Như chúng ta biết thì sóng có tần số, có nhanh có chậm. Giữa hai vật có khối lượng sẽ xuất hiện lực hấp dẫn. Bản chất của lực này chính là sóng. Giờ ta làm một thí nghiệm nhỏ:
Trường hợp thứ nhất ta ném một chiếc dĩa nhẹ, ta thấy nó rơi xuống.
Trường hợp thứ hai ta vẫn ném chiếc dĩa đó nhưng làm cho nó xoay tròn trên không.
Ta thấy chiếc dĩa ở trường hợp thứ hai rơi chậm hơn.
Có hiện tượng này vì nó vừa quay vừa rơi khiến sóng hấp dẫn bị nhiễu nên không bắt được nó. Chiếc dĩa không còn chịu lực hấp dẫn như bình thường nữa nên tốc độ rơi của nó sẽ chậm hơn. Lúc này, ta mới thấy sự tồn tại của sóng hấp dẫn.
Một vật quay ở tốc độ nhất định nào đó sẽ phá vỡ sóng hấp dẫn. Chuyển động xoay tròn làm nhiễu sóng hấp dẫn, nghĩa là làm cho vật thể đó tạm thời không còn bị sức hút của trái đất khiến nó lơ lửng trên không trung lâu hơn. Đến khi sức ma sát của không khí làm vật thể giảm tốc độ xoay, khiến nó xoay chậm lại, không đủ sức làm nhiễu sóng hấp dẫn nữa, thì vật thể bắt đầu rơi xuống như cũ.
Giống như một viên đạn được nhắm bắn vào hồng tâm của tấm bia cách đó 1.000 mét. Nhưng thật sự viên đạn không bao giờ tới đúng điểm ngắm vì bị sức hấp dẫn kéo xuống, viên đạn sẽ trúng vào điểm ở dưới điểm hồng tâm.

Sóng hấp dẫn - Ảnh: Internet
Sau này người ta làm rãnh xoắn trong nòng súng, khi bắn ra viên đạn bị rãnh xoắn khiến cho đầu đạn xoay tròn cực nhanh, và viên đạn có thể bay rất xa mấy nghìn mét cũng không bị lệch xuống. Sở dĩ nó đi xa hơn rất nhiều là do khi viên đạn quay như vậy làm nhiễu động sóng hấp dẫn, khiến cho sóng hấp dẫn không bắt được nó. Tuy nhiên, đến một độ xa nhất định, sức ma sát của không khí khiến tốc độ viên đạn quay chậm lại, sóng hấp dẫn bắt được nó, và nó rơi xuống theo hình parabol.
Chúng ta có kết luận: Khi cho một vật xoay nhanh, chuyển động xoay tít đó là làm nhiễu động sóng hấp dẫn, khiến lực hút không bắt nó được. Đến khi vật quay chậm thì sóng hấp dẫn không bị nhiễu động khiến cho vật bị hút và rơi xuống. Đây là ví dụ đơn giản để chứng minh sóng hấp dẫn là có thật, và kỹ thuật xoay tròn là cách phá sóng hấp dẫn cũng đơn giản như thế.
Nhưng với một đĩa sắt nặng quay với tốc độ như khi ta ném chiếc đĩa nhựa thì nó không lơ lửng được, vì tốc độ xoay của nó không đủ để phá được tần số sóng hấp dẫn giữa nó với trái đất. Để có thể lơ lửng được, chiếc đĩa sắt đòi hỏi tốc độ quay phải là vài nghìn vòng trên 1 phút. Còn với chiếc đĩa nhựa chỉ cần mấy chục vòng trên 1 phút là đã lơ lửng được. Vì sóng hấp dẫn có tần số, và tần số đó biến đổi tùy khối lượng giữa hai vật thể, nên khi một vật thể xoay với tần số thích hợp, nó phá được tần số sóng hấp dẫn, thì sóng hấp dẫn không bắt nó được và nó cứ lơ lửng.
Tuy nhiên, ta không thể ứng dụng điều này vào cuộc sống để làm các thiết bị bay lơ lửng vì nếu ngồi trên các thiết bị quay với tốc độ mấy nghìn vòng trên một phút như vậy, cơ thể ta sẽ không chịu nổi. Chắc chắn, ta sẽ mất mạng trước khi vật đó dừng lại.
Nhưng trong nhiều cuộc tiếp xúc với người ngoài hành tinh, các nhân chứng kể lại rằng các thiết bị di chuyển của người ngoài hành tinh quay tít. Vậy rõ ràng người ngoài hành tinh đã từng ứng dụng biện pháp quay này để phá sóng hấp dẫn, giúp họ có thể lơ lửng trong không gian. Đây cũng là lý do mà đĩa bay thường là hình tròn. Nhưng làm thế nào để họ có thể ở trong những thiết bị đó thì ta không thể biết được.
