NHÌN LẠI TÂM MÌNH
Sói là loài chó rừng, mõm nhọn, đuôi rậm, chuyên bắt thú khác để ăn thịt. Đây là loài thú dữ. Người phương Tây từng có câu: “Người là sói đối với người”, có nghĩa là con người độc ác đối với chính đồng loại của mình. Tâm độc ác của con người biểu hiện qua nhiều khía cạnh, nhiều hình thức trong cuộc sống và giăng đầy trên thế gian.
Chúng ta nói với nhau đề tài “Sói”, tức là nói đến tâm ác độc của con người. Là người đệ tử Phật biết học hỏi giáo lý, tu tập, giữ giới, dĩ nhiên ta không thể giết hại, lừa gạt hay ngược đãi người khác, nhưng cái ác không đơn giản chỉ bó hẹp trong phạm vi đó.
Còn rất nhiều mức độ vi tế mà chúng ta phải biết nhìn cho ra để loại trừ. Ví dụ như thấy người khác đau khổ mà lòng mình vẫn dửng dưng, hoặc khi nghe người khác thất bại, lòng mình nhuốm nhẹ chút vui mừng. Thì đó chính là những độc ác vi tế trong tâm chúng ta.
Do vậy, chúng ta cần trao đổi với nhau cho thấu rõ vấn đề, từ đó nhìn lại tâm mình, nhìn lại thật sâu để tu, để diệt trừ, xóa sạch mầm mống độc ác trong tâm. Khi thấu rõ vấn đề, chúng ta mới có thể nhắc nhở người thân, huynh đệ dứt trừ mầm mống độc ác. Vì độc ác còn, thì cái duyên với địa ngục còn; bởi vài trăm kiếp trước, có thể nhiều người trong số chúng ta đã từng bị đọa vào địa ngục, chịu đựng sự đày đọa khốc liệt, rồi nhờ tu mà được lên trần gian này. Hôm nay có được thân người, biết được Phật Pháp, nhưng mầm mống độc ác trong chúng ta chưa dứt trừ được thì duyên với địa ngục vẫn chưa dứt.
Cho nên, để dứt trừ cái duyên với địa ngục, chúng ta phải loại trừ hết sự độc ác trong tâm mình cho đến vi tế.
Có hai tâm đối ngược nhau:
Một là tâm từ bi yêu thương con người.
Hai là tâm độc ác chỉ muốn mưu hại, làm khổ con người.
Nếu chúng ta có tâm từ bi yêu thương con người thì trong lòng ta có chủng tử của Thánh, nghĩa là chúng ta có duyên với cõi trời.
Ngược lại, nếu trong lòng chúng ta còn muốn người khác khổ thì chúng ta còn duyên với địa ngục.
Đây là hai con đường buộc chúng ta phải chọn lựa một cách dứt khoát mà không được do dự, lưỡng lự. Vì sao vậy? Bởi lẽ có những điều mà đôi khi làm theo hướng này là đúng, đôi khi làm theo hướng ngược lại là đúng. Nhưng riêng đối với tâm thiện và ác, chúng ta chỉ được chọn một. Vì thế, chúng ta phải dứt khoát chọn thiện tâm cho mình để vĩnh viễn dứt trừ duyên với địa ngục, để chỉ sống làm người ở cõi trần gian này hoặc lên cõi trời.
Nhưng vì sao người xưa bi quan nói: “Người là sói đối với người”?
Suốt chiều dài lịch sử nhân loại từ Đông sang Tây, con người đã chứng kiến quá nhiều đau khổ của đồng loại do chiến tranh gây ra: máu đổ, người chết, nghèo nàn, lạc hậu, bệnh tật, chia ly, mồ côi... Rồi đây đó vẫn xảy ra các cuộc giao tranh, dù một bên có bị cày nát bởi mưa bom bão đạn, xác người phơi đầy nhưng những cảnh tượng đó hiếm khi được phơi bày trước mắt những người bên kia chiến tuyến, những kẻ bấm nút phóng đạn, kích nổ. Nếu chúng ta có mặt trong cuộc chiến tranh mới thấy kinh hãi vì sự độc ác của con người. Nhất là ngày xưa, họ đánh nhau bằng gươm đao, đánh giáp lá cà. Trong cơn khát máu, họ đâm chém, rạch bụng, chặt đầu đồng loại không mảy may thương xót. Đây là điều quá sức tưởng tượng trong thời đại văn minh – thời đại mà những bất đồng dù được giải quyết bằng nắm đấm, gậy gộc cũng đã khó được chấp nhận.
