. Không ai có đủ kiên nhẫn để nghe những chuyện trăng sao mây gió xa xôi mãi được, ai rồi cũng phải nảy sinh những thắc mắc, cũng cần phải được nói về những chuyện rất thực tế của con người.
Vậy chuyện gì là chuyện của con người?
Đạo - Tôn giáo bắt đầu bằng việc giáo dục con người. Ví dụ, một phù thủy hay một tù trưởng, một phù thủy hay một tu sĩ ngồi trước cộng đồng vào một đêm trăng sáng, nhảy múa cúng tế; rồi vị này mới dạy dân làng niềm tin là trời đã cho trúng mùa, hoặc dân làng nhờ vị này cầu nguyện trời cho trúng mùa, cho săn được nhiều thú để lấy thịt ăn, lấy da làm lều... cái gì cũng cầu xin, cái gì cũng trời cho, chỉ tin vào trời. Nhưng một lát bắt đầu có người hỏi: cái khố của con treo ở cành cây bị người nào lấy mất rồi. Thế là phù thủy, tù trưởng phải giải quyết. Vị này lầm rầm một lát rồi chỉ đứa lấy trộm, đập nó mấy roi và dạy ăn trộm là xấu, là có tội, phải chừa. Không gian tham, không ăn cắp là một tâm lý thuộc về đạo đức.
Hoặc hai người đánh nhau tranh giành một cái gì đó, rồi có người chạy kêu tù trưởng hoặc phù thủy tới giải quyết. Phân xử xong, các vị mới giảng giải đánh nhau thì bị trời phạt nên phải nhịn nhau, phải ăn ở hiền lành, người này nói người kia nhịn một tiếng. Chữ nhịn đó là gì? Bây giờ ta gọi là nhẫn nhục, cũng là một tâm lý thuộc về đạo đức.
Từ đó những nguyên tắc đạo đức hình thành.
Những nguyên tắc đạo đức hình thành từ cuộc sống rồi trở thành nguyên tắc của tôn giáo. Đó chính là giáo lý, giáo điều, giới luật của tôn giáo về sau này. Ví dụ, Ki tô giáo có mười điều răn; Phật giáo có năm giới cấm. Nhờ tôn giáo mà người ta sống hiền lành, hòa thuận với nhau. Cộng đồng được yên ổn do giữ giới luật. Do đó, tôn giáo có một vị trí rất quan trọng đối với con người, đối với xã hội. Vì thế, chúng ta đừng nghĩ có học cao hiểu rộng, có kiến thức khoa học mà cho tôn giáo là mê tín, lạc hậu, lỗi thời, là những gì cản trở sự tiến bộ của loài người.
Chúng ta không nên phê bình tôn giáo với ác ý vì như thế là bất công. Trở lại thời xưa, nếu không có tôn giáo thì con người không có một chỗ dựa để sống một cách an tâm trước sức mạnh của tự nhiên, thiên nhiên. Ngay cả thời đại ngày nay, tôn giáo không thể không có trong đời sống con người? Ví dụ chúng ta chưa biết đạo Phật chúng ta cảm thấy bất an ngay, rồi chúng ta đi tìm một chỗ dựa, chỗ dựa đó có thể là một nơi vui chơi vô bổ và đi vào con đường lầm lạc. Nhưng rất may, chúng ta có đạo Phật, tức là có chân lý. Một bộ phận lớp trẻ thấy cha mẹ mình đi chùa, tuy không nói ra nhưng trong lòng nghĩ ông bà, cha mẹ mình mê tín, lạc hậu. Nghĩ vậy là vội vàng và nông cạn lắm!
Thời xưa, đạo thật sự là chỗ dựa cho con người vì ngoài những điều giải thích về thần linh, về hiện tượng siêu nhiên mà ngày nay có những điểm người ta không chấp nhận, thì đạo đã đưa ra những nguyên tắc để con người sống trong cộng đồng với nhau là rất cần thiết. Lúc đó, hệ thống chính trị chưa hình thành, con người sống dựa vào tôn giáo (dựa vào tù trưởng, phù thủy, tu sĩ). Sau này có hành chính gọi là hành chính thế tục. Hành chính thế tục tách rời khỏi tôn giáo nhưng người cai trị vẫn dựa vào tôn giáo. Nghĩa là vẫn có tù trưởng hay phù thủy làm cố vấn cho ông quan cai trị xứ đó, vẫn có tu sĩ làm cố vấn về đạo đức... Đó là một sự tiến bộ của xã hội.
Đạo lúc đó giải thích mọi hiện tượng, chỉ khác là giải thích không chuẩn xác như khoa học ngày nay. Bằng kiến thức khoa học, ngày nay ai cũng có thể giải thích hiện tượng mưa là do hơi nước gặp lạnh đọng lại thành nước, rơi xuống thành mưa... Nhưng vẫn không giải thích tới tận cùng nguyên nhân của mọi sự việc, hiện tượng. Tại sao chỗ này mưa nhiều thành lụt lội mà chỗ khác lại hạn hán, mất mùa, đói kém. Tất cả nằm ngoài sự kiểm soát của con người. Nghĩa là phía sau những điều khoa học giải thích vẫn còn những điều bí ẩn hiện nay con người chưa hiểu hết. Chúng ta đừng vội cho rằng mọi điều khoa học giải thích hôm nay là ổn thỏa mà vẫn còn có cái bí ẩn chi phối phía sau. Đó là gì? Là nhân quả, vẫn còn cái quy luật, cái sức mạnh của Luật Nhân Quả Nghiệp Báo chi phối những hiện tượng tự nhiên.
Thời xưa, con người “đặt ra” giả thuyết thần linh để giải quyết cuộc sống là mức tiến bộ thứ nhất. Mức tiến bộ thứ hai là con người đã có khoa học giải thích rất hợp lý những hiện tượng tự nhiên, gạt bỏ được cái lý thuyết thứ nhất. Chưa hết, vẫn còn có mức tiến bộ tiếp theo, nghĩa là ngoài sự giải thích của khoa học còn có lời giải thích khác mà chúng ta hy vọng vào những thế kỷ tới, con người sẽ tìm ra câu trả lời rất xác đáng.
Nhìn chung, lý thuyết của mỗi tôn giáo do vị giáo chủ ban đầu hay vị tiên tri ban đầu đưa ra. Những vị đó đưa ra những lời giải thích thuyết phục được nhiều người chấp nhận, tin theo. Từ đó, tôn giáo hay giáo phái ra đời. Như Do thái giáo, kinh Cựu ước do vị tiên tri ban đầu nói ra, rồi vị đó qua đời. Vài trăm năm sau, vị tiên tri khác nói thêm làm cho lý thuyết về tôn giáo đó nhiều lên. Trong đạo Phật cũng vậy, lúc đầu Đức Phật Thích Ca ban cho chúng ta triết lý căn bản, về sau nhiều vị Thiền sư đắc đạo, nhiều vị Thánh nối tiếp phát triển đạo Phật qua các lý luận mới rất độc đáo, sáng tạo. Những giả thuyết đúng, những lý thuyết đúng thì làm cho loài người tiến bộ. Tuy nhiên, cũng có những lý thuyết sai lầm đưa con người đến mê tín, cuồng tín, mất đạo đức.
Ví dụ, bộ tộc nào đó cho rằng có một thần linh gìn giữ mùa màng cho bộ tộc đó được tươi tốt, thần linh vui sẽ làm cho mưa thuận gió hòa và bộ tộc đó sống ấm no. Còn thần linh nổi giận sẽ làm cho mất mùa. Để cho thần linh vui, không nổi giận, mỗi năm bộ tộc đó phải dâng một cô gái đẹp. Hằng năm bộ tộc đó thả bè trôi sông hoặc hỏa thiêu một cô gái đẹp, linh hồn cô gái bay lên cho thần cưới làm vợ. Đó là giả thuyết có thật và không ít tôn giáo ngày xưa đã cúng thần linh theo phương pháp nói trên. Mà như thế thì người ta không cần phải sống tốt với nhau. Để được may mắn, thuận lợi trong cuộc sống, họ chỉ nghĩ đến việc làm đẹp lòng thần linh. Vì muốn thần linh được đẹp lòng, họ đã làm những điều rất xấu, rất ác độc đối với đồng loại.
Và nếu xem việc giết người tế thần là bình thường, là cần thiết thì trong cuộc sống này người ta sẽ đối xử với nhau như thế nào? Có thể tàn sát không thương tiếc. Đây là nguyên nhân những bộ tộc có tục lệ giết người để tế thần rất hiếu chiến, họ thường cầm giáo mác để đi đến các bộ tộc khác giết người, cướp trâu bò, bắt đàn bà, con gái đem về bộ tộc mình. Còn bộ tộc nào may mắn có những vị tù trưởng hay phù thủy có đạo đức, khuyên răn con người sống tốt với nhau sẽ được trời thương thì bộ tộc đó sống với nhau ấm êm, hạnh phúc. Những điều này tuy là giả thuyết ban đầu nhưng nếu đúng với chân lý, với lẽ phải, sẽ làm cho con người tiến bộ trong đạo đức, trong êm ấm, hiền lành.
Tôn giáo nào, lý thuyết nào chỉ dựa vào thần linh, chỉ cầu xin, chiều chuộng thần linh, lấy lòng thần linh để được nhận ân sủng thì tôn giáo đó không có đạo đức sâu. Ngược lại, những giả thuyết, lý thuyết đúng làm cho con người có chánh tín và có đạo đức, sẽ mang lại cho con người cuộc sống hạnh phúc, góp phần vào sự phát triển xã hội.
