ĐỊNH NGHĨA
Đạo đức
Là những khuynh hướng tốt trong tâm ta, những khuynh hướng đó tạo nên những lời nói và hành vi bên ngoài khiến cho mọi người chung quanh ta được chuyển hóa, an vui, lợi ích.
Như vậy, đạo đức là cái tốt ở bên trong nhưng được đánh giá bằng biểu hiện ở bên ngoài, chi phối hành vi hay lời nói bên ngoài. Đạo đức là gốc của lời nói và hành vi tốt đẹp bên ngoài. Một nội tâm tràn đầy đạo đức luôn luôn được thúc đẩy phải đối xử tử tế với mọi người, phải đem an vui, lợi ích cho mọi người.
Chẳng hạn như khuynh hướng vị tha được xem là đạo đức. Vì vị tha khiến cho chúng ta luôn luôn quan tâm đến người khác nên chúng ta nhanh chóng cảm nhận được nỗi khổ, niềm đau, thấy được cảnh khó khăn, vất vả, bệnh hoạn của người khác để tìm cách giúp đỡ, có khi chỉ là một câu nói, một ly nước, một viên thuốc hoặc có khi cả một món tiền lớn để giúp người vượt qua khó khăn.
Cũng vậy, tâm khiêm hạ được xem là đạo đức vì tâm lý đó luôn thúc đẩy ta phải tôn trọng mọi người. Sống trên đời ai cũng cần được tôn trọng, cần được xem là có giá trị, vì thế khi ta biết chân thành tôn trọng người khác cũng là đem an vui đến cho người. Nhưng muốn tôn trọng người thì ta đừng thấy mình hơn người, nghĩa là ta phải thấy được mình nhỏ bé kém cỏi.
Vì vậy, khi tự xét lại bản thân, nếu chúng ta không thấy mình xấu nhưng không hề được thúc đẩy phải cư xử tốt với mọi người thì biết rằng mình chưa có đạo đức sâu sắc.
Tự do
Tự do! Một từ ngữ thật sâu rộng và cũng rất mênh mang, nhưng cũng đầy hấp dẫn và là nỗi khát vọng của hết mọi người từ khởi thủy. Khái niệm tự do rất phức tạp, được áp dụng cho những thực tế rất đa dạng, với những tinh nghĩa luôn luôn mới mẻ.
Theo quan điểm của những nhà chính trị: Tự do là một khái niệm mô tả tình trạng khi một cá nhân không bị sự ép buộc, có cơ hội để lựa chọn và hành động theo đúng với ý chí, nguyện vọng của chính mình.
Còn nếu nhìn vấn đề tự do theo quan điểm của đạo Phật thì chúng ta sẽ trầm tĩnh và sống đúng hơn. Theo quan điểm của đạo Phật, tự do là tự tại, không có gì ràng buộc, là giải thoát. Ở đây, con người tự tại trong việc làm của mình; ở một ý nghĩa cao hơn là sự tự tại trong tâm hồn và ý nghĩa cao hơn nữa là giải thoát (tiếng Anh dịch là freedom).
Trước khi bàn sâu về tự do trên quan điểm đạo
Phật, chúng ta tìm hiểu con đường đi đến tự do theo quan điểm xã hội.
Để có tự do con người đã trải qua một quá trình đấu tranh hàng thế kỷ. Biết bao nhà xã hội học, nhà chính trị đã tốn nhiều giấy mực để đấu tranh cho quyền tự do của con người. Theo đó, con người đã có được những quyền tự do (nhân quyền) như tự do đi lại, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng v. v...
Vấn đề tự do được đặt ra vào những thế kỷ XVIII - XIX những nhà xã hội học như J.J. Rouseau, Voltaire... đấu tranh cho quyền tự do của con người từ chế độ quân chủ phong kiến, chế độ dân chủ tư sản. Họ cho rằng những triều đại vương quyền đã cướp mất tự do của con người, khi tất cả mọi cái đều thuộc về nhà vua (rộng hơn là tầng lớp quý tộc thân cận vua).
Ở chế độ phong kiến, quan niệm Vua là con của trời (thiên tử), là chủ đất nước. Vua bắt dân phải như thế nào là dân phải như thế đó. Cho nên, có nhiều thời kỳ người dân rất khổ sở vì gặp vị vua hôn ám. Do nhiều thế kỷ bị áp bức; đồng thời tư tưởng con người ngày càng tiến bộ, người ta không còn chấp nhận đời sống của nhiều người phải lệ thuộc vào ý muốn của một người (vua, chúa) nữa. Người ta kêu gọi đấu tranh, lật đổ chế độ quân chủ phong kiến, xây dựng chế độ dân chủ để người dân có được tự do.
Từ một cực đoan là quyền sống của nhiều người lệ thuộc vào một người (vua), người dân không có quyền gì cả, không được tự do làm điều gì khác hơn là làm theo những quy định của vua: người dân phải làm điều này, hạn chế điều nọ. Đến một lúc, người dân đủ sức mạnh để làm cách mạng, để làm ngược lại thì người ta bước sang một cực đoan khác. Đó là con người có nhiều tự do, tự do thái quá... Đây là một cực đoan khác chứ chưa phải là sự tiến bộ của loài người. Vì sự tiến bộ không phải là đi từ cực đoan này sang một cực đoan khác mà phải là đường đi ở giữa, là trung dung. Nhưng phải qua nhiều thế kỷ, người ta mới nhìn lại để thấy sai lầm của mình mà biết kiềm chế; chứ khi thành công với việc khởi xướng dành nhiều tự do cho con người, người ta vẫn cho rằng điều đó là hoàn toàn đúng mà tiêu biểu là hiến pháp của nước Mỹ.
Ngay từ ban đầu, hiến pháp Mỹ dành cho người dân nhiều quyền tự do (nhân quyền). Tiêu chuẩn về tự do nhân quyền của Mỹ được nhiều nước trên thế giới xem là chuẩn mực và người Mỹ tự hào về luật nhân quyền. Đây là thiện chí của những nhà lập pháp Mỹ, họ cho rằng con người có nhiều tự do thì có hạnh phúc. Nhưng họ không ngờ rằng quan niệm đó hết sức chủ quan. Và có cái giá phải trả!
