Nhìn lại lịch sử nhân loại từ khi con người còn sống sơ khai trong các bộ tộc cho đến lúc hòa vào xã hội văn minh hiện đại, lễ hội luôn là sinh hoạt không thể thiếu của cộng đồng.
Bằng nhãn quan của đạo Phật, chúng ta sẽ nhìn nhận lại mọi vấn đề, khía cạnh của lễ hội để điều chỉnh cho phù hợp với đạo lý, làm tăng thêm giá trị đạo đức cho con người.
NGUYÊN NHÂN RA ĐỜI CỦA LỄ HỘI
Từ thuở xa xưa, khi con người còn sống sơ khai trong các bộ tộc, mỗi khi săn bắt được thú rừng lớn, họ cho đó là điều may mắn của bộ tộc trong thời gian sắp tới. Họ cột con thú vào cây trụ rồi nhảy múa, ca hát, reo hò và giết con vật, nghĩa là họ có dịp để tụ tập với nhau, cùng nhau vui vẻ, phấn khởi. Sự ưa thích các trò vui đông người là một bản chất tự nhiên của con người. Có lẽ đó là khởi đầu của lễ hội.
Lễ hội là những sinh hoạt dường như không thể thiếu trong lịch sử loài người từ xưa đến nay. Nói đến lễ hội thì chúng ta đều hình dung nơi đó tập trung đông đảo mọi người với những trò vui chơi đầy màu sắc. Người ta đến lễ hội để vui chơi, để gặp gỡ, để cười... chứ không được khóc! Nơi đó là niềm vui, là những ngày vui. Còn bây giờ chúng ta phải làm sao cho lễ hội mang được nhiều đạo lý, không nên để lễ hội trở thành những ngày vui chơi vô nghĩa nữa.
Về tâm lý, niềm vui giấu cho riêng mình thì ít ỏi, chóng phai nhưng niềm vui được nhiều người chung vào sẽ nhân lên nhiều lần. Ngược lại, nỗi buồn lại được vơi bớt khi chia sẻ với nhiều người.
Ví dụ, chúng ta có một người bạn thân ở nước ngoài về thăm quê nhà. Những người bạn cũ ngày xưa học cùng lớp tổ chức một buổi họp mặt. Thế là tất cả mọi người dường như quên đi nỗi cực nhọc phải lo cơm áo hàng ngày. Trên gương mặt ai cũng rạng rỡ, vui cười. Rồi cùng nhau nhắc lại kỷ niệm về thầy cô, trường lớp. Ai cũng cảm thấy hạnh phúc mà có lẽ người vui nhất, hạnh phúc nhất là người bạn ở xa về. Cho nên, tính cộng đồng của con người là điều rất thú vị.
Hoặc con chúng ta thi đỗ, có nhiều người tới chúc mừng, chúng ta càng thấy vui. Ngược lại, nếu có một đám tang, tất nhiên thân nhân rất buồn. Nếu có người đến viếng thì thân nhân người mất cảm thấy nỗi đau được vơi đi phần nào.
Hoặc ta có một nỗi khổ tâm cứ để trong lòng thì đến lúc không chịu nổi nữa, ta có thể phát rồ. Nhưng nếu đem câu chuyện đó tâm sự với người khác, nỗi buồn sẽ vơi bớt rất nhiều. Riêng người tu hành, nếu có nỗi buồn thì phải cố chịu đựng trong lòng vì học hạnh nhẫn nhục Phật đã dạy.
Từ những nguyên nhân đó, lễ hội ra đời và chiếm vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của con người.
Tình yêu thương làm xuất hiện niềm vui, hạnh phúc, là một công thức của tâm lý
Trong một ngôi nhà mà ai cũng thương yêu nhau thì tự nhiên niềm hạnh phúc giăng đầy không khí nơi đó. Bước chân đến một ngôi chùa mà tất cả Phật tử đều yêu thương nhau, không có người nào nói xấu, tị hiềm, ganh ghét nhau thì bất cứ ai cũng không muốn trở về, dù có đi đâu xa cũng tìm cách trở lại. Bởi vì ngôi chùa đã trở thành tổ ấm chan chứa niềm hạnh phúc, mà con người thì luôn tìm kiếm niềm vui và tránh né đau khổ.
Sẽ có người hỏi vì sao Phật nói: “Ái là nguyên nhân của đau khổ”. Vậy công thức “thương yêu đem lại hạnh phúc” có ngược với lời Phật dạy không? Câu trả lời là không. Vì đó là câu nói cô đọng, ngắn gọn của Đức Phật. Thật ra, để từ “ái rồi đi đến đau khổ” thì phải trải qua nhiều bước mà trong đó, bước gần của thương yêu (ái) là hạnh phúc. Ví dụ, người nam và người nữ, ban đầu họ gặp nhau, thương nhau. Mà đâu chỉ có thương yêu nhau thôi, còn có hẹn hò, còn có lỡ hẹn, còn có giận hờn, còn có nghi ngờ, ghen tuông, ích kỷ... họ thấy như có cái gì đó luôn sôi động, hào hứng và rất vui nên họ mới thương nhau, mới hạnh phúc.
Nhưng, phía sau hạnh phúc ban đầu đó là gì? Là hạnh phúc vĩnh viễn hay là đau khổ? Từ những niềm vui sôi động, từ niềm phúc lạc ban đầu, nếu tình thương yêu có ích kỷ cá nhân là có đau khổ. Nói ái là nguyên nhân của đau khổ là như vậy. Còn chúng ta thương nhau trong tình huynh đệ, đó là thương yêu bằng lòng từ bi của Phật và làm cho không khí hạnh phúc, vui vẻ, ấm áp không bao giờ mất, không bao giờ có đau khổ.
Niềm vui cũng làm con người thương yêu nhau là một định lý ngược của tâm
Chúng ta thấy, tình thương đem đến niềm vui nhưng không ngờ, có một định lý ngược đó là niềm vui cũng đem đến tình thương. Khi vui, tự nhiên tình thương yêu phát triển. Ví dụ, chúng ta đến chùa trong lễ hội Phật Đản. Ngày đó, thầy trụ trì có tổ chức văn nghệ, thuyết pháp, lễ Phật, ngồi thiền... nghĩa là ngày đó có nhiều niềm vui ý nghĩa. Tự nhiên vào ngày đó, chúng ta thấy ai đến dự lễ hội cũng dễ thương, cũng đáng yêu. Tình thương đã xuất hiện vào những dịp lễ hội như vậy.
Đến lễ hội càng đông, niềm vui càng lớn. Có khi người ta không mang đạo lý vào trong ngày hội mà chỉ kéo đến để vui chơi với nhau thôi, như bắn pháo hoa, hoặc túa ra đường ca hát, ăn uống, vui đùa... Quan sát những lễ hội trên thế giới, chúng ta thấy có những lễ hội có lợi cho đạo đức con người nhưng cũng có những lễ hội chỉ để vui chơi, có khi làm tổn hại đạo đức nữa.
Với cái nhìn của người đệ tử Phật thì sự giải thoát, an lạc là mục tiêu, mà gần hơn là việc xây dựng đạo đức cho chính mình và cho mọi người. Nhiều người nghĩ rằng đạo Phật chỉ tìm an lạc, giải thoát trong thanh tịnh, cô đơn, ở nơi vắng vẻ nên đã quay lưng lại với lễ hội, xa lánh nơi đông vui náo nhiệt. Sự quay lưng đó như xem thường thế gian, nơi chỉ biết tìm những niềm vui trống rỗng, tạm bợ trong khi niềm vui thật sự là ở nội tâm.
Quan niệm đó không sai nhưng cũng cần xem lại. Bởi lẽ, con đường đi đến sự giải thoát giác ngộ viên mãn thì có nhiều bước, nhưng điểm khởi đầu phải là đạo đức. Nghĩa là, chúng ta muốn mọi người được giải thoát an lạc, được giác ngộ sáng suốt thì bước đầu phải giúp mọi người có đạo đức, rồi chính bản thân chúng ta cũng có đạo đức thì mới có thể tiến tu giải thoát và giúp mọi người giải thoát.