Riêng trong đạo Phật thì lý thuyết ban đầu dựa trên nền tảng gì? Nhân quả. Chính nhờ nhân quả mà đạo Phật thật sự đem đến cho con người đạo đức và sự tiến bộ. Chúng ta thấy rằng: nếu giả thuyết sai lầm thì đưa con người đến mê tín và mất đạo đức. Ngược lại, một giả thuyết đúng làm cho con người ta có chánh tín và có đạo đức. Tuy nhiên, giả thuyết là những điều suy tưởng chưa được kiểm chứng. Còn luật Nhân Quả là điều Đức Phật chứng kiến rõ ràng trong thiền định. Nghĩa là khi đắc đạo, trong thiền định Ngài nhớ được vô lượng kiếp của mình và thấy được vô lượng kiếp của tất cả mọi người, thấy rõ ràng mọi chuyện diễn biến theo nhân quả. Một người đã sống tốt như thế nào thì xuất hiện một niềm hạnh phúc như thế. Luôn luôn có sự bù đắp rất công bằng trong vũ trụ này. Từ những chứng nghiệm rõ ràng, Đức Phật đã nói về giáo lý nhân quả: Đó không phải là giả thuyết, đó là một sự thật, một chân lý tồn tại khách quan. Luật Nhân Quả nằm trong sâu thẳm của con người thì gọi là lương tâm, trùm phủ chi phối tất cả sự việc của con người thì gọi là báo ứng. Tận trong thâm tâm chúng ta ai cũng đồng ý rằng người có công đáng được thưởng, kẻ có tội đáng bị trừng phạt. Chính lương tâm con người đã là luật Nhân Quả. May mắn cho những người đệ tử Phật đã có được giáo lý nhân quả, tin luật Nhân Quả để tìm một giá trị đạo đức chân chính. Nhờ đạo đức mà chúng ta sống hạnh phúc. Chính nhờ đạo đức này, hạnh phúc này mà chúng ta góp phần vào sự tiến bộ của cả loài người.
SỰ HÌNH THÀNH TÔN GIÁO - KINH ĐIỂN CỦA TÔN GIÁO
Từ những tín ngưỡng đơn giản của các bộ tộc, theo thời gian phát triển thành những hệ thống lý thuyết. Lúc đó, những cộng đồng bộ tộc cũng phát triển thành những quốc gia lớn và tôn giáo thật sự thành hình, còn trước đó chỉ gọi là tín ngưỡng của các bộ tộc. Từ những tín ngưỡng có lý thuyết, mà lý thuyết đó được lưu trữ thì gọi là kinh điển.
Có hai cách để lưu trữ: Viết lại và Truyền miệng.
Hệ thống triết lý ban đầu của tôn giáo được lưu trữ bằng cách truyền miệng hay viết lại thành Kinh. Ví dụ, đạo Phật có một thời gian dài năm, sáu trăm năm là truyền miệng từ Đức Phật. Lời Phật dạy được Ngài A Nan đọc lại cho các vị khác chứng minh. Khi xác định đúng rồi, các vị nhớ và bắt đầu dạy cho đệ tử theo kiểu thuộc lòng. Mấy trăm năm sau mới có người ghi vào lá bối bằng chữ viết, kết tập thành kinh điển. Các tôn giáo khác cũng vậy.
Chúng ta thấy ban đầu là những bộ tộc, phát triển thành cộng đồng xã hội lớn mà ta gọi là quốc gia hay vương quốc, tiểu quốc, đế quốc thì hệ thống lý thuyết, tín ngưỡng đi song hành với xã hội đó trở thành tôn giáo thực sự. Ngày nay, có một vài tôn giáo tiêu biểu với lượng tín đồ lớn trên thế giới.
Đạo Khổng
Vào khoảng một vài trăm năm trước, chỗ đứng của Nho giáo rất vững vàng ở Á Đông. Từ Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam đều xem triết lý của Khổng Tử là nền tảng bắt buộc khi đi học, đi thi. Muốn làm quan là phải giỏi đạo Nho nên Khổng Giáo ảnh hưởng đến xã hội rất lớn. Trong hệ thống lý thuyết thì có Tứ Thư Ngũ Kinh dạy những điều nhân nghĩa và dạy cư xử giữa con người với con người làm cho xã hội ổn định nề nếp. Trong khi châu Âu nghiên cứu kỹ thuật thì người Á Đông đi tìm từng câu chữ trong Nho giáo nên xã hội chậm phát triển. Sau này do đạo Nho củng cố quyền hành của Vua mà bây giờ qua xã hội dân chủ, người ta không còn chấp nhận chế độ quân chủ, nên cả hệ thống triết lý của Nho Giáo bị tấn công, bị xóa bỏ không còn áp dụng nữa. Tuy nhiên, bây giờ người ta bắt đầu “bình tĩnh” nhìn lại những lời dạy của Khổng Tử là có giá trị đạo đức, có giá trị cho cuộc sống. Hiện nay, ở Trung Hoa đang có dấu hiệu khôi phục lại đạo lý của Nho giáo. Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ, Việt Nam cũng làm như vậy. Đó là dấu hiệu tốt bởi cái gì hay cần phải được công nhận và giữ lại.
Ấn Độ giáo (đạo Hin đu)
Ấn Độ giáo có một hệ thống lý thuyết lớn là kinh điển Vệ Đà. Kinh điển Vệ Đà vừa giải thích về nhân sinh, vũ trụ, các tầng trời, các vị thần linh, vừa dạy các nghi thức cúng tế, dạy con người cách cư xử để sống tốt với nhau. Kinh Vệ Đà viết bằng chữ Sanskrit chỉ có giai cấp Bà La Môn hoặc giáo sĩ mới đọc được. Tư tưởng Ấn Độ bắt đầu từ bộ Kinh Vệ Đà. Từ bộ Kinh Vệ Đà hình thành Bà La Môn giáo, rồi phát sinh ra Ấn Độ giáo cũng là một tôn giáo lớn hiện nay.
Do Thái giáo – Ki Tô giáo
Từ một cộng đồng rất nhỏ của người Do Thái, nhưng họ đã lưu trữ được hệ thống lý thuyết về tín ngưỡng bằng chữ viết, nên đạo Do Thái hình thành, tồn tại và phát triển. Đầu tiên họ kể chuyện lập quốc Do Thái do ông Moise dẫn đồng bào đi tìm chỗ để thành lập quê hương, rồi những lời tiên tri nói về thần linh, về cõi trời... Nhiều câu chuyện cứ tiếp nối thành những bản văn rời rạc rồi hình thành nên bộ Kinh Cựu Ước, và hướng dẫn đời sống tinh thần cho người Do Thái qua mấy ngàn năm cho đến khi chúa Giê su xuất hiện và Ki tô giáo (đạo Thiên chúa) ra đời với Kinh Tân Ước.
Chúa Giê su xuất hiện vào khoảng đầu Công nguyên. Giáo lý của chúa Giê su có vẻ như dựa vào Cựu Ước nhưng thật ra Ngài đã cải cách gần như toàn bộ giáo lý đó. Từ một quan điểm cố chấp của Cựu Ước, chúa Giê su đã biến thành một quan điểm bao dung và ôn hòa hơn. Từ một giáo lý thuần túy niềm tin, đã biến thành một giáo lý có lý trí và thăng hoa về tâm linh hơn. Những lời dạy của đức Giê su được tập hợp trong Kinh Phúc Âm. Sau này, Tòa thánh Vatican đã lấy cả Kinh Cựu Ước và Kinh Tân Ước làm thành hệ thống kinh điển chung của họ, tạo thành một tôn giáo thật kỳ lạ, vừa nhân bản lại vừa khắt khe, vừa lý trí lại vừa cảm tính. Nếu họ chỉ lấy Tân Ước của chúa Giê su thôi thì đạo Ki Tô rất tiến bộ, nhất là Phúc Âm thì rất tuyệt vời, vì những lời dạy đạo đức của Chúa rất hay, đó là một sự cải cách.
Hồi giáo
Khoảng năm trăm năm sau chúa Giê su, lại có một nhân vật xuất hiện tại Ả Rập, đó là Mahomet. Tự nhận mình là vị tiên tri cuối cùng, ông dựa vào Cựu Ước và Tân Ước lập nên Hồi giáo, thờ thượng đế gọi là Thánh Allah. Kinh điển thì có Kinh Coran do ông Mahomet được gọi là nhà tiên tri chép lại lời của Thánh Allah.
Mahomet quá mạnh mẽ và quyết liệt phát triển Hồi giáo bằng chiến tranh và ảnh hưởng vẫn tồn tại đến ngày nay, tạo ra những phần tử, những phong trào Hồi giáo cực đoan. Nhưng cũng có một số nhà Hồi giáo đang cải cách đường lối của đạo để giảm bớt đi tính cực đoan.
Phật giáo
Đạo Phật ra đời cách đây hơn hai ngàn sáu trăm năm. Hệ thống kinh điển của đạo Phật gồm Tam tạng kinh của Nguyên thủy, những tạng kinh lớn của Đại thừa và vô số những luận bản của các vị đời sau Phật Thích Ca. Hệ thống kinh điển này lớn gấp bội lần so với kinh điển của các tôn giáo khác. Vì sao vậy? Vì đạo Phật là đạo trí tuệ nên những người tu theo Phật, khi tâm họ đã định, họ sống với chân lý rồi thì trí tuệ trào dâng, mọi điều trong cuộc sống họ đều nói thành đạo lý được hết. Đó là lý do mà các luận bản trong đạo Phật cứ xuất hiện mãi. Tuy một số luận bản đã dần mai một vì không ai đọc, nhưng cũng có một số được xếp vào trong Tạng và trở thành kinh điển thiêng liêng mà người đời sau vẫn phải tham khảo.
Luật Nhân Quả là nền tảng giáo lý của đạo Phật. Qua đó, Phật giáo thật sự đem đến cho con người đạo đức và sự tiến bộ. Sở dĩ giáo lý nhân quả nghiệp báo chưa lan mạnh khắp thế giới là do thái độ của người Phật tử chưa mạnh mẽ đưa Phật Pháp đến với mọi người. Đó là lỗi của chúng ta. Chúng ta chỉ tu cho mình mà chưa chú ý, chưa quan tâm đến xã hội đã biết Phật Pháp nhiều chưa. Một thời gian rất dài, cả mấy ngàn năm, chúng ta hời hợt, thờ ơ. Bây giờ, mỗi chúng ta phải là một sứ giả đem đạo đức nhân quả đến với những người chưa hiểu giáo lý này.