Trong chiến tranh còn có sự cướp bóc, cưỡng hiếp, bắt bớ, hành hạ con người. Vào thế kỷ XIII, đội quân hùng mạnh của Mông Cổ giẫm vó ngựa đến đâu thì tàn sát đến đó. Quân lính vây làng, vơ vét lương thực, giết đàn ông và trẻ con, cưỡng hiếp phụ nữ, đốt trụi nhà cửa... Khắp nơi nhuộm đỏ màu máu. Cứ thế, họ tiếp tục hành trình xâm chiếm những làng mạc, vùng miền kế đến.
Hoặc ở châu Âu, có những tội nhân bị khép án tử hình rồi áp tải ra pháp trường trước sự chứng kiến của đám đông quần chúng liên tục reo hò, cổ vũ: “Giết đi! Giết đi!”. Tội nhân bị treo cổ lủng lẳng, oằn oại đến chết, mà người chứng kiến không hề động lòng, ngược lại còn thích thú, khoái trá. Có những thời đại, những dân tộc đã không được soi rọi bởi đạo lý như vậy, nên con người sống theo bản năng như loài thú hoang.
Hoặc các bộ tộc ở châu Phi, ông Tù trưởng ra lệnh cho bộ tộc này tràn sang bộ tộc kia đánh giết, cắt cổ bao nhiêu người vô tội... Trước cảnh máu đổ đầu rơi, người uống máu người, gương mặt của những kẻ sát nhân vẫn vô hồn và lạnh lùng. Nếu một lần chứng kiến, chúng ta mới thấy quả thật người đúng là sói đối với người.
Những dân tộc tiến bộ hơn là nhờ có các vị Thánh xuất hiện như Đức Phật, các Thánh Tăng ở xứ Ấn Độ; Khổng Tử, Lão Tử bên Trung Hoa... Các Ngài đến với thế gian để dạy dỗ đạo lý, kêu gọi con người đối xử với nhau bằng lòng nhân ái. Nhờ vậy, dù ác tâm chưa được trừ diệt hoàn toàn nhưng người ta cũng đã biết dừng tay gây tạo ác nghiệp.
Với Phật giáo, việc giết hại con người được xem như một trọng tội. Mặc dù thật sự còn nhiều điều độc ác tế hơn, nhưng cái ác thô dễ thấy là làm đau, làm chảy máu, làm thương tổn cơ thể con người. Cho nên giới cấm thứ nhất trong đạo Phật là cấm sát hại (giết người được nói tới trước, kế đến là giết thú vật lớn như trâu, bò, ngựa, lợn, chó, mèo...). Dù là những thú vật, chúng ta cũng không được tước đoạt mạng sống vì chúng cũng biết đau đớn khi bị đụng chạm đến thân thể, bị cắt da xẻo thịt.
Con người có hai phần: Phần vật chất gọi là thể xác, phần tinh thần gọi là phần hồn hay tâm hồn. Trước hết, việc giết chết thể xác con người là cái ác, tuy nhiên dần dần chúng ta sẽ phân tích thêm để thấy rằng việc giết chết tâm hồn con người, gieo rắc tội lỗi mới là cái ác khủng khiếp hơn.
Hành động độc ác là gây đau khổ cho con người. Tâm độc ác là muốn người khác đau khổ. Có thể người đệ tử Phật không có hành động độc ác nhưng hãy cảnh giác bởi chúng ta vẫn còn tâm ác độc tiềm tàng. Những lúc giận hờn hay oán ghét ai, ta muốn trả thù cho hả dạ, hay muốn người đó phải khổ sở, phải hối hận, đau đớn - mặc dù ta chưa đánh, mắng họ nhưng ý muốn đó đã là hiện thân của ác tâm. Chúng ta cần phải nhớ điều căn bản này mà “tu tâm dưỡng tánh”. Vấn đề này sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần sau.
Tâm vị tha là dấu hiệu của bậc Thánh, tâm vị kỷ là dấu hiệu của phàm phu. Nếu tâm vị kỷ không dừng lại mà được nuôi dưỡng và lớn mạnh, chắc chắn sẽ đưa đến tâm độc ác, mà tâm độc ác thì thuộc về thế giới của địa ngục và ác quỷ. Hằng ngày chúng ta nhìn mặt nhau nhưng khó biết tâm hồn nhau. Lác đác trên thế giới vẫn xuất hiện một số trường hợp có linh giác mạnh, họ có thể nhìn thấy “cái gì đó” biểu hiện ở tâm hồn người khác.