Do đó, điều mà mọi người thế gian ưa thích thì chúng ta cũng tùy thuận ưa thích. Đối với lễ hội, khi mọi người vui vẻ náo nhiệt thì chúng ta cũng không tách rời mà tìm hiểu nguyên nhân của sự chung vui đó, phải biết hòa vào niềm vui đó. Điều chúng ta cần phải cố gắng thực hiện là điều chỉnh làm sao cho lễ hội tăng tiến đạo đức cho con người, tăng tiến tình thương yêu giữa con người với nhau. Đạo Phật phải là con đường dẫn đến hòa hợp với mọi người, với cộng đồng, với xã hội, với đất nước... Ở đó, chúng ta đem đến cho mọi người đạo đức. Đó là điều mà người Phật tử nhắm tới chứ không phải là quay lưng lại với sinh hoạt thế gian.
Người Phật tử phải biết tạo niềm vui cho mọi người, làm cho trái tim của mọi người xuất hiện tình thương yêu. Có khi chúng ta cố gắng vui theo niềm vui của mọi người, mà cũng chẳng được “lợi” gì, nhưng làm cho người chung quanh mình tăng thêm niềm vui, giảm bớt nỗi buồn. Nghĩa là, chúng ta đã học được một bài học nho nhỏ là ráng vui với niềm vui của người khác, để cho niềm vui của họ được lớn lên. Đó là lý tưởng sống của người Phật tử.
Chúng ta có bổn phận và trách nhiệm đối với đời là làm cho thế gian này bớt khổ, thêm vui. Mặc dù cũng có lúc chúng ta buồn rầu nhưng tùy hoàn cảnh cũng cố gắng chia vui với người khác. Ví dụ một đôi vợ chồng trẻ (hay một gia đình người bạn) làm ăn chắt chiu mới cất được ngôi nhà. Dĩ nhiên họ rất vui, chúng ta cũng vui vẻ nói lời chúc mừng một cách chân tình. Bởi lẽ, nếu không cẩn thận thì ta dễ rơi vào tâm đố kị, hơn thua và rồi lời nói bên ngoài trở nên sáo rỗng, giả dối. Tâm của một người đệ tử Phật phải “thật” từ trong ra ngoài. Đó là chúng ta đang thực hành hạnh tùy hỷ trong đạo Phật.
“Xin cho con sung sướng
Khi thấy người thành công
Hoặc gây tạo phước lành
Như chính con làm được”.
Và ngược lại, với nỗi buồn của người khác cũng vậy. Chúng ta cố gắng thông cảm, chia sẻ để cho họ vơi bớt nỗi buồn. Dù mình chưa thể làm được một điều gì cụ thể giúp người hết khổ, hết buồn thì mình thể hiện sự chia sẻ, cảm thông với họ, để họ bớt buồn và không còn cảm giác cô độc. Ví dụ người cha mẹ vừa mất đứa con vì bạo bệnh. Ta không chỉ thăm viếng, thắp nhang mà còn phải cảm thông, chia sẻ với gia đình người mất. Còn nếu trong cơn đau khổ mà thấy thiên hạ cứ nhởn nhơ thì họ dễ bị cảm giác cô độc và chồng thêm nỗi buồn.
Ở đây, tâm từ bi, vị tha và vô ngã của người đệ tử Phật phải đồng hóa, thấy mọi người như chính mình. Dĩ nhiên, đạt đến vô ngã như Đức Phật và chư vị Bồ tát, A la hán thì chúng ta chưa có được để có thể hòa nhập vào chúng sanh, nhưng bằng tâm tưởng, bằng đạo đức, chúng ta thấy được niềm vui, nỗi khổ của người khác và cũng xem đó như là niềm vui và nỗi khổ của chính mình, giúp cho chúng sanh bớt khổ thêm vui. Đó cũng là thông điệp, hoài bão mà Đức Phật gửi gắm cho mỗi người đệ tử Phật. Chúng ta không được phép dửng dưng, mặc kệ vui buồn thế gian và chỉ biết vun vén hạnh phúc của riêng mình.
MỘT SỐ LỄ HỘI NGOÀI TÔN GIÁO
Trở lại ngày xưa với “lễ hội” của những bộ tộc bán khai. Họ tin rằng muốn được trời đất che chở, mùa màng thuận lợi, săn được nhiều thú thì phải tế thần và phải tế bằng người. Ngày lễ tế thần là ngày trọng đại của bộ tộc, hàng ngàn người về dự lễ. Người được chọn tế (không hiểu tự nguyện hay bị bắt buộc) bị trói ở lễ đài (có khi bên bờ vực thẳm). Khi làm lễ xong, họ thiêu sống người đó hoặc xô người đó xuống vực sâu hay thả bè trôi sông. Những nhà khảo cổ tìm thấy ở châu Phi, ở Nam Mỹ những cái hố có dấu vết của xương người và đồ tế lễ cho thần linh. Những bộ tộc đó nay đã tuyệt chủng. Đó là nhân quả. Lấy việc giết người làm lễ hội thì nhân quả không bao giờ tốt đẹp cả! Hoặc có lễ hội giết hàng chục con trâu bò, lợn, hàng trăm ngàn con chó. Những lễ hội như vậy thật tai hại cho con người vì đã tích lũy nghiệp xấu. Chiến tranh cũng từ đó mà ra...
Khi nói đến lễ hội là nói đến vui chơi. Vì thế, chúng ta không thể nêu vấn đề thanh tịnh, giải thoát mà chúng ta chỉ nêu khía cạnh đạo đức. Chúng ta thấy có những lễ hội làm tăng tiến đạo đức của con người, nhưng cũng có nhiều lễ hội ảnh hưởng xấu làm băng hoại đạo đức con người.
Chúng ta hãy xét một số lễ hội sau:
Một số nước ở Đông Nam Á có lễ Trung Thu, ở Việt Nam gọi là Tết Trung Thu. Đó là tết dành cho thiếu nhi, diễn ra vào ngày 15 tháng 8 âm lịch hàng năm. Nhà trường, làng xóm, cha mẹ tạo điều kiện để cho các cháu vui chơi trong ngày trăng sáng: quần áo mới, rước lồng đèn, ăn bánh kẹo ngon. Quan sát sự vui chơi của trẻ, chúng ta thấy có tăng tiến về đạo đức không? Trẻ có được nhắc nhở về đạo đức trong ngày Tết này không?
Tất nhiên, tết Trung Thu cho trẻ vui chơi là chính. Mặt khác, cha mẹ cũng như cộng đồng xã hội chỉ tập trung dồn vào trò vui thì thật phí phạm. Không ai nhớ để nhắc nhở, để giáo dục trẻ về đạo đức. Đây là trách nhiệm của người lớn. Trẻ có được ươm mầm, vun xới đạo đức hay không còn tùy thuộc vào người lớn. Đạo đức của trẻ ở trong tay người lớn. Đây là điểm còn thiếu sót của những ngày lễ hội truyền thống.
Biết như vậy thì ngày nay chúng ta phải tìm cách đưa đạo đức vào lễ hội. Ví dụ, chúng ta sẽ bàn với nhau Tết Trung Thu năm tới, ngoài tổ chức cho trẻ vui chơi, còn phải lồng vào đó giáo dục đạo đức. Ngoài vui chơi, trẻ em còn có những ước mơ, trí tưởng tượng bay bổng. Đó là những nét đẹp của tuổi thơ mà chúng ta phải tôn trọng, vun đắp để làm phong phú tâm hồn của trẻ, hướng chúng đến những điều thiện.
Nếu thực hiện được điều này thì người lớn đang từng bước tưới mát tâm hồn trẻ thơ bằng dòng suối đạo lý, ươm mầm cho những lý tưởng cao đẹp nảy nở.
Các em cần tin rằng có Tiên, có Bụt (Phật), có ông Trời ban thưởng cho người làm được nhiều việc thiện, ăn ở hiền lành và trừng phạt những người làm việc ác, ăn ở xấu xa. Ví dụ, trong truyện Tấm Cám các em thấy rõ người ác cuối cùng bị trừng phạt, còn người thiện cuối cùng được hạnh phúc...