Thường thì các tôn giáo đều có một số tiêu chuẩn đạo đức nào đó. Dĩ nhiên, nhiều tôn giáo có những quan điểm sai lầm nếu xét trên tổng thể, nhưng tìm hiểu sâu vào thì tôn giáo nào cũng có những điều tốt.
Ví dụ, ngày nay chúng ta nghe qua báo chí, truyền thông nói về những phần tử cực đoan, khủng bố, đặt bom ở những nơi dân cư đông đúc. Họ muốn hù dọa, hăm dọa cái xã hội đó, tầng lớp nào đó khiến người dân vô tội bị giết lây, nên những phần tử cực đoan đã làm cho người ta thấy đạo của họ là không đúng. Nhất là trong thời đại văn minh này mà con người lại có những hành động cực đoan như vậy là thiếu đạo đức. Nhưng nếu chúng ta tìm hiểu thêm thì thấy đạo của họ cũng có những điểm tốt: họ khuyên tín đồ sống tương trợ lẫn nhau, giúp đỡ người nghèo, cấm tín đồ uống rượu, phụ nữ phải trung trinh tiết hạnh, đàn ông phải có trách nhiệm với gia đình. Chính vì những điểm tốt như thế mà người ta tin được, người ta dựa vào để sống và làm cho xã hội ổn định nên tôn giáo đó vẫn tồn tại.
Tuy nhiên, nếu so sánh một cách khách quan, chúng ta phải công nhận rằng chỉ có đạo Phật là có hệ thống đạo đức hoàn hảo nhất mà không tôn giáo nào sánh bằng. Có nhiều người gốc từ một đạo khác, nhưng khi tìm hiểu đạo Phật, thấy mênh mông những điều vi diệu đã trở thành đệ tử Phật. Đức Phật là một Đấng Giác Ngộ, Ngài đã có trí tuệ tuyệt đối, thấy được mọi chân lý lẽ phải trong vũ trụ, nên hệ thống giáo lý mà ngài đưa ra quá hoàn chỉnh, khiến cho một nhà bác học cực kì nổi tiếng là Albert Einstein, dù sống trong một xứ sở của Ki tô giáo vẫn mạnh dạn tuyên bố rằng: “Trong tương lai nếu có một tôn giáo tồn tại được thì tôn giáo đó phải vừa có tính tâm linh vừa có tính khoa học. Tôn giáo đó phải lãnh đạo được loài người đi đến một nền ánh sáng văn minh mới. Tôn giáo đó phải dẫn dắt loài người đi đến chỗ hòa bình, đoàn kết với nhau”. Và ông kết luận chỉ có đạo Phật mới có thể làm được điều này. Câu nói của Albert Einstein đã gây chấn động, lan rộng toàn thế giới. Rất nhiều nhà trí thức, nhà khoa học đã đặt niềm tin nơi Albert Einstein rồi bắt đầu tìm đến đạo Phật và kết quả là họ đã hoàn toàn bị thuyết phục.
Tuy vậy, chúng ta phải nhìn nhận rằng đạo đức trong đạo Phật chưa được áp dụng thực hành đầy đủ, có khi còn bị bỏ quên, nên có những người theo đạo Phật kể cả những vị xuất gia lẫn tại gia nhiều khi hành xử còn bị thiếu sót, khiếm khuyết về đạo đức.
Chúng ta nói đạo Phật là đạo của Từ, Bi, Hỷ, Xả nhưng nếu người đệ tử chưa bao giờ quỳ trước bàn Phật hay ngồi lặng lẽ kiết già quán trải tâm từ bi đến tất cả chúng sanh thì không bao giờ có tâm từ bi thật sự trong lòng. Chúng ta không đòi hỏi đạo đức quá sâu là phải chứng Thánh mới đạt được, nhưng trên một số căn bản đạo đức như vị tha, yêu thương thì phải có, nếu không sẽ đi ngược lại điều Phật dạy.
Do đó, trước giá trị quá hoàn hảo, quá siêu việt của đạo Phật, chúng ta phải ráng thực hành tu tập, ứng dụng những giá trị đạo đức đó trong cuộc sống, vừa lợi mình lợi người để xã hội được ổn định và tiến bộ.
NHỮNG HÌNH THỨC LỄ NGHI TÔN GIÁO
Những hình thức tôn giáo hình thành từ đơn giản đến phức tạp. Từ tín ngưỡng sơ sài của các bộ tộc là tin trời, tin các vị thần, tin vào những giao tiếp với người thân đã mất dẫn đến niềm tin ban đầu. Sau đó mới tiến lên những nghi thức, lễ nghi tôn giáo.
Thời xa xưa, con người chưa biết trồng trọt, chăn nuôi, phải vào rừng săn bắn, kiếm thịt. Việc giết hại xem là việc thường ngày phải làm nên giết bò, giết trâu để tế thần là chuyện bình thường, hoặc có khi giết con người để tế thần, làm vui lòng thần linh họ cũng không áy náy trong lòng. Tín ngưỡng như vậy đã nuôi sự dã man ở con người, và phải chăng đó cũng là lý do thế giới cứ xảy ra chiến tranh liên miên? Con người đã sát sinh nhiều quá do khởi đầu từ tín ngưỡng sai lầm. Rồi có một số tôn giáo rất lạ, họ thờ những cái rất tầm thường thấp hèn,... hoặc chiêu dụ tín đồ, cho rằng hành lạc với giáo chủ là vinh hạnh, là nghi thức thiêng liêng được trên trời soi sáng. Tuy nhiên, tâm lý chung của con người chỉ tôn thờ những điều gì mình tôn kính, những gì cao siêu thanh khiết, nên hầu hết các tôn giáo trên thế giới đều có nhiều hình thức nghi lễ rất trang nghiêm, thể hiện niềm tin của tín đồ đối với những đấng cao cả thiêng liêng.
NIỀM TIN CỦA TÍN ĐỒ
Chúng ta cần phân biệt ba thái độ của tôn giáo: mê tín, cuồng tín và chánh tín.
Mê tín là gì?
Mê là mê muội, tín là tin. Mê tín là tin vào một giáo điều sai lầm. Tin một cách sai lầm dẫn đến việc làm vô ích, nhân cách sa sút, làm cản trở tiến bộ của xã hội và chống lại khoa học. Đây là sự kém may mắn của người tín đồ, chứ ai vào đạo cũng muốn tìm chân lý đúng nhất. Nhưng do nhân duyên gì đó ở kiếp xưa, nên lúc gặp ông thầy nói những điều không đáng tin, nhưng tự nhiên thương quá rồi cứ tin, mà khi tin như vậy thì sẽ làm nhiều chuyện vô ích, có hại cho mình và nhiều người. Ví dụ, họ tin là người thân ở cõi âm bị thiếu quần áo, tiền bạc, xe Honda, nên họ mua những thứ này bằng giấy, đem đốt để gửi xuống cho vong linh dưới đó sử dụng.
Thật ra, linh hồn di chuyển bằng ý nghĩ. Họ nghĩ đến đâu là lướt đến đó chứ không cần đi bằng xe. Không biết sao người ta truyền bá sự mê tín này quá mạnh nên rất nhiều người tin theo. Trong các phim Hồng Kông,... ta thấy họ đem quần áo giấy, tiền giấy đốt liên tục bên cạnh mộ, họ nghĩ như vậy là tặng tiền, quần áo, vải vóc cho người chết. Đó là niềm tin sai lầm. Hoặc có tín đồ một số tôn giáo giết bò, dê lấy máu cúng tế, sau đó xẻ thịt ăn... Tức là người ta chỉ lo làm đẹp lòng thần thánh, làm vui lòng người chết bằng bất cứ hành động nào mà không lo tu sửa đạo đức. Vì thế, người nào mê tín chắc chắn sẽ mất đạo đức.
Hiện nay, lại có ai đó đặt ra những lý thuyết giải thích nhiều chuyện rất lạ. Như hiện tượng thờ Địa Mẫu. Người ta lý luận rằng Địa Mẫu là Mẹ sinh ra Phật, vậy mà cũng có nhiều người tin theo. Thật là sai lầm. Hoặc có thầy “phán” rằng bệnh là do ông thần nào đó phạt nên phải lo cúng thần mà không lo chạy chữa bệnh. Tin như thế là không có tinh thần khoa học, là nhìn vấn đề không chính xác. Nếu nói trên tinh thần đạo Phật thì bệnh là do nghiệp nên nếu muốn bớt bệnh, ta phải cố gắng làm phước để bù lại cái tội mình đã gây trong quá khứ. Song song với việc làm phước, ta vẫn phải chữa trị một cách thực tế.
Vậy nguyên nhân mê tín là do đâu? Là vì có giáo chủ đặt ra điều hoang đường, rồi nhờ nói khéo, nói giỏi nên lôi kéo được nhiều người tin theo, nhưng chính ông ta lại không có trí tuệ đắc đạo. Đức Phật đã dạy không nên vội tin hay bác bỏ quan điểm nào, khi mà chưa tìm hiểu một cách thấu đáo. Nhưng con người ta dễ tin lắm, và cũng có nhiều người họ nói rất hấp dẫn, nghe họ nói là nhiều người mê liền.
Có lần chúng tôi gặp một gia đình nọ thấy có đứa con sắp đi thi đại học. Người cha sợ con thi rớt, đi tìm hỏi và được ông thầy đưa cho bản chú cầu nguyện cho con thi đậu, trong đó viết những chữ om, ba ra ba rô gì đó... (thật ngạc nhiên sao mà càng ngày càng có nhiều “chú” lạ quá!). Nghe ông thầy nói khéo thế nào đó nên người cha mới tin và đem câu chú về tụng, nhưng đứa con vẫn không đậu đại học.
