ĐỊNH NGHĨA
Hạnh phúc là trạng thái sung sướng hoàn toàn có tính nội tại, nhưng cần có một số điều kiện nào đó gây nên.
Cuộc sống của mỗi người chúng ta suy cho cùng chỉ là mải miết đi tìm hạnh phúc. Nếu cuộc sống của mỗi người không có mục đích hạnh phúc phía trước, đời người ta sẽ không còn hy vọng, không nỗ lực bước tới để vượt qua bao đắng cay, cực khổ và làm việc. Chính vì còn có niềm tin đó mà chúng ta ráng sống, vì nếu ai cũng nghĩ rằng suốt cuộc đời mình sẽ không bao giờ có hạnh phúc thì có lẽ nhiều người sẽ đi tìm cái chết, đó là sự thật.
HẠNH PHÚC CỦA THẾ GIAN
Chúng tôi gặp một phụ nữ. Từ nhỏ tới lớn, cô sống trong gia đình không biết đạo. Cô than rằng cuộc đời cô đầy bất hạnh, bao nhiêu nỗi khổ trên thế gian này là để dành cho cô. Dĩ nhiên, cô nói quá. Nhưng do cô thất vọng nhiều nên cô mới thốt lên những lời nói đó. Tuy nhiên, chúng ta biết chắc một điều là thâm tâm cô vẫn còn hy vọng ở ngày mai cô sẽ tìm thấy hạnh phúc của đời mình. Chính vì niềm tin đó nên cô ráng sống. Còn nếu cô nghĩ rằng suốt cuộc đời mình sẽ không bao giờ có hạnh phúc, có lẽ cô đã đi tìm cái chết. Đây là một sự thật, là tâm lý chung của tất cả mọi người.
Hạnh phúc là gì? Đó là vấn đề mà mỗi người chúng ta đi tìm suốt cả cuộc đời mình. Nếu ý muốn hạnh phúc của chúng ta đúng thì chúng ta bước trên con đường đúng để đi tới hạnh phúc; Ngược lại, nếu ý muốn của chúng ta sai thì chúng ta bước trên con đường sai lầm và gặp nhiều đau khổ.
Thử so sánh:
Một người cho rằng đem đến niềm vui cho người khác là hạnh phúc. Ví dụ bác sĩ chữa bệnh cho bệnh nhân hết bệnh. Điều đó đã mang lại niềm vui, mang lại hạnh phúc cho bác sĩ. Quan niệm này dẫn anh ta đi trên một con đường như thế.
Một người khác cho rằng được ăn ngon mặc đẹp, nhiều tiền là hạnh phúc. Họ phải ăn ở nhà hàng, mặc quần áo đắt tiền, xài sang... mới thấy hạnh phúc. Quan niệm này sẽ dẫn anh ta đi về một nơi khác nữa.
Do đó, khi biết chắc là mình sống để đi tìm hạnh phúc thì chúng ta phải xác định hạnh phúc của đời mình là gì để chọn hướng đi đúng. Vì có khi con đường chúng ta tưởng là dẫn tới hạnh phúc lại đi tới vực sâu hay địa ngục. Còn có những con đường đưa chúng ta tới an vui mà chúng ta lại không biết.
Tuy nhiên, hạnh phúc có ý nghĩa tương đối và chủ quan tùy theo cảm nhận của từng người trong từng hoàn cảnh khác nhau. Ví dụ có một bát cơm đầy thức ăn ngon. Bát cơm ngon đó đối với ai là hạnh phúc? Chắc chắn bát cơm đó sẽ là hạnh phúc của một người nghèo suốt đời chỉ ăn rau muống luộc chấm tương, chấm nước mắm. Nhưng đối với người giàu có, ăn uống thừa mứa, bát cơm ngon đó không là gì; họ sợ ăn vào gan nhiễm mỡ, máu lên, chết bất ngờ, tài sản bỏ lại chưa kịp làm di chúc. Hoặc đối với người đã ăn quá no, đưa thêm bát cơm buộc họ ăn thì là nỗi đau khổ của họ. Vậy ở đây, cùng một đối tượng (bát cơm ngon) mà đưa đến hạnh phúc và đau khổ khác nhau đối với từng người.
Có nhà lầu là có hạnh phúc? Cái nhà lầu cũng là một đối tượng để có hạnh phúc vì đó cũng là nỗi khát khao của nhiều người. Nhưng không hẳn như vậy. Có người ở phố thị, nhà bốn, năm tầng, ở một thời gian cảm thấy không thích nữa (không hạnh phúc) nên về quê cất cái nhà lá đơn sơ bên cạnh con sông, đồng lúa, bóng dừa... mà cảm thấy vui, an ổn, hạnh phúc. Còn người mà nào giờ ở nhà tranh, mưa xuống dột hai ba chỗ, đêm xuống thì thấy trời đầy sao, thì khi có được cái nhà lầu đó chính là thấy hạnh phúc. Vì thế, chúng ta thấy đối tượng của hạnh phúc rất khác nhau.
Người nghèo khổ và người quyền quý quan niệm hạnh phúc có khác nhau không? Đối với người nghèo, sống dưới mái nhà đơn sơ mà êm ấm, có đầu máy, có đĩa CD nghe nhạc, xem phim... rất bình thường nhưng họ có thể không với tới. Còn đối với người giàu có, những thứ đó quá tầm thường. Hạnh phúc của họ là phải hưởng thụ nhiều hơn, phải đi ra nước ngoài đánh bài ở những sòng bạc cao sang, ăn nhà hàng sang trọng, uống rượu ngoại...
