Ta có hai câu chuyện về tính kỷ luật, một trong tiểu thuyết hư cấu của Kim Dung, và một trong lịch sử thiền tông đạo Phật.
Vào thời nhà Tống, Trung Hoa có một bang hội hùng mạnh rộng lớn là Cái Bang, đó là bang hội của những người ăn xin. Ai ăn xin mà không nằm trong Cái Bang thì đừng hòng tồn tại. Ăn xin cũng phải có băng đảng. Nhưng Cái Bang còn là một bang hội nghĩa hiệp, hay làm các việc giúp đời thiện nguyện. Mỗi hội viên đi ăn xin đều phải biết võ công. Cái Bang có phân chia đẳng cấp rõ rệt, ai đẳng cấp cao thì đeo nhiều túi. Đeo được chín túi là trưởng lão cao nhất. Cái Bang có quy củ vững chắc. Bang chủ là Hồng Thất Công, một trong võ lâm ngũ bá của Trung Hoa thời bấy giờ. Hồng Thất Công có hai tuyệt kỹ, đó là Giáng Long Thập Bát Chưởng và Đả Cẩu Bổng Pháp (gậy đánh chó).
Một lần Hồng Thất Công gặp Hoàng Dung và Quách Tĩnh, đem lòng thương mến, bất ngờ ông truyền dạy Đả Cẩu Bổng Pháp cho Hoàng Dung và truyền luôn ngôi bang chủ, chẳng cần lấy ý kiến của ai cả. Ông truyền dạy Giáng Long Thập Bát chưởng cho Quách Tĩnh. Việc ông truyền ngôi bang chủ cho Hoàng Dung có thể bị người cạn cợt chê bai là vì ông bị Hoàng Dung dụ nấu ăn ngon nên trao ngôi. Thực sự không phải vậy, Hồng Thất Công quá tinh đời, hiểu rằng Hoàng Dung sẽ đủ thông minh để lèo lái Cái Bang tiến bộ. Ông phá lệ, không chấp nguyên tắc, trao gậy quyền lực cho cô con gái tiểu thư chưa một ngày đi xin ăn. Nhưng ông khôn ngoan vẫn sống rong chơi bên cạnh để bảo đảm không ai dám chống lệnh.
Hoàng Dung phải chấp nhận một nghi lễ là đứng cho tất cả người Cái Bang nhổ nước bọt vào mặt. Nhưng sau đó tất cả Cái Bang, kể cả các trưởng lão chín túi, đều vâng lời Hoàng Dung răm rắp. Hồng Thất Công đã tạo ra được một bang hội hùng mạnh có tính kỷ luật cực cao.
Ta đọc truyện và nghĩ rằng đây là truyện hư cấu. Nhưng Kim Dung không hoàn toàn hư cấu. Ông dựa vào các tình tiết có thật từ các bang hội ngầm của Trung Hoa để viết truyện.
Câu chuyện thứ hai là chuyện có thật của Hoằng Nhẫn và Huệ Năng, hai vị tổ sư của thiền tông Trung Hoa.
Huệ Năng con nhà nghèo ở vùng phía bắc Việt Nam (xưa gọi là Lĩnh Nam), cha làm quan mất sớm, một mình Huệ Năng phải vào rừng hái củi về phố bán lấy tiền nuôi mẹ. Thời đó thế kỷ thứ VII, Việt Nam lệ thuộc nhà Đường của Trung Hoa. Một lần gánh củi vào bán cho người nhà giàu, Huệ Năng đứng nghe ông chủ nhà tụng kinh Kim Cang, bất ngờ nội tâm khai ngộ. Huệ Năng bèn hỏi chủ nhà kinh đó là gì, ở đâu có, muốn về đó tu thì phải làm sao. Người chủ nhà tốt bụng đã giới thiệu về chùa Đông Thiền, huyện Hoàng Mai, tỉnh Kỳ Châu ở tận bên Trung Hoa xa xôi. Ông hiểu hoàn cảnh của Huệ Năng nên hứa sẽ nuôi nấng chu cấp cho mẹ của Huệ Năng đầy đủ.
Huệ Năng từ biệt mẹ để đi sang Trung Hoa tìm học đạo. Ông đi suốt cả năm trời mới đến được chùa của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Sau vài câu đối đáp, Tổ Hoằng Nhẫn hiểu là Huệ Năng đã có khai ngộ bước đầu, nhưng giấu, bắt vào công quả chấp tác ở nhà bếp, rất vất vả. Có nhiều câu chuyện về làm kệ, về giã gạo cực nhọc. Sáu tháng sau, ông được Ngũ Tổ gọi vào phương trượng nửa đêm để dạy kinh và giúp ông đại ngộ thực sự. Ngũ Tổ nửa đêm truyền tấm y ca sa và bình bát là tín vật nối ngôi tổ sư cho Huệ Năng. Sau đó Tổ đưa Huệ Năng ra bến sông lên thuyền trốn đi vì sợ đại chúng trong chùa biết chuyện.