TƯƠNG QUAN GIỮA TỰ DO VÀ ĐẠO ĐỨC
Tự do và đạo đức có sự tương quan, nghĩa là người nào có đạo đức thì người đó được quyền hưởng tự do. Ví dụ chúng ta có một số tiền cất trong tủ để làm ăn hoặc chi tiêu. Lúc có việc đi xa, phải giao chìa khóa tủ tiền thì ta sẽ giao chìa khóa cho ai trong các người con? Chắc chắn ta sẽ giao chìa khóa cho đứa con biết tiết kiệm, không tham lam, có lối sống đàng hoàng (có đạo đức), chứ ta không giao chìa khóa cho đứa con ăn xài phung phí, không kính trên nhường dưới (không có đạo đức). Đứa con có đạo đức được quyền tự do dùng chìa khóa mở tủ lấy tiền chi tiêu trong gia đình, trong việc làm ăn... Rõ ràng chúng ta chỉ trao quyền tự do cho người có đạo đức. Đây là tương quan giữa tự do và đạo đức mà không ai có thể phủ nhận. Mặc dù có sự bất bình đẳng (giữa hai người con trong việc giao chìa khóa tủ tiền) nhưng lại rất công bằng và hợp lý khi nhìn sự việc trên mối tương quan giữa đạo đức và tự do.
Trong cuộc sống, chúng ta đừng nghĩ ai cũng được đối xử như nhau là điều hay! Không phải ai cũng được quyền đối xử như nhau mà chỉ người có đạo đức mới được quyền ưu tiên. Chúng ta phải chấp nhận có cái gì đó không bình đẳng giữa người và người trong cuộc sống, và cách đánh giá này cũng tùy thuộc quan điểm của mỗi người. Ví dụ: Người nào chú trọng tiền bạc thì họ sẽ ưu tiên cho người có tiền; hoặc những ai thuộc “dạng” người sợ hãi trước quyền lực thì họ ưu tiên cho người có quyền hành và đối xử tệ bạc với người không có quyền; hoặc người mà thích sắc đẹp thì sẽ đối xử ưu tiên với người đẹp hơn là người kém nhan sắc v.v... Còn người có đạo đức, thì chắc chắn họ ưu tiên cho người đạo đức. Đó là điều rất tự nhiên.
Khi chấp nhận xã hội có điều bất bình đẳng, có sự đối xử sai biệt giữa người và người, chúng ta cần lấy tiêu chuẩn đạo đức làm gốc. Ví dụ có mấy đứa trẻ đang chơi đùa, ta nhờ một em cắt dưa leo, chúng ta chỉ đưa dao cho em nào mà ta biết có tính cách cẩn thận; chúng ta không dám đưa cho em có tính bất cẩn, hung hăng. Từ những điều nhỏ nhặt bình thường trong cuộc sống, chúng ta đã rút ra được quy luật tương quan giữa tự do với đạo đức. Trên bình diện xã hội cũng vậy, người nào có đạo đức thì người đó xứng đáng hưởng được nhiều tự do. Ví dụ tội phạm (người không có đạo đức) thì bị vào tù (mất tự do).
Vì thế, tự do không phải và cũng không thể là món quà đem cho rộng rãi, bình đẳng đối với tất cả mọi người từ trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Vì tự do đối với người này là phát huy tính sáng tạo, làm nhiều điều tốt đẹp cho xã hội; mà tự do đối với người kia lại là để tính chuyện lừa đảo, cướp giật v.v... Mọi người mới sinh ra, lớn lên là được hưởng quyền tự do theo luật pháp. Nhưng con người thì có kẻ xấu, người tốt, người có đạo đức, kẻ không có đạo đức. Cho mọi người được hưởng tự do như nhau là không hợp lý. Đây là một sai lầm khó khắc phục ở bất kỳ quốc gia nào. Vì sao?
Vì mỗi người mới sinh ra, không thể biết được ai sẽ là người có đạo đức để cho họ có nhiều quyền tự do và cũng không thể biết được ai là người kém đạo đức để hạn chế tự do của họ. Thử ví dụ có một thần linh nhìn thấy người có đạo đức, có kiến thức khoa học nên vị thần ban cho người đó có nhiều tự do để họ nghiên cứu, sáng chế được nhiều điều có ích cho xã hội. Hoặc vị thần linh nhìn thấy ở xã hội có những người có tâm thương yêu con người, thần linh đó cho họ được tự do đi đây đi đó làm lợi ích cho nhiều người. Rồi vị thần đó cũng nhìn thấy những kẻ tham lam, ích kỷ, lừa đảo, thích khoái cảm, ma túy thì vị thần không cho những người này được tự do, thần làm phép hại chân những người này đi lại khó khăn. Nghĩa là thần hạn chế hoạt động của những con người không có đạo đức này bằng phép lạ của mình để họ không làm được những điều gì có hại đến nhiều người trong xã hội.
Có lần chúng tôi nói chuyện với những sinh viên, có đưa ra một ví dụ khoa học viễn tưởng. Rằng khoảng ba, bốn, năm trăm năm sau, loài người tiến bộ cao hơn nữa, cho một đứa trẻ được chụp cắt lớp (CT), phân tích bộ não, phân tích gien và lập trình hoạt động của đứa trẻ, người ta nhận biết được đứa trẻ đó lớn lên thích gì, hiền lành hay hung dữ. Như vậy, máy sẽ lập trình cho phép người này được tự do làm điều này, hay không được phép làm điều kia.
Hoặc ví dụ một cụ bà, thuở mới sinh được lập trình; lớn lên bà được đi khắp thế giới mà không cần giấy tờ, không cần ai cho phép vì đạo đức bà đạt tiêu chuẩn rất cao. Hay một người được lập trình chỉ được phép đi lại trong phạm vi một tỉnh... Nếu người này đi xa hơn sẽ gây ảnh hưởng xấu cho cộng đồng. Hoặc một người được lập trình là một tu sĩ được đi khắp nơi để truyền đạo giáo hóa... nghĩa là tùy theo mức độ đạo đức, người ta được hưởng mức độ tự do thích hợp. Đó là chúng ta giả tưởng vài trăm năm sau sẽ không có chuyện con người được hưởng quyền tự do như nhau nữa, vì máy móc đã đánh giá con người đạo đức nhiều ít ngay từ khi mới sinh ra.
Tự do và đạo đức là mối tương quan bổ sung cho nhau, phù hợp với lương tâm con người. Điều này cũng đúng với thực tế cuộc sống và cũng đúng với luật nhân quả nghiệp báo, nghĩa là người nào có đạo đức thì xứng đáng được hưởng tự do. Chúng ta bỏ qua những ràng buộc của xã hội, của luật pháp, chúng ta tin luật nhân quả. Cứ sống có đạo đức thì tự nhiên cuộc đời chúng ta được tự do, an vui. Ví dụ có một phạm nhân trong tù hối hận vì tội lỗi, họ tự tu hành, tự cải tạo đạo đức (nhờ được đọc kinh, nghe Pháp, tọa thiền). Như có cảm ứng mầu nhiệm, họ được đặc xá ra tù (được tự do) sớm hơn thời gian bản án quy định. Đó là nhân quả.