Đối với người sống cô đơn, hạnh phúc của họ là gì? Họ cần có ai đó để lắng nghe họ tâm sự; họ cần được có người hỏi han, chia sẻ nỗi lòng... Nhưng đối với người nhiều duyên, tiếp xúc nhiều, lúc nào và ở đâu cũng gặp người quen... thì họ sợ, không cho địa chỉ, số điện thoại.
Hạnh phúc kết hợp giữa hai yếu tố: đối tượng bên ngoài và cảm giác bên trong, quan trọng là cảm giác. Nếu đối tượng và hoàn cảnh bên ngoài không tạo được cảm giác thích thú, vui sướng thì không gọi là có hạnh phúc. Tùy quan niệm từng người về đối tượng mà có hay không có cảm giác bên trong. Ví dụ người quan niệm có tiền là hạnh phúc thì tiền là đối tượng bên ngoài tạo cảm giác bên trong (vui sướng, thích thú). Ngược lại, người tu tập có ai cho tiền, họ cũng không động tâm. Cũng là tiền nhưng mà có khi khởi lên làm cho người đó có niềm vui, nhưng với người khác nó không làm khởi niềm vui sướng.
Phân tích về năm ấm (ngũ uẩn) theo đạo Phật, con người là một tập hợp của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Thọ ấm là cảm giác khổ hay vui của con người. Người có hạnh phúc hay không là do thọ ấm khởi lên cảm giác vui sướng hay đau khổ. Vì thế, hạnh phúc hay đau khổ là do nơi chúng ta, còn điều kiện hay hoàn cảnh bên ngoài chỉ là phụ thuộc. Ví dụ vào dịp Lễ, Tết, mọi người ăn mặc đẹp đổ ra đường, họ thấy vui vẻ. Nhưng cũng có nhiều người tìm nơi yên tĩnh (nhất là người có tuổi, đã trải qua mọi niềm vui nỗi buồn trong cuộc đời), họ cảm thấy hạnh phúc khi ngồi nơi bờ sông thoáng mát hay đến nơi chùa thanh tịnh có hương hoa sen...
Quan niệm về hạnh phúc của mỗi người cũng thay đổi từng lúc. Vì yếu tố tạo cảm giác, trạng thái sung sướng nếu cứ lặp lại thì tâm lý nhàm chán nảy sinh. Ví dụ anh A lúc trước thích nơi đông vui, về sau lại thích nơi vắng vẻ. Hoặc chị B thích nghe nhạc trữ tình, sau nhiều năm thấy chán chị đổi sang nghe tân cổ giao duyên. Hoặc ông C ăn cơm nhà mãi thấy chán, thỉnh thoảng ông ăn phở cho ngon miệng. Hoặc cô sinh viên nọ ăn me thấy thích nhưng thỉnh thoảng cũng thích ăn táo, ăn sầu riêng. Như vậy, yếu tố tạo hạnh phúc không tồn tại lâu dài ở mỗi người. Tính không thủy chung của con người cũng nảy sinh từ đây.
Chúng ta nói cuộc sống của mỗi người là đáng quý. Nhưng chỉ có cái xác sống thôi thì chưa đủ mà còn phải có tâm hồn, một tâm hồn phải an vui thì chúng ta mới sống trọn vẹn. Một người sống mà đau khổ, không có niềm tin và hy vọng, không vui thì không đáng là sống, tức là họ có tồn tại nhưng họ như chết trong cõi sống. Ví dụ ở những quốc gia nghèo đói, ở những làng mạc xa xôi, ở những nơi có thiên tai, hạn hán, lũ lụt, con người sống đói khổ, cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm, họ dắt díu nhau đi trên các ngã đường nắng bụi, cái chết chực chờ, không nhà cửa, không ngày mai, không có gì để hy vọng. Nhưng do bản năng ham sống, sợ chết, họ vẫn bám vào cuộc sống, một cuộc sống vất vả, đau khổ, không có ý nghĩa, không có giá trị. So với cuộc sống của họ, thì cuộc sống của chúng ta cũng có ý nghĩa: chúng ta được sống trong một đất nước thanh bình, có công việc làm, có cơm ăn áo mặc, có đi du lịch, có dạo phố... Sống không có ý nghĩa thì cuộc sống không giá trị. Một cuộc sống hạnh phúc chính là khi ta cảm thấy cuộc sống của mình có ý nghĩa, có giá trị. Vì thế, người ta luôn luôn đi tìm hạnh phúc.
Hạnh phúc là một giá trị nhưng hạnh phúc cũng là khởi điểm của đau khổ. Đây thật là một điều nghịch lý đắng cay, chua chát. Vì sao? Ở đây, chúng ta không đề cập đến những người ngay từ nhỏ đã sống trong nhung lụa, vàng bạc. Chúng ta chỉ nói đến những người bình thường. Để có được những thứ gọi là niềm vui, là hạnh phúc, con người đã phải đổi bằng mồ hôi nước mắt. Ví dụ, muốn mua xe Vespa phải đổi bằng sức lao động (chân tay hay trí óc) mới có. Hoặc muốn có một gia đình đầm ấm, vui vẻ, mỗi thành viên trong gia đình phải làm việc cực nhọc, phải biết chia sẻ niềm vui nỗi buồn của nhau, phải hy sinh cho nhau.
Vì thế, giá trị hạnh phúc càng lớn chừng nào thì khổ đau hay vất vả, cực nhọc cũng càng lớn chừng nấy. Hạnh phúc như chiếc mề-đai có hai mặt: một mặt là niềm vui; một mặt là đau khổ, cực khổ, vất vả.