Sáng hôm sau đại chúng trong chùa tụ tập đầy đủ ở pháp đường chờ mãi mà không thấy Tổ sư ra thuyết pháp. Thượng tọa Thần Tú bèn dẫn một số huynh đệ đến phương trượng để thăm hỏi vì sợ Tổ sư bệnh. Tổ sư thú thật là không còn tấm y ca sa để mặc mỗi khi lên thuyết pháp nữa, vì tấm y và bình bát đã truyền về phương Nam rồi. Cả chùa sôi lên sùng sục vì tức giận. Họ phát hiện tên công quả trẻ con ở xứ Lĩnh Nam mọi rợ đã lấy y bát chân truyền đi mất rồi. Không cho phép một tên mọi rợ phương Nam sẽ lên nối ngôi tổ sư đời thứ sáu được, thế là họ vội vàng rượt theo để cướp lại y ca sa và bình bát.
Câu chuyện về sau rất ly kỳ cảm động. Huệ Năng phải trốn 15 năm trong rừng cho đến khi mọi chuyện yên ắng mới xuất hiện để giáo hóa và chính thức thực hiện vai trò tổ sư đời thứ sáu của Thiền tông Trung Hoa.
So sánh hai câu chuyện này, ta thấy tính kỷ luật của Cái Bang rất cao. Lẽ ra phải là một trưởng lão chín túi sẽ lên ngôi bang chủ nối tiếp Hồng Thất Công, nhưng họ đã vâng lời, chấp nhận phục tùng một cô gái trẻ “ngoại đạo” lên làm bang chủ. Còn trong đạo Phật, tính kỷ luật cực kỳ lỏng lẻo. Thầy mình còn sống sờ sờ ra đấy mà chẳng ai chịu vâng lời. Họ chống cả lệnh thầy mình để thực thi luật của họ, là giành lại y bát để đưa thượng tọa Thần Tú mà họ cho là xứng đáng lên ngôi tổ.
Ta thấy doanh trại quân đội hay ghi câu “Kỷ luật là sức mạnh của quân đội.” Tổ chức nào có tính kỷ luật cao thì tổ chức đó sẽ hùng mạnh. Tính kỷ luật trong đạo Phật yếu kém như vậy thì dĩ nhiên đạo Phật sẽ phải suy yếu. Ta cũng không đủ khả năng để phân tích lý do tại sao người của đạo Phật vô kỷ luật đến như vậy, nhưng ta cũng tiếc vì một số đạo lý của đạo Phật rất hay, đáng để đóng góp vào nền văn minh của nhân loại.
Kỷ luật được thực thi từ những yếu tố sau:
Vâng lời khi được ra lệnh. Mức độ vâng lời triệt để đến đâu thì tính kỷ luật cao đến đấy.
Xin phép khi thấy có điều gì cần phải làm. Mức độ xin phép tỉ mỉ chừng nào thì tính kỷ luật càng cao chừng nấy.
Báo cáo khi hoàn thành công việc. Mức độ báo cáo chi tiết đến đâu thì có nghĩa là tính kỷ luật cao đến đấy.
Trung thành tận tâm tận dạ, một khi đã chọn chủ nhân và con đường, thì xấu tốt gì cũng theo để phụng sự. Tốt rồi thì vun đắp thêm. Xấu thì làm cho tốt lại.
Thưởng phạt công minh, làm động cơ khuyến khích mọi người phấn đấu tu dưỡng. Nhưng nên thưởng thì ít và phạt thì nhiều. (Mọi người suy nghĩ giùm tại sao nhé!)
Ai muốn xây dựng đoàn thể mình vững mạnh lâu dài thì phải tư duy về tính kỷ luật này, và xây dựng tính kỷ luật sắt đá này cho tất cả mọi người cùng đi theo.

TRI ÂN
Xin tri ân những mùa đông lạnh giá
Cây khô gầy vài chiếc lá xác xơ
Sáng trùm khăn lặng ngắm bóng sương mờ
Đợi nắng ấm và mong chờ chim hót
Xin tri ân những tuổi già héo hắt
Bước chân run mà đôi mắt nhạt nhoà
Cuối cuộc đời nhìn lại quãng đường qua
Những vui khổ như lá hoa rơi rụng
Vì có đông nên xuân về ấm cúng
Có bóng già nên trẻ cũng bước theo
Nên điều gì ta cũng thấy thương yêu
Cũng trân trọng như ít nhiều ân huệ
Xin từ tạ một buổi chiều bóng xế
Hay đón chào tia nắng nhẹ vừa lên
Đời hãy vui như khúc nhạc không tên
Người hãy sống như đáp đền ân nghĩa
Xin giữ lấy biết bao điều mỹ lệ
Mà cổ nhân đã bảo vệ truyền trao
Xin mở đường đón ánh nắng mai sau
Mà con cháu sẽ tự hào mang đến