Toàn bộ kho tàng truyện dân gian của Việt Nam và thế giới đều là những bài học giáo dục đạo đức cho trẻ. Các câu chuyện cổ tích đó giúp các em tin vào sự tồn tại của Thần Thánh, sự trừng phạt của quả báo, sự công minh của nhân quả. Còn những loại đồ chơi như gươm, đao, xe tăng, súng và những trò chơi ngớ ngẩn như chiến tranh, bắn, giết v.v... tạo cho trẻ cái ý niệm căm thù, giết hại. Là cha mẹ, chúng ta cần phải kiểm soát, tuyệt đối không cho trẻ chơi những trò độc hại đó. Chúng ta phải làm cho niềm vui của tuổi thơ thấm đượm màu sắc đạo đức.
Ở Mỹ, có ngày lễ Tạ Ơn. Trước kia, tổ tiên của họ đến sinh sống, ăn nên làm ra rồi lập thành quốc gia hùng mạnh, họ nghĩ là nhờ Thần thánh che chở. Vì thế mỗi năm, họ làm lễ tạ ơn những người mà họ đã thọ nhận trong cuộc sống, như thọ ơn cha mẹ, anh chị em, bạn bè... chứ không chỉ riêng cái ơn Thần thánh.
Lễ Tạ Ơn như vậy mang một ý nghĩa sâu sắc. Vì sống mà không biết ơn ai là tội lỗi, vô ơn là mất đạo đức. Nhưng ngày lễ Tạ Ơn cũng là ngày sát sanh. Vì trong ngày này họ tụ họp gia đình để ăn mừng lễ, nên trước đó mấy tháng, các nông trại bận rộn nuôi gà, giết gà đông lạnh để cung cấp gà cho khắp nơi trên nước Mỹ. Người ta ăn uống no say vui vẻ nhưng có ai nghĩ đến hàng chục triệu con vật (cũng có sự sống) bị giết. Rồi cũng trong ngày lễ Tạ Ơn, đã có bao nhiêu người chết vì ăn gà bị trúng độc, bị tai nạn giao thông vì ăn uống quá chén...
Lễ Tạ Ơn là lễ hội tuy có vui mà ý nghĩa đạo đức không được nói tới.
Chúng ta biết nhớ ơn, đền ơn là đạo lý làm người. Tuy nhiên, con người nhiều khi cũng quên ơn...
Vài câu chuyện nhỏ sau đây có liên quan đến lòng biết ơn.
* Có lần chùa chúng tôi tổ chức khóa tu cho đệ tử trong một tuần nên không ai nấu cơm. Chúng tôi phải nhờ một số cư sĩ Phật tử nấu giùm. Họ tận tụy nấu ăn suốt một tuần để chư Tăng Ni chuyên tu. Hình ảnh đó rất đẹp. Nhưng không khéo người xuất gia sẽ nghĩ rằng người xuất gia là cao quý hơn, mình tu để cho những người khác nấu cơm thì họ sẽ có phước. E rằng đệ tử của mình nghĩ như vậy sẽ trở thành người vô ơn, nên trong bữa ăn chúng tôi có nhắc nhở: “Hãy nhìn hình ảnh những người cư sĩ tận tụy nấu cơm cho chúng ta ăn như vậy, phải thấy thương yêu và biết ơn họ”. Sau đó có vài đệ tử tâm sự: “Thầy nhắc chúng con mới giật mình, vì mải miết tu mà không nhớ những điều tốt đẹp đó. Chỉ nhớ là phải dụng công thế này, phải kinh hành, phải ngồi thiền thế kia... rồi quên”.
Hoặc giữa cha mẹ và con cái. Người cha, người mẹ nghĩ con nuôi mình là điều bình thường mà quên công lao cực khổ của con. Hay con cái nghĩ cha mẹ sinh mình ra, nuôi nấng mình là bình thường. Nhưng không ngờ, những điều mà chúng ta thấy bình thường đó tức là một sự vô ơn. Mà vô ơn là tội lỗi lớn của con người. Không được phép như vậy.
* Vào thời đất nước ta bị Bắc thuộc, lúc đó có một vị sư tu hành đắc đạo mà cả cọp sống trong rừng cũng biết.
Có lần một con cọp đến trước mặt Ngài, há miệng ra. Do hiểu tâm của chúng sanh nên Ngài biết con cọp này đang cần Ngài giúp. Ngài thò tay vào trong cổ họng cọp lấy ra cái xương to. Nó cúi đầu cảm ơn và bỏ đi. Ít bữa sau, nó cắn trái cây trong rừng đem tới chùa cúng. Con cọp có giác tánh gì nên biết được Ngài là vị sư đắc đạo, có lòng từ bi, hiểu được tâm của nó, có thể cứu được nó. Nó đã biết ơn và đền ơn người cứu nó. Thỉnh thoảng nó mang trái cây từ trên rừng xuống cúng Ngài (Nó không đem thú vật vì nó biết Ngài ăn chay). Đây là chuyện có thật được ghi trong sử sách.
* Ở Mỹ có lễ Halloween, lễ tưởng nhớ người chết. Họ giả làm ma đi cùng đường vào ban đêm nhát người khác cho vui. Họ mặc nguyên bộ quần áo vẽ hình xương người, đến gõ cửa từng nhà. Cửa mở, cánh tay xương thò vào xin bánh kẹo. Họ chơi đùa tinh nghịch khắp nơi. Mục đích của lễ hội này là gì? Khi tham gia lễ hội này, con người được hóa trang thành ma quỷ, xác chết, thây ma, phù thủy, để hù dọa người khác, khiến cho người khác phải khiếp sợ mình.
Vậy từ đây ta có thể suy ra ba tác hại cơ bản của lễ hội Halloween.
Thứ nhất, sự giả dạng làm ma quỷ để hù dọa người khác thì quả báo là gì? Người giả dạng làm ma để nhát khách qua lại trên đường vắng, hoặc để thực hiện những âm mưu đen tối khác, đều sẽ đọa làm ngạ quỷ cô hồn sau khi mất thân người.
Thứ hai, lễ hội Halloween gây ác cảm đối với người cõi âm. Những chúng sinh cõi âm là những chúng sinh rất tội nghiệp, họ thiếu phước nên không thể đi đầu thai được. Trong cõi giới đó họ rất đói khát, cũng chẳng khác gì những người nghèo khổ trên dương gian. Khi ta đem họ ra để giễu cợt chỉ càng làm họ thêm đau khổ trong cõi giới đó hơn. Họ cũng là chúng sinh nên ta cũng phải thương yêu, từ bi với họ. Ta không nên coi họ như những kẻ đáng sợ, kinh tởm. Ta nên tưởng nhớ họ trong ngày lễ này bằng cách tổ chức cúng thí thực và cầu siêu cho họ. Khi âm siêu thì dương mới thới được.
Thứ ba, sự phung phí thời gian và tiền bạc vào một lễ hội vô bổ, thậm chí là tai hại chỉ làm chúng ta tổn phước. Tiền bạc và thời gian đó chúng ta có thể làm phước thiện giúp ích được cho cuộc đời hơn là tiêu pha vào những trò hóa trang tạo nhiều nhân xấu như thế này.
Đa phần các lễ hội trên thế giới tập trung vào vui chơi hơn là mang ý nghĩa giáo dục đạo đức con người. Ở những vùng biển nước ta có lễ hội Cầu Ngư; cầu được trúng mùa cá, cầu được bình an khi đi đánh cá, cầu quốc thái dân an... như ở các vùng Phước Hải, Long Hải, Bình Thuận. Lễ hội rất vui: có đua ghe, có đoàn thuyền ra khơi với cờ xí rực rỡ, thỉnh “Lệnh Ông” về yết lễ, có các buổi hát bội (hát Chầu) để phục vụ bà con vui chơi.
Ngoài ra, hầu hết các quốc gia đều tổ chức lễ Quốc Khánh hay lễ kỷ niệm các anh hùng dân tộc, các danh nhân. Như nước ta có lễ giỗ Quốc tổ Hùng Vương, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo v.v... Nếu khéo tổ chức thì những ngày lễ hội đó có tác dụng giáo dục đạo đức con người, nhất là giáo dục đối với lớp trẻ tăng thêm lòng yêu nước, yêu dân, nhớ ơn tổ tiên.