Ví dụ khác, đó là những tử tù. Họ thường rất dữ, vì biết là chết nên họ không sợ gì cả, họ chửi mắng cán bộ trại giam... Có một tay trước đó cướp của, giết người rồi bị án tử hình. Tay này có lần than thở với người y tá, người y tá đó khuyên “luôn nhớ thân này vô thường”. Sau đó, thay vì chửi mắng người ta thì tay tử tù liền đọc câu này. Thời gian sau, bỗng nhiên có lệnh chuyển người đó từ án tử hình thành án chung thân và chuẩn bị đưa ra ngoài lao động. Mấy người bạn tù đồn với nhau: anh ta nhờ câu luôn nhớ thân này vô thường mà được giảm từ án tử hình xuống chung thân. Thật vi diệu! Anh không còn chửi mắng ai, tức là đạo đức có tăng tiến. Và theo luật nghiệp báo, đây là điều hợp lý.
Vì vậy, trong cuộc sống, chúng ta đừng bận tâm về việc mình muốn làm điều gì là phải được điều đó mà chúng ta nên bận tâm về đạo đức của mình đến mức độ nào, chúng ta cần tu tập, phát triển đạo đức; đạo đức càng cao thì tự do càng nhiều. Nếu đạo đức được phát triển dần dần qua nhiều kiếp cho đến lúc đạt đến tuyệt đối thì con người được giải thoát. Nghĩa là người đó không chỉ đi đây, đi đó trong nước, ngoài nước mà còn ra khỏi ba cõi sáu đường vì đã được tự do tuyệt đối.
Trong đạo Phật, sự giải thoát bắt đầu từ đạo đức. Dĩ nhiên, việc hoàn thiện đạo đức không phải dễ, mà rất khó khăn. Bởi vì khởi đầu của sự tu tập là nhìn thấy lỗi. Trong khi đó đa số chúng ta đều nghĩ mình không có tội lỗi. Có lần một Phật tử khuyên người trong gia đình ráng tu, liền bị mọi người cãi lại rằng: “Cọp tu, sấu tu, thằn lằn, rắn mối không tu” ý nói là làm dữ mới tu, còn như ai không làm dữ không tu. Nên chúng ta biết rất khó có ai thấy được lỗi của mình. Cái chưa hoàn thiện rất khó thấy, khó tìm ở mỗi người. Một số người đi chùa nhưng lỗi vẫn còn. Có người tâm sự: “Tính con nóng lắm!” Chúng tôi suy nghĩ người này biết đạo mà tính vẫn nóng. Người này biết đó là sai, là lỗi, tuy biết được nhược điểm mà vẫn khó khắc phục, khó vượt qua. Con người là vậy! Chúng sinh là vậy! Chúng ta hiểu điều này để mà bao dung, yêu thương con người, đừng bao giờ trách móc ai là vậy. Trong thâm tâm chúng ta mong mọi người đều sống tốt đẹp (vì không ai muốn mình là người xấu). Ta ráng tu, giúp người khác cùng tu để ai ai cũng tăng trưởng đạo đức, tăng trưởng trí tuệ. Có trí tuệ rồi sẽ thấy được lỗi của mình nhanh chóng hơn.
Ý NGHĨA CỦA TỰ DO ĐỐI VỚI XÃ HỘI
Chúng ta đã nói một khuôn mẫu tự do chung cho mọi người là không hợp lý vì không phải tất cả mọi người đều có đạo đức như nhau. Đây là sự bất hợp lý trong xã hội mà chúng ta chưa khắc phục được vì chưa có phương tiện. Nhưng chúng ta vẫn hy vọng trong tương lai con người sẽ tìm ra phương cách tạo ra sự công bằng và hợp lý giữa tự do và đạo đức cho loài người.
Tự do làm tăng trưởng khả năng sáng tạo của con người trong mọi lĩnh vực như văn hóa nghệ thuật, khoa học kỹ thuật... Đây là ưu điểm của tự do. Tự do sáng tạo sẽ giúp con người phục vụ xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Nhìn ở thời đại nào đó, chúng ta thấy có nhiều tác phẩm hay như có những bài thơ, những tiểu thuyết, những truyện hoặc có những công trình kiến trúc, nghệ thuật độc đáo thì hiểu là thời đại đó, con người được tự do sáng tạo. Hoặc ở thời đại nào đó, ít có tác phẩm nghệ thuật hay, hoặc sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật bị chậm lại thì chúng ta hiểu con người ít có tự do. Nói cách khác, tự do thúc đẩy sáng tạo, sáng tạo bị kìm hãm nếu không có tự do.
Tuy nhiên, tự do cũng dễ làm phát triển bản năng. Bản năng là gì? Bản năng là khuynh hướng tự nhiên có sẵn trong con người do cấu tạo của cơ thể và tâm hồn. Ví dụ tính ích kỷ là bản năng, ích kỷ sinh ra tham lam, tham tiền bạc vật chất...; hay chấp ngã là chấp cái ta, đây là bản năng ai cũng có...
Theo lý luận của Y học, của Tâm lý học, trong sâu thẳm của mỗi người có cái gọi là bản năng tình dục. Bản năng tình dục khiến cho con người đến tuổi trưởng thành tự tìm đôi bạn, sinh con để duy trì nòi giống. Khi có tự do nhiều thì bản năng ích kỷ, cạnh tranh hơn thua, khuynh hướng tình dục trong con người nảy nở. Bằng chứng là ở các nước phương Tây, những nước có tự do quá đáng, văn hóa phẩm tình dục, khiêu dâm phổ biến quá nhiều (xuất phát từ các nước Âu Mỹ). Trong những năm sáu mươi, ở Thụy Sĩ, lúc đầu các nghị sĩ đáng kính tranh cãi gay gắt có nên cho phổ biến các tác phẩm khiêu dâm hay không; kết quả là loại tác phẩm trên được bày bán tự do. Chỉ bởi vì các vị đó đã quan niệm tình dục là quyền tự do của con người. Tự do thái quá làm cho bản năng tình dục của con người phát triển mạnh, khiến con người ít kiềm chế bản thân để rồi gây nên những hậu quả xấu cho xã hội, cho chính bản thân mỗi con người. Ông bà ta vậy mà sáng suốt. Để hạn chế bản năng, ông bà ta cấm con cái từ nhỏ không được làm điều này, điều kia (những điều xấu) mà dạy những điều tốt như nói năng lễ phép, tôn trọng người lớn: “Kính lão đắc thọ”, “Nam nữ thọ thọ bất thân” v.v... Điều này cho thấy văn hóa Á Đông từ ngàn xưa rất hay, rất quý, rất đáng trân trọng. Ngày nay, ở xã hội phương Tây, trẻ em “không bị bắt buộc” phải lễ độ, phải kính trọng người lớn, phải tôn kính thầy mà được “tự do” muốn làm gì thì làm!