Một Phật tử tìm đến một vị Thầy hỏi rằng:
- Thưa Thầy, sao con nhìn thấy kỳ quá! Có lúc con thấy người đạp xích lô chở một con gấu đen, khi đến gần hóa ra đó là một người phụ nữ mặc bộ đồ đen. Có lúc con thấy một người chở hai con lợn con, lại gần thì thấy hai đứa con nít. Nhiều lần con thấy tương tự như vậy. Thưa Thầy, đó là gì?
Vị Thầy đáp:
- Dĩ nhiên đó là ảo giác. Tuy nhiên, nó không vô cớ xuất hiện, tất cả đều có nguyên do. Kiếp trước cô đã từng tu theo pháp môn nào đó và có chút kết quả về tâm linh, vì thế đời này xuất hiện linh cảm thấy được cái tâm thật của con người, hoặc thấy được nguồn gốc của người đó vượt ra vẻ bề ngoài. Hình ảnh con gấu có thể tượng trưng cho cái hung dữ còn ngự trị trong tâm người phụ nữ. Còn hai con lợn có thể là tiền kiếp quá khứ của hai đứa bé. Linh ảnh mà cô nhìn thấy có thể là bản chất mà cũng có thể là ảo tưởng.
Sau đó, Thầy khuyên rằng:
- Nhưng đã lỡ thấy, biết như vậy thì nên thấy, biết với lòng thương yêu; chứ đừng thấy biết bằng tâm phân biệt hơn thua, tốt xấu. Thấy người tốt, ta quý mến nhưng nếu thấy người xấu, ta chớ xem thường mà mang tội. Chúng ta hãy cầu mong cho tất cả mọi người ai cũng thấy chúng ta là thiên thần mang đôi cánh trắng, chứ đừng nhìn thấy chúng ta là gấu, là lợn thì thật đáng buồn!
Hoặc một ông giáo chủ được tín đồ ca ngợi hết lời vì có thần thông đặc biệt. Họ truyền tai nhau nhiều câu chuyện ly kỳ, trong đó có chuyện về một lần khi đi ngang qua chợ, ông đã chép miệng than: “Con người thì ít mà thú vật nhiều quá! ” Có lẽ ông đã phần nào nhìn thấu được tâm người nên giữa cảnh chợ đời lao xao, thấy quá nhiều kẻ gian tham hiểm ác, ông đã buột miệng thốt lên như vậy. Trường hợp này không thể nói là tà đạo, vì có thể ông thấy thực như vậy - cảnh con người lộ ra thú tính.
Cho nên, chúng ta tu tập theo Phật Pháp, thường lễ kính Phật, tinh tấn hành thiền thì trực giác cũng dần dần mở ra, khi lướt nhìn một ai đó cũng có thể biết chút ít về tốt, xấu trong tâm họ. Trong thực tế, một số người chưa tu tập ngày nào nhưng vẫn có trực giác, ngay buổi sơ giao họ đã mơ hồ cảm nhận về nội tâm kẻ khác. Nhất là với người nữ, cái cảm nhận của họ thường nhanh nhạy hơn nhiều so với người nam. Còn những người sâu sắc khi sống càng lâu thì càng nhìn thêm được nhiều vấn đề.
Khi trực giác mở ra cũng là lúc lòng ta trĩu buồn khi đi trên đường phố đông người hay chợ đời tấp nập. Dù chưa đắc đạo nhưng chỉ bằng cảm nhận của người biết tu lâu, chúng ta cũng có thể nhìn thấy ở cõi đời này con người thật sự rất ít, mà sói đội lốt người thì nhiều. Tuy được thân người nhưng tâm hồn họ đang hướng về cõi giới xấu. Rồi khi chấm dứt kiếp sống hiện tại, rất đông trong số họ đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Còn khi đặt chân vào cổng chùa, nhìn gương mặt của những Phật tử hiểu đạo, biết huân tu đạo đức, chúng ta có thêm chút niềm tin với cuộc đời. Đa số họ sau khi rời bỏ thân xác này đều không đi về cảnh giới xấu mà chí ít cũng trở lại làm người. Một vài người đặc biệt sẽ vượt lên để sinh về ở cõi trời an lạc.
MẦM MỐNG THIỆN-ÁC
Tiền kiếp thú rừng Trên đời tại sao có những người cả đời trường chay, không bao giờ dám xúc phạm hay làm tổn hại ai? Rồi tại sao cũng có những người nhẫn tâm luôn làm người khác khổ đau, những kẻ thú tính tàn sát chính đồng loại mình mà không hề run sợ? Tại sao có sự khác biệt quá lớn như vậy?