Cho nên, ở đời có người nói những chuyện vô lý, nhưng họ nói xác quyết quá khiến rất nhiều người tin tưởng. Gặp người nào nói mạnh quá, xác quyết quá thì nên cẩn thận, nhất là trong làm ăn kinh tế. Có lần chúng tôi gặp một người, thuyết phục chúng tôi rằng, ông ta đã được ấn chứng của trời Phật, tu là phải đắc đạo, bàn tay ông ta để lên người bệnh là hết bệnh và có thể chữa bệnh từ xa... chúng tôi chỉ cười. Cách nói của ông ta quá mạnh mẽ làm cho rất nhiều người tin theo. Do đó, mê tín bắt đầu từ lối nói xác quyết, lối nói khéo, nói giỏi để che đậy mục đích xấu xa, những điều sai trái với sự thật. Biết được điều này, từ đây về sau chúng ta hãy cẩn thận, đừng vội tin lời một ai đó. Người nào có nhân cách tốt, nói năng nhẹ nhàng, trầm tĩnh, nhu hòa thì ta có thể xem xét, vì thường họ nói đúng lẽ phải, còn những người ăn nói hùng hổ, hay ca ngợi bản thân, hay khẳng định mạnh mẽ, nói như ép người ta tin theo... thì chúng ta nên cẩn thận. Người đó có thể nhấn ta chìm vào sự mê tín.
Cuồng tín
Cuồng tín là tin theo một cách mãnh liệt và mù quáng. Cuồng tín cực đoan là làm những chuyện quá khích, thái độ độc đoán, hiếu chiến, mù quáng không cần lắng nghe điều hay lẽ phải. Hễ ai nói khác với kinh điển hoặc chống lại tôn giáo của họ là bị tiêu diệt ngay. Họ quan niệm rằng: “Hãy chiến đấu theo đường hướng Thượng đế cho đến chừng nào chỉ có Thượng đế được thờ phượng”. Ai chết khi đánh trận thì được ca ngợi là thánh tử đạo.
Nếu thế giới này vẫn còn những người cuồng tín sẵn sàng giết người để truyền đạo thì đừng ai nghĩ rằng trái đất của chúng ta đã văn minh tiến bộ.
Chánh tín là gì?
Ban đầu, ai đến với tôn giáo cũng bằng niềm tin. Nếu giáo lý của tôn giáo đó đúng với lẽ phải, với chân lý của vũ trụ, giúp cho con người phát triển lý trí thì từ từ thoát khỏi niềm tin mà chỉ cần lý trí là đủ. Đó là tôn giáo đúng và có chánh tín.
Ví dụ ban đầu chúng ta đến chùa bằng niềm tin. Chúng ta tin Phật, tin nhân quả cho dù chưa hiểu lắm, tin vào đạo đức nơi người tu... Nếu giáo lý đạo Phật là chân chính, đúng đắn, mà ta thấm nhuần dần dần qua nhiều ngày tháng, từ từ chúng ta không cần tin nữa mà chỉ cần lý trí. Càng ngày càng hiểu sâu, trí tuệ càng sắc bén. Khi hiểu giáo lý bằng trí tuệ thì niềm tin đối với Đức Phật và Phật Pháp của chúng ta sẽ không bao giờ lay chuyển. Càng đến với đạo Phật, chúng ta càng không cần niềm tin như ban đầu nữa, mà chỉ cần trí tuệ và đạo đức để sống. Đạo Phật khởi đầu bằng niềm tin và kết thúc bằng trí tuệ. Tín đồ có trí tuệ biết phân biệt, phán đoán đúng sai, họ không cần phải lệ thuộc vào tín điều hay tu sĩ, tự mình là chỗ nương tựa cho mình. Đó là chánh tín.
Tuy chúng ta nói đạo Phật cao siêu nhưng suốt một thời gian dài, tinh thần của chúng ta đối với Phật
Pháp rất hời hợt, thiếu nhiệt tâm giáo hóa. Ngày nay, chúng ta phải khơi dậy một tinh thần mới đối với đạo pháp, phải có trách nhiệm dạy đạo cho giới trẻ.
Hãy thử quan sát một vài tôn giáo bạn. Trong các gia đình theo Ki Tô, Tin Lành... thì mặc nhiên xem con mình là tín đồ từ lúc mới lọt lòng, cho chúng rửa tội rất sớm, buộc học giáo lý khi còn nhỏ. Còn đạo Phật thì lỏng lẻo hơn. Có khi cha mẹ tu theo đạo Phật, nhưng con cái muốn làm gì thì làm, không được nhắc nhở chứ đừng nói “bắt buộc” con theo đạo Phật. Thậm chí “Lời Nguyện Cầu Buổi Sáng” dạy cho trẻ tụng chỉ mất năm phút thôi, vậy mà nhiều người còn không khuyến khích con cháu mình tụng.
Chúng ta không phân biệt tôn giáo nhưng giáo lý đạo Phật vẫn là chân lý tuyệt vời, bao dung được các tôn giáo khác. Nếu người đệ tử Phật chỉ biết kính ngưỡng những lời dạy quý giá của Đức Phật, chỉ tôn thờ hình ảnh thiêng liêng của Người trong tim thì như thế vẫn chưa đủ. Chúng ta còn phải thắp lên trong trái tim đó ngọn lửa nhiệt tình với Phật Pháp, nguyện suốt đời này làm sao cho mọi người biết Phật Pháp. Hàng ngày đi trên đường nhìn dòng người xuôi ngược, hễ nhìn thấy ai chưa hiểu được Phật Pháp, chưa tin sâu nhân quả thì phải biết ưu tư, trăn trở. Và làm sao cho ngọn lửa nơi trái tim mình lan truyền đến với mọi người, những người bạn, những người anh em của ta... để ngọn lửa trong tim họ cũng rực cháy, và tiếp tục mang Phật Pháp đi mãi đến mọi nẻo đường trong cuộc sống.
Đạo Phật từ bi nhưng nếu chúng ta cứ hiền lành, thờ ơ với đạo Pháp cũng là đi vào cực đoan. Chúng ta vừa hiền lành, vừa phải rất nhiệt tình, rất tâm huyết với Phật Pháp. Đó mới là trung đạo. Chúng ta không thể để tình trạng cha mẹ theo đạo Phật còn con em mình muốn theo đạo nào cũng được, mà phải hướng đạo cho con cháu chúng ta ngay từ nhỏ đã biết tôn kính Phật, tin sâu nhân quả. Chúng ta khuyến khích con cháu mình mỗi ngày dành năm phút đọc (tụng) bài “Lời cầu nguyện buổi sáng” để khơi dậy một tinh thần mới và thể hiện phần nào trách nhiệm đối với đạo Pháp.
Mỗi chúng ta sống giữa cuộc đời rất hiền lành, bao dung, hy sinh, vị tha đồng thời phải có lửa trong tâm, có lửa trong ánh mắt, lửa trong lời nói.
Lửa trong tâm là gì? Là lòng mình lúc nào cũng tha thiết, khát khao truyền được Phật Pháp, truyền được đạo đức, truyền được chân lý Nhân Quả cho mọi người.
Lửa trong đôi mắt là gì? Là bằng sự sống của mình khi nhìn ai mình cũng truyền sự nhiệt thành và tình thương yêu qua người đó. Nghĩa là người khác nhìn vào ánh mắt mình là họ phải nhận được sự yêu thương của mình, phải thao thức và tiếp tục là sứ giả đem Phật Pháp truyền đi khắp nơi.
Lửa trong lời nói là gì? Là mỗi lời chúng ta nói lên giúp người khác tin Phật Pháp và người đó cũng trở thành nhiệt thành đem Phật Pháp truyền đi khắp nơi.
Vì Phật Pháp, ngày hôm nay chúng ta phải thắp lửa ba nơi: lửa trong trái tim, lửa trong đôi mắt và lửa trong lời nói của những người con Phật. Để đưa được Phật Pháp đến với tất cả mọi người, những đệ tử Phật nguyện cầu cho mọi người ở khắp thế gian này đều tin theo Luật Nhân Quả.
TÔN GIÁO HỨA HẸN ĐIỀU GÌ
Như chúng ta đã biết, tôn giáo xuất hiện do hai nhu cầu:
Một, con người không thể giải thích về nhân sinh và vũ trụ nên tin vào tôn giáo và tín ngưỡng. Tôn giáo lúc đó có vai trò như khoa học.
Hai, người ta tìm thấy những lời dạy về đạo đức và lối sống từ tôn giáo.
Chính vì hai điều lợi ích này nên tôn giáo tồn tại đến ngày nay. Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, nên thời đại này có sự đối diện giữa khoa học và tôn giáo, giữa tôn giáo này với tôn giáo khác. Con người bắt đầu có sự chọn lựa và chọn lọc để tìm ra cái sai cái đúng, điều gì nên giữ lại, điều gì cần loại bỏ, đâu là tà đạo, đâu là chính đạo.
Một điều rất lạ là dù xã hội tiến bộ văn minh đến đâu đi nữa, con người vẫn khát khao nhu cầu tâm linh, tinh thần. Vì sao vậy? Vì con người luôn luôn muốn tìm đến tận cùng những gì chưa biết. Những gì khoa học phát minh vẫn chưa đủ để thỏa mãn nhu cầu muốn biết nên con người vẫn tiếp tục tìm những lời giải thích ở tôn giáo. Ngày xưa không có khoa học, người ta tìm những lời giải thích về nhân sinh, về vũ trụ ở tôn giáo. Ngày nay những gì mà khoa học chưa giải thích hết, tôn giáo cũng “giành phần” giải thích. Như vậy, có thể nói tôn giáo thỏa mãn nhu cầu tri thức của con người khi mà khoa học chưa đáp ứng hoàn toàn.
Không chỉ có vậy, con người còn luôn luôn hướng tới, luôn luôn đi tìm những điều tốt đẹp ở mai sau. Đó là tâm lý chung của mọi người dù ở bất kỳ lĩnh vực nào chứ không riêng gì tôn giáo. Ví dụ, một Hội đoàn nào đó hứa hẹn: “Nếu anh vào Hội đoàn, anh sẽ được hướng dẫn phương pháp tập luyện để anh có nhiều sức khỏe”; hoặc “Anh đến với Hội đoàn, chúng tôi sẽ bảo bọc, giúp đỡ anh, anh sẽ giàu lên”.