Tự do phát triển thì bản năng càng phát triển, cũng có nghĩa là những tính xấu của con người phát triển mạnh.
Với lối sống tự do khiến cho người ta có những hành động giẫm vào “chân” của người khác vì cộng đồng ngày càng đông, càng chật chội, dễ đụng chạm nhau. Hễ có hai người là phải có giao ước, anh chỉ được làm điều này mà không được làm điều kia; ví dụ trong xóm làng, trước mặt, hai bên, sau lưng đều có nhà, chúng ta tự do nói năng bừa bãi, mở nhạc, cải lương to lên có được không? Không được. Vì làm như vậy là đụng chạm đến quyền được yên tĩnh của người khác.
Ở Mỹ có cuốn sách hướng dẫn giết người được phổ biến. Bắn như thế nào, đánh như thế nào dễ chết hơn, bắt trói như thế nào v.v... Hoặc đọc báo thấy ở Ấn Độ có bộ phim hướng dẫn cách cưỡng dâm phụ nữ (Ấn Độ là nước còn giữ lại văn hóa phương Đông, không biết bộ phim đó từ đâu ra), người ta phản đối, xã hội lên tiếng nên bộ phim không phổ biến được.
Hoặc hàng loạt những vụ học sinh xả súng vào trường học ở các nước phương Tây, người ta mới tìm điều tra nguyên nhân trẻ em trở nên hung hăng, dã man như vậy. Thì ra do các em đọc sách báo, xem phim ảnh bạo lực... những loại văn hóa phẩm phá hỏng đạo đức của con người.
Chúng ta thấy luật pháp không phải là hay tuyệt đối mà chỉ đi sau hành động tội phạm chứ không hề ngăn cản được hành vi ban đầu. Có thể nói nếu không có đạo đức thì người ta không xứng đáng được hưởng sự cao đẹp của tự do.
Nhìn qua các nước Âu Mỹ, chúng ta thấy khoa học công nghệ phát triển cao, đó là hệ quả của tự do. Tự do thúc đẩy sáng tạo nhưng cũng dễ làm phát triển bản năng. Vậy chúng ta chọn con đường nào? Thật khó! Bởi vì chúng ta muốn có tự do để phát triển kỹ thuật, văn hóa nhưng tự do cũng đem lại sự tàn phá đạo đức xã hội, đưa xã hội đến bờ vực. Vậy chúng ta muốn tự do hay không tự do? Đây là câu hỏi lớn và khó giải quyết...
Người đệ tử Phật khôn ngoan không đi tìm Tự do trước, mà biết đi tìm Đạo đức trước, trong đó Luật Nhân Quả Nghiệp Báo là kim chỉ nam cho con người và xã hội. Thật vậy, giải quyết vấn đề tự do phải dựa trên quan điểm đạo Phật. Chỉ người nào biết nhân quả mới sống có đạo đức và xứng đáng được hưởng tự do; người đạo đức nhiều chừng nào thì được hưởng tự do nhiều chừng nấy.
Chúng ta thấy một đất nước có biểu tượng tự do, có nữ thần tự do nhìn ra đại dương; tại nơi đó, giờ đây có học trò bắn vào thầy giáo, bạn bè, bắn vào hình ảnh của tình thương, của tình nghĩa một cách dã man... Cho nên, đã đến lúc thế giới này phải đặt lại vấn đề tự do cho con người.
LƯƠNG TÂM VÀ BẢN NĂNG
Lương tâm là yếu tố nội tâm tạo cho con người khả năng tự đánh giá hành vi của mình về mặt đạo đức và do đó tự điều chỉnh hành vi của mình. Lương tâm cho con người biết tránh điều xấu, biết làm điều tốt. Khi lỡ làm điều xấu, điều ác, người ta biết cắn rứt lương tâm. Khi làm được điều tốt, điều thiện, người ta thấy an tâm, vui sướng. Ví dụ gặp một người nghèo khổ, hoạn nạn, chúng ta thật lòng muốn làm gì đó để giúp đỡ họ thì đó gọi là có lương tâm.
Lương tâm con người không cho phép chúng ta làm hại người khác, gây đau khổ cho người khác. Ví dụ chúng ta nhặt được của rơi mang trả cho người bị mất (người đó không đau khổ) gọi là có lương tâm. Ngược lại, ta không mang trả của rơi do tham lam, ích kỷ (bản năng) làm người bị mất của đau khổ (dù ta không trực tiếp gây ra) gọi là không có lương tâm.
Bản năng có sẵn còn lương tâm không có sẵn mà phải có trí tuệ mới có lương tâm. Trí tuệ phát triển cao mới có lương tâm. Người kém trí tuệ, nhìn vấn đề không sâu, khó phân biệt thiện ác, phải trái, những khi khởi tâm tham lam, nóng giận cũng không biết, không thấy lỗi, có khi lại tưởng hay hơn người khác.
Đạo Phật và Xã Hội Lương tâm được hình thành bởi 2 yếu tố:
Một là do giáo dục.
Hai là do chính người đó phải tự rèn luyện đạo đức, tự tu hành thì mới có lương tâm.
Lương tâm giúp con người vượt qua bản năng tầm thường. Trí tuệ giúp con người tạo thành Lương tâm. Để có trí tuệ, ta phải học hỏi với những vị Thánh triết. Phật là một vị Thánh siêu tuyệt thế gian đã mở ra con đường giúp cho loài người nhìn rõ đúng sai, thiện ác. Nương vào lời dạy của Phật, ta dễ dàng hình thành được lương tâm đạo đức của mình.
Phật đã đến mở hướng về Vô ngã
Đưa con qua khỏi biển cả phù sinh
Sưởi ấm con bằng ngọn lửa tâm linh
Thức con dậy ngắm bình minh bất diệt.