Tại châu Phi, một số phe phái bắt trẻ em vào trại lính huấn luyện rồi ép chúng cầm súng bắn chết kẻ địch. Mỗi khi hạ được một người, các em (là người lính) phải mổ bụng moi gan nạn nhân nấu lên ăn nhằm tăng sức mạnh, tăng sự vô cảm mà chiến đấu tiếp. Những đứa trẻ đó đã gây nghiệp gì mà phải rơi vào lực lượng giết người đó? Tại sao có những kẻ độc ác đến thế?
Mọi điều trên đời đều có nguyên nhân lâu xa, không có gì là ngẫu nhiên cả.
Ở đây có sự trùng hợp giữa thuyết tiến hóa của Darwin với sự tiến hóa của luân hồi. Khuynh hướng thiện-ác trong mỗi người bắt nguồn từ nhiều kiếp rất xa xưa. Con người có nguồn gốc thú rừng qua một quá trình tiến hóa. Khi loài người còn chưa xuất hiện, trái đất chỉ có muôn thú sinh sống trong những cánh rừng bạt ngàn. Thú rừng có loài ăn cỏ lá, ăn trái cây; cũng có loài chỉ ăn thịt. Kiếp này dù mang hình hài con người nhưng biết đâu lùi lại thời điểm mấy ngàn kiếp trước (mấy ngàn kiếp khác với mấy ngàn năm, mấy ngàn năm trước có thể chúng ta đã là người rồi), chúng ta là những con thú. Nếu ai may mắn là loài ăn cỏ, đời này họ thường hiền lành, dễ gặp Phật Pháp, dễ ăn chay và tu tập. Còn nếu là những loài thú dữ như cọp, beo thì bây giờ trở thành người, họ vẫn thích ăn thịt, thích đánh chửi, làm tổn hại người khác, thậm chí có thể khát máu, xem chém giết là chuyện bình thường vì chủng tử ác (ở kiếp làm thú dữ) vẫn còn khá mạnh trong lòng.
Một thanh niên đạo Thiên Chúa không tin luân hồi, anh luôn cho rằng Chúa Trời tạo ra loài người, sau khi chết chúng ta sẽ về với Chúa hoặc xuống địa ngục. Nhưng rồi một số chuyện không hay xảy đến, anh bị bắt giam vào tù. Sau khi gặp người bạn tù ăn chay, anh cảm thấy yêu mến sự tu tập thanh cao và bắt đầu tập ăn chay, thực hành thiền định. Chợt một hôm anh thấy lại kiếp xa xưa của mình. Ở kiếp đầu tiên mà anh nhìn được, anh thấy mình là một con hươu sao đang gạc sừng, đứng trên đỉnh núi cao nhìn đất trời mênh mông. Rồi những kiếp sau anh được làm người và cũng có một số tài năng đặc biệt.
Trong mỗi người có hai chủng tử: thiện và ác. Thiện và ác luôn luôn giằng xé, xung đột nhau trong mỗi chúng ta. Đến một lúc nào đó, người có duyên gặp Phật Pháp giáo hóa, biết tu khiến cho cái thiện lấn lướt cái ác. Đây là người biết tu tập, tâm hồn hiền lành (đã từng có nguồn gốc là thú ăn cỏ ở mấy ngàn kiếp trước). Còn người không biết đạo: dễ nổi nóng, dễ phản ứng mạnh trước những việc trái ý nghịch lòng (có nguồn gốc từ ác thú xa xưa). Chúng ta thử nhìn lại tâm mình, xem mình có nguồn gốc là thú hiền hay thú dữ để tinh chuyên tu hành mà dứt sạch mọi chủng tử ác còn bám rễ.
Tiền kiếp ở địa ngục hay cõi trời
Trong nhà thiền có câu chuyện sau:
Một lần, người thợ săn đuổi theo con nai chạy ngang qua cốc của Ngài Mã Tổ. Người thợ săn hỏi Ngài Mã Tổ:
- Thưa thầy, thầy có thấy một con nai chạy ngang qua đây không?
Ngài Mã Tổ nhìn người thợ săn, biết đây là người có căn tu, không trả lời lại mà hỏi người thợ săn :
- Người có bắn giỏi không ?
- Dạ bắn giỏi.
- Một mũi tên bắn chết mấy con?
- Một mũi tên bắn được một con.
- Một mũi tên ta bắn được một bầy.
Lúc đó, người thợ săn chau mày:
- Sinh mạng của chúng sinh mà giết chi một lần một bầy. Không nên!
(Chúng ta thấy người thợ săn chủng tử thiện vẫn còn sâu trong lòng nên khi nghe Ngài Mã Tổ bắn một lần cả bầy nai, liền nghĩ tới sinh mạng của chúng). Lúc đó ngài Mã Tổ cười:
- Ngươi biết vậy sao không tự bắn chính mình?
- Con cũng định tự bắn nhưng không biết chỗ hạ thủ.