Hôm nay, chúng ta được bình an tìm hiểu Phật Pháp, không bận tâm, lo nghĩ gì vì chúng ta đã trải qua một thời gian dài vất vả mưu sinh, chứ không dễ gì. Còn lớp trẻ sớm được học hỏi giáo Pháp là đang có phước. Tuy nhiên, song song với sự bình an trong Phật Pháp, chúng ta vẫn phải đối diện với những trách nhiệm với gia đình, với xã hội, đó là những trách nhiệm khá nặng nề, vất vả. Cuộc sống của chúng ta là như vậy, không thể một chiều.
Hưởng thụ hạnh phúc là một khoái cảm mà khoái cảm là lạc thú của trần gian. Sự hưởng thụ hạnh phúc làm tăng dần khuynh hướng ích kỷ. Bất cứ thứ gì đem đến cho chúng ta cảm giác hạnh phúc cũng đem đến khuynh hướng ích kỷ và ích kỷ tích lũy dần dần trong tâm. Người nào càng tìm hạnh phúc, người đó có khuynh hướng ích kỷ càng mạnh. Tất cả những người nghiện đều ích kỷ dù họ nghiện bất kỳ thứ gì, dù là nghiện ma túy, nghiện ăn nhậu, nghiện game... vì người ta bị lệ thuộc hoàn toàn vào cảm giác đó.
Chúng tôi có biết chuyện một cháu bé. Mẹ cháu vì không chịu nổi người chồng nghiện rượu đánh đập nên bà bỏ nhà ra đi. Cháu phải nuôi mấy đứa em. Đi bán về mà cháu không đưa tiền cho ông ta uống rượu thì cháu bị ông treo lên nhà đánh. Sợ quá cháu trốn đi luôn. Chỉ mới mười bốn tuổi mà cháu lưu lạc nay nơi này, mai nơi kia... rồi bị người ta hãm hại. Cuộc đời cháu thật đáng thương! Nhìn kỹ nguyên nhân của những sự việc trên chính là do người cha nghiện ngập mà trở thành người ích kỷ. Ông ta chỉ biết mình và những bữa ăn nhậu. Khoái cảm đó gây nên ích kỷ tột độ và ông ta đã gây tội ác: đánh đập vợ con.
Có những người, thay vì dùng tiền để xây dựng gia đình, nuôi con ăn học thì họ dùng tiền vào những cuộc vui tạm bợ như bia ôm. Họ nghiện cảm giác nhục thể.
Không gì đáng sợ bằng nghiện ma túy. Có một thời gian, một số người nghiện ma túy đến chùa chúng tôi xin tu hành, không tiếp xúc với bạn bè hư hỏng để vượt qua những cơn nghiện. Mỗi khi tới cử, họ vật vã thân xác rất khổ sở. Chúng tôi cho họ uống thuốc, giúp họ vượt qua cơn nghiện. Họ vượt qua được ba ngày, xin ở lại chùa cho đến khi dứt nghiện sẽ trở về gia đình. Nhưng có ai nhắc tới ma túy là họ rộn lên; có tiền họ mua thuốc và quên hết mọi điều. Họ nói: “Ma túy là cái gì đó mạnh hơn mọi thứ trên đời này. Dính vô ma túy, người nghiện đánh bài, bỏ bài, nghiện rượu bỏ rượu, nghiện bia ôm bỏ bia ôm... Vì nó mạnh hơn mọi thứ nên chưa ai vượt qua nổi”.
Những người mà chùa chúng tôi giúp đều tái nghiện và họ bỏ chùa ra đi. Có một người vượt qua được sáu tháng, hiểu đạo lý, biết ngồi thiền nhưng gặp ai cho thuốc là nghiện lại.
Chính vì ma túy tạo khoái cảm cực mạnh nên gây ích kỷ tột độ. Khi lên cơn, người nghiện sẵn sàng giết người kiếm tiền mua ma túy, trở thành người độc ác. Người nghiện ma túy không còn hiếu động. Ví dụ trước đó, họ thường đánh nhau. Nhưng đã nghiện, họ không muốn đánh ai; ai chửi họ cũng không giận. Họ kể: “Khi tụi con đang lái xe mà lên cơn nghiện, tụi con lái bạt mạng bất kể trời đất. Đến khi chích hay hít vô một miếng thì lái từ từ y như đi mà không cần đến. Một thời gian ở thành phố không có xảy ra đánh đấm vì mấy thằng ham đánh nhau dính vô ma túy hết rồi. Bọn chúng kiếm thuốc về nhà nằm hút để hưởng cảm giác lâng lâng như lên mây”. Chính khoái cảm quá mạnh, gây nên ích kỷ quá lớn thành ra độc ác cực độ. Tất cả tội lỗi đều xuất phát từ nghiện, từ ma túy.
Game cũng vậy, một người đã nghiện game thì sự ích kỷ cũng trở nên tột độ. Theo các nhà khoa học, chơi game thường xuyên có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của các game thủ: rối loạn giấc ngủ, suy giảm tế bào thần kinh, tổn thương não bộ, ảnh hưởng tới cột sống, mất khả năng vận động, vô sinh, giảm trí nhớ, mất tập trung. Nghiện game còn gây ra nhiều tổn thương về tâm lý rất khó chữa trị khác... Mặc dù biết rất rõ tác hại của việc nghiện game nhưng nhiều người vẫn lao đầu vào những cuộc chơi ảo. Và lượng người chơi game, nghiện game hiện nay ngày càng tăng, chứ không hề suy giảm. Game là một loại ma túy tinh thần, là viên đạn bọc đường. Game còn nguy hiểm hơn cả ma túy, vì hai lý do: Thứ nhất, đi đâu chúng ta cũng bắt gặp, nơi nào có mạng, nơi đó có game; Thứ hai, pháp luật không ngăn cấm và hiện nay vẫn chưa có trại cai nghiện game. Chưa bao giờ giới trẻ tiếp cận với điều xấu và điều sai dễ dàng và nhanh chóng như bây giờ.