Nói đến vấn đề này là chúng ta đang bàn đến nền văn minh của vũ trụ. Việc sử dụng đĩa bay quay với tốc độ lớn để lơ lửng thì không thực tế được với kiến thức địa cầu. Dù các nhân chứng đã thấy và kể lại nhưng ta vẫn không hiểu được làm thế nào người ngoài hành tinh có thể ngồi trong những đĩa bay quay với tốc độ cực lớn như vậy. Nếu ngồi trong đó, người chúng ta buộc phải quay với tốc độ giống như tốc độ của đĩa bay. Nhưng người thì không thể quay còn thiết bị phải quay để phá trọng lực. Ta không thể hiểu họ làm thế nào để giải quyết được vấn đề này. Những đĩa bay dùng kĩ thuật đó để phá sóng hấp dẫn chỉ là kĩ thuật thấp. Còn một kĩ thuật cao hơn là các đĩa bay không cần quay với tốc độ lớn mà vẫn có thể phá sóng hấp dẫn. Nếu ứng dụng được kĩ thuật này thì đây sẽ là cột mốc, mở nền văn minh của thế giới bước sang một chương mới.
Quay trở lại kinh Phật. Mấy nghìn năm trước đã có một người đến với thế gian này, tu đắc đạo, đạt được sự giác ngộ mà ta tôn xưng là Đức Phật. Ngài chính là người mở ra nhiều triết lí về cuộc sống, về đạo lí và cả thiên văn, vũ trụ.
ời đó, con người chỉ nhìn lên thấy trời, nhìn xuống thấy đất. Tất cả vũ trụ của họ chỉ có vậy, nó gói gọn trong tầm nhìn của đôi mắt. Vậy mà Đức Phật đã tuyên bố rằng thế giới như chúng ta hết sức nhỏ bé. Số trái đất trong vũ trụ là trùng trùng như số cát sông Hằng. Do đó, chữ “Hằng hà sa số” trở thành thành ngữ để chỉ những điều vô lượng vô biên. Đồng thời, nó cũng ám chỉ số lượng thế giới trong vũ trụ này.
Trong kinh Pháp Hoa có nói nếu tất cả số cát của sông Hằng biến thành con sông Hằng một lần nữa thì tổng tất cả số cát của những con sông đó cộng lại mới hình dung ra thế giới của Chư Phật trong vũ trụ này. Con số đó thật khủng khiếp, dù cố gắng đến mấy ta cũng không đủ sức để tưởng tượng ra. Nên ai cứ cố hình dung, ta sẽ trở nên điên loạn trước khi con số chính xác xuất hiện.
ật vậy, não ta không đủ dung lượng để hình dung ra độ lớn của các con số liên quan đến vũ trụ. Do đó, khi nghe câu nói đó, ta chỉ hiểu chứ đừng cố hình dung cho cặn kẽ. Ta nói điều này để thấy từ thời Đức Phật, Ngài đã nhìn được vũ trụ như thế.

Sông Hằng - Ảnh: Internet
Lại thêm, trong Tăng Chi Bộ kinh còn sót lại, có một đoạn nhỏ kể lại cuộc nói chuyện của ngài Ananda với Đức Phật. Ngài Ananda hỏi rằng:
- Bạch ế tôn, con nghe nói thị giả của một Đức Phật, đứng ở một nơi có thể làm rung động cả tam thiên đại thiên thế giới? (Ở đây, ta tạm hiểu tam thiên đại thiên thế giới là một thiên hà.)
Nghe xong câu hỏi, Đức Phật mới nói:
- Đó chỉ là một thị giả.
Ngài Ananda hỏi tiếp:
- Nếu vậy, thần lực của một Đức Phật còn mạnh hơn?
Đức Phật trả lời rằng:
- ần lực của một Đức Phật có thể làm rung động cả vũ trụ.
Sau khi trả lời xong, Đức Phật thị hiện thần thông, làm rung chuyển cả vũ trụ. Điều này trong kinh ghi lại chứ cũng không ai đo để lúc đó biết Đức Phật làm rung động cả vũ trụ. Nếu những người sống vào thời ấy thấy nhà cửa, đất đai rung, họ cũng chỉ nghĩ là động đất chứ không biết đó là do thần lực của Đức Phật.