MỘT SỐ LỄ HỘI TÔN GIÁO
Khoa học tìm chân lý. Tôn giáo cũng tìm chân lý.
Tôn giáo tìm chân lý bằng hai con đường: Niềm tin và Lý trí. Có những điều chúng ta không thể giải thích được mà chỉ tin thôi. Ví dụ người nào sống tốt, đối xử tốt với mọi người, bố thí giúp người nghèo khổ thì sau này họ sẽ giàu có. Điều này không thể giải thích được nhưng chúng ta tin. Đây là chân lý mà chúng ta tìm ra bằng niềm tin, không phải bằng lý trí. Hoặc nói người nào quá ích kỷ thì chắc chắn sẽ làm điều ác. Đây là suy luận rất lý trí, rất logic (dù ai có tin hay không tin thì sự thật vẫn là như thế).
Con người tìm đến tôn giáo trước hết bằng niềm tin. Từ niềm tin, con người có niềm vui, có hạnh phúc. Niềm vui và hạnh phúc lớn nhất là vào những ngày lễ hội của tôn giáo mình. Hầu hết các tôn giáo đều có những ngày lễ lớn.
Qua đây, chúng ta tìm hiểu một số lễ hội tôn giáo sau:
Lễ Giáng Sinh
Từ tôn giáo của Do Thái, một đất nước dân không đông nhưng ngày sinh của Chúa Jésus trở thành niềm vui lớn, trở thành sự kiện của thế giới. Do đâu như vậy? Vào khoảng thế kỷ XIX, những nước theo đạo Thiên Chúa có kỹ thuật cao, có tài tổ chức quân đội, họ đem quân đi đánh chiếm khắp nơi trên thế giới, chiếm nhiều thuộc địa. Vào cai trị thuộc địa nào họ cũng đều truyền đạo Thiên Chúa. Đến đâu, họ lập nhà thờ và truyền đạo đến đó, rất mạnh và rất nhanh. Chỉ trong thời gian mấy thế kỷ, đạo Thiên Chúa phát triển khắp nơi trên thế giới.
Các Linh Mục cũng là người được ăn học, họ khéo đưa văn hóa của đạo Thiên Chúa vào văn hóa của dân tộc bản địa. Dần dần văn hóa Thiên Chúa trở thành một bộ phận văn hóa của một dân tộc. Khắp nơi trên thế giới, rất nhiều văn thơ, nhạc họa nói tới Chúa, giáo đường, con chiên... Ví dụ có đoạn nhạc Việt Nam như sau: “Rồi đi ngang giáo đường Thiên Chúa. Quỳ Thánh giá xin làm chiên ngoan. Thấy có đứa đuôi dài đầu sừng. Chúa cũng xót thương người lầm than...”
Vào dịp lễ Giáng Sinh, nhà thờ tổ chức tưng bừng, rầm rộ, đèn đuốc giăng đầy, trang trí hang đá đẹp, gia đình giáo dân cũng làm như vậy. Lễ Giáng Sinh không chỉ là ngày vui vẻ của người theo đạo Thiên Chúa mà ngay cả những người không có đạo hay theo đạo khác cũng vui theo. Đôi thanh niên nam nữ yêu nhau, Giáng Sinh vui vẻ rủ nhau đi nhà thờ, người ta ăn mặc đẹp đua nhau ra đường, tổ chức ăn réveillon. Người theo đạo Phật cũng vui chơi nên rất “vô tình”, tất cả đều “truyền đạo” Thiên Chúa, đạo Tin Lành.
Ở đây, chúng ta nói khái quát một cách khách quan về giáo lý của Thiên Chúa giáo, không có ý phân biệt, chia rẽ tôn giáo.
Theo tinh thần của đạo Phật, chúng ta chỉ chấp nhận điều gì đúng và phủ nhận điều gì sai. Thời Phật tại thế, Ngài chấp nhận những điều mà thời kỳ trước của Ngài người ta nói đúng, và Ngài tiếp tục phát triển. Ví dụ, các tu sĩ Ấn Độ giáo nói về nhân quả luân hồi, Đức Phật chấp nhận và nói: “Họ nói đúng”, rồi Ngài giải thích sâu hơn, rộng hơn về nhân quả luân hồi. Nhưng theo kinh Vệ Đà, người Ấn Độ giáo tin rằng có Thượng đế tạo ra tất cả. Đức Phật phủ nhận, Ngài khẳng định không hề có một Thượng đế nào tạo ra tất cả. Đức Phật đã thẳng thắn và bao dung trước những vấn đề đúng sai bằng trí tuệ của Ngài.
Ngày nay, chúng ta cũng thẳng thắn và bao dung như vậy. Chúng ta phải công nhận rằng có những điều Chúa Jésus dạy rất hay. Chúa dạy rằng: “Ai tát người má bên phải, hãy đưa má bên trái cho họ tát luôn”, đó là tính nhẫn nhục, chịu đựng mà đôi khi chúng ta, những đệ tử Phật chưa “tu” được. Ai chê chúng ta một câu, chúng ta cũng chê lại một câu hoặc đối đáp về giáo lý, có những lời tranh hơn thua với nhau để chứng tỏ hiểu đạo lý hơn. Hoặc có câu: “Ai muốn lên Trời, hãy quên mình đi”, đó là tinh thần vì mọi người, rất giống với đạo Phật về tâm hạnh vị tha.
Đức Phật đã phủ nhận “Thượng Đế tạo ra tất cả”. Vì sao? Bằng trí tuệ giác ngộ, Đức Phật thấy không đúng như vậy. Đối với chúng ta, bằng trí tuệ lý luận đơn giản, chúng ta cũng không tin như vậy. Nếu Thượng đế (hay Chúa) tạo ra tất cả thì bệnh AIDS ai tạo ra? Không lẽ Chúa tạo ra để hại loài người? Trong khi nói rằng Thượng đế thương yêu con người nên có một Thượng đế tạo ra tất cả. Ai tạo ra chiến tranh cho con người tàn sát lẫn nhau không thương tiếc, không lẽ Chúa tạo ra những điều đó?
Rồi tính độc ác trong mỗi con người do ai tạo ra để con người giết nhau, rồi trộm cướp, đày đọa nhau. Nếu Chúa tạo ra con người sao Chúa không tạo ra con người thiện mà lại để cái ác vào tâm con người. Đọc Kinh Cựu Ước, chúng ta thấy lúc đầu Chúa lấy đất sét nắn tạo thành ông Adam. Chúa thấy Adam ở một mình buồn nên lấy ba cái xương sườn của Adam tạo thành bà Eva. Adam và Eva lấy nhau đẻ ra con cái. Về sau các thế hệ con cháu của hai ông bà giết hại lẫn nhau: người em giết người anh, đó là Kain và Aben. Đi sâu hơn, từ ban đầu không có gì, chỉ có một mình Chúa. Rồi Chúa không thể ở yên trong sự thanh tịnh hay sao mà tạo ra đủ chuyện cho vui, đủ bi hài kịch trên thế giới này: động đất, sóng thần, lũ lụt, bệnh tật, đói khổ... Chúa là đấng nhân từ hay toàn năng? Đó là những sơ hở về lý luận mà chúng ta không thể chấp nhận.
Tuy nhiên, lễ Giáng Sinh là lễ hội đã trở thành niềm vui chung của cả thế giới. Chúng ta tôn trọng lễ Giáng Sinh mà vẫn tỉnh táo để nhận ra một sự thật...
Lễ Ramadan (Hồi giáo)
Lễ Ramadan là lễ hội lớn của người Hồi giáo. Tín đồ ăn chay, cầu nguyện và hành hương về thánh địa La Mecque. Cả thế giới Hồi giáo “rầm rầm” về thánh địa dự lễ (tai nạn thường xảy ra vào dịp này: cầu sập, lều nhà cháy, hàng trăm ngàn người chết...). Niềm tin của người Hồi giáo mạnh hơn Thiên Chúa giáo. Một ngày họ làm lễ năm lần, gia đình họ dạy con luôn luôn cầu nguyện Thánh Allah, trẻ em phải tu (như chú tiểu bên đạo Phật).