Game thuộc về thế giới ảo, nhưng nỗi đau mà chính các game thủ và gia đình của họ phải chịu đựng thì lại là thật. Các game thủ cứ thế mê muội lấy thời gian thật – đổi lại thời gian ảo, lấy tiền thật – đổi lại tiền ảo, lấy sức khỏe thật – đổi lại level (cấp bậc) ảo, lấy đạo đức thật – đổi lấy danh vọng hão huyền trong game. Họ bỏ đi thế giới thật, thế giới mà hàng ngày hàng giờ, hàng phút giây họ thọ ơn. Thực sự, sống trong thế giới này, chúng ta đã nợ quá nhiều: Thở, ăn, mặc, học, cha mẹ, thầy cô, người thân, bạn bè, quê hương, đất nước... Khi nghiện game, chúng ta sẵn sàng bỏ tất cả để lao đầu vào thế giới ảo đầy bạo lực, hơn thua, ích kỷ... Khi chơi game, người đó sẵn sàng lừa gạt bạn bè, trộm cắp, thậm chí giết người để có tiền thỏa mãn thú vui tiêu khiển của mình. Vì khoái cảm và hưởng thụ lạc thú làm tăng ích kỷ, mở đường đến đau khổ.
Kể cả trong tình yêu hôn nhân. Phần đông chúng ta cho rằng tình yêu dẫn đến hôn nhân là hạnh phúc. Để bảo vệ thứ hạnh phúc đó, người ta trở nên ích kỷ. Từ đó, xuất hiện tình trạng ghen tuông. Từ ghen tuông, người ta có thể giết hại nhau dã man. Rõ ràng vì ích kỷ mà con người trở nên ác độc. Thật là đắt giá khi con người muốn hưởng hạnh phúc của thế gian. Nhưng nếu buộc người ta không hưởng hạnh phúc thì vô lý vì đó là quyền của con người trong cuộc sống.
Với cái nhìn sâu của đạo lý và cái nhìn sắc bén của tâm lý, chúng ta thấy hạnh phúc lại mở đường cho đau khổ. Có hưởng thụ hạnh phúc là có ích kỷ. Ích kỷ khiến ta gây tội, gây tội rồi thì đau khổ cũng tìm đến. Khi bị đau khổ ta lại muốn tránh đau khổ, muốn đi tìm hạnh phúc. Hạnh phúc lại mở đường đi tới đau khổ... Đây là vòng luẩn quẩn của cuộc sống, của kiếp người: con người cứ luẩn quẩn đi giữa hạnh phúc và đau khổ. Do đó, chúng ta mới hiểu tại sao Phật nói vòng luân hồi nặng nề đáng sợ, là như vậy.
Cũng có người thích khoái cảm quyền lực. Quyền cao, chức trọng sai khiến được người khác. Quyết định của một người ảnh hưởng đến số phận của nhiều người, đây là một khoái cảm. Nhiều người suốt đời theo đuổi, kiếm tìm quyền lực. Tuy cảm giác quyền lực không cụ thể như ăn ngon, mặc đẹp, hoặc như dùng ma túy; Khoái cảm của quyền lực không cụ thể “nằm ở chỗ nào” nhưng làm cho người đó vô cùng thích thú. Xưa nay trong lịch sử các quốc gia, người ta tranh giành quyền lực thống trị quốc gia phe phái thật là khốc liệt.
Còn một thứ khoái cảm nữa là cảm giác chiến thắng người khác, vượt hơn người khác để chứng tỏ tài năng và giá trị của mình trước mọi người. Cảm giác thích thú, khoái trá ấy gây cho họ lòng tự cao và ích kỷ. Họ chỉ mong người khác thua kém mình. Từ đó, sinh ra đấu tranh hơn thua, tranh giành chiến thắng. Và tâm bất thiện xuất hiện.
Có một công thức chung cho tất cả mọi người: hưởng thụ sinh ra ích kỷ; ích kỷ làm mất đạo đức; mất đạo đức rồi tạo nghiệp sẽ đau khổ, đau khổ lại muốn vượt lên... Khi vượt lên được rồi, nếu người biết đạo thì phải siêng năng làm phước để tránh khổ. Nếu người không biết đạo lại càng khổ hơn vì họ phải tìm cách tranh giành, chiếm đoạt hạnh phúc của kẻ khác, vì họ tưởng vậy là có hạnh phúc mà không ngờ tạo nghiệp nên đau khổ đến nhiều hơn, nhanh hơn.
Người biết đạo, từ thân phận kém cỏi của mình mà ráng làm phước, đến khi có phước, được vượt lên và tiếp tục làm phước... Nhưng phải chú ý, nếu phước đến mà tận hưởng (do có cầu phước) thì ích kỷ xuất hiện. Các vị Bồ tát làm phước, khi phước đến thì các vị không hưởng (vì các vị không cầu phước). Đó là sự sâu sắc, tinh vi trong đạo lý mà chỉ có trí tuệ Bồ tát mới thấy được. Chúng ta cần phải tu tập điều đó.
Khuynh hướng nhàm chán hạnh phúc
Hạnh phúc cần có điều kiện bên ngoài để kích động cảm giác bên trong. Nhưng nếu cảm giác đó bị kích động liên tục sẽ làm cho nó nhàm, nó lờn. Ví dụ thần kinh cảm giác rung động tới tần số một trăm volt tạo cảm giác buồn, rung động tới tần số hai trăm volt tạo cảm giác vui v.v... Hoặc có ai khen, chúng ta cảm thấy thích thú. Nhưng từ sáng tới chiều, từ ngày này qua tháng nọ cứ nghe khen mãi thì cũng thấy nhàm chán. Đây là khuynh hướng nhàm chán hạnh phúc. Đó là lý do con người khó có thể thủy chung với hạnh phúc đã có.