Khổng Tử nói: “Tam thập, nhi lập”, ba mươi tuổi, ông bắt đầu có lập trường về cuộc sống, cách sống, về đạo lý, tìm được con đường phải đi như thế nào. “Tứ thập bất hoặc”, bốn mươi tuổi, ông không còn nghi ngờ gì về đạo lý. Đến năm mươi tuổi thì biết được mệnh trời: “Ngũ thập tri thiên mệnh”. Điều này có lẽ do sống có đạo lý mà ông biết cuộc đời ông sẽ diễn biến về đâu. (Trong xã hội, người ta sống có đạo lý thì thiên hạ thái bình, cuộc sống tốt đẹp, an vui; nhìn xã hội thấy con người sống bon chen, tranh đua, ông biết đời người đau khổ, thiên tai bệnh tật sẽ tới. Có lẽ sự “tri thiên mệnh” là như vậy). Đến năm sáu mươi tuổi, ông nói: “Sở dục tùng tâm”, những điều ước muốn không ra khỏi đạo lý (tức là những điều tốt đẹp, có lương tâm). Như vậy, theo Khổng Tử cho đến năm sáu mươi tuổi thì người ta mới thắng được bản năng. Chúng ta cố gắng được như vậy thì tốt biết mấy.
Những người trẻ tuổi, chưa hiểu nhiều, thường có ý muốn vượt khỏi đạo lý. Vì thế, chúng ta phải “tu” (điều chỉnh, sửa đổi) như thế nào cho trí tuệ phát triển để lương tâm mở ra mà lướt thắng bản năng, như Khổng Tử đến tuổi 60 mới lướt thắng hoàn toàn bản năng. Lúc đó chỉ có lương tâm và trí tuệ chứ không còn điều gì vượt ra ngoài đạo lý làm người.
Đối với xã hội, chúng ta thấy con người sống với bản năng tự nhiên là không tốt mà con người phải được giáo dục, tu dưỡng đạo đức để lương tâm phát triển. Do đó, xã hội phải tăng cường yếu tố đạo đức để cân đối với tự do mà con người muốn có. Ví dụ luật pháp Mỹ cho con người có nhiều quyền tự do nhưng không quy định về đạo đức; con người hưởng trái (quả) mà không buộc con người phải có hạt (nhân). Con người mới chào đời là đã có tự do; người ta không quy định đứa trẻ đó lớn lên phải được dạy đạo đức như thế nào, theo tiêu chuẩn nào.
Vì xã hội Việt Nam chậm phát triển nên con người và xã hội cũng “chậm phát triển bản năng”. Muốn phát triển, đất nước ta phải phát triển đạo đức trước. Có trí tuệ, có đạo đức thì bản năng mới được kiểm soát dần dần. Chúng tôi rất mừng là hiện nay trình độ Phật tử nâng lên một bước khá cao. Cũng những Phật tử đó nhưng thời gian trước họ đến chùa chỉ để thắp nhang lạy Phật và cầu xin. Nay họ đến chùa nghe giảng Pháp, ngồi Thiền, biết tụng kinh, học hỏi, biết làm việc thiện... Như vậy, ngoài nhu cầu tín ngưỡng, họ còn có nhu cầu tu tập. Nhiều chùa khác cũng tổ chức những buổi giảng giáo lý, đạo đức Phật tử được nâng lên, tăng thêm dần dần. Đó là chúng ta đang tu dưỡng đạo đức mà đạo đức càng lớn thì chúng ta càng có tự do. Nhưng trên bình diện xã hội, điều này chưa được rộng khắp. Chúng tôi hy vọng các tôn giáo khác cũng dạy đạo đức và mong toàn xã hội đạo đức được nâng lên thì tự nhiên phần thưởng tự do cũng đến nhiều cho tất cả mọi người. Chúng ta đừng quá ham tự do mà nên ham đạo đức. Theo luật nhân quả nghiệp báo thì tự do sẽ đến với chúng ta nếu chúng ta có đạo đức. Phải khẳng định như vậy.
PHÁT TRIỂN ĐẠO ĐỨC
Một người gọi là có đạo đức khi người đó tự giác làm điều tốt. Yếu tố quan trọng của đạo đức là tự giác, không bắt buộc. Ví dụ người mẹ muốn cho người hàng xóm 5 kg gạo, nói với con: “Mẹ thấy bà lão nghèo, con đem gạo cho bà được không?”, người mẹ gợi ý với con. Đứa bé nói: “Dạ để con cân gạo sang cho bà lão”- “Nhớ nói chuyện lễ độ dạ thưa đàng hoàng nhé con!” Đứa bé vui mừng tức là đứa bé có đạo đức. Tuy người mẹ gợi ý hành động mà đứa bé tự giác, vui vẻ giúp đỡ người nghèo. Còn trường hợp: “Con đem 5kg gạo cho bà Năm nghe con”. Đứa bé không đi. “Không đem gạo đi mẹ đánh đòn bây giờ!”. Đứa bé đem gạo quăng vô nhà bà Năm rồi chạy, không nói thêm một lời. Cùng là đem 5 kg gạo cho bà lão nghèo, nhưng hành vi sau không được gọi là có đạo đức. Đứa bé sợ roi nên đem gạo đi chứ không tự giác. Tại sao chúng ta tự giác làm việc thiện? Vì chúng ta tin nhân quả, biết làm việc thiện thì có phước. Làm phước như vậy cũng vẫn còn động cơ ích kỷ tiềm ẩn bên trong, vì mong cầu quả báo lành cho chính mình ở mai sau. Nếu chúng ta không tin có quả báo tương xứng, làm việc thiện sẽ không đẹp, không giàu, đem tiền cho người hàng xóm khốn khó cũng không có phần thưởng gì về sau... thì không ai làm phước.
Theo luật Nhân Quả, chúng ta cho tất cả rồi sẽ có tất cả. Chúng ta ham làm phước vì tin luật nhân quả. Đến một lúc nào đó, người ta đủ khả năng không mong cầu quả báo do làm phước thì đó là trình độ, là trí tuệ của bậc Thánh. Bậc Thánh biết nhân quả mà trong sâu thẳm tâm hồn không cần quả báo. Chúng tôi hỏi một Phật tử: “Làm phước có cần quả báo không?”. “Dạ, con làm việc thiện không cần quả báo”. Tuy nhiên, sự thật thẳm sâu trong thâm tâm người Phật tử này vẫn có cầu quả báo. Còn các bậc Thánh làm tất cả chỉ vì chúng sanh. Nhưng để được cái điều không mong cầu quả báo là sự tu tập rất lâu dài qua nhiều kiếp.
Muốn tăng trưởng đạo đức trong xã hội, chúng ta cần cho mọi người niềm tin về luật Nhân Quả. Chính vì tin luật nhân quả nên người ta tự giác làm điều tốt, tránh điều xấu? Luật Nhân Quả là chìa khóa mở cửa đạo đức của xã hội. Nếu chúng ta đã biết, đã tin nhân quả nghiệp báo thì chúng ta phải làm sao cho mọi người cũng biết, cũng tin nhân quả nghiệp báo. Mỗi người chúng ta phải phát nguyện mình là sứ giả của Đức Phật, đem niềm tin nhân quả nghiệp báo đến với mọi người, vì chúng ta muốn toàn xã hội đều có đạo đức. Để mọi người đều tin luật nhân quả nghiệp báo thì một người không thể làm được mà phải có nhiều người cùng góp sức. Ví dụ một buổi nói Pháp có vài trăm người nghe; rồi vài trăm người này nói cho vài ngàn người khác nghe... cứ thế nhân lên hàng triệu, hàng tỷ người nghe để biết và tin nhân quả nghiệp báo. Chúng ta ước mong như vậy!