Những ghi chép đó cho thấy, giáo lý của đạo Phật đã khẳng định vũ trụ này là vô số, vô biên, phù hợp với khám phá và kết luận của ngành khoa học vũ trụ ngày nay. Tuy vậy, vẫn còn điều mà Đức Phật nói nhưng khoa học ngày nay chưa khám phá ra, đó là những cõi, những tầng khác nhau trong vũ trụ. Còn nói về độ lớn thì chỉ là đang nói trong thế giới vật chất của vật lý, chứ các tầng, các cõi giới khác nữa thì khoa học chưa biết. Các cõi giới đó là vô hình, là siêu hình đối với con mắt của chúng ta, nhưng là thực hữu trong vũ trụ. Einstein cũng lờ mờ nhận thấy vũ trụ không thể chỉ là các vật chất thế này, phải còn cái gì nữa, mà ông gọi là vật chất tối. Cái gì đó, chính là các cõi trời, các cõi vong linh, cả cõi địa ngục. Ta nêu ra điều này vì ta tin Đức Phật, nhưng ta cũng tin cái trực giác phi thường của Einstein, và ta cũng tin cái cảm quan đơn sơ của loài người từ xưa đến nay. Từ xưa đến nay, dấu hiệu của các cõi giới đó, dấu hiệu của các sinh thể đến từ cõi giới đó, là vô cùng cụ thể, nên bàng bạc trong các nền văn minh cổ đại đều ghi lại dấu ấn của các cõi giới như thế.
Với những người đệ tử Phật, đã thấm nhuần đạo lý từ nơi Đức Phật thì sớm có ý niệm vô lượng vô biên trong pháp giới, vũ trụ này. Đây là may mắn của chúng ta. Khi hiểu được vô lượng vô biên trong pháp giới, vũ trụ, ta càng ý thức được sự nhỏ bé, tầm thường, hữu hạn của thân phận con người.
Trong cái tầm thường, hữu hạn đó là sự khổ đau. Kinh Phật xác định đời là bể khổ bởi vì Phật hiểu được cái vô tận bao la nhiều tầng của vũ trụ. Chúng ta sống trong cảnh tranh giành, hơn thua, ghen ghét, được mất, phiền muộn,... đủ mọi trạng thái, đủ điều khổ đau trong tâm thức, cực kỳ nhỏ nhoi tầm thường, mà vũ trụ thì rộng lớn chừng nào.
Vậy nhưng, trong những con người vô nghĩa ấy lại có một điều hết sức ý nghĩa, đó là sự giác ngộ. Khi một chúng sinh tầm thường giác ngộ sẽ trở thành cả một vũ trụ. Đây là giá trị lớn nhất mà đạo Phật đem đến cho con người. Điều này, chưa từng có một triết thuyết nào nói hay làm được. Biết được điều này, ta thấy thật hạnh phúc khi làm đệ tử của Phật.
Quay lại với chủ đề vũ trụ. Ta nói vũ trụ là một không gian, tưởng nó trống rỗng nhưng sự thật lại đặc sệt, đặc sệt đầu tiên chính là trường hấp dẫn. Ngoài ra còn các trường mà ta không thấy được. Ví dụ như trường điện từ; trường tâm linh,... Nhờ các trường này, các sóng mới được hình thành, giúp truyền tải năng lượng và vật chất đi khắp vũ trụ.
Như các chứng minh trên cho thấy, không có sóng điện từ thì ánh sáng không thể truyền đi; không có lực hấp dẫn thì các hành tinh không thể quay mãi quanh mặt trời trên một trục nhất định...
Nói đến ánh sáng, nó đi khắp vũ trụ này nhờ có sóng điện từ. Vận tốc của nó là 300.000 km/s. Bản chất của nó có khi là sóng, cũng có khi là hạt (ta gọi là hạt photon). Nhưng giờ, ta tạm gọi là sóng. Muốn có sóng thì phải có trường. Ánh sáng muốn đi được từ đầu này đến đầu kia của vũ trụ thì khắp vũ trụ phải có trường điện từ.
Ta không thể hình dung ra được hết tất cả các trường ở trong vũ trụ. Các trường này tồn tại song song, tác động lên nhau nhưng không lẫn vào nhau. ế nên, sóng hấp dẫn vẫn là sóng hấp dẫn, sóng điện từ vẫn là sóng điện từ,... Tất cả đều là thuộc tính của vũ trụ.
Dù khác nhau về tính chất nhưng tất cả các trường đều tồn tại song song trong không gian mênh mông của vũ trụ. Ta không thấy nhưng vũ trụ này đặc sệt các trường. Nghĩa là ta đồng ý với lý luận này mặc dù mắt ta không thể kiểm chứng, tâm ta cũng không thể cảm nhận được. Cho nên, cảm nhận và tri thức của ta không giống nhau. Cảm nhận mang tính chủ quan, còn tri thức thì khách quan hơn.

Đàn Cá - Ảnh: Internet
Cũng giống như con cá bơi trong nước. Ta nói môi trường nước đặc lắm nhưng con cá không đồng ý với quan điểm này vì nó sống và cảm thấy thoải mái ở môi trường đó. Chỉ lúc nào lên trên cạn, con cá mới thấy được đúng là môi trường nước đặc hơn môi trường không khí.
