Vị giáo sư già nói:
“ Thầy có mấy câu chuyện về niềm tin muốn kể các em nghe để các em tự suy tư cho cuộc đời mình. ”
“ Chuyện thứ nhất, một người đàn ông do nghe được ở đâu đó vài thông tin về kho báu thời chiến tranh thế giới thứ hai của người Nhật. Họ tin rằng người Nhật đã tấn công các nước Đông Nam Á để chiếm đất và chiếm luôn rất nhiều vàng bạc báu vật của các nước để đem về Nhật. Nhưng không may, chiến tranh kết thúc sớm hơn họ nghĩ, nước Nhật bị đồng minh chiếm đóng. Lính Nhật không thể đem châu báu về nước được nên đã tạm chôn tại Việt Nam và Philippines, trên những vùng núi vắng. Vì tin chắc về thông tin này nên ông dành cả một đời để đi tìm kho báu mà ông nghĩ rằng mình có bản đồ đó, mất rất nhiều thời gian và của cải, và cuối cùng ông chết trong tuyệt vọng. Niềm tin này không đúng. Điều ông tin không có thật. ”
“ Chuyện thứ hai, một thanh niên bị nhiễm HIV muốn làm lại cuộc đời. Anh về quê cưới vợ. Anh có niềm tin rằng HIV sẽ không biến thành bệnh Liệt kháng SIDA nếu anh quyết tâm làm nhiều việc thiện. Anh không có tiền để làm từ thiện rộng rãi. Anh chỉ có chút sức lực của thời trai trẻ. Anh biết quê anh mỗi năm bị nước lũ tràn vào tàn phá nhà cửa và ruộng vườn. Anh quyết định nắn dòng chảy của con sông quái ác đó để mùa lũ nước sẽ không tràn vào nhà cửa ruộng vườn của dân làng nữa. Anh chỉ có cái xẻng và cây cuốc. Anh lặng lẽ đào đất bẻ dòng chảy của sông. Khi đào xuống sâu, anh bắt gặp nguồn sỏi đá có thể dùng cho xây dựng. Anh bán số sỏi đá đó để phụ giúp vợ mua thực phẩm hàng ngày. Hơn nửa năm miệt mài lao động nghiêm túc, dòng chảy con sông bị bẻ đi. Mùa mưa lũ năm đó dân làng của anh thoát khỏi nạn lũ về tàn phá. Vợ anh cũng sinh được đứa con trai, thử máu âm tính với HIV. Niềm tin của anh đã đúng. Điều anh tin là có thật. ”
“ Thầy kể hai câu chuyện này để gợi ý cho các em về niềm tin. Niềm tin thuộc về tình cảm. Nó được mọi người tôn trọng vì nó rất riêng tư, mà tình cảm thì không ai bận tâm giải thích đúng hay sai nữa. Tin rồi thì thôi. Vì thế các em hãy hết sức cẩn thận với niềm tin của mình. Nếu niềm tin của các em là đúng, nếu điều các em tin là có thật, thì các em sẽ đạt được thành công hạnh phúc. Ngược lại, nếu niềm tin của các em là sai, điều các em tin không hề có thật, thì cuộc đời các em sẽ kết thúc trong khổ đau tuyệt vọng. ”
Một sinh viên đứng lên hỏi:
“ Thưa thầy, làm sao tụi con biết niềm tin của mình là sai hay đúng ạ? ”
Vị giáo sư già đáp:
“ Niềm tin là tình cảm nên nó không thích được phân tích đúng sai. Ai chạm đến niềm tin thì nó phản ứng khó chịu. Ngay cả luật pháp các quốc gia còn phải nhường một bước trước các niềm tin về tôn giáo mà. Thầy chỉ biết chúc các em may mắn có được niềm tin đúng mà thôi. Good luck when choosing your belief. (Chúc bạn may mắn với việc lựa chọn niềm tin của mình). ”
***
Tin nghĩa là cho rằng điều gì đó là có thật, dù ta chưa đủ bằng chứng.