Còn đạo Phật thì sao? Một tháng chúng ta đi chùa mấy lần? Có người nửa tháng hay một tháng mới đi chùa một lần. Có người một năm chỉ đi chùa vào các ngày lễ lớn. Thậm chí có người quy y đã mấy năm rồi vẫn chưa thấy trở lại chùa. Đây là một khiếm khuyết của một số Phật tử. Chính vì thế, tuy giáo lý của đạo Phật sâu hơn, hay hơn các tôn giáo khác nhưng Phật tử chúng ta vẫn chưa học tập được nhiều.
Do đó, chúng ta cần phải tinh tấn tu tập và học hỏi giáo lý. Chúng ta cũng cần chú ý dẫn dắt, dạy con em theo đạo, nếu thả lỏng thì đến một lúc nào đó con em chúng ta bỏ đạo hồi nào cũng không hay. Từ đây, chúng ta phải sửa sai lầm mà trước hết là chúng ta phải thường xuyên đi chùa; chiều thứ bảy hay sáng chủ nhật dẫn con, cháu cùng đến chùa và cứ thế thành thói quen.
Thật vậy, chúng ta phải thay đổi nếp sinh hoạt ở chùa cho vui hơn để có thể độ cho lớp trẻ (Lớp trẻ ham vui, mà lúc nào cũng tụng kinh, tiếng chuông, tiếng mõ... rất dễ chán!). Các Tăng, Ni nên có chương trình hoạt động vào chiều hoặc tối thứ bảy, không chỉ là một thời tụng kinh đơn thuần mà nên có ba giai đoạn:
- 30 phút đầu tụng thời kinh
- 45 phút sau thuyết pháp
- 45 phút kế tiếp tổ chức sinh hoạt rèn luyện
kỹ năng cho mọi người cùng hào hứng tham dự.
Đây chỉ là ý tưởng mà nếu chúng ta thay đổi được cách sinh hoạt như vậy thì chùa mới thu hút lớp Phật tử trẻ để đạo Phật dần dần mạnh hơn.
CÁC LỄ HỘI CỦA ĐẠO PHẬT
Lý tưởng của đạo Phật là làm cho thế gian bớt khổ, thêm vui. Những ngày lễ hội của đạo Phật là những ngày mang đến niềm vui chung cho mọi người, cho cuộc đời.
Tổ chức lễ hội của đạo Phật, chúng ta cố gắng đạt ba tiêu chuẩn:
Thứ nhất, lễ hội phải thật vui, không để nhàm chán, buồn tẻ. Phật tử không chỉ tới chùa cho đông, thắp nhang, lạy Phật rồi về...
Thứ hai, tổ chức sinh hoạt vui mà ít tốn kém để còn tiết kiệm tiền của giúp đỡ người nghèo khổ.
Thứ ba, phải làm tăng trưởng được đạo tâm của mọi người trong ngày lễ hội.
Ba yêu cầu trên mong rằng các Tăng, Ni sẽ làm được cho chùa mình sau này.
Tổ chức lễ hội sao cho có ý nghĩa là tài năng của quý Tăng Ni, không được phép tổ chức một lễ hội hời hợt. Ví dụ lễ Phật Đản, Phật tử tới chùa dâng hoa, lễ Phật, nghe thuyết Pháp, diễn biến cuộc lễ phải vừa vui vừa cảm động... để khi rời lễ hội ra về mà trong lòng mọi người còn vui vẻ, và có tâm nguyện thành kính suốt đời theo Phật, suốt đời làm lợi ích cho chúng sinh. Nghĩa là chương trình lễ hội phải hợp lý, đi từ phần này sang phần khác dễ chấp nhận, không dồn thời gian cho phần nào nhiều quá. Tụng kinh cũng chút thôi, ngồi thiền chút thôi, thuyết giảng chút thôi, đọc diễn văn chút thôi, giao lưu nhân vật chút thôi, văn nghệ vui tươi thì dài hơn cũng được. Có những khoảng thời gian cho mọi người thư giãn, đi vệ sinh, ăn uống, ngả lưng, chuyện trò riêng tư...
Một điều nữa là không khí lễ hội phải thật ấm cúng, thân thiện, trật tự, thiêng liêng và vui vẻ. Mọi người biết quý mến nhau nên không khí thân thiện; mọi người được ban tri khách hướng dẫn chu đáo nên không lúng túng lạc lõng; mọi người không nói chuyện ồn ào khi vào các nghi lễ tụng niệm, thuyết Pháp, ngồi thiền, giao lưu nên không khí trật tự; mọi người được tụng đọc các bài kinh dễ hiểu, sâu sắc, cao thượng, nên không khí rất thiêng liêng.
Và quan trọng nhất của lễ hội là Bài thuyết pháp. Bài thuyết pháp là “cây đinh” của lễ hội. Đạo lý là lẽ sống của Phật giáo. Vì thế, nếu bài thuyết pháp càng hay càng gây cho mọi người đạo tâm tăng trưởng, càng hứa hẹn sự quay lại ở những lễ hội khác nữa. Tuy nhiên, đôi khi ta không có giảng sư xuất sắc cho lễ hội của mình, thì ta cũng cần bài thuyết pháp của một vị thầy hiền lành chân tu là được. Đức độ của vị thầy chân tu sẽ khiến cho Phật tử cảm động yêu quý, và thích đến chùa mãi.
Âm nhạc cũng là yếu tố cực kỳ quan trọng. Ta chọn lọc những bài nhạc Phật giáo hay, cho phát ra vào những lúc thích hợp, tạo nên không khí lễ hội. Có khi chỉ mở nhạc không lời êm dịu. Có khi tắt hẳn mọi âm thanh lại là cần thiết. Trong vài phần nghi lễ chính, có khi phải phát nhạc to để mọi người chìm trong không khí của lễ hội, nhất là lúc cho mọi người lần lượt lên dâng hoa cúng Phật.
Nên vì vậy, chư Tăng Ni phải biết học hỏi lẫn nhau cách tổ chức, và thỉnh thoảng phải thay đổi cách cử hành nghi thức lễ, tiến trình của lễ... cho vui hơn, mới mẻ hơn và lạ hơn để mọi người đi dự lễ hội thêm thích thú và cảm động hơn.
Khi nào ta cảm nhận rất rõ sau lễ hội lòng mọi người hân hoan vui mừng tức là ta đã thành công. Đạo tâm mọi người tăng trưởng là ta đã thành công.
Phật tử đến chùa đông vui cũng là thước đo giá trị của một ngôi chùa, cũng chứng tỏ ngôi chùa đó có Phước, có gì đặc biệt hơn. Phật tử đến chùa đông vui cũng là dấu hiệu đạo Phật hưng thịnh, được xã hội đón nhận yêu quý. Phật tử đến chùa đông vui cũng là danh dự chung của Phật giáo.
Ở đây, ta nói rõ hơn về các Lễ hội chính của Đạo Phật.
Đạo Phật có ba lễ lớn: Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan và Lễ Thành Đạo
Lễ Phật Đản
Suốt hơn 2500 năm tồn tại và phát triển, đạo Phật đã trở thành một trong những tôn giáo lớn của nhân loại. Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận ngày Đức Phật đản sinh là biểu tượng về văn hóa và tôn giáo của thế giới. Đây là điều minh chứng những thông điệp của Đức Phật đã đi khắp thế giới, có ảnh hưởng đến đời sống tâm linh trong cộng đồng quốc tế.
Cứ mỗi năm đến ngày rằm tháng tư, người đệ tử Phật lại hân hoan cùng nhau tưởng nhớ lại một sự kiện phi thường của nhân loại, đó là Phật đản sinh xuống trần gian để đem đến cho chúng sinh chân lý cao quý bất tuyệt.
Đức Phật là cao siêu vì cuộc đời của Người là cả một chuỗi những điều thiêng liêng kỳ diệu. Nhưng Đức Phật cũng là bình dị vì Người đã đến với chúng sinh trong thân phận của một con người như mọi người.