Lại có tôn giáo hứa hẹn những điều tốt đẹp gấp trăm ngàn lần so với những danh lợi tầm thường trên đời này. Ví dụ, họ cho tín đồ niềm tin sau khi chết được lên thiên đường, ở đó con người có cuộc sống sung sướng mà ở thế gian này dù giàu có bao nhiêu cũng không sánh bằng. Hoặc là trong đạo Phật thì tin vào Luân Hồi Nhân Quả, tức là nếu chúng ta làm những điều thiện thì qua đời sau chúng ta được nhiều hạnh phúc không thể nào tính hết...
Có một nhà văn Nhật đã viết câu chuyện ngắn nói đến tâm lý của con người: “Không thích tìm cái vui trong hiện tại mà thường là trông đợi ở mai sau”.
Ở một vùng nọ, người dân bỏ làng ra đi vì làng bị họa. Có một cô gái xinh đẹp vì đau bụng nên không đi được, lại không có người thân, thế là cô phải ngồi lại trên đường. Cô ao ước có một người đàn ông tới, nhận cô làm vợ và bảo bọc cô suốt quãng đời còn lại để cô thoát khỏi vùng vừa xảy ra tai nạn.
Một người nông dân đến bên cô, hỏi: “Cô chịu lấy tôi làm chồng, tôi sẽ cõng cô đi”.
Cô không trả lời, chỉ hỏi lại:
- Anh thấy phía sau còn người không?
- Còn người.
Vậy tôi không lấy anh đâu. Anh này bỏ đi.
Rồi có một thương gia tới hỏi: “Cô lấy tôi làm chồng, tôi mang cô đi và sẽ bảo bọc cô suốt đời”.
Cô không biết người này giàu có, cô hỏi:
- Anh thấy phía sau còn người không?
- Còn người.
- Thôi anh đi đi!
Cô vẫn chờ đợi...
Có một anh chân có tật, đến bên cô hỏi: “Cô làm vợ tôi, tôi đưa cô đi khỏi vùng này và nuôi cô”.
- Phía sau còn ai không?
- Tôi đi cà thọt nên là người cuối cùng.
Cô gái đành chịu làm vợ anh ta.
Qua câu chuyện này, chúng ta thấy tâm lý con người không thỏa mãn với hiện tại mà luôn luôn mong đợi ở mai sau, có khi tương lai chỉ là một điều huyễn hoặc. Vì ai cũng hy vọng, cũng ước mơ một cuộc sống hạnh phúc ở tương lai, nên người ta rất dễ tin theo những lời hứa hẹn tốt đẹp của tôn giáo và tín ngưỡng.
Với niềm tin như vậy, người ta đến với đạo và sẵn sàng dâng cúng tài vật rồi nhận lại một lời hứa. Về sau, có khi tín đồ cũng nhận được cuộc sống tốt đẹp, nhưng cũng có khi chỉ là một lời hứa giả tạo. Vì điều này mà tôn giáo bị một số người phê phán. Nhưng nếu chúng ta không tin một điều gì của tôn giáo thì coi chừng cũng sai lầm. Vì biết bao con người có niềm tin sâu sắc từ những lời dạy về đạo đức, về lối sống của tôn giáo mà người ta không sống buông thả, không sống vô bổ, người ta cố gắng xây dựng những điều tốt đẹp cho mai sau. Cho nên, chúng ta phải cẩn thận, sáng suốt lựa chọn cho mình một tôn giáo thực sự mang đến cuộc sống tốt đẹp ở hiện tại và tương lai.
CÁCH TRUYỀN ĐẠO
Có nhiều tôn giáo mà tín đồ đã trở thành một lực lượng lớn trong xã hội do cách truyền đạo của họ. Hầu hết các tôn giáo đều truyền đạo theo gia tộc, nghĩa là con cái phải theo đạo của cha mẹ, đứa bé vừa chào đời đã làm lễ vào đạo, đã trở thành tín đồ của tôn giáo đó.
Riêng đạo Phật không áp dụng hình thức bắt buộc đứa trẻ theo đạo từ lúc sơ sinh mà để trẻ lớn lên tự ý thức. Có nhiều gia đình cha mẹ theo đạo Phật, nhưng khi con cái lập gia đình, buộc theo đạo của người hôn phối thì cũng phải theo. Đây là cái “dở” của đạo Phật. Chúng ta nên Phật hóa gia đình, giúp con em theo đạo Phật từ nhỏ. Đứa trẻ mới được sinh ra, phải mang trẻ đến cho quý Tăng, Ni, làm lễ cầu phúc, lớn lên cho trẻ làm lễ quy y Tam Bảo.
Chúng ta đã biết đạo Phật là chân lý thì phải biết san sẻ những điều tốt đẹp đó, lẽ phải đó cho mọi người, cho con cháu mình, và cần phải làm được điều đó. Các đạo khác giúp cho con trẻ theo đạo từ nhỏ với mục đích mở mang tín đồ. Còn đạo Phật với mục đích chia sẻ chân lý. Hai ý nghĩa hoàn toàn khác nhau.
Các tôn giáo truyền đạo theo gia tộc thường khuyến khích sinh đẻ. Do sinh đẻ nhiều nên các tín đồ tôn giáo đó tăng. Đối với những người không tín ngưỡng nhưng có kiến thức khoa học, họ thấy việc tăng dân số là một hiểm họa cho loài người nên họ đồng ý với quan điểm hạn chế sinh đẻ (sinh đẻ có kế hoạch). Đạo Phật vừa có khuynh hướng truyền đạo theo gia tộc vừa hạn chế ái dục, nên người đệ tử Phật có tinh thần khoa học, thực hiện tốt việc kế hoạch hóa gia đình. Đó cũng là một trong những lý do mà tín đồ đạo Phật ít hơn các tôn giáo khác.
Có những tôn giáo đã trở thành văn hóa chung của dân tộc và đi vào cả trong giáo dục học đường. Ví dụ đạo Nho. Tuy không có hệ thống tăng lữ, không có hệ thống lý thuyết thần bí, nhưng đạo Nho có triết lý dạy dỗ về tư cách con người, thiết lập tương quan giữa con người với nhau; trọng tài đức, đề cao nhân cách người quân tử. Ngày xưa, vua chúa thấy đạo Nho có lợi cho việc duy trì, ổn định xã hội nên đã đưa Nho học vào học đường, khoa cử; phải nắm vững những lời dạy của Khổng Tử... thì mới thi đậu. Trong gia đình, cha mẹ dạy con cái theo Nho giáo từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong nhiều dòng họ, nhờ con cháu được dạy dỗ nghiêm khắc từng chút một nên nề nếp gia phong rất ổn định, cách cư xử với nhau rất tốt đẹp.
Hoặc có tôn giáo buộc tín đồ đi lễ mỗi ngày và thánh hóa ngày chủ nhật. Lề lối đó trở thành nề nếp, văn hóa, cách sống của họ.
Nhìn chung, các tôn giáo đều truyền đạo một cách quyết liệt. Ở Việt Nam, các tôn giáo lớn đều có như Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Tin Lành... Cho nên, khi tiếp xúc với những người theo tôn giáo khác, chúng ta phải có thái độ như thế nào? Chúng ta cũng tìm hiểu cái hay của tôn giáo khác, đồng thời cũng nói về đạo lý của đạo Phật với họ. Hòa hợp tôn giáo cũng là hòa hợp dân tộc.
Trong tôn giáo còn có hiện tượng như sau: có một người nào đó khởi xướng một giáo phái (chưa gọi là tôn giáo). Ở buổi đầu truyền đạo, người đó nói về đạo đức. Ví dụ ông nói rằng sắp tận thế nên con người phải ăn ở hiền lành, phải lo tu hành để ngày sau chết được trời rước... và vì ông nói rất mạnh mẽ về đạo đức, về lương tâm, đúng với lẽ phải nên nhiều người tôn sùng, và cũng do duyên nghiệp gì từ kiếp trước đã khiến người ta tin theo. Đến khi người ta đổ xô theo quá đông, tự nhiên ông đổi qua hướng khác, không còn nói về đạo đức nữa mà nói về chính trị. Nghĩa là lúc này vị giáo lãnh đi trong danh lợi và dẫn dắt mọi người theo khuynh hướng này. Đây là điều đáng sợ!
Có những giáo phái, tôn giáo do giáo lý đơn giản nên không đủ sức kiềm chế được họ trước sự ngưỡng mộ của đám đông. Sống trong vinh quang, họ dễ bị lạc vào danh lợi, và lôi cuốn tín đồ thành một lực lượng chính trị, đấu tranh đòi quyền lợi... và có vị giáo lãnh còn đòi thành lập vùng tôn giáo tự trị để cai quản như vua, như lãnh chúa.
Vị giáo lãnh đó cũng có lý tưởng tu hành ở ban đầu mà mở đạo. Nhưng khi được nhiều người tôn sùng, ông không giữ nổi tâm tự hào rồi đi vào con đường danh lợi, chính trị. Người nào là tín đồ của giáo phái mà có những vị giáo lãnh như thế thì phải cẩn thận. Khi thấy người thầy có biểu hiện đi vào danh lợi thì phải rút ra kịp thời, đừng theo vị đó mà tạo nghiệp.
