Khi kính thiên văn được chế tạo với độ phân giải cao, con người có thể nhìn được sâu và xa hơn vào vũ trụ. Kính thiên văn cũng được gửi lên trên không gian thay vì đặt một chỗ nào đó để nhìn lên bầu trời. Ví dụ kính thiên văn vũ trụ Hubble (tiếng Anh: Hubble Space Telescope, viết tắt HST) là một kính thiên văn của NASA, nặng 12 tấn có kích cỡ tương đương một chiếc xe bus. Nó được đưa lên và hoạt động trên quỹ đạo của Trái đất tại độ cao khoảng 610km, cao hơn khoảng 220km so với độ cao quỹ đạo của trạm vũ trụ quốc tế ISS. Với tốc độ di chuyển khoảng 7500 m/s, Hubble có thể quay 1 vòng quanh Trái đất trong thời gian 97 phút và 15 lần mỗi ngày. Đây là kính thiên văn phản xạ được trang bị hệ thống máy tính và một gương thu ánh sáng có đường kính 240cm. Hubble được trang bị đầy đủ các công cụ hoạt động bằng năng lượng Mặt trời, nhằm chụp lại tất cả những hình ảnh của vũ trụ với ánh sáng khả kiến, cực tím (UV) và ánh sáng bước sóng cận hồng ngoại. Tất cả các thiết bị trên Hubble đều được thiết kế để hoạt động ngoài khí quyển của Trái đất. Nó có thể thu nhận ánh sáng từ vật thể cách xa 12 tỉ năm ánh sáng. Nó lần đầu tiên sử dụng công nghệ Multi- Anode Microchannel Array (MAMA) để ghi nhận tia tử ngoại nhưng loại trừ ánh sáng. Hubble mang theo nhiều trang thiết bị khoa học và camera để phân tích dữ liệu và chụp lại những hình ảnh của vũ trụ.
Khả năng nhìn xa này giúp con người phát hiện được, nghiên cứu được nhiều điều hơn nữa trong không gian sâu thẳm của vũ trụ. Nhưng dù cho mở ra được nhiều điều thì con người vẫn ngây thơ vì tin vào những cái mình thấy. Những gì được đôi mắt thấy chỉ là cái gì cực kỳ hạn chế. Trong cuộc sống, có vô số điều mắt thấy đấy nhưng chưa chắc sự thật, vì sự thật chưa chắc đã đúng như những gì ta nhìn thấy. Ngày xưa, khi con người ngước mắt lên trời nhìn thấy mặt trời mọc ở hướng đông và lặn ở hướng tây bèn kết luận rằng Mặt trời xoay quanh Trái đất.
Cho tới khi khoa học tiến bộ, đối chiếu vị trí giữa các vì sao thì mới phát hiện ra trái đất quay quanh mặt trời và tự quay quanh trục của chính nó. Điều này mắt ta không thể thấy, mà ta chỉ có thể thấy bằng trí tuệ, bằng tính toán.
Cũng vậy, ngày nay các nhà thiên văn, vật lí cũng vẫn giữ sự hồn nhiên ngây thơ chẳng khác gì xưa kia. Qua kính thiên văn, họ thấy các thiên hà đang rời xa nhau dần dần nên suy diễn rằng: Vậy trước kia các thiên hà phải ở gần nhau lắm. Vì ở gần nhau nên mới rời xa nhau. Họ liên tưởng rất thông minh rằng chỉ có cái gì nổ thì các mảnh của nó mới rời xa cái điểm ban đầu của nó. Thế là họ vội vàng cho rằng vũ trụ bắt đầu từ một vụ nổ Big Bang cách đây khoảng 14 tỷ năm, rồi sau đó vũ trụ bắt đầu giãn nở thành như ngày nay. Đây cũng là một cách suy diễn rất thông minh, như người xưa đã từng suy diễn rằng chính ông trời đã tạo ra vũ trụ vậy. Phải thông minh lắm con người của thời đại hồng hoang mới nghĩ ra có một ông trời tạo ra tất cả. Cũng vậy, phải thông minh lắm con người mới nghĩ ra vũ trụ bắt đầu bằng một vụ nổ Big Bang. Nhưng tiếc rằng cả hai lần thông minh này đều chưa phải sự thật.
Chúng ta biết rằng Trái đất, sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa... tập hợp lại với nhau tạo thành một tinh hệ. Trong tinh hệ ấy, một ngôi sao chiếu sáng làm trung tâm và nhiều hành tinh khác quay quanh đón nhận ánh sáng.