Đức Phật là sự giác ngộ vô tận vì tâm của Người phủ trùm cả pháp giới. Nhưng Đức Phật cũng là sự khiêm hạ tột cùng khi mỗi ngày Người cũng ôm bát đi khất thực tự tại giữa dòng đời lao xao tất bật.
Đức Phật là sự bình an tĩnh lặng vì không điều gì có thể lay động được tâm Người, nhưng Đức Phật cũng là lòng từ bi vô hạn vì Người yêu thương tất cả chúng sinh.
Đức Phật là ánh sáng bao la vì chẳng còn chút bóng tối nào trong tâm hồn Người hay trong cuộc đời Người, nhưng Đức Phật cũng là bóng mát che chở tất cả chúng sinh giữa dòng đời khổ đau phiền muộn.
Đức Phật là vị thầy vĩ đại vì đã dạy dỗ chúng sinh từng chút đạo lý từ nhỏ nhặt đến cao siêu, nhưng Đức Phật cũng là người bạn thân thương cho tất cả chúng sinh vì luôn lắng nghe, yêu thương và gần gũi.
Ngày lễ Phật Đản, ngoài lòng tôn kính, tưởng nhớ Phật, còn có ý nghĩa tín ngưỡng. Vì chúng ta tin rằng sự xuất hiện của Đức Phật là nhân quả, là sự an bài từ nhiều kiếp. Ngài xuất hiện để đem đến cho thế gian này ánh sáng chân lý. Đó là niềm tin. Chúng ta chú trọng tổ chức lễ Phật Đản là chúng ta thiên về tín ngưỡng, niềm tin tôn giáo. Đó là kỷ niệm ngày đản sanh vị giáo chủ của đạo Phật.
Nhờ có Đức Phật, chúng ta biết tu để điều chỉnh, sửa đổi lời nói, hành vi, ý nghĩ của mình. Nhờ có Đức Phật, chúng ta biết Phật Pháp, biết làm được nhiều công đức, biết làm người có giá trị, sống có ý nghĩa, có tư cách con người. Phật dạy đạo đức vô ngã, khiêm hạ; là Phật tử, chúng ta luôn luôn sống theo lời Phật dạy. Nhờ những lời dạy cao quý của Người mà chúng ta có được cuộc sống đúng hơn giữa trần gian tăm tối này; chúng ta biết thương yêu nhau hơn giữa biển đời đau khổ này; chúng ta bình an hơn giữa luân hồi đầy nghịch cảnh này. Những công hạnh phi thường mà Đức Phật đã dày công tích lũy từ vô lượng kiếp đã kết tinh thành cuộc đời siêu việt của một Đấng Chánh Giác, đã kết tinh thành vô số lời dạy đáng tôn thờ của vị Thầy cả Trời và Người. Chúng ta nương tựa vào công đức và lời dạy của Phật để thoát dần ra khỏi thân phận đắng cay và hèn kém của kiếp người.
Có người sẽ hỏi: “Vì sao hơn mấy ngàn năm chúng ta làm phước cũng nhiều mà vẫn nghèo”.
Trả lời sao đây? Có thể nói rằng cách đây năm, bảy kiếp chúng ta đã là người giàu rồi, nhưng vì quên lời Phật dạy nên bị đọa làm người nghèo cho biết làm phước lại. Người đã biết Phật Pháp thì thường không phải là người thấp hơn.
Trong quá khứ, có thể chúng ta đã vinh quang nhưng vì kiêu mạn nên bây giờ phải chịu khổ, nhưng rồi cũng đi lên trở lại. Chúng ta thật may mắn vì Đức Phật đã cho chúng ta niềm vui nơi giáo pháp, nên chúng ta biết ơn Phật là vậy. Còn người không biết đạo, họ sống nghèo, làm điều xấu, rồi có thể bị đọa làm súc sinh... Vì thế, tất cả mọi chúng sanh nếu biết tu thì không gì tốt bằng.
Ngày Phật Đản là ngày thật vui, vì đó là ngày mà thế giới xuất hiện một vĩ nhân để sau này thành Phật, chỉ bày được chân lý cho loài người mãi mãi.
Người Phật tử vui, phải làm cho mọi người vui theo, mọi người thương yêu nhau hơn. Trong dịp lễ, nhà cửa được quét dọn sạch sẽ hơn, trang hoàng bàn thờ đẹp hơn, ăn ngon hơn (ăn chay), mặc đẹp hơn; gọi điện thoại với người thân, bạn bè; nói chuyện với nhau về đạo lý, về nhân quả. Ngoài việc đưa cả gia đình tới chùa dự lễ, chúng ta còn rủ thêm những người chưa biết đạo Phật mà chúng ta thấy có duyên cùng đi đến chùa. Và chúng ta cũng phải tu nhiều hơn, lễ Phật nhiều hơn, tọa thiền lâu hơn v.v...
Cũng trong dịp lễ Phật Đản, chúng ta phải chuẩn bị làm điều gì đó có ý nghĩa, có lợi cho người khác. Nghĩa là chúng ta phải làm điều phước gì đó để cúng dường Phật. Ví dụ như để ý trong xóm có cụ già nào neo đơn, mặc dù hàng ngày chúng ta cũng có thăm hỏi, nhưng riêng ngày Phật Đản chúng ta chăm sóc cụ đặc biệt hơn. Chúng ta đến thăm và tặng quà cho cụ, pha sữa, pha nước cho cụ uống, nói vài ba điều cho cụ vui, nhắc cụ niệm Phật, nhắc cụ nhớ ngày Phật Đản,... nghĩa là làm điều gì lợi ích cho chúng sinh, đó cũng là cách chúng ta cúng dường Phật nhân ngày Phật đản.
Còn ở tại chùa, trách nhiệm của chư Tăng Ni là phải tổ chức lễ hội thật cảm động, phải thuyết pháp thật hay, làm cho Phật tử kính nhớ Phật mà tinh tấn tu hành và thương yêu nhau hơn, sống có ý nghĩa hơn. Muốn làm được những điều này, ngoài cố gắng của Tăng Ni, cần có sự tiếp tay giúp đỡ của Phật tử thuần thành. Đó là những người hiểu đạo, thường tới chùa tinh tấn tu hành, tới chùa làm Phật sự.
Tóm lại, tổ chức lễ Phật Đản thật vui như ngày hội, thật cảm động để tất cả Phật tử và những người chưa thuần thành đến với lễ hội khi ra về đều có cảm xúc.
Lễ Vu Lan
Đạo Phật đề cao lòng biết ơn nên có lễ Vu Lan. Đó là một trong những ngày lễ quan trọng và có ý nghĩa lớn trong đạo Phật cũng như trong đời sống của con người.
Nói đến lễ Vu Lan là nói đến sự hiếu nghĩa của người con cháu đối với ông bà, cha mẹ. Đây là một bản sắc đạo đức của những người trong đạo Phật cũng như của những người Á Đông. Không chỉ là biết ơn cha mẹ mà biết ơn cả ông bà, thầy cô giáo, anh chị em, bạn bè, người cán bộ tốt, người láng giềng, người chiến sĩ, người xuất gia,... tất cả những người mà chúng ta mang ơn trong cuộc sống này.
Nhiều chùa cứ lấy ngày lễ Vu Lan chỉ để ca ngợi Mẹ là hơi phiến diện, hẹp hòi. Phật tử lại chùa được hỏi còn Mẹ hay mất Mẹ rồi cài bông hồng; còn người Cha đứng một bên sờ sờ không ai hỏi tới. Đây là tâm lý, chúng ta phải nhớ để tổ chức lễ Vu Lan được tốt hơn.
Theo quy luật tâm lý tự nhiên của con người, nếu để mặc, không có nhắc nhở, giáo dục thì chúng ta chỉ biết thương yêu, hy sinh tất cả vì những đứa con do mình sinh ra mà quên đi việc quan tâm, chăm sóc đến cha mẹ. Nói là quy luật tự nhiên nhưng thực sự nó rất bạc bẽo, cay đắng. Do đó, bằng sự minh triết của mình, các bậc Thánh mới lật ngược lại vấn đề để dạy cho chúng ta đạo lý rằng: Mình biết thương con mình thì cũng phải biết ơn và hiếu kính với cha mẹ.