Đạo Phật có giáo lý vững vàng, đó là con đường đi đến sự giải thoát. Dù có đông tín đồ nhưng tu sĩ Phật giáo ít khi lạc vào con đường danh lợi và chính trị. Nếu chúng ta may mắn được sự ảnh hưởng lớn với quần chúng tín đồ thì phải dạy dỗ đạo đức và hướng dẫn quần chúng tín đồ sống với tâm vị tha. Nếu được nhiều người hâm mộ, mà tâm chúng ta không vững thì rất dễ đánh mất mục tiêu giải thoát. Vì thế, chúng ta luôn luôn cẩn thận xem xét tâm mình. Chúng ta có thể thản nhiên chịu đựng mọi điều như tai họa, bị nói xấu, bị vu khống... nhưng hễ có nhiều người quỳ xuống tỏ vẻ hâm mộ và ca ngợi thì tâm chúng ta sẽ bị lung lay, vì sự ngưỡng mộ có sức mạnh đáng sợ. Mặc dù trước đây chúng ta cũng có công phu thực hành, gìn giữ tâm khiêm hạ, nhưng đứng trước sự ngưỡng mộ của người khác, tâm tự hào vẫn bí mật khởi lên. Lúc đó, chúng ta phải nhờ sự gia hộ của chư Phật để thoát khỏi tâm tự hào vi tế đó, nếu không thì tâm tự hào sẽ nảy nở, phát triển và đẩy chúng ta vào vòng danh lợi.
QUAN ĐIỂM CỦA CÁC TÔN GIÁO
Các tôn giáo đều đi đến một điểm chung là kêu gọi con người: đoàn kết, thương yêu nhau, vị tha... Như trong đạo Phật cho rằng: “Một người nếu lúc sống đã làm nhiều việc đúng đắn, thiện lành thì khi chết đi sẽ được lên cõi trời hoặc đầu thai lại cõi người nhưng đều rất hạnh phúc”, thì Thiên Chúa giáo cũng nói rằng: “Một người sống tốt thì sau khi chết được lên thiên đường”; Hồi giáo cũng nói: “Một người nếu sống tốt thì sau khi chết được lên thiên đường với thánh Allah”. Cách nói có thể khác nhau, tên gọi các cõi giới sau khi chết dành cho những người đã sống một đời thiện lành có thể khác nhau nhưng ý nghĩa thì giống nhau. Như vậy, đây là điểm chung đồng mà các tôn giáo đã tìm được.
Tuy nhiên, giữa các tôn giáo còn có những quan điểm khác nhau. Ví dụ, các tôn giáo thần quyền thì nói có một Thượng đế tạo ra tất cả. Riêng đạo Phật nói rằng không có một đấng tạo hóa tạo ra tất cả mà chỉ do nhân duyên hợp thành, trong đó nghiệp thiện ác của chúng sinh tạo ra thế giới này, vũ trụ này. Hai quan điểm này trái ngược nhau hoàn toàn, mà xét cho cùng chân lý thì chỉ có một mà thôi.
Trong bài “Phật giáo – câu trả lời cho Nietzsche” của Quán Như đăng ở nguyệt san Giác Ngộ số 98 tháng 04/2005, chúng tôi xin phép lược trích một số ý:
“Nietzsche cũng không đưa ra lý luận đầy đủ để chứng minh Thượng đế không còn hiện diện, mà nói là Ngài chỉ hiện diện trong tâm trí con người... Nietzsche có nhắc tới mối lo sợ của ông là mọi người trong cơn khủng hoảng đối mặt với hư vô, có thể tìm về Phật giáo như là một niềm an ủi trong hố thẳm im lặng... Không giống như các tôn giáo khác, Phật giáo không hứa hẹn với con người mục tiêu giả tưởng mà chỉ cung cấp những mục tiêu thực tế. Con đường Phật giáo đưa con người tới hạnh phúc thật sự, chứ không phải là một thứ hạnh phúc hứa hẹn hoang đường...”.
Ở trên chúng ta đã khẳng định rằng chân lý chỉ có một. Vậy chúng ta sẽ chọn lựa quan điểm nào, lý thuyết nào?
Có một vị thầy xuất gia trong đạo Phật đã kể rằng: Ngày xưa thầy đã được người mẹ của mình đưa đến với đạo Phật và khuyến khích thầy tu hành. Về sau, chính bà mẹ đã đi theo một tôn giáo khác thờ địa Mẫu. Khi vị thầy đưa mẹ đến gặp chúng tôi, bà đã nói một câu rất quyết liệt: “Vậy ai đã tạo ra Phật?”. Chúng ta thấy đó là một lối lý luận được nhiều tôn giáo, giáo phái sử dụng, trong đó người ta lý luận rằng thượng đế đã tạo ra mọi điều kể cả Phật, vì thế Phật chỉ là một người giác ngộ thôi chứ không thể nào cao bằng chúa trời là đấng tạo ra tất cả. Cũng vậy, người mẹ của vị thầy đó tin chắc vào lý luận của đạo thờ địa Mẫu cho rằng Phật cũng cao siêu, nhưng Mẫu là người đã tạo ra Phật, vì thế tu theo đạo Mẫu là một cái gì đó cao hơn Phật.
Lúc đó chúng tôi trả lời rất dứt khoát rằng: Đức Phật trở thành một Đấng giác ngộ là do chính công đức tu hành của Ngài từ vô lượng kiếp. Còn ai lý luận: có một đấng nào đó tạo ra Phật, tạo ra sự giác ngộ của Phật, tức là họ đã xúc phạm một bậc Thánh mà cả chư thiên và loài người đều kính ngưỡng, một bậc Thánh vượt lên tất cả về trí tuệ và đức hạnh mà ngày sinh của Người đã được Liên hiệp quốc chọn làm ngày quốc tế về tôn giáo và văn hóa. Vì thế, ai tin theo những kẻ cho rằng: có một đấng nào đó tạo ra Phật, thì cả người đó lẫn ông thầy tà sẽ bị tan vỡ hết công đức, cuộc sống mất nhân cách biểu lộ ngày càng rõ rệt, và làm nhiều điều sai lầm. Vì vậy, khi chúng ta gặp những lý luận tương tự thì ta phải trả lời mạnh mẽ, dứt khoát: Đức Phật thành tựu giác ngộ là do công đức tu hành của chính Ngài từ vô lượng kiếp, không có ai tạo cả.
Qua những ví dụ nêu trên, ta thấy các tôn giáo có nhiều điểm giống nhau, nhiều điểm khác nhau. Chính những điểm khác nhau đã đưa đến sự chống đối quyết liệt. Ngày nay, nhân loại phải tìm những điểm không chung hòa để gom lại thành chân lý nhằm tránh hiện tượng chia ra quá nhiều tôn giáo. Chúng ta đã có sẵn đạo lý đúng, và trên nền tảng đó ta đào sâu phát triển thêm, không nên tìm thêm tôn giáo mới hay tông phái mới. Loài người cần sự đoàn kết không cần sự chia rẽ, nên sự xuất hiện nhiều tôn giáo là điều không cần thiết cho con người.
Trải qua 2.600 năm lịch sử, đạo Phật cũng bị chia thành nhiều hệ phái Nam tông, Bắc tông, Khất sĩ, Tịnh độ tông, Thiền tông hay Mật tông... nhưng tất cả chỉ là hình thức, là phương tiện. Từ nay và mãi mãi về sau, trách nhiệm của những người đệ tử Phật là phải xác định lại chân lý, lần lần gom các hệ phái lại để chỉ còn một đạo Phật mà thôi. Trên nền tảng giáo lý đó, ta cố gắng làm cho nhiều người kính tin Phật để sống cuộc đời đạo đức an lạc giải thoát, đó là chúng ta đền ơn Phật trong muôn một.
Chúng ta có thể ước mơ biết đâu khoảng vài trăm năm sau chỉ còn một chân lý chung cho thế giới chứ không còn chia tông phái nữa, vì lúc đó loài người đã xác định đâu là đúng, là sai. Khi đã có một chân lý chung thì những gì không phải là chân lý tự nó phải tan vỡ để chỉ còn lại chân lý mà thôi.
Và tôn giáo nào mà giáo lý phù hợp với khoa học, khế hợp với chân lý sẽ được loài người lựa chọn.
Đó là lý do mà nhà bác học vĩ đại Albert Einstein đã nói: “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu được với các yêu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt hơn khoa học. (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, because it embrances science as well as goes beyond science).
Ban đầu chúng ta nhìn thấy đạo Phật như là một Tôn giáo, nhưng nếu chúng ta hiểu sâu, thực hành sâu và sống đúng thì sẽ thấy đạo Phật là chân lý, là lẽ phải không còn là một đạo Phật trên hình thức tôn giáo nữa. Từ nền tảng ban đầu của Đức Phật cho dù khoa học có tiến bộ đến đâu cũng không ra ngoài đạo Phật. Khoa học càng phát triển thì Phật giáo cũng phát triển theo cho phù hợp và hướng dẫn được con người của thời đại.
Xã hội luôn luôn cần đạo đức, luôn luôn có nhu cầu tâm linh nên đạo Phật luôn luôn cần thiết cho con người. Bổn phận và trách nhiệm của chúng ta là nối tiếp những người đi trước làm cho đạo Phật càng ngày càng dễ hiểu hơn, gần gũi được với mọi người hơn, giúp cho mọi người có đạo lý để sống và tu tập theo lời Phật dạy.
Và bây giờ chúng ta nhận định lại về khái niệm tự do tín ngưỡng. Vào khoảng cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX này bắt đầu xuất hiện khái niệm gọi là tự do dân chủ nhân quyền. Sau cuộc đệ nhị thế chiến khi Liên Hiệp Quốc được thành lập thì người ta có một Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, trong đó có nêu một số quyền như: “Con người được quyền tự do tín ngưỡng”. Nghĩa là con người được quyền đi theo tôn giáo nào đó mà mình thích và không ai được quyền cấm. Khi điều này đưa ra, người ta thấy sự tự do tín ngưỡng như là lẽ phải, một ước mơ mà xã hội nào cũng phải cố gắng phấn đấu để đạt được. Trong bao nhiêu quyền tự do đó thì có quyền tự do tín ngưỡng.
Từ quyền tự do tín ngưỡng, nên ở rất nhiều quốc gia người ta tự do truyền bá, giảng giải, thành lập tôn giáo, giáo phái. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 20.000 tôn giáo, giáo phái lớn nhỏ đang thu hút đông đảo tín đồ, mà trong đó có không ít các giáo phái đã dụ dỗ, lừa gạt tín đồ làm ảnh hưởng đến đời sống xã hội, đến lợi ích cộng đồng. Như ở Nhật Bản từng xuất hiện giáo phái Aum Supreme Truth đã làm chấn động thế giới bằng việc thả hơi độc vào các đường xe điện ngầm làm chết và bị thương mấy nghìn người.