Vì luật nhân quả là chìa khóa mở cửa đi vào đạo đức xã hội nên trước hết con người phải biết, phải tin nhân quả nghiệp báo. Biết luật nhân quả nghiệp báo rồi, con người đã có đạo đức chưa? Mấy năm trước, khi viết những quyển “Luận về nhân quả” - “Nghiệp và kết quả”, chúng tôi nghĩ rằng tin luật nhân quả, người ta sẽ có đạo đức. Trải qua bao nhiêu năm, chúng tôi thấy không phải vậy. Chỉ những người có căn cơ cao thì sau khi hiểu luật nhân quả nghiệp báo, đạo đức được tăng trưởng, còn phần đông tuy có tin luật nhân quả nhưng đạo đức không tăng trưởng rõ rệt. Lý do được tìm thấy là để có đạo đức, con người phải suy nghiệm Nhân Quả trong đời sống, phải tự biết những khuynh hướng xấu còn tồn tại trong tâm mình, phải phát nguyện tu sửa mỗi ngày, phải thực hành kiềm chế điều xấu, phải nỗ lực làm những điều tốt thì đạo đức mới chuyển biến được. Những người chỉ nghe và hiểu thì sự chuyển biến nội tâm chưa phải là sâu. Nhưng dù sao, có hiểu được luật nhân quả rồi thì ta mới có thể chịu khó xét nét chính mình được. Tin hiểu nhân quả vẫn là cửa ngõ cho mọi điều tốt lành.
Cũng vậy, muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp trong đó con người không tham lam, biết nhường nhịn, san sẻ cho nhau, chúng ta phải làm sao con người có đạo đức, có thiện nguyện, biết hy sinh, biết dấn thân. Những đức tính này không phải bị bắt buộc mới có mà hoàn toàn xuất phát từ lương tâm của mỗi người.
Có hai cực đoan của xã hội:
Cực đoan thứ nhất là cho con người tự do mà không dạy con người đạo đức;
Cực đoan thứ hai là bắt buộc phải có đạo đức (đã có một thời gian, những nhà xã hội học xây dựng con người bắt buộc phải có đạo đức).
Thật ra, đạo đức không thể do bắt buộc mà có được. Chúng ta phải làm cho con người tự nguyện rèn luyện đạo đức, tin nhân quả. Luật nhân quả nghiệp báo là chìa khóa giúp con người mở cửa vào ngôi nhà đạo đức. Ngày nào mà môn Luật Nhân Quả Nghiệp Báo được dạy trong các nhà trường; học sinh từ nhỏ đến tuổi mười tám, ai cũng biết, tin nhân quả nghiệp báo thì chúng ta sẽ thấy xã hội cực kỳ tốt đẹp, vì con người bắt đầu biết cân nhắc việc làm của mình xem sẽ đem lại quả báo nào cho mình. Nghĩa là con người bắt đầu có trách nhiệm hơn trong hành động của mình.
TỰ DO & ĐẠO ĐỨC TRÊN Ý NGHĨA TU HÀNH
Đến với đạo Phật là chúng ta tìm đến giải thoát. Nhưng ý nghĩa của giải thoát là ý nghĩa rất cao, cao một cách tuyệt đối. Đây là việc tu tập của nhiều kiếp. Còn hiện tại, chúng ta tu làm sao đạt đến sự tự tại trong đời sống hiện tại của mình. Hầu hết, các thiền sư trong thời hiện đại dạy tu thiền định đều đưa mục tiêu là sống giữa cuộc đời mà tự tại giữa cuộc đời. Chúng ta tu tập làm sao mà tuy chưa giải thoát ngoài ba cõi sáu đường mà vẫn đạt được sự tự tại an nhiên trong đời sống hiện tại. Nghĩa là sống giữa cuộc đời đầy phiền động mà tâm vẫn bình an bất động. Tâm bất biến giữa cuộc đời vạn biến. Không bị ràng buộc bởi phiền não đau khổ, chấp trước ái kiến, ích kỷ, tham lam, thù hận... Khi tâm thanh thản, không chất chứa những điều xấu ác tối tăm, đó gọi là tự tại. Một ngày nào đó, ta tu tập tới trình độ tâm không chấp trước, không phiền não, không giận ai, không ham muốn điều gì cho mình, tâm không vọng tưởng, đi đứng nằm ngồi rỗng rang thanh thản. Người đó được gọi tự tại. Cái hạnh phúc của người đó thật tuyệt vời mà người ngoài không thể nào hiểu được, không thể nào cảm nhận được, không thể nào diễn tả được. Chỉ có bản thân người tu tập mới hiểu được, thấy được mà thôi. Công việc dù tất bật, họ làm đủ thứ chuyện: nấu cơm, tiếp khách... mà trong tâm vẫn thanh thản, nhẹ nhàng, an lạc. Hạnh phúc đó không gì diễn tả được. Ở đây, chúng ta chỉ nói người không còn phiền não, không giận hờn ai, không ái kiến.
Mà Ái kiến là gì? Là những tình yêu thương rất khó vượt qua. Ví dụ là cha mẹ, chúng ta yêu thương con mình hơn yêu thương con hàng xóm; hoặc chồng thương vợ, vợ thương chồng. Ái kiến ngược với từ bi. Từ bi là yêu thương tất cả chúng sinh, còn ái kiến là yêu thương riêng (do chúng ta đều có cái nghiệp), chính cái yêu thương riêng này làm chúng ta đau khổ.
Đức Phật và những vị Alahán là những người vượt qua ái kiến như thế để trở thành các bậc Thánh siêu phàm giữa thế gian.
Có hai trường hợp vượt qua ái kiến:
Một là do biết tu tập, nghĩa là do người này đã đầy đủ công đức, đã thuần thục Thiền định, đã chứng được các quả vị Thánh theo đúng tiêu chuẩn Phật đã xác lập. Chứng quả Thánh rồi thì ái kiến chấm dứt.