Con người thường nhàm chán cái gì đã có, đã cũ. Vì thế con người cứ tìm tòi, sản xuất cái mới. Một người Phật tử ở nước ngoài về, nói hầu hết các bộ phim Mỹ khai thác hai khía cạnh: tình dục và bạo lực để hấp dẫn người xem. Ai cũng biết tình dục là loại gây khoái cảm. Nhưng không hiểu sao bạo lực cũng gây khoái cảm cho con người? Có lẽ cảm giác hơn người, chiến thắng người khác gây khoái cảm. Khi xem phim, người ta thường hóa thân vào nhân vật. Nhân vật trong phim đánh thắng người này, người kia như chính họ (người xem phim) đã chiến thắng. Khoái cảm hơn người khác, thắng được người khác là thứ hạnh phúc cực kỳ nguy hiểm. Nhưng đến lúc nào đó, khuynh hướng khoái cảm bạo lực cũng sẽ bị nhàm chán.
Hoặc ăn món ngon thấy thích, món ngon đó cứ ăn mãi cũng thấy hết ngon, hết thích ăn. Hoặc không làm việc gì thấy cũng sung sướng. Nhưng hàng ngày cứ đi ra đi vào cũng chán và mong có việc gì làm. Và khi có việc làm thấy phấn chấn, vui vui. Nhưng niềm vui đó có lúc cũng thay đổi, tức là phải thay đổi cảm giác. Hoặc các trò chơi điện tử hay các trò chơi ở công viên Đầm Sen, Suối Tiên... phải luôn luôn đổi mới, phải sửa sang mới hấp dẫn người chơi, người xem.
Như vậy, cảm giác hạnh phúc luôn luôn thay đổi. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này, chúng ta mới hiểu thấm thía lời Phật dạy: mọi thứ đều vô thường, mọi niềm vui lạc thú đều vô thường; sự hưởng thụ lạc thú sinh ra ích kỷ, tự mãn, tự cao ở con người.
Người Phật tử đi tìm hạnh phúc như thế nào?
Hạnh phúc là giá trị của cuộc sống. Ai cũng có quyền đi tìm hạnh phúc cho riêng mình. Luật pháp không cấm chúng ta đi tìm hạnh phúc, trái lại còn khuyến khích chúng ta đi tìm hạnh phúc như khuyến khích làm giàu, khuyến khích ta du lịch tới những nơi vui chơi giải trí. (Còn giải trí lành mạnh hay không lành mạnh thì không ai biết được). Những nơi giải trí như vũ trường, sòng bạc, karaoke ôm... rất nguy hiểm. Giải trí ở những nơi đó làm cho chúng ta tăng sự ích kỷ. Như vậy, mức độ ích kỷ trong xã hội cũng tăng theo. Nghĩa là đạo đức xã hội xuống dần.
Người Phật tử phải biết hạn chế các khoái cảm để giữ gìn đạo đức. Từ nay, chúng ta giảm bớt việc bỏ tiền vào các sòng bài, quán nhậu, vũ trường... Và chúng ta phải dạy dỗ con cái, không để chúng hướng tới và thích những nơi đó vì nhà trường và luật pháp không cấm. Chúng ta phải hướng con cái tìm niềm vui thanh cao, biết hạn chế, biết khắc phục, vượt qua những thứ tầm thường để giữ sáng tâm hồn chúng. Đây cũng là cách giữ cho xã hội không có tệ nạn. Chúng ta phải cứng rắn ngăn cản con cái của chúng ta đến những nơi tạo cảm giác không lành mạnh. Chúng ta cần đi sâu vào đạo lý trong việc dạy dỗ con cái. Hiện nay, một số gia đình giàu có thường chiều theo ý thích của con, sắm xe đắt tiền, xe có phân khối lớn để chúng phô trương với bạn bè... những khoái cảm đó có hậu quả thật tai hại: đua xe, cướp giật, bỏ học... Vì thế, các bậc cha mẹ phải cảnh giác.
Chúng ta mong chờ một ngày nào đó trong xã hội có các điểm giải trí như câu lạc bộ từ thiện, cơ sở thực tập Thiền quán... Giải trí ở những nơi đó, chúng ta không chỉ có niềm vui mà còn có đạo đức, đạo đức sẽ được tăng trưởng.
Ví dụ tới nơi tập Thiền, người ta từ bỏ những tâm niệm loạn động, từ bỏ tham lam, sân hận, lắng tâm trong yên tĩnh, tìm thấy hạnh phúc trong Thiền. Hoặc Câu lạc bộ từ thiện hay Hội từ thiện, cứ mỗi tối người ta tới đó để vui vẻ với nhau, bàn với nhau về việc làm từ thiện, việc làm từ thiện giúp người ta có niềm vui, tăng trưởng lòng vị tha, không ích kỷ. Nếu có những điểm giải trí như vậy và nếu có nhiều người hưởng ứng thì mức độ đạo đức xã hội tăng từ từ, xã hội sẽ tốt hơn.
Người Nhật sau nhiều thập kỷ sống thánh thiện trong Đạo, trong Thiền nhưng khi giàu có họ trở nên thực dụng, quên Đạo quên Thiền... Thời gian gần đây, người Nhật nghĩ ra trò chơi có tên “Hộ chiếu lên thiên đường”. Mỗi người được phát một cuốn sổ có dán hình, ghi tên. Mỗi lần họ làm được một việc thiện, ghi vào sổ đến khi làm được một trăm việc thiện, người đó được mang “hộ chiếu lên thiên đường” sau khi chết. Người Nhật bắt đầu mê trò chơi đó. Trẻ em Nhật chơi trò chơi đó, tức là được giáo dục tốt. Xã hội Nhật tiến hơn dần và sẽ tiến hơn hiện nay.