Con người vì quen sống ở môi trường không khí nên cảm thấy nó loãng nhưng sự thật là nó cũng đặc sệt. Vậy nên, loãng hay đặc chỉ là cảm nhận chủ quan của ta mà thôi. Chỉ trí tuệ của ta mới biết không gian vũ trụ là đặc sệt.
Trong cái đặc sệt của vũ trụ, có sự góp mặt của trường tâm linh. Vật thể đại diện cho trường tâm linh chính là trực giác của ta. Trực giác cho ta biết những điều mà không cần phải mắt thấy, tai nghe. Vì thế mà những nhà tiên tri hay những vị A la hán có thể biết được tương lai.
Ví dụ như có một vị thiền sư đắc đạo rất nổi tiếng. Khi thấy một người Phật tử bước vào chùa, Ngài liền bảo: “Bà về cứu mấy trăm mạng chúng sinh nhanh lên”. Nghe Ngài nói xong, bà vội lật đật chạy về nhà. Đến nơi, bà thấy con dâu mới mua một giỏ ốc ngoài chợ về. Bà liền cầm cả giỏ ốc đem đi thả. Nghĩa là dù không thấy nhưng khi gặp bà, vị iền sư đã kêu bà về phóng sinh. Cái biết trực giác như vậy đã diễn ra khắp thế giới này, nhất là những nơi có các vị đắc đạo.
Trên thế giới đã từng xuất hiện những nhà tiên tri lớn có khả năng thấy trước những điều sẽ xảy ra đến tận mấy trăm năm13. Lác đác nơi này nơi kia cũng có những nhà tiên tri nhỏ mà ta gọi là thầy bói, cũng thấy được sự việc xảy ra khoảng thời gian gần hơn. ực tế đã chứng minh một số điều tiên tri đã đúng, nghĩa là tương lai không phải là bất định, mà là đã được sắp xếp, đã được lên chương trình. Tương lai đã được ấn định, lập trình, bởi yếu tố gì, theo cách thế nào? Điều này cho ta kết luận rằng giữa quá khứ, hiện tại, tương lai có gạch nối, có một cái trường để cho quá khứ hiện tại tương lai diễn ra trong đó. Và người có năng lực tâm linh có thể chạm được cái trường đó.
Trường tâm linh cũng chỉ là một trong rất nhiều trường tồn tại khách quan, độc lập trong vũ trụ. Vì có các trường này nên vũ trụ đã xây dựng lên các tầng, các cõi cho các sinh vật ở đó. Ví dụ như vong linh, hồn ma là vật thể trong trường tâm linh; Chư iên ở các
13. Những nhà tiên tri lừng danh và những tiên đoán vĩ đại http://khoahoc.tv/nhung-nha-tien-tri-lung-danh-the-gioi-18824 tầng trời;... Các cõi, các tầng trời này được Đức Phật nói đến trong rất nhiều các Kinh điển.
Trong rất nhiều trường của vũ trụ, trường nhân quả nghiệp báo là tuyệt đối và khủng khiếp nhất. Ai đã tạo ra trường nhân quả nghiệp báo cũng như các trường khác? Hỏi câu hỏi này là ta lại rơi vào cái ngu mà tưởng chừng là sự thông minh của loài người ngày xưa khi cái gì cũng muốn tìm ra nguồn gốc. Ngay từ đầu ta đã nói câu hỏi từ đâu ra là biểu hiện sự thông minh của loài người, nhưng đối với các bậc ánh, cái gọi là thông minh đó thực ra lại là sự ngu si. ực sự, vạn vật đều không có sự bắt đầu, cũng không có sự kết thúc. ế nên, cứ có vũ trụ thì tự nhiên sẽ có các trường, các trường là vũ trụ.
Ngài Long ọ cũng như các nhà vật lý nổi tiếng đã chứng minh, mọi vật dù biến đổi khi thế này, khi thế khác nhưng tất cả không sinh ra cũng không biến mất. Chúng chỉ chuyển hóa và tồn tại luẩn quẩn trong các trường mà thôi. Vậy nên ta mới nói không có gì thực sự biến mất, cũng không có gì mới thực sự được sinh ra.
Tương tự, vũ trụ từ đâu mà sinh ra? Bản chất của vũ trụ là không có bắt đầu, cũng không có kết thúc. Nhưng trong tính tương đối, các vật thể của vũ trụ đều có bắt đầu và có kết thúc.
Ví dụ, trong tương đối của con người, lúc ta được mẹ sinh ra là bắt đầu, lúc ta chết đi là kết thúc. Nhưng trong tuyệt đối, việc chết đi cũng chỉ là một chuỗi sống trong luân hồi, sinh tử mà thôi. Như vậy, một ngôi sao hay một hành tinh đều có lúc bắt đầu và có lúc kết thúc. Riêng vũ trụ không có bắt đầu, cũng không có kết thúc.