Để lật ngược lại vấn đề quả thực không dễ dàng gì, vì nó đi ngược với quy luật tự nhiên. Vậy nên, chỉ những người có đạo lý, có đạo đức mới nghĩ tới lòng hiếu kính. Và lễ Vu Lan được tổ chức đều đặn hàng năm là cơ hội để ta đi ngược lại với bản năng bạc bẽo, vô ơn của mình; nhắc ta biết nhớ đến những đấng sinh thành đã yêu thương, bao bọc ta từ tấm bé mà ta đã quên. Mỗi người cha, người mẹ lại có một cách khác nhau để thể hiện tình yêu với con cái, một thứ tình cảm thực sự rất thiêng liêng, vĩ đại, bao la mà những người con nhiều khi không hiểu, không biết hoặc không cảm nhận hết được. Do đó, ta dễ quên đi cha mẹ mình là như vậy.
Lễ Vu Lan là dịp để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn. Trong đời ơn nghĩa là điều không bao giờ dứt nên đây là dịp để chúng ta trả ơn trả nghĩa đúng đạo làm người. Ví dụ, mặc đẹp cho cha mẹ, chuẩn bị quà tặng. Quỳ xuống trước cha mẹ mà nói rằng hôm nay ngày lễ Vu Lan, ngày biết ơn, ngày báo hiếu, chúng con nghe lời Phật dạy xin chúc cha mẹ... rồi tặng món quà, mời cha mẹ cùng đi chùa lễ Phật, nghe thuyết pháp.
Chúng ta cũng tặng quà cho những ai đó mà mình đã và đang mang ơn trong cuộc đời. Nếu giàu có thì tặng cho nhiều người, còn nghèo thì tặng một người, không thể không tặng quà. Ví dụ năm mười năm về trước, có người giúp mình vượt qua cơn khốn khổ. Dù sự giúp đỡ đó so với trị giá không là bao nhưng mình mang ơn tấm lòng của họ, thì nhân dịp Vu Lan mình đến bày tỏ lòng biết ơn và tặng món quà.
Hoặc trong xóm có trộm, có bán ma túy. Anh công an khu vực cực khổ thức đêm để rình bắt, giúp làng xóm sống yên bình. Tới ngày Vu Lan, nghĩ tới công lao của anh, chúng ta tới thăm, tặng quà. Có thể anh không có tín ngưỡng nhưng tặng quà và nói ý nghĩa của lễ Vu Lan có lẽ làm anh cảm động.
Nhưng có khi người công an hay cán bộ nhà nước lương thấp, cuộc sống còn nghèo mà họ sống tốt, thanh liêm, biết lo cho dân thì chúng ta phải biết ơn họ. Nhân ngày lễ, chúng ta đến tặng chút quà để tỏ tấm lòng của chúng ta cũng là một cách mang lại niềm vui, hạnh phúc đến với họ.
Ngoài ý nghĩa trên, lễ Vu Lan còn có thêm một ý nghĩa khác nữa, đó là ngày ta hướng tới những người đã mất. Con cháu tưởng nhớ, thờ cúng trang nghiêm, làm các điều lành để hồi hướng cho họ.
Thế nên, ông bà ta ngày xưa có câu nói rất hay: “Âm siêu thì dương thới”, nghĩa là những người trong cõi âm mà được về nơi an lành, có người thờ cúng thì tự nhiên, cõi dương cũng được phát triển, hưng thịnh và bình an.
Mùa Vu Lan về nhắc chúng ta bốn ân nặng sâu, trời tháng bảy đến mở cho chúng ta lối đi nhập thế. Phật Pháp vừa siêu thoát thế gian, vừa chẳng rời khỏi thế gian. Chúng ta phải vừa cầu sự giải thoát trầm luân, vừa phụng sự cuộc đời với tất cả lòng yêu mến.
Nếu dịp lễ Vu Lan, chúng ta làm được những điều có ý nghĩa tương tự như vậy thì đạo đức chúng ta tăng trưởng, mọi người thấy vui và làm cho mọi người biết được Phật Pháp.
Lễ Thành Đạo
Đối với đạo Phật, lễ Thành Đạo là quan trọng nhất chứ không phải là lễ Phật Đản. Vì sao? Những tôn giáo khác mặc khải thần quyền như đạo Thiên Chúa, việc Chúa Jésus ra đời xem như sự an bài của Thượng đế để cứu nhân gian, cứu thế gian nên ngày sinh (lễ Giáng Sinh) là quan trọng. Còn đạo Phật thì sự tu hành là quan trọng. Chúng ta là đệ tử Phật, phải tu thì mới giác ngộ được. Vì thế, ngày lễ Thành Đạo là ngày nhắc nhở việc tu hành. Lễ Phật Thành Đạo tôn vinh ngày mà Sa Môn Gotama sau bốn chín ngày nhập định dưới cội cây bồ đề đã chứng thành Vô thượng đạo, chứng đạt Bản Thể Tuyệt Đối (Niết
Bàn). Nếu nói là sáng thì sáng hơn nghìn ánh mặt trời, nếu nói là tịch lặng thì tịch lặng hơn cả hư vô. Nơi trạng thái Niết Bàn này không nói là Từ Bi mà là Từ Bi vô hạn, không nói là trí tuệ mà là Trí Tuệ vô cùng. Nếu ai đã từng có nghiên cứu, thì ắt hẳn biết rõ ngày mùng 08/12 âm lịch hơn 2500 năm trước là ngày thành đạo của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Và chỉ duy nhất Ngài mới là vị giáo chủ có ngày Thành Đạo phi thường.
Nhưng một thời gian dài, chúng ta chỉ tổ chức lễ Phật Đản rầm rộ giống như đạo Thiên Chúa, thậm chí có nhiều chùa không hề biết tới lễ Thành Đạo, không tổ chức lễ Thành Đạo. Ngày nay, chúng ta cần phải tổ chức lễ Thành Đạo tưng bừng hơn hẳn các lễ khác. Đây mới thực sự là lễ hội quan trọng nhất trong đạo Phật.
Từ đêm thành đạo thiêng liêng, Đức Phật mở ra cánh cửa bất tử cho chư thiên và loài người. Chúng ta bớt quay cuồng theo vô minh tội lỗi vì nhàm chán sinh tử luân hồi. Chúng ta biết đứng lại dù cuộc đời đẩy xô lôi kéo vì hy vọng theo Phật đi vào cánh cửa bất tử thiêng liêng kia. Bên kia cánh cửa là ánh sáng từ bi vô ngã, bên này cánh cửa là bóng tối khổ đau điên đảo. Bên kia cánh cửa là bình an giác ngộ cao siêu, bên này cánh cửa là loạn động mê mờ lầm chấp. Chưa có Phật, mỗi ngày chúng ta đi trong thù hận ích kỷ ngu si; theo Phật rồi, mỗi ngày chúng ta bước trên đường thương yêu thứ tha và tỉnh giác. Đời sẽ nhiều hơn tiếng cười, người sẽ nhiều hơn niềm vui, và lòng sẽ nhiều hơn hạnh phúc. Theo Phật rồi, từng ngày đi qua là từng ngày chúng ta gột rửa lỗi lầm để tiến dần lên thánh đạo, bỏ dần lại sau lưng những ảo tưởng mộng mơ dại khờ.
Bình minh nơi cội Bồ đề cũng là bình minh cho nhân loại khi Đức Phật đắc đạo cao siêu. Trí tuệ từ tâm hồn Người mãi mãi toả ánh sáng vào đường đi của chúng sinh. Từ bi từ tâm hồn Người mãi mãi làm đảo cồn cho chúng sinh nương tựa. Biết bao đạo lý nhiệm mầu nở hoa rực rỡ thành các bài kinh thiêng bất tuyệt. Biết bao lời dạy cao quý trở thành lẽ sống của cuộc đời chúng ta. Dù chưa giải thoát, nhưng
Lễ hội
niềm tin vào tuệ giác của Phật đã dẫn dắt chúng ta đi trong an vui kiên định.