Ví dụ A cho B mượn tiền vì tin rằng B sẽ trả. A đã dựa vào một số dữ liệu trong quá khứ rằng B hay giữ lời hứa, chưa phát hiện nói dối, nên A đã TIN rằng trong tương lai B cũng sẽ giống như vậy, và sẽ trả số tiền đã vay của mình. Chuyện ở tương lai là không có bằng chứng, nhưng dựa vào dữ liệu quá khứ mà A tin chắc như vậy.
Ví dụ C lễ bái cây đa đầu làng đều đặn mỗi ngày vì tin chắc rằng có vị thần trú ngụ trên cây, sẽ ban phúc nếu ai biết thành tâm lễ bái. Bằng chứng về vị thần thì chưa đủ, nhưng C có lần bị ốm, khấn vị thần cây thử xem sao, không ngờ khỏi bệnh thật. Từ đó C đã TIN chắc sự tồn tại của vị thần trên cây.
Mãi mãi niềm tin sẽ không trở thành khoa học vì nó không đủ bằng chứng. Dù không đủ bằng chứng nhưng điều mọi người tin sẽ trở thành một chủ thể quan trọng trong cuộc đời họ và gây ảnh hưởng lên cộng đồng xã hội luôn.
Hiện tượng đầu thai thì có quá nhiều bằng chứng nhưng không được chấp nhận vì nhiều người đòi chứng minh. Theo khoa học tư pháp, đủ bằng chứng là kết luận được rồi. Không hiểu sao trong trường hợp tái sinh, dù đủ bằng chứng mà người ta lại đòi chứng minh, kể cũng lạ. Nếu dựa vào các bằng chứng khắp nơi trên thế giới để kết luận rằng tái sinh là có thật thì từ nay ta không cần phải TIN về tái sinh nữa, mà ta chỉ cần HIỂU về tái sinh mà thôi.
Luật Nhân quả cũng vậy, không có cách gì để chứng minh, mà chỉ có thu thập các mẩu chuyện, suy luận theo logic, suy xét theo lương tâm, rồi CHẤP NHẬN. Ta sẽ chấp nhận Luật Nhân quả giống như ta đã chấp nhận định đề EUCLIDE vậy.
Nhờ chấp nhận định đề EUCLIDE mà ta có một nền toán học hùng mạnh như bây giờ. Nếu ta chấp nhận Luật Nhân quả thì nhân loại sẽ tiến đến một nền văn minh khủng khiếp lắm, cực kỳ tốt đẹp.
Một số tín đồ thì tin chắc về thượng đế, dĩ nhiên làm gì có đủ bằng chứng. Vì không đủ bằng chứng nên một số người khác không chịu tin có thượng đế. Người tin thượng đế thì cho rằng kẻ không tin là báng bổ. Người không tin thì cho rằng kẻ tin là mê tín. Đây là chỗ làm thế giới loài người chia rẽ. Ta vẫn chờ đợi một ngày nào thế giới sẽ giải quyết được chỗ bất đồng này.
Nhiều điều trong cuộc sống này không có đủ bằng chứng, ta đành phải TIN để đi đến tương lai. Ta tin người bạn sẽ trả tiền; ta tin công ty sẽ phát triển; ta tin tình vợ chồng này sẽ bền chặt (nên mới cưới); ta tin đại biểu đó sẽ hoàn thành trách nhiệm; ta tin thành phố sẽ có cách giải quyết nạn tắc đường; ta tin giá khu đất sẽ tăng; ta tin phương pháp tập luyện này sẽ giúp cải thiện sức khỏe... Ta tin nhiều thứ lắm. Mà đã tin thì chưa bao giờ đủ bằng chứng cả. Nhưng nếu cái gì cũng không tin thì ta sẽ không biết sống làm sao, không biết đi vào tương lai bằng cách nào.