Tiếc rằng Việt Nam chưa nghĩ ra những trò chơi tương tự như vậy. Chúng ta chưa tập cho trẻ biết làm việc từ thiện, cách sống thiện mà chỉ chạy theo trò chơi game như bắn bắn, giết giết... làm cho trẻ ngày càng hiếu động, có tính hiếu chiến, tâm hồn trẻ không được hiền hòa. Mong rằng các Phật tử sau này học thành tài, biết làm việc từ thiện để tăng trưởng đạo đức. Đức và Phước luôn luôn đi với nhau. Sống có đạo đức thì có phước.
Người có phước dễ tìm thấy hạnh phúc. Vì sao? Vì người có phước là người có tâm vị tha. Nhưng không phải ngồi một chỗ mà có tâm vị tha. Phải giúp mọi người. Muốn giúp được người khác phải đổ mồ hôi, đổ công sức. Giúp đỡ người này, người kia làm cho chúng ta gặp được may mắn trong cuộc sống.
Ví dụ, đời trước chúng ta giúp người qua cơn hoạn nạn; đời này chúng ta gặp may mắn, làm việc gì cũng được người khác giúp đỡ, thương yêu. Vì thế, phước là điều kiện để có hạnh phúc. Nhưng có hạnh phúc rồi, người ta dễ bị mang họa. Bởi có phước, người ta dễ có tiền bạc, có sức khỏe, có địa vị. Có tiền bạc, có sức khỏe, có địa vị, người ta dễ sinh ra cờ bạc, trai gái, ăn nhậu. Cho nên, khi có phước mà hưởng thụ các thứ đó thì đau khổ đón chờ. Đây là trường hợp người này ở kiếp xưa làm phước mà mong cầu phước báo.
Vì thế, Phật tử chúng ta phải cẩn thận, phải luôn luôn sám hối. “Từ vô lượng kiếp đến nay, đã có lần con làm phước mà mong cầu phước. Xin cho con sám hối. Xin tâm niệm đó thoát khỏi nhân quả của đời con. Con nguyện từ nay đến vô lượng kiếp sau, con làm được điều gì phước đức, con xin hồi hướng về tất cả chúng sanh”. Cầu nguyện điều đó, cuộc đời của chúng ta thường gặp may mắn. Tiền tới trong tay chúng ta không xài, làm phước tiếp. Có nghĩa là chúng ta không thụ hưởng phước mà tiếp tục làm phước để tiếp tục đi lên. Trái lại, nếu có phước mà hưởng phước thì ích kỷ đến, chúng ta sẽ rớt trong đau khổ.
Có phước rồi hưởng phước thì hạnh phúc chúng ta đang có chỉ là tạm bợ, ngắn ngủi, hữu hạn. Còn chúng ta làm phước mà không hưởng phước thì hạnh phúc vô hạn, vô hạn đến tuyệt đối, đến giải thoát. Giải thoát đồng nghĩa với hạnh phúc tuyệt đối. Vì vậy, khi làm phước, chúng ta tâm niệm không hưởng phước và phát nguyện khi nào phước đến, chúng ta tiếp tục hy sinh, vị tha (thương yêu, giúp đỡ mọi người).
Ở trên, chúng ta đã nói về thứ hạnh phúc đòi hỏi điều kiện bên ngoài để kích động cảm giác vui bên trong. Ngoài ra, còn có một thứ hạnh phúc không đòi hỏi điều kiện bên ngoài. Điều này không thể hiểu được nếu không thực hành. Chỉ người có thực hành thiền định mới biết được hạnh phúc trong thiền định là như thế nào mà khiến cho tất cả những ai quyết tâm tu theo Bát chánh đạo, thành tựu chánh định thì sẽ không còn điều gì làm các vị đau khổ nữa.
HẠNH PHÚC XUẤT THẾ GIAN
Theo nguyên tắc, người xuất gia tu hành là người phải theo đạo lý, lý tưởng. Người xuất gia là người đã khước từ hạnh phúc thế gian để đi tìm hạnh phúc xuất thế gian. Người tu sĩ không đi tìm hạnh phúc trong hôn nhân, phải sống độc thân, không tích lũy nhiều tiền bạc (chỉ giữ tiền vì Phật Pháp, chứ không giữ tiền để mua sắm cá nhân). Nếu theo đúng luật thì người tu sĩ không giữ tiền, thứ gì của thế gian thì người tu sĩ không được giữ.
Đối với người đời, thứ gì mang đến khoái cảm thì được quyền hưởng, được quyền đi tìm cảm giác mạnh. Một tiệc rượu bia tràn trề, một cuộc gặp mặt bè bạn ăn nhậu vui vẻ... người đời được quyền hưởng còn người tu sĩ thì không. Người tu sĩ cắt bỏ hết những điều kiện bên ngoài phát sinh cảm giác hạnh phúc, đi tìm hạnh phúc qua con đường khác (sẽ nói ở phần sau). Như vậy, hạnh phúc xuất thế gian có khái niệm khác với hạnh phúc của thế gian. Đây là lý do người xuất gia bị giới luật ràng buộc không cho hưởng hạnh phúc thế gian để tránh tăng trưởng ích kỷ. Có ai đi tu mà chỉ nghĩ tới mình đâu; bỏ gia đình, bỏ cuộc đời vào đạo để tu hành thì phải thương yêu tất cả chúng sanh; phải đem cuộc đời mình cống hiến cho mọi người; phải sống hết sức vị tha. Đó là nguyên tắc, là lý tưởng của người xuất gia.