Nếu ai hỏi cái gì là cao quý
Xin trả lời là chân lý Phật đà
Thế cái gì là mầu nhiệm sâu xa
Xin thưa rõ là đóa hoa chánh pháp.
Tiến trình tổ chức lễ Thành Đạo khó khăn hơn vì Phật thành đạo vào đêm khuya nên buổi lễ chính phải tổ chức vào đêm khuya.
Có thể tổ chức như sau:
Khoảng sáu hoặc bảy giờ chiều ngày mồng bảy tháng mười hai âm lịch chúng ta đến chùa. Bắt đầu tụng kinh, ngồi thiền, nghe thuyết pháp, sinh hoạt văn nghệ đến 23 giờ. Sau đó, nghỉ cho đến khoảng ba giờ sáng, bắt đầu vào lễ chính thức.
Thức dậy, ngồi thiền ba mươi phút, tiếp đến chúng ta nghe chư Tăng Ni nói về ý nghĩa Phật thành đạo, đọc bài Sám Thành Đạo, rồi sau đó dâng hoa cúng Phật. Khác với lễ Phật Đản là cúng dường Phật, lễ Vu Lan là biết ơn cha mẹ, người thân, bạn bè, đất nước quê hương...; lễ Thành Đạo là ngày tu tập, là ngày của giáo Pháp. Vì thế, việc tổ chức lễ Thành Đạo phải nêu bật được ý nghĩa thành đạo của Đức Phật.
Trong ngày lễ Thành Đạo, chúng ta đưa những người thân đến chùa, ai chưa quy y đến xin quy y, ấn tống sách kinh gửi tặng bạn bè hay tặng những bài giảng để nhắc nhở mọi người về giáo Pháp. Dù buổi sáng mồng tám, từ bốn đến sáu giờ sáng là đã xong lễ, nhưng suốt ngày hôm đó, chúng ta phải nhớ giữ lễ Thành Đạo trong lòng chúng ta và mọi người.
Chúng ta chờ đợi một ngày nào đó cả nước Việt Nam và các nước trên thế giới tổ chức lễ Thành Đạo tưng bừng, rầm rộ thì phải hiểu rằng đạo Phật đang mạnh vì tất cả mọi người theo đạo Phật đang tinh tấn tu hành. Chỉ có những người biết tinh tấn tu hành mới biết trân quý ý nghĩa lễ Thành Đạo, mới cảm nhận được việc Đức Phật lặn lội sương gió tu hành, bốn mươi ngày nhập định và khai mở trí tuệ ... Ngày nào mà thế giới tổ chức lễ Thành Đạo như một ngày hội lớn, các tôn giáo khác cũng vui theo thì mọi người đã hiểu được ý nghĩa cao cả của ngày Đức Phật thành đạo, mọi người đã tinh tấn tu hành, tinh tấn tọa thiền ...
Như vậy, muốn cho Lễ hội đông vui thì ta phải bắt đầu từ trái tim của mình, đó là sự tinh tấn tu hành, thiết tha tôn kính Phật, tràn ngập lòng yêu thương chúng sinh.
Tết Nguyên Đán
Ngoài ra, chúng ta còn có một lễ hội cổ truyền của dân tộc, đó là ngày Tết Nguyên Đán. Từ những ngày trước tết, người ta quét dọn, trang hoàng nhà cửa, sắm sửa, chuẩn bị để vui chơi, để ăn tết. Những ngày Tết phải ăn ngon, mặc đẹp, vui tươi, chúc tụng nhau những điều hạnh phúc, chúc nhau sự sung túc, an lành ...
Nhưng vui quá nên cũng sinh ra tệ nạn: đánh bài, nhậu nhẹt, nhảy nhót... người ta tìm đủ cách để vui chơi thỏa thích mà đôi khi làm mất ý nghĩa thiêng liêng của những ngày đầu năm mới. Đó là những ngày họ hàng ruột thịt, bạn bè gần xa có dịp thăm viếng nhau, nhớ ơn tổ tiên ông bà, cha mẹ ...
Với các gia đình Việt Nam, Tết có giá trị lớn về tinh thần. Nếu ngày Tết các bậc cha mẹ có những lời huấn thị con cái thì Tết càng trở nên thiêng liêng, mọi người gần gũi nhau hơn. Gắn kết yêu thương. Giáo dục đạo đức, lối sống, phong tục. Có những giá trị tinh thần thì niềm vui ngày Tết lớn hơn.
Ngày Tết, mọi người đi chúc Tết ông bà, họ hàng, thể hiện tình cảm thân ái. Đây là bài học lớn dành cho con cháu. Tình thương yêu chính là vốn quý của con người, trước hết là tình cảm trong gia đình, rồi đến họ hàng, làng xóm, quê hương. Trong thái độ ân cần mời mọc nhau, là bài học nhân ái. Ai sống được trong lòng nhân ái suốt năm thì có quả báo lành.
Tục lệ là ngày Tết phải vui. Tặng nhau niềm vui. Mình buồn thì đem lại sự không may mắn cho người khác. Quà tặng cho nhau, cho tiền cho bạc chẳng hạn, cuối cùng cũng chính là cho niềm vui. Quà tặng lớn nhất của con người chính là cho nhau niềm vui.
Đặc biệt hơn, ngày đầu năm là ngày vía Đức Di Lặc. Mấy vị Tổ thật trí tuệ khi nói: “Thương yêu là đem đến hạnh phúc, hạnh phúc đem đến thương yêu”. Bồ tát Di Lặc tượng trưng cho thương yêu và hạnh phúc. Ngài luôn luôn cười, cười là thương yêu. Là đệ tử Phật, chúng ta cũng nghĩ phải làm được một điều gì đó đem lại niềm vui, đem lại tiếng cười cho nhân gian; đem tình thương lắp vào chỗ ganh ghét; đem tha thứ thay thế nhục mạ; đem sự sáng suốt, tỉnh giác xóa tan sự si mê, lầm lỗi. Với tâm vị tha, chúng ta sẽ làm được những điều này.
Bây giờ nhiều người theo lối sống mới, vật chất dư dả hơn ngày xưa. Người ta hướng ngoại nhiều hơn. Ngày Tết nhiều khi đi chơi, rời xa quê hương, thành ra không được hưởng không khí Tết. Nếu quên đi tình thân tộc, chỉ đi chơi cá nhân, tưởng đó là sang, nhưng thật ra ngày Tết với thân tộc mới chính là đem lại hạnh phúc lâu dài cho chính mình và gia đình, họ hàng của mình.
***
Như vậy, với nhãn quan của đạo Phật, Lễ hội cần mang được nhiều đạo lý hơn, tức là cần điều chỉnh nội dung và cách tổ chức. Ví dụ không được đốt pháo vào dịp Tết là một điều chỉnh tuyệt vời, như thế sẽ tiết kiệm được hàng tỷ đồng cho nhân dân, giảm ô nhiễm môi trường, giảm tiếng ồn. Hoặc xóa bỏ những lễ hội làm mất đạo đức như lễ hội Đâm Trâu, hay lễ hội Tình Yêu của một số dân tộc.
Điều con người cần có là niềm vui, là hạnh phúc. Lễ hội là dịp mang lại cho con người nhu cầu đó. Chúng ta có trách nhiệm làm tăng niềm vui cho cuộc sống, trong đó, chúng ta cần chú trọng tổ chức các lễ hội của đạo Phật vui hơn, tràn đầy đạo lý hơn và có ý nghĩa hơn. Lễ hội không chỉ là nơi con người vui chơi, tạm quên đi những buồn phiền, đau khổ của cuộc sống mà còn phải góp phần lan tỏa đạo lý, tưới mát những tâm hồn khô cằn bằng tình thương và tăng trưởng điều thiện cho thế gian.
“Đêm mơ thấy hoa Xuân rực rỡ
Người thương người lòng mở thênh thang
Sáng ra nhìn ánh nắng vàng
Hiểu rằng còn đó muôn vàn trái ngang.
Nhưng vẫn phải bước sang năm mới
Mong cuộc đời đến với an vui
Hành tinh rộn rã tiếng cười
Hòa bình hạnh phúc mọi người thương nhau”.