Tổ nói:
- Người này nghiệp chướng sâu dày phải làm thợ săn nhưng kiếp này sẽ sớm dứt.
Nghe đến câu đó, người thợ săn bừng tỉnh, bẻ cung tên rồi đi theo Ngài Mã Tổ xuất gia. Người thợ săn đó là Ngài Thạch Củng, sau tu hành đắc đạo và cách giáo hóa của Ngài cũng lạ thường. Khi có người tới hỏi đạo, Ngài giương cung tên về phía họ, giống như đang dọa giết nên làm họ vô cùng khiếp sợ. Ẩn sau hành động khó hiểu đó là một đạo lý mà Ngài muốn gửi gắm. Tuy nhiên, dường như chỉ có Ngài và những người ngộ đạo mới có thể thấu triệt.
Như vậy, người thiện hay ác trên trái đất này có nguồn gốc từ thú hiền, hoặc thú dữ. Cũng có một nguồn gốc khác là sự tái sinh của những chúng sinh từ cõi trời xuống hay từ địa ngục lên. Có những chúng sanh từ cõi trời đầu thai xuống nhân gian, họ đều là những chúng sinh cao cả thiện lương. Đôi khi họ trở thành những bậc đạo sư, những vị Thánh phi thường hoặc những bậc Thầy muôn đời của nhân loại. Trong lịch sử, đó là những vĩ nhân còn được hậu thế ca ngợi đến ngày nay như: Socrate, Khổng Tử, Lão Tử... Họ mang minh triết từ cõi Thánh đến để trần gian bớt mê muội, u ám. Còn những chúng sanh từ xa xưa bị đọa địa ngục, đến khi giảm tội còn đọa ngạ quỷ, hết đời ngạ quỷ họ được đầu thai làm người. Dĩ nhiên những người này mang dung mạo không quang minh và vẫn còn khá nham hiểm, ích kỷ, tàn độc. Rồi chủng tử cũ lôi kéo, thúc đẩy họ làm điều ác. Không bao lâu, họ lại bị đọa lạc trở lại địa ngục để chịu tra tấn khổ sở.
Từ khuynh hướng cũ trong kiếp quá khứ
Vòng luân hồi cứ luẩn quẩn như vậy. Và thật khó thoát khỏi luân hồi, cũng là vậy. Chưa nói đến luân hồi lớn trong ba cõi mà Đức Phật muốn chúng sinh ra khỏi, ngay cả luân hồi nhỏ theo nghiệp, chúng ta cũng khó lòng vượt qua.
Ví dụ một người đời trước thường cúng dường, bố thí nên đời này người đó được giàu sang. Khuynh hướng bố thí cũng còn tồn tại, thúc đẩy họ cứ muốn cúng dường, bố thí và họ lại giàu sang tiếp. Có thể lúc dư dả tiền của, họ sinh ra kiêu mạn. Như thế, họ gây tạo một số nghiệp xấu và trở thành người nghèo khổ một vài kiếp. Dù nghèo nhưng họ vẫn tiếp tục siêng năng tích cóp từng chút tài sản mà san sẻ cho kẻ khác vì khuynh hướng bố thí vẫn còn. Thế là họ lại vượt lên trên, từ từ trở nên giàu có. Cái nghiệp cứ luẩn quẩn như thế. Vậy nên, người có phước giàu sang thường trở lại làm kẻ giàu dù có vài kiếp hoặc vài giai đoạn họ tạm làm người nghèo.
Ngược lại, người hẹp hòi, độc ác thường chịu cảnh nghèo khổ. Trong cảnh đó, họ tiếp tục bị cuốn theo khuynh hướng ích kỷ nên không muốn giúp ai, càng nghèo lại càng muốn vơ vét về cho mình. Dĩ nhiên cuộc sống của họ thiếu thốn hơn nữa. Rồi trong thân phận hèn kém đó, có thể đến một giai đoạn, họ có duyên gặp người khuyên bảo nên biết khiêm tốn và làm được vài điều thiện. Đời sống họ khá hơn đôi chút. Nhưng khuynh hướng cũ (ích kỷ) còn tiềm tàng mạnh mẽ trong tâm khiến họ tạo nghiệp xấu và rớt trở lại thân phận nghèo khổ. Cái nghiệp cũng cứ luẩn quẩn như vậy...