Nếu người xuất gia có cái gì đó để hưởng thì họ sẽ quên hết mọi người. Nếu từ bỏ lý tưởng thương yêu chúng sanh, họ sẽ chỉ còn tìm niềm vui cho riêng mình. Do vậy, người xuất gia phải tránh hạnh phúc thế gian. Ví dụ nếu thầy trụ trì có vợ con thì sẽ không thể lo chu đáo cho đệ tử và chùa viện. Tiền tín thí cúng dường sẽ không được sử dụng trọn vẹn cho việc đạo. Hoặc thầy tu uống rượu cũng không còn tâm trí lo công phu tu hành nghiêm túc v.v...
Muốn giữ được sự thanh cao để lo cho Đạo, lo cho chúng sanh thì những gì gọi là hạnh phúc thế gian phải bị khước từ. Giới luật chính là sự ngăn cấm quyết liệt khiến cho tu sĩ không bị rơi vào lỗi hưởng thụ để phải phát sinh tâm ích kỷ. Đó là lý do người tu sĩ phải biết khước từ cái gì đưa đến khoái cảm (giữ giới) mới giữ được phẩm chất tâm hồn vị tha.
Chúng ta tìm hiểu hai trường hợp sau khác nhau như thế nào? Người tu sĩ khước từ khoái cảm, không bị rơi vào ích kỷ, vẫn sống độ lượng vị tha. Nhưng cũng có người không hưởng khoái cảm mà lại rơi vào ích kỷ, sống khắc khổ, lạnh lùng. Trường hợp trước là người tu sĩ tự nguyện khước từ khoái cảm. Trong trường hợp sau là người muốn khoái cảm mà không được. Vì thế, nếu chúng ta không có điều kiện để hưởng khoái cảm thì nên làm “người hùng”, không ước mơ, không tìm tới những thứ tạo khoái cảm để chúng ta thấy nhẹ nhàng, thoải mái, không bị khắc khổ, khó tính.
Sự biểu hiện ích kỷ trong mỗi con người còn là mong muốn người khác thua kém mình. Cảm giác này nảy sinh sự tranh giành, đố kỵ người khác. Tâm bất thiện này khiến cho nhiều đời, nhiều kiếp vẫn là người kém cỏi. Còn người giỏi là người ở nhiều đời trước luôn luôn mong người khác giỏi hơn mình. Ví dụ, quý Tăng-Ni học thành tài, đi giảng Pháp mà mong người khác giảng không bằng mình để mình được nổi tiếng hơn. Cái khoái cảm hơn người khác, có người khác thua mình thì là tạo nghiệp. Nếu được các Phật tử khen giảng hay thì quý Tăng-Ni (là giảng sư) cũng phải biết mong các giảng sư khác giảng hay hơn mình. Biết đạo, chúng ta phải thay đổi tư duy như vậy.
Hạnh phúc trong Thiền định
Có một thứ hạnh phúc không đòi hỏi điều kiện bên ngoài, đó là Thiền định. Thiền định là con đường đưa đến hạnh phúc mà không một trò vui nào của thế gian sánh bằng. Khi chúng ta bắt chước hình ảnh Đức Phật bắt chân ngồi kiết già ở nơi thanh vắng, theo dõi hơi thở (hay chú tâm theo câu niệm Phật) thì mọi tâm tưởng loạn động lắng xuống tan biến dần dần; chỉ còn lại tâm thanh thản, nhẹ nhàng, vắng lặng. Hạnh phúc bắt đầu xuất hiện. Hạnh phúc này không một trò vui thế gian nào sánh được, không thể diễn tả được.
Hạnh phúc trong thiền định không đòi hỏi điều kiện bên ngoài mà trái lại giúp xả bỏ được ích kỷ bên trong. Mọi hạnh phúc thế gian đều đưa đến tâm ích kỷ. Chỉ có hạnh phúc trong thiền định mới làm cho chúng ta nhẹ dần ích kỷ. Còn nếu ai có thể đi vào thiền định sâu thẳm, ích kỷ bị bứng gốc, chấm dứt chấp ngã và vô minh để đạt được giải thoát tuyệt đối. Đây là công năng vi diệu của việc tu tập Thiền định.
Từ đây, tất cả những người con Phật cần phải siêng năng tu tập Thiền định để có hạnh phúc mới thay thế hạnh phúc cũ, đòi hỏi điều kiện bên ngoài. Hạnh phúc này làm tăng trưởng đạo đức. Người có tâm càng định càng dễ buông xả, không sống cho mình nhiều: không cần địa vị, tiền bạc, không ham hơn thua ai. Cái định cho chúng ta đạo đức và cũng cho chúng ta hạnh phúc. Vì thế, hạnh phúc của thiền định bền vững hơn, chắc chắn hơn, tuyệt diệu hơn. Dĩ nhiên, hạnh phúc nào cũng đòi hỏi nhân quả. Quả nào cũng đòi hỏi nhân kiếp trước. Cái định đòi hỏi nhân kiếp trước. Nhân kiếp trước của thiền định là gì? Là công đức, là cuộc sống vị tha, lòng tôn kính Phật, khước từ hạnh phúc thế gian.