Hoặc có giáo phái nói rằng: “Chúng ta sẽ được cứu rỗi bởi người ngoài hành tinh”. Họ tin điều đó rồi chờ mãi không thấy và thế là họ xúm nhau uống thuốc độc chết hết. Thật là một điều dại dột.
Hoặc là có giáo phái, ông giáo lãnh tuyên bố muốn được lên thiên đàng chúng ta phải chết đi. Thế là người ta cùng nhau tự tử. Sự việc này được cơ quan điều tra nhận định như sau: có thể trong đám các thân thể bị chết cháy này không có xác của ông giáo lãnh. Nghĩa là ông ta đã dụ mọi người lấy hết tiền bạc rồi trốn đi đến nơi khác thay tên đổi họ và sống một đời sống sung sướng. Còn tín đồ thì bị lừa và chết thật thê thảm.
Thường chúng ta thấy trong sự tiến bộ của nhân loại thì tín ngưỡng là một nhu cầu của con người không thể bỏ được. Nhà nước chúng ta cũng nhận định điều này: Tín ngưỡng là một nhu cầu tinh thần của con người không thể nào hủy bỏ được. Nhưng phải có sự chọn lọc, tức là lựa những đạo nào có lợi cho sự phát triển của xã hội, của đất nước thì giúp đỡ cho đạo đó phát triển. Còn đạo nào lợi dụng tự do tín ngưỡng để gây nguy hiểm cho sự tiến bộ của xã hội thì phải ngăn chặn lại. Và đường lối này là đúng.
Là đệ tử Phật, chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo, đừng vội tin vào những gì mà chưa cẩn thận xem xét, cũng đừng tin vào quan điểm tự do tín ngưỡng mà các nước phương Tây đang tôn thờ. Sự bùng nổ của quá nhiều tôn giáo, giáo phái chỉ làm phát sinh sự phân hóa, sự chia rẽ trong xã hội. Con đường đúng là chọn lọc tín ngưỡng bởi chân lý thì không có nhiều. Ví dụ, những điều Đức Phật đã nói về luật nhân quả, về luân hồi, về an lạc nội tâm, sự giải thoát nội tâm thì không thể nói khác được nữa. Đó là những đạo lý nền tảng, chúng ta cần đào sâu, phát triển hơn thì được lợi ích cho bản thân và những người khác. Nếu từng người đệ tử Phật từ xuất gia cho đến tại gia bằng chính sự tu hành của mình, chứng minh được rằng từ khi theo đạo Phật, chúng ta sống tốt hơn so với trước, chúng ta đóng góp được nhiều lợi ích cho xã hội hơn thì mới thuyết phục được mọi người thấy rằng đạo Phật là chân lý và sẽ nhận được sự hỗ trợ, ủng hộ từ nhiều tầng lớp trong xã hội.
TU SĨ
Đa phần các tôn giáo đều có một hàng ngũ gọi là tu sĩ. Đạo Phật thì có Tăng Ni; Thiên Chúa thì có các Linh mục, các Sơ; đạo Hồi cũng có những Giáo sĩ của họ. Tại sao lại phải có hàng ngũ tu sĩ này? Là vì thần thánh đã vắng bóng, giáo chủ đã vắng bóng nên cần có tu sĩ đứng ra làm trung gian giữa con người phàm tục với đấng thiêng liêng cao cả.
Như trong đạo Phật, mặc dù sự gia hộ của Chư Phật là mênh mông không bao giờ dứt, nhưng Ngài đã nhập Niết bàn, còn kim thân của Phật thì chúng ta không thể nào chiêm ngưỡng được nên chỉ tưởng tượng qua hình ảnh của tu sĩ. Hoặc là Thiên Chúa giáo thì tôn thờ Đức Chúa Trời, mà chưa có ai thấy Đức Chúa Trời nên phải nhờ các Linh mục đứng ra làm trung gian giữa thần thánh với con người là như thế.
Vậy con người đứng ra làm trung gian là làm những việc gì?
Thứ nhất là duy trì những lời dạy của thần thánh, của các vị giáo chủ. Trong đạo Phật, tu sĩ là những người nối tiếp sứ mệnh của Phật, đem lời dạy của Phật mà giảng lại cho Phật tử.
Thứ hai là làm trung gian để cầu nguyện nối giữa thần thánh và chúng sinh. Hễ gia đình có chuyện gì là tìm đến nhờ quý Thầy: “Thầy cầu an giùm gia đình con”, “Thầy cầu siêu cho cha mẹ con”... nên chúng ta mới có cầu an, cầu siêu. Hoặc Thiên Chúa giáo, con chiên muốn cầu xin điều gì phải đến nhà thờ dâng lễ cho cha và nhờ cha dâng lên Chúa. Vì người tín đồ thường nghĩ rằng bản thân mình cầu không linh, và tin tưởng vào tu sĩ và nghĩ rằng tu sĩ cầu nguyện sẽ linh hơn, tốt hơn.
Nhưng tu sĩ chỉ là người đứng ra làm trung gian giữa thần thánh và con người chứ chưa phải thần thánh, nên họ vẫn còn bản năng phàm tục, vẫn còn nhiều mơ ước, mà tín đồ thì luôn luôn đòi hỏi tu sĩ như là thần thánh, phải oai nghi tế hạnh như bậc Thánh. Điều này thật khó khăn đối với tu sĩ, vì đó là sự giằng co, sự chiến đấu vất vả, dai dẳng giữa tính chất phàm phu và thánh thiện trong nội tâm của người tu.
Tuy vẫn còn đầy đủ cái khuynh hướng của con người, nhưng tu sĩ phải tu tập, phải thoát dần những tính chất phàm tục đó để từ từ trở nên thanh cao như là thần thánh. Và sự chiến đấu giữa bản năng của chính mình với lý tưởng làm thánh thật không dễ dàng cả trong nội tâm và trên dư luận. Dư luận là làm sao? Là dễ bị dư luận phê bình. Mà sự phê bình có khi đúng, cũng có lúc sai. Người phàm tục muốn làm gì, muốn chửi mắng ai cũng... không sao. Còn người tu mà nổi sân là bị phê bình ngay.
Ví dụ, con trẻ vào chùa bẻ cây bứt lá, vị tu sĩ bực quá la lớn tiếng thì người ta phê bình: “Tu gì mà dữ quá!” Hoặc có vị thầy tiếp chuyện cô Phật tử hơi lâu một chút cũng bị nói: “Trời! Sao ông thầy cứ nói chuyện với cô đó hoài vậy kìa!”
Hoặc có người đưa cho vị Tăng trẻ xem một tấm hình vị đó chụp chung với cô Phật tử và nói: “Trời, sao Thầy chụp chung với cô này?”. - “ Không, còn có người thứ ba là chồng của cô ấy. Chồng cô chụp cô ấy với tôi. Rồi, cô ấy chụp tôi với chồng của cô. Vậy là có hai tấm chứ đâu phải một tấm”. Như vậy, nếu không có sự đính chính là sẽ bị nghi ngờ đủ điều.
Cuộc giằng co giữa con người phàm phu và ước vọng làm Thánh trong một tu sĩ không phải luôn luôn kết thúc có hậu. Có nhiều người đã thất bại khiến cho tiêu chuẩn đạo hạnh của tu sĩ ở các tôn giáo đòi hỏi phải xem xét lại để giảm bớt áp lực từ dư luận xã hội. Vì thế, đạo Tin Lành cho phép mục sư có vợ con, Hồi giáo cho phép giáo sĩ có nhiều vợ. Còn Thiên Chúa giáo cũng đang bàn cãi sôi nổi về việc có nên cho phép Linh mục lấy vợ hay không.
Riêng Phật giáo thì đặt vấn đề rất quyết liệt là buộc tu sĩ không được có gia đình để chỉ lo tu học. Trong đạo Phật có phương pháp tu hành chuẩn mực, có hệ thống giáo lý chặt chẽ nên đã đưa nhiều người từ phàm phu trở thành các bậc Thánh, đó là những vị A la hán, những thiền sư đắc đạo... Những vị này đã tu hành theo đúng con đường của Phật dạy và xứng đáng làm trung gian giữa con người với các đấng cao cả thiêng liêng.
Rất nhiều người đệ tử Phật do tinh tấn tu tập thiền định, giới hạnh thanh tịnh, sống cuộc đời vị tha nên đã đắc được thiền định, đắc được những quả vị trong tâm linh và có đời sống rất thánh thiện. Các vị đó tuy sống trong cõi phàm tục mà thực sự là những viên ngọc quý chiếu sáng cho thế gian này.
Chúng ta thử đặt vấn đề tại sao một người đi tu? Vì mục tiêu gì khiến người ta trở thành tu sĩ?
Có nhiều người hay thắc mắc: “Ông Thầy này sao trẻ trẻ mà đi tu. Có thất tình gì chăng?”... Dĩ nhiên, cũng không ngoại trừ một số người có nỗi buồn nào đó quá bất ngờ nên trốn vào chùa để tu, như ta thường nghe câu chuyện tình đáng buồn của Lan và Điệp. Đối với hạng người này thì ta không bàn tới.
Tuy nhiên, đa phần người ta đi tu vì hai mục tiêu:
Một là người có lý tưởng tôn giáo. Nếu nói theo đạo Phật thì những người này có lý tưởng giải thoát thật sự. Họ thấy cuộc đời là đau khổ, thấy sự giải thoát là an lạc, thấy chúng sanh là đáng thương nên muốn tu hành để làm lợi ích cho con người, cho Phật Pháp. Đây là người hảo tâm xuất gia, xuất gia vì lý tưởng cao đẹp, và họ trở thành vốn quý của đạo pháp. Cái nhân ban đầu là như vậy, dù trên đường tu họ có bị trục trặc, khổ sở nhưng từ từ cũng sẽ vượt lên, và một ngày nào đó họ sẽ trở thành Thánh ngay trong cuộc đời này.