Người ta thường nói: «Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn». Thật vậy, đôi khi vô tình bắt gặp ánh mắt của vài người nghèo khổ, chúng ta chợt thấy những cái nhìn dữ dằn, hiểm ác. Nó bộc lộ cái tâm bất thiện, và nguyên nhân của nghèo khổ cũng chính là đây, không thoát ra được. Cũng vậy, đa phần người giàu, ánh mắt họ biểu hiện tâm hồn hiền lành, sự rộng rãi độ lượng. Những người này luôn luôn tìm cách giúp đỡ người khác vượt qua nghèo khó. Vì thế, họ được giàu có mãi, nghĩa là do chúng sanh ở cõi trời xuống cõi trần làm người, khuynh hướng thiện thúc đẩy họ tu tập để lúc nào đó họ trở lên cõi trời. Còn chúng sanh từng ở địa ngục hoặc làm ngạ quỷ trong cõi siêu hình đầu thai làm người, khuynh hướng ích kỷ vẫn còn rất mạnh và thường lôi họ trở lại địa ngục.
Dĩ nhiên, ta chưa phải là bậc Thánh cao siêu nên không tránh khỏi phạm sai lầm. Nhưng nếu chúng ta là người hiền lành thì dù có lầm lỗi, chủng tử thiện sẽ vực ta dậy trở lại. Con người cần sống bao dung với nhau vì lẽ đó. Có thể hôm nay người ta phạm lỗi nhưng ngày mai họ biết sửa lỗi lầm, vì mầm mống thiện vẫn luôn luôn còn ở mỗi con người.
Vấn đề là chúng ta không chịu thấy điều ác độc còn tiềm tàng trong lòng mình. Nghĩa là người khác có tám điều tốt ta vẫn không để ý, nhưng chỉ cần họ có hai điều xấu, ta lập tức bắt bẻ, rêu rao cái lỗi của họ cho nhiều người biết. Ta không ngờ rằng đó là cái ác độc còn sót lại. Bởi người ác là người muốn kẻ khác phải xấu. Khi nghe chuyện xấu của ai mà ta thích thú, mang đi kể lể khắp nơi, hãy biết rằng ác tâm của chúng ta vẫn còn nặng nề.
Các bậc Thánh, các Bồ tát không như phàm phu chúng ta, dù thấy một người còn lầm lỗi nhưng các Ngài nhìn sâu vào tâm hồn, biết chủng tử thiện vẫn còn. Thế nên qua lúc lầm lỗi, người này sẽ đứng lên để tu tập tốt đẹp. Đó là cái nhìn của Thánh.
Thế giới này sở dĩ còn đau khổ vì con người còn đối xử ác độc với nhau. Nên từ đây, chúng ta hãy tập cái nhìn của bậc Thánh: khi nhìn con người hãy rộng lòng nhìn thêm điểm tốt để thương yêu, bao dung.
VÌ SAO CON NGƯỜI ĐAU KHỔ?
Nói theo đạo lý, con người đau khổ là do quả báo. Nghĩa là nếu ta đã từng làm ai đau khổ thì đó chính là một món nợ khó chịu dành cho những kiếp sau. Ví dụ ngày xưa có lần ta tố gian ai đó làm cho họ bị tù đày, chết chóc thì đến đời này, ta cũng bị oan ức, bị bức hại đến tột cùng. Hoặc trước đó, chúng ta đã gieo thương nhớ, thề non hẹn biển với ai đó rồi quay lưng bội bạc, thì chắc chắn có một kiếp ta cũng thương ai tha thiết để rồi bẽ bàng tan vỡ vì bị bội tình.
Nói theo tâm lý, con người đau khổ là do tâm hồn. Đối diện nghịch cảnh, tâm hồn ta đau khổ. Nỗi khổ đó đôi khi làm tâm hồn ta suy sụp, thể chất bệnh hoạn, xem nghịch cảnh như là điều không thể vượt qua. Ngược lại, trước những cảnh trái ý nghịch lòng, ta vẫn không đau khổ là do tâm hồn mình không thấy khổ. Nên ta vẫn bình tĩnh tìm cách vượt qua. Như vậy, cảm giác khổ hay không còn phụ thuộc vào tâm ta như thế nào.
Một yếu tố nữa là có nghiệp báo, có nghịch cảnh mà ta không buồn khổ là nhờ biết tu. Vì nghiệp xưa, chắc chắn sẽ có người đến cản trở, mưu hại ta nhưng nếu sự tu tập đã vững vàng, tâm ta dần “không thèm khổ”. Chỉ có người tu vững mới tự quyết định một cách độc lập thái độ, hành động của mình để vượt qua nghịch cảnh.