Trường hợp thứ hai là vượt qua tạm thời. Ví dụ chúng tôi có nghe chuyện một người Mỹ đã ly dị vợ. Nay ông cặp bồ cô này, mai ông cặp bồ cô kia. Có người hỏi: “Sao ông không lập gia đình?”. Ông nói: “Bước vào hôn nhân như thọc tay vào lửa”, chúng tôi ngạc nhiên nghe ông nói một câu như... thiền sư, nhưng chúng tôi cũng cảm nhận được rằng có lẽ ông quá mệt mỏi với đời sống đang diễn ra tất bật, căng thẳng rồi lại bị những vụ ghen tuông, giận hờn nên khi thoát khỏi ông thấy khỏe, không muốn vướng vào nữa. Những người vượt qua ái kiến như vậy gọi là vượt qua tạm thời.
Có vài mẩu chuyện kể sau cho thấy người ta khó vượt qua ái kiến.
Một cô Phật tử cứ bám theo kể lể với một nhà sư mãi về chuyện tình cảm của mình với những câu như: “Anh đó nói con vầy nè... Con nói anh ấy vầy nè... Thầy góp ý cho con! Rồi lại kể bức thư anh ấy viết nói vầy nè... Con viết thư lại nói vầy nè... Thầy thấy có tức không?” Nhà sư mệt mỏi về chuyện này nên trốn luôn, không dám tiếp chuyện với cô nữa.
Qua chuyện này mới thấy người ta giận hờn, hơn thua nhau, hai người mới thương nhau chút ít mà còn to chuyện huống chi cả một gia đình chồng vợ, con cái thì người ta đau khổ, mệt mỏi biết chừng nào.
Rồi biết bao gia đình ly tan đổ vỡ từ nhiều lý do, lớn có nhỏ có, rất phiền toái. Họ sống với nhau mấy mươi năm mà còn rời xa nhau. Người này giận qua, người kia giận lại mà không hy sinh nhường nhịn vì nhau. Thật là mệt mỏi! Ông người Mỹ nói hôn nhân như thọc tay vào lửa là ông đã hiểu phần nào sự ràng buộc của ái kiến.
Chúng ta đi tu để tìm sự tự tại. Tự tại còn có nghĩa là đời sống của chúng ta không bị ràng buộc bởi bổn phận bắt buộc, mà chỉ có những việc làm tự nguyện.
Bổn phận là việc phải làm (theo đạo lý thông thường). Ví dụ cha mẹ có bổn phận nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Con nên thì vui mừng, con hư thì lo lắng bận tâm, khổ sở, vì con làm cho chúng ta không được tự tại. Bổn phận bắt buộc chúng ta phải giải quyết những vấn đề của gia đình, con cái tới nơi tới chốn với nhiều công sức.
Còn bổn phận tự nguyện thì không bị ràng buộc. Ví dụ thầy trụ trì có cư sĩ tới lui hỏi giáo lý, thầy có bổn phận giảng dạy. Nhưng bổn phận đó không bắt buộc. Nếu cư sĩ không tới lui. Họ đi nơi khác thì... thôi, thầy trụ trì không bận tâm. Ai tới, thầy quý mến, dạy dỗ tận tình, hết duyên thì... rời xa. Vì là bổn phận tự nguyện, không bị bắt buộc nên chúng ta không bận tâm, không khổ tâm về những chuyện đã xảy ra. Đó là tự tại.
Tột đỉnh của tự tại là thoát khỏi luân hồi sinh tử. Muốn đạt được sự tuyệt đối của sự giải thoát thì đạo đức phải tuyệt đối. Một vị Alahán đạt được giải thoát hoàn toàn, chúng ta hiểu những vị đó đạo đức không còn sơ hở gọi là quả vô lậu Alahán. (Chữ “vô lậu” có nghĩa là không còn sơ hở, người có đạo đức tuyệt vời gọi là Alahán). Còn như chúng ta còn những sơ hở gì đó trong đời sống, chưa phải là “ vô lậu” nên chúng ta chưa gọi là giải thoát hoàn toàn.
Chính vì tự do và đạo đức có liên quan với nhau, do vậy chúng ta phải luôn biết kiềm chế, biết giữ gìn giới cấm. Đó là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. (Nếu những điều này mà con người tránh được thì không có tệ nạn xã hội, xã hội được an vui, thế giới hòa bình). Khi quy y Phật, chúng ta được trao truyền năm giới cấm để hạn chế “tự do” của chúng ta trong cuộc sống. Điều gì phạm giới cấm chúng ta không làm. Với đạo đức và lương tâm, chúng ta sống biết làm đẹp lòng mọi người, phải quan tâm tới người khác.
Ví dụ là con cái muốn đi xem một bộ phim nào đó phải hỏi ý kiến ba mẹ. Hoặc lớn lên có bạn trai (hay bạn gái) sau một thời gian quen biết nhau nên hỏi ý kiến xem người bạn đó có hợp với nề nếp gia đình không v.v... Ta phải biết hạn chế tự do của mình, để nghĩ đến mọi người chung quanh, làm điều gì cũng phải xem xét cẩn thận.
Như nhà mình có trồng cây hoa rất đẹp, bò sang nhà hàng xóm. Thấy hoa đẹp chặt cũng uổng, phải hỏi xem người hàng xóm có muốn để vậy hay chặt bỏ, tức là làm vừa lòng người ta. Hoặc khi ta mở tivi, máy hát nên cẩn thận âm thanh có ảnh hưởng đến sự yên tĩnh nghỉ ngơi của những người sống quanh mình không. Thực tế, những việc nhỏ này người ta rất ít quan tâm.
Một người đang dưỡng bệnh nghe bên hàng xóm mở máy quá lớn, không chịu nổi, ngồi thiền cũng không được, liền bước sang nói với người hàng xóm vui lòng mở máy nhỏ lại giùm. “Trời ơi, mở máy như vậy mà nói lớn!” họ trả lời. Có những việc tuy nhỏ mà ảnh hưởng không ít đến người chung quanh. Biết quan tâm, biết trân trọng người khác, biết kiềm chế ý muốn cá nhân mình là cách sống vị tha, là cách sống của người có đạo đức.
Dĩ nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng làm vừa lòng hết mọi người, vì ý của người khác không phải là luôn luôn đúng. Ví dụ, có một Phật tử muốn làm việc từ thiện mà bà than rằng cha mẹ bà không thích. Cha mẹ bà nói sao không lấy tiền đó cho con cháu mà đem cho người dưng. Người Phật tử này biết đạo nên khổ tâm lắm. Hỏi ý kiến chúng tôi nên làm thế nào? Chúng tôi khuyên bà muốn làm việc từ thiện cứ làm. Con cháu mình cũng giúp nhưng cũng tùy phước của họ mà giúp ít hay nhiều. Không phải có tiền cứ dồn hết cho con cháu là đúng. Làm theo ý kiến người khác không phải lúc nào cũng đúng. Tuy nhiên, làm vui lòng mọi người luôn luôn là cách sống cao cả. Phật tử cần suy nghĩ điều đó.