Một tinh hệ lớn bao nhiêu? Tốc độ ánh sáng là xấp xỉ 300.000 km/s. Ánh sáng từ mặt trời chiếu xuống trái đất phải mất 8 phút. Ánh sáng mặt trời chiếu tới bìa ái Dương hệ (Hải Vương tinh) cũng phải mất khoảng 250 phút mới đi hết. Hiện nay con người đã gửi được vệ tinh VOYAGER bay thoát khỏi Thái Dương hệ và bắt đầu lang thang vô định trong vũ trụ. Trong đó, họ có gửi một chiếc đĩa bằng vàng có vẽ ký hiệu của con người để khi có ai bắt gặp sẽ biết rằng có một sự sống đang tồn tại. Khi sóng của vệ tinh phát hiện được điều gì đó sẽ lập tức gửi lại trái đất, nhưng mất khá nhiều thời gian.
Trái đất của chúng ta nằm trong hệ mặt trời, thuộc dải Ngân hà (Milky Way). Ngân hà có cấu trúc dạng đĩa lớn với các nhánh xoắn ốc và cấu trúc thẳng chạy qua tâm6, đường kính của nó vào khoảng 30 kiloparsec với bề dày của đĩa xấp xỉ 1 kiloparsec. Nó chứa khoảng 200 tỷ ngôi sao(7) và tổng khối lượng của Ngân hà xấp xỉ 600 tỷ lần khối lượng Mặt trời8. Ánh sáng đi từ bìa này dải Ngân hà tới cuối bìa kia của nó mất 100.000 năm ánh sáng. Như vậy dải Ngân hà lớn không tưởng tượng được nằm ngoài hình dung của chúng ta.
Ngoài ra, còn có những thiên hà kích thước rất lớn như thiên hà NGC 6872, lâu nay vẫn được xem là một trong những hệ thống sao lớn nhất từng được quan sát, thiên hà xoắn ốc có bề ngoài ấn tượng NGC 6872 trải rộng suốt hơn 522.000 năm ánh sáng, tức to hơn gấp năm lần kích thước của dải Ngân hà. Bên cạnh đó có một số thiên hà kích thước bé hơn như Segue 2 là bé nhất, nó chứa khoảng 900 ngôi sao.
Hiện nay khoa học ước tính số thiên hà trong vũ trụ là 2.000 tỷ9. Trong 2000 tỷ thiên hà như vậy thì

Ngân Hà NGC 6872 - Ảnh: Internet
dải Ngân hà như chúng ta cũng không có nghĩa lý gì. Vậy mà trong một Ngân hà đã có hàng tỷ tỷ tỷ ngôi sao như Mặt trời, nên sự tồn tại hệ Mặt trời với những hành tinh quay quanh so sánh với dải Ngân hà này thôi cũng thật vô nghĩa. Còn nếu xét thân phận của một con người như chúng ta trong dải Ngân hà này thật chẳng có nghĩa lý gì. Vậ y m à chúng ta luôn coi mình rất là quan trọng. Nếu so với kích thước của vũ trụ thì chúng ta chưa là một hạt bụi. Nhưng có một điều đáng quý là chúng ta có thể đạt được sự giác ngộ. Nếu chúng ta tinh tấn tu hành thì sẽ giác ngộ để trở thành cả vũ trụ. Như vậy, từ cái không đáng là một hạt bụi, nhưng nếu có sự giác ngộ thì giá trị nhỏ bé đó sẽ trở thành tuyệt đối. Nếu không có giá trị của sự giác ngộ trong tâm hồn, mà tâm ta chỉ toàn những hơn thua - tham - sân - si, thì sự thật chúng ta chưa đáng là một hạt bụi. Chúng ta phải hiểu điều này. Sự tồn tại và xuất hiện của mình thực sự không ảnh hưởng tới vũ trụ vì vũ trụ lớn quá ngoài sức tưởng tượng của con người.
6. Alard, C. (2001). “Another bar in the Bulge”. Astronomy and Astrophysics Letters 379 (2): L44–L47
7. Sanders, R. (ngày 9 tháng 1 năm 2006). “Milky Way galaxy is warped and vibrating like a drum”. UCBerkeley News.
8. Bell, G. R.; Levine, S. E. (1997). “Mass of the Milky Way and Dwarf Spheroidal Stream Membership”. Bulletin of the American Astronomical Society 29 (2): 1384.
9. Tạp chí thiên văn học “Astronomical Journal” ngày 13/10.