Một cụ bà bị kẻ xấu lừa gạt, sang đoạt hết tài sản mà bà dành dụm cực khổ cả một đời. Khi bà phản ứng lại, kẻ đó ngang nhiên thách thức bà đưa vụ việc ra tòa. Quá uất ức, bà quyết tâm tích cóp từng đồng để đâm đơn kiện. Lửa thù hận thiêu đốt tâm hồn khiến bà vô cùng đau khổ. Nhưng sau một thời gian tập ngồi thiền, chợt tâm thù hận dần tan vỡ, bà không còn đau khổ và bỏ qua vụ kiện. Đến lúc gặp lại kẻ đó, bà chủ động đến trò chuyện vui vẻ, quên hẳn sự phẫn uất bấy lâu nay, quên luôn cả tài sản mà bà có được bằng mồ hôi nước mắt của mình... Chính nhờ biết tu tập, tâm bà đã chuyển trước một nghịch cảnh tưởng chừng không thể nào vượt qua. Đó là phép lạ giữa đời thường.
Từ hai nguyên nhân của khổ (nghiệp báo - tâm lý), ta cũng tránh khổ trên hai phương diện:
Thứ nhất, làm lành lánh dữ để cảnh khổ không có cơ hội tìm đến.
Thứ hai, tu tập thiền định cho tâm hồn bình thản vững chãi mà chịu đựng, tha thứ, thương yêu trước những sóng gió.
Chúng ta biết rằng thế giới này còn nhiều đau khổ vì con người còn tham lam, sân hận, độc ác với nhau. Những tâm bất thiện đó để lại hậu quả đau lòng: gia đình tan vỡ, xã hội bất an, mà đôi khi chúng chỉ từ những việc nhỏ.
Một tên cướp chạy xe phân khối lớn giật sợi dây chuyền của một người phụ nữ còn trẻ rồi phóng đi mất. Chuyện xảy ra bất ngờ khi đang lái xe nên cô bị ngã đập đầu xuống đất, chấn thương sọ não rồi qua đời. Trước giờ, cô là trụ cột trong gia đình do người chồng bệnh nặng, hai đứa con còn tuổi đến trường. Chỉ sau một đêm, tất cả đã thay đổi - ba người kia bỗng rơi vào cảnh khốn cùng: đói ăn thiếu mặc, chật vật đủ đường. Một sợi dây chuyền đổi lấy vài ngày hút chích heroin của tên cướp nhưng nỗi khổ mà những người khác phải gồng mình hứng chịu sẽ dai dẳng suốt một đời.
Hoặc câu chuyện của một cô gái lang thang đi tìm đứa em trai ròng rã suốt bao nhiêu năm trời. Người em bỏ nhà ra đi bởi một lý do rất đơn giản:
Trong một lần bạn cô đến chơi nhà, đứa em trai đã có thái độ không lễ phép. Cô quay lại trừng mắt và quát: “Thằng hỗn láo, tao đuổi mày ra khỏi nhà!”. Nghe xong, người em tự ái đi mất và vĩnh viễn không trở lại. Rồi người chị đã khổ nhọc đi tìm suốt bao năm vẫn chưa gặp lại em mình. Người chị hối hận đã đành, những thành viên khác cứ khắc khoải chờ đợi trong vô vọng. Tất cả chỉ vì một lần lỡ làm ác với người, mặc dù là điều ác nhỏ.
Vì vậy, chúng ta hãy cẩn thận! Trong cuộc sống, hãy cân nhắc từng lời nói, việc làm của mình, tránh những biểu hiện làm cho người khác cảm thấy bị xúc phạm, tổn thương. Bởi lẽ, có những điều ta thấy như đơn giản nhỏ nhặt như vài câu rầy la, quát nạt nhưng nỗi đau để lại trong tâm hồn người khác lại dằng dặc không nguôi.
Quay trở lại chuyện tên cướp giật dây chuyền, người phụ nữ bị té chết, chồng và hai con đói khổ. Vì thế y phải trả quả báo như thế này: Một là bị cướp tài sản; hai là bị sát hại trở lại; ba là bị bơ vơ lạc lõng, đói khổ lâu dài. Ba quả báo này cộng lại thì cõi đất này không còn chỗ dung chứa, chỉ địa ngục mới xứng đáng cho những tội lỗi của y. Giết một người nhưng quả báo trả không hết, vì một người chết, chung quanh bao nhiêu con người đau khổ.
Điều ác nặng nề
Kỷ lục Guiness từng ghi nhận trường hợp xui xẻo nhất thế giới như sau: một anh chàng bị vấp té gãy chân trong lễ cưới. Khi xe cứu thương đến, người nhân viên khiêng anh đi nửa đường thì băng ca bị gãy, họ đành vác anh đem lên xe. Xe cứu thương đang đi thì gặp tai nạn lật xe, anh cũng thoi thóp vào đến bệnh viện nhưng không lâu sau nhận được tin báo người vợ quyết định từ hôn. Đó là câu chuyện xui kỷ lục có vẻ hơi khôi hài. Trong thực tế, nỗi đau mà con người gây cho nhau trên đời lớn hơn, trái ngang hơn rất nhiều.