Ngoài ra, chúng ta phải có tinh thần thượng tôn pháp luật. Vì pháp luật có tính hạn chế bớt tự do cá nhân để tránh cho con người đụng chạm nhau. Nhưng không phải mọi điều trong luật luôn hợp lý, nên chúng ta hay nghe các điều luật cứ sửa đổi cho phù hợp với từng hoàn cảnh đất nước. Trong chừng mực tương đối vẫn có những điều luật hợp lý mà người dân phải tuân thủ. Pháp luật đại diện cho số đông nhưng số đông chưa hẳn là đúng (đa số thắng thiểu số). Như chân lý chỉ do một người tìm ra, lúc đó số đông không hiểu nên không chấp nhận. Những nhà nghiên cứu, những nhà cách mạng luôn luôn bị chống đối lúc đầu. Vì những cái mới chỉ một mình họ biết (thiểu số) nhưng đó lại là chân lý. Ví dụ bên Mỹ, trẻ con dùng súng bắn vào trường học. Chính phủ Mỹ, tổng thống Bill Clinton yêu cầu biểu quyết luật kiểm soát vũ khí nhưng thượng viện Mỹ không chấp nhận. Thượng viện để mọi người sử dụng vũ khí tự do, vì nhiều thượng nghị sĩ được tài trợ bởi những người mua bán vũ khí để làm chính trị. Các nghị sĩ đó muốn vũ khí mua bán tự do để họ giàu có mặc cho xã hội hỗn loạn, mặc cho cảnh giết chóc cứ xảy ra.
Ở đây, số đông của thượng viện biểu quyết đã thắng mặc dù biểu quyết đó không phải là chân lý. Vì vậy, chúng ta đừng tưởng số đông là đúng, dân chủ là đúng. Khi ý kiến của một số ít người nhưng lại đúng hơn. Thiểu số người học giỏi, sắc bén, họ tìm ra lẽ phải hơn số đông ít học, kém sâu sắc, nhưng khi biểu quyết theo số đông thì chắc chắn kết quả ngã theo đa số. Nếu ngày xưa để cho mọi người bỏ phiếu bầu thì có lẽ Thuyết Tương Đối của Einstein sẽ bị bác bỏ vì cả thế giới lúc đó chỉ có 13 người hiểu và đồng ý.
Bây giờ, chúng ta phải xét lại, không phải luôn luôn những điều biểu quyết theo đa số là đúng. Nhưng trong cái tương đối, chúng ta phải chấp nhận những điều luật vì không có gì là tuyệt đối. Là Phật tử, chúng ta phải làm cho mọi người thấy được rằng người Phật tử luôn luôn góp phần làm cho xã hội ổn định. Người ta nhìn vào xã hội đó – xã hội có đông người theo đạo Phật – luôn luôn tốt đẹp .
Có lần chúng tôi đi chung chuyến đò với người cán bộ. Qua nói chuyện, biết ông làm lớn, đi nhiều nơi. Ông nói ở Rangoon (thủ đô nước Miến Điện), một xứ sở Phật giáo mà ông thấy cũng không đẹp, nên ông cho rằng đạo Phật không đem lại tốt đẹp cho xã hội. Dù biết rằng ý kiến của ông là thành kiến cá nhân nhưng chúng tôi vẫn thấy buồn. Phật tử bên đó như thế nào, Chư Tăng đã dạy Phật tử như thế nào mà có sự phê bình như vậy? Người Phật tử phải góp phần làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp (nhất là ở đất nước có nhiều tín đồ Phật giáo). Chúng ta phải biết kiềm chế, phải biết sống tốt, không làm phiền lòng mọi người. Còn Phật tử, nếu làm cán bộ thì phải nghiêm chỉnh thực hiện những tiêu chuẩn đạo đức người cán bộ mà Bác Hồ đã dạy: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, luôn luôn là người “đầy tớ” thật trung thành của nhân dân. Đó là những tiêu chuẩn đạo đức rất hợp với đạo Phật. Chúng ta sống không giả dối bằng lời mà phải sống bằng lương tâm, không tham lam.
Chúng ta sống với tinh thần của đạo Phật. Khi đã có đạo đức rồi thì mới được quyền có tự do. Phước đến thì con người được tự do hơn, người thiếu phước là người mất tự do. Ví dụ, người khỏe mạnh được tự do (đi, đứng thuận lợi) hơn người ốm yếu bệnh tật (đi, đứng khó khăn). Hoặc người giàu có thì được tự do hơn người nghèo khổ. Người giàu có muốn mua sắm gì cũng được, người nghèo khổ muốn mua sắm cũng phải cân nhắc túi tiền. Hoặc người thông minh trí tuệ vẫn là người tự do hơn; còn người kém thông minh thì học hành khó khăn, muốn làm gì, viết gì cũng thấy khó. Người khỏe mạnh, người giàu có, người trí tuệ là người có phước. Phước đến thì may mắn, dễ có cơ hội làm được điều mong muốn, dễ được giúp đỡ.
Người có phước được tự do làm gì cũng thuận lợi; người thiếu phước bị ràng buộc khó làm nên việc...
Do vậy, khi làm điều gì chúng ta đừng chủ quan ỷ thế mạnh ức hiếp người khác, hoặc làm điều sai trái là mất phước rồi sẽ bị rơi trở lại ràng buộc. Ví dụ những người giàu có, hoặc có thế lực, đối xử tệ bạc với người khác; họ có cái phước được ăn hiếp người khác mà không bị người khác làm gì được. Hoặc có phước làm người chủ nạt nộ to tiếng với người làm công. Những điều bất thiện đó là “nhân” sẽ “đốt” hết phước để cho sau này họ không còn uy quyền, không còn giàu có... Có khi họ ở địa ngục, bị cùm trói, thiêu đốt. Đó là những điều nhắc nhở, chúng ta cần nhớ.
***
Tự do và Đạo đức có liên quan với nhau và có nghĩa rất lớn trên bình diện xã hội. Ý nghĩa cao quý của tự do chỉ được thể hiện qua con đường đạo đức. Người có đạo đức, có lương tâm là người xứng đáng được có tự do. Tự do là phần thưởng phía sau đạo đức, chứ không phải là quà tặng vô điều kiện buổi ban đầu. Để đạt được những tự do cho cuộc sống và trong tâm linh, chúng ta cần hiểu, tin Luật Nhân Quả Nghiệp Báo, tu dưỡng đạo đức sâu dày và thực hành vô số điều phúc thiện.