Hai là người tu vì mục đích danh lợi. Những người này thấy vị trí tu sĩ được nhiều Phật tử kính trọng nên đi tu để được mọi người trọng vọng, được nhiều tiếng tăm. Người như vậy mà xuất gia thì sẽ gây nguy hiểm cho đạo, vì cái nhân ban đầu đã là danh lợi rồi thì về sau nếu được một vị trí hoặc có một chút uy tín nào đó, thế nào lòng ganh tị cũng nổi lên rồi tranh giành hơn thua làm cho đạo bị chia rẽ tan nát.
Do đó, động cơ xuất gia ban đầu là quan trọng. Người có lòng hảo tâm xuất gia thì ta thấy cuộc đời tu hành của họ thật đẹp đẽ. Họ có thể hy sinh danh lợi, không hơn thua, tu hành tinh tấn. Có những vị mà tuổi đời, tuổi đạo, bằng cấp đều rất cao nhưng vẫn rất quý trọng tán thán, biểu lộ sự đồng cảm sâu sắc với những vị nhỏ hơn về tuổi đời, tuổi đạo... mà không hề có ý chê bai hơn thua. Những vị này ngay từ khi phát tâm xuất gia họ đã có lý tưởng cao đẹp nên luôn cố gắng tìm điều đúng ở trong đạo để đi tới. Còn hạng người khi thấy người khác hơn mình là muốn chống đối, muốn nói ngược lại thì người đó đã bị tâm hơn thua bí mật ở bên trong chi phối. Có thể người này ngày xưa xuất gia không vì lý tưởng tôn giáo.
Có một quy luật kỳ lạ mà tôn giáo nào cũng thường gặp phải. Ví như đạo Phật, có một thời đại nào đó xuất hiện nhiều tu sĩ tu hành chân chính, biện tài thuyết pháp gây được ảnh hưởng trong xã hội, làm vẻ vang cho đạo, nên thời gian đó đạo Phật rất có uy tín, rồi được vua chúa quan dân ngưỡng mộ đông đảo. Hệ quả tiếp theo là sẽ có nhiều người tu theo đạo Phật, nhưng không phải vì lý tưởng tu hành mà vì sự trọng vọng của người khác. Nếu số người theo đạo để đi tìm sự trọng vọng nhiều quá thì lúc đó đạo Phật lại bắt đầu suy tàn. Sự thịnh, suy cứ nối tiếp như thế rất kỳ lạ.
Cũng vậy, thời nào mà Phật tử chân chính tu hành, siêng năng làm việc thiện thì lúc đó đạo Phật hưng thịnh. Còn thời nào mà Phật tử đến chùa thấy gì cũng khen chê, phê phán, người nói mình cúng nhiều người kia cúng ít,... thì thời đó đạo Phật suy tàn. Nên chúng ta cẩn thận lời ăn tiếng nói của mình, chỉ nói lời khen ngợi mà không nói lời chê bai để cho đạo Phật được đoàn kết, trong chùa được êm ấm, thầy trụ trì được an vui.
Các vị tôn túc cũng thường hay nhắc nhở người sau là việc tu tập thì ai cũng cần phải tu, học giáo lý thì ai cũng cần phải học. Nhưng để thật sự trở thành tu sĩ thì phải có sự cân nhắc chọn lọc. Không phải bất kỳ ai cũng cho xuất gia, mà chỉ những người sau này có thể lãnh đạo tinh thần cho quần chúng thì mới được xuất gia.
Còn ngay từ đầu, nếu chúng ta thấy người đó không có khả năng lãnh đạo tinh thần cho quần chúng thì đừng cho xuất gia, vì sau này họ sẽ phá đạo, làm mất uy tín của đạo.
Cho nên, đừng nghĩ là con mình nghịch quá dạy không nổi thì giao cho quý Thầy “cho nó đi tu cho rồi”. Đó thật là oan cho đạo Phật. Tu sĩ phải là người sống một đời rất gương mẫu, phải là người thật tốt khi còn làm cư sĩ rồi mới cho xuất gia. Vì ngoài khả năng biện tài thuyết pháp để giáo hóa, tu sĩ còn phải giữ cả một đời sống đạo hạnh chuẩn mực. Người tu dù nói ngàn lời hay nhưng chỉ một lần làm sai điều gì đó thì ngàn lời hay bị người đời xóa hết. Ví dụ, một tu sĩ nào đó thuyết pháp rất hay, băng giảng của vị đó được nhiều người truyền cho nhau nghe. Nhưng nếu ông làm điều gì đó sai sót thì người ta không còn tin vào những điều ông đã nói, đã giảng. Vì thế, để giữ được đạo lý mãi mãi thì người tu phải cố gắng giữ mình như tấm gương sáng. Muốn vậy, người thầy phải lựa người đệ tử có tâm tốt, có lý tưởng giải thoát thật sự. Và người Phật tử muốn gửi con em mình đi xuất gia cũng phải cố gắng lựa người thầy tốt để giúp đạo.
Người tu có ảnh hưởng đối với quần chúng, và ngược lại, quần chúng cũng ảnh hưởng lên tu sĩ. Người tu đem đạo lý hướng dẫn cho quần chúng biết tu tập và sống tốt lên. Đó là tu sĩ ảnh hưởng quần chúng. Còn quần chúng ảnh hưởng lên tu sĩ là làm sao? Là chúng ta phải biết chọn lọc. Chúng ta biết thầy nào tu đàng hoàng thì ủng hộ, còn ai tu không đàng hoàng thì chúng ta không ủng hộ. Nếu đạo Phật thực hiện được như thế, quần chúng tín đồ kiên quyết chọn lựa như thế sẽ làm cho số lượng tu sĩ xấu bị giảm xuống liền. Chính thái độ của Phật tử đã giúp thanh lọc hàng ngũ tu sĩ ngay từ ban đầu, khiến cho người nào thấy bản thân mình không tốt là không dám đi tu.
Một thời gian dài vừa qua, người Phật tử có quan điểm dễ dãi, nghĩ rằng: ai tu sai thì có lỗi với Phật, còn người mang hình thức đầu tròn áo vuông, mang hình tướng Phật thì ta cứ cúng dường. Vì vậy, trong thực tế đã xuất hiện nhiều người giả danh tu sĩ, có cả người giả tu sĩ đi khất thực, tạo nên những hình ảnh xấu trong đạo Phật. Do đó, quần chúng phải biết chọn lọc, phải có bổn phận giúp đỡ Giáo hội trong việc thanh lọc hàng ngũ tu sĩ... Tu sĩ có ảnh hưởng đến việc tu tập của Phật tử cư sĩ, và Phật tử cư sĩ cũng có tác động đến sự tu hành của tu sĩ.
Ngày xưa cũng vậy, có một thời hai nhóm Tăng đoàn tranh cãi với nhau dữ dội. Đức Phật la rầy họ cũng không chịu nghe. Đức Phật bỏ đi vào rừng và Ngài sống ở trong đó ba tháng mùa hạ. Bên ngoài, Phật tử hỏi: Thế Tôn đâu rồi? Sau đó, họ mới biết chuyện hai nhóm Tăng đoàn bất hòa với nhau, Ngài khuyên không được nên bỏ đi. Biết tin như vậy, họ không cúng dường cho các vị Tăng đó nữa. Các vị phải lễ Phật sám hối, thỉnh Phật về và không dám gây gổ bất hòa với nhau nữa. Chính nhờ thái độ quyết liệt của Phật tử ủng hộ hay không ủng hộ tu sĩ đã giúp việc xây dựng Tăng đoàn thời đó.
Hiện nay, chính thái độ dễ dãi của chúng ta đối với tu sĩ nên xuất hiện nhiều người không tốt cũng đi tu, hoặc đi tu rồi cũng không phải là tu sĩ tốt. Chính vì điểm này khiến cho kẻ xấu nghĩ là “làm nghề tu hành” dễ sống. Do đó, chúng ta cần khẳng định quan điểm là tu sĩ nào không tốt thì không cúng dường. Ai đã xuất gia tu hành thì phải biết giữ gìn đạo hạnh của một tu sĩ để giữ được niềm tin nơi Phật tử nói riêng và quần chúng nói chung.
Lời kết
Ngày nay thế giới đang còn nhiều tôn giáo, chưa lựa chọn được một chân lý khiến cho cả loài người cùng đi theo để thế giới đoàn kết với nhau. Nhưng thái độ của tu sĩ trong các tôn giáo là phải dạy cho tín đồ của mình bao dung được với tôn giáo bạn, đừng có chống đối, chia rẽ lẫn nhau. Thế giới chưa khẳng định tôn giáo nào sẽ đem lại nhiều điều tốt cho con người sau này, nhưng trước hết, tôn giáo nói chung phải đem lại sự đoàn kết, thương yêu giữa con người với nhau. Chúng ta dù chưa được giải thoát lên cõi trời hay cõi nào hơn nữa, thì ngay trong thời gian còn là con người phải biết thương yêu nhau.
Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI cũng là lúc cả thế giới chứng kiến sự lan rộng với quy mô toàn cầu của các phong trào tôn giáo. Điều đó chứng tỏ các giá trị nhân văn và triết lý của tôn giáo nói chung và đạo Phật nói riêng vẫn là nhu cầu tâm linh cho con người hiện nay và mãi mãi về sau. Do vậy, tôn giáo phải mang ý nghĩa cao cả là làm cho con người đến gần nhau hơn, thương yêu nhau và bảo
Tôn giáo trợ lẫn nhau nhiều hơn. Không thể vì lý do tôn giáo mà gây chia rẽ giữa các quốc gia, giữa các chủng tộc với nhau.
Trong cùng một cõi quê hương
Tình yêu tín ngưỡng phải nhường quốc gia
Trong cùng thế giới bao la
Tình yêu tín ngưỡng không qua tình người.