Ở đây có một điều giới hạn là khi tu tập đến lúc được định, tức là tâm được rỗng rang, sáng suốt, mênh mông, hạnh phúc, hỷ lạc. Lúc đó, nếu chúng ta chiêm ngưỡng, hưởng thụ trọn vẹn cái hỷ lạc của định thì từ từ phước hết dần dần và ích kỷ tiềm tàng bắt đầu xuất hiện. Vì hưởng hạnh phúc nào cũng tạo ra ích kỷ. Dù cái định phá được ích kỷ nhưng hưởng hỷ lạc của Thiền định cũng sinh ra ích kỷ. Đây là chỗ cẩn trọng của người tu Thiền. Vì thế, nếu ta tu Thiền, nhiếp tâm được định, hạnh phúc xuất hiện thì ta phải biết khước từ nó. Được định nhưng không chiêm ngưỡng cái định, tiếp tục đi sâu để tìm lỗi của mình, tìm cái động thầm kín của mình, mới có thể tiến sâu vào định. Còn nếu được định mà ngồi đó chiêm ngưỡng, ca ngợi nó thì phước sẽ mau hết.
Thế nào gọi là ca ngợi cái định? Ví dụ khi tâm rỗng rang sáng suốt, chúng ta ca ngợi: đây là Phật tánh tuyệt đối, đây là chỗ bằng Phật... thì sẽ đổ vỡ, phước sẽ hết. Mà khi phước hết, chúng ta sẽ làm chuyện sai lầm. Còn người hưởng mà không ca ngợi cái định, chỉ tận hưởng cái thanh tịnh, tận hưởng cảm giác hỷ lạc thì phước cũng hết từ từ. Còn người vừa hưởng cảm giác, vừa ca ngợi: đây là Phật tánh, chỗ này vi diệu, là Thầy của Trời Người... cứ ca ngợi như vậy thì phước cũng hết sạch, và sẽ bị đọa (Điều mà rất nhiều người bị vấp, phải cẩn thận!).
Có những Tông phái ca ngợi cái định quá sức khiến cho người tu xao lãng việc tạo thêm công đức. Nếu chúng ta gặp trường hợp này phải biết tỉnh táo, không bị ảnh hưởng nhiều để cho việc tu hành được cân đối nhiều mặt. Người tu khéo là đang ở trong định phải cảnh giác để tìm ra lỗi của mình. Vì vậy, các vị Thiền sư có kinh nghiệm nói: “Được định rồi vẫn phải như đi trên dao bén hoặc đi trên băng mỏng”. Đây là câu nói của những bậc Thánh. Vì sao? Vì khi tâm định hiện ra, lúc nào các vị cũng cảnh giác, dè dặt, cẩn thận, không dám cho mình là an lạc, tự tại; không dám hưởng, không dám ngâm thơ, không dám tự cho mình là cái gì... mà vẫn dè dặt, cẩn thận, khiêm tốn để đi tiếp.
Dù bắt đầu an lạc
Nhưng chỉ mới bắt đầu
Chưa phải đã vào sâu
Trong cõi Thiền vi diệu
Như đi trên băng mỏng
Hay chông nhọn than hồng
Xin cẩn thận vô cùng
Lúc này đầy nguy hiểm.
Ví dụ như khi được định rồi ta vẫn tiếp tục tìm trong tâm còn lỗi gì không? Ai nói gì không vừa ý ta có còn bực tức không; hoặc có khi ta chợt thấy mình vẫn còn ham vật chất hoặc thấy mình vẫn mong cầu phúc ở kiếp sau hay không. Hoặc có khi nào ta chợt so sánh: thầy kia tu có bằng mình không? Tâm hơn thua đó là lỗi, ta phải vượt qua. Nếu ta ở trong định rồi mà nhận ra rằng lỗi lầm thầm kín vẫn chưa hết, thì ta vẫn phải tiếp tục tìm lỗi, vẫn phải tiếp tục sám hối. Nếu ta biết khiêm tốn, dè dặt, cẩn thận để đi tiếp, đi tiếp, chúng ta sẽ tiến bộ. Đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ vượt qua hết lỗi: không hơn thua sân hận, không đố kỵ, không tham lam... Tất cả lỗi căn bản như vậy hết rồi... Nhưng ta vẫn còn lỗi cuối cùng. Đó là chấp ngã.
Ngay cả khi chúng ta sống như một vị Thánh, từ lời nói đến việc làm không có lỗi gì, nhưng chắc chắn ta vẫn còn chấp ngã. Lỗi này rất khó vượt qua. Bao nhiêu kiếp sau dù vẫn tu tinh tấn cũng không chắc vượt qua chấp ngã. Vì thế, không bao giờ chúng ta được dừng lại việc sám hối lỗi lầm. Dù chúng ta sống với tâm hồn tràn đầy yêu thương mọi người, không sân hận với ai, không tham lam... mọi người đến với chúng ta vẫn không tìm được lỗi nào, nhưng chúng ta vẫn biết chấp ngã còn đang tồn tại. Bởi vì, chúng ta biết mình không bao giờ thực sự hết lỗi. Chúng ta phải nhớ như vậy để không bao giờ được tự mãn, tự cao.
***
Chúng ta đã bàn với nhau về ý nghĩa của hạnh phúc (hạnh phúc thế gian và hạnh phúc xuất thế gian). Hạnh phúc mà chúng ta đi tìm từ bao lâu nay lại là mở đầu cho đau khổ. Biết điều này để chúng ta hạn chế việc đi tìm niềm vui, tìm hạnh phúc thế gian, để chúng ta chỉ đi tìm niềm vui, tìm hạnh phúc trong việc làm vị tha, trong công phu tu tập Thiền định. Những niềm vui đó bền vững, lâu dài, có thể đưa chúng ta ra khỏi luân hồi sinh tử. Đồng thời, chúng ta rất tôn kính những vị tinh tấn tu hành Thiền định, những vị tu hành chân chính đã vượt thoát niềm vui thế gian, giữ được tâm vị tha, hết lòng thương yêu chúng sanh.