Trở lại trường hợp của những kẻ giết người, cướp của, bắt cóc, cưỡng hiếp người,... họ đang vét hết phước quá khứ của mình. Vì sao nói họ vét hết phước? Vì trong những kiếp quá khứ, họ cũng có làm phước (từng đối xử tốt với cha mẹ, phụ người cất nhà, sửa đường, bắc cầu cho dân làng qua lại dễ dàng). Nhưng đời này họ làm chuyện bất lương nên nguồn phước đó chỉ đủ giúp họ ăn cướp trót lọt vài phi vụ nữa rồi vĩnh viễn cạn kiệt. Sau đó họ bị tống giam vào tù. Nếu phước hết nhanh hơn, họ lãnh án tử hình - chấm dứt sự sống nơi cõi trần. Rồi sau khi chết, họ sẽ đi về đâu? Chắc chắn chỉ còn cõi địa ngục để đi về và khó có đường quay trở lên.
Điện ảnh Mỹ có phim “Oan hồn” kể chuyện một nhân viên ngân hàng bị kẻ xấu sát hại. Anh vừa bị giết chết thì thiên thần hiện ra đón anh lên cõi trời nhưng anh từ chối vì muốn ở lại để tìm ra hung thủ. Diễn biến câu chuyện dài dòng... Đến cuối phim, trong một cuộc rượt đuổi, tên giết người bị xe tông, hắn chết rồi hồn văng ra khỏi xác. Lồm cồm đứng dậy, hắn nghĩ mình còn sống, bởi thông thường người mới mất chưa nhận thức được cái chết của mình. Khi anh nhân viên ngân hàng - lúc này là hồn ma trong cõi siêu hình - nói: “Mày đã chết rồi!”, hắn nhìn lại thì thấy xác của mình nằm sóng soài trước đầu xe hơi. Ngay sau đó, tên giết người (cái hồn) bị quỷ sứ lôi đi... Ngụ ý bộ phim khẳng định người thiện chết được đưa về cõi trời, còn kẻ ác bị đày xuống địa ngục.
Tại các quốc gia phương Tây thỉnh thoảng xuất hiện những kẻ bị bệnh tâm lý thích giết người hàng loạt. Có những trường hợp cầm súng xả vào đám đông, có trường hợp đi tìm những cô gái trẻ để sát hại hàng loạt. Có lần, báo chí đưa tin cảnh sát bắt được một kẻ sát nhân đã giết chết hơn một trăm đứa trẻ. Lương tâm hoàn toàn biến mất, họ sát hại đồng loại mà không mảy may xót xa. Đó là những người có ác tâm quá nặng nề. Thật là đáng sợ!
Dĩ nhiên, chúng ta không ác như thế, tuy nhiên ta phải biết con người có thể ác đến mức độ như vậy để ý thức rằng khi sống trên đời, mỗi người có bổn phận đẩy lùi cái ác ra khỏi thế gian.
Sự ngược đãi - biểu hiện của cái ác nhỏ nhặt
Không chỉ giết hại con người mới là độc ác, sự ngược đãi, mưu hại, hành hạ người cũng là độc ác.
Ngày xưa, nhiều quốc gia sử dụng con người làm nô lệ. Người nô lệ được xem như là một tài sản riêng của chủ - những người có toàn quyền đánh đập, cưỡng bách, giam cầm, bỏ đói họ. Người ta mua nô lệ từ châu Phi rồi chở sang Mỹ bán. Những ngày lênh đênh trên biển, nô lệ bị nhốt dưới hầm tàu, không được cho ăn nhiều. Những ai yếu ớt, bệnh hoạn sẽ bị quăng xuống biển để tránh lây bệnh cho người khác. Vì thế khi tới đất Mỹ, số nô lệ chỉ còn phân nửa. Sau đó, người ta đưa nô lệ đến những đồn điền trồng bông vải. Họ vừa bị xích, vừa phải hùng hục làm việc cả ngày. Người kiệt sức gục ngã thì bị đánh đập, đến khi phát bệnh thì bị bắn chết. Họ bị đối xử không khác gì con vật.
Trong hoàng cung ngày xưa cũng vậy, người ta rất dễ giết người. Vua được xem là ‘thiên tử’ (con của trời) nên kẻ nào dám đắc tội với vua đều sẽ bị xử trảm.
Ở Trung Hoa, lúc vua Càn Long còn là Thái tử, ông phải lòng một cung nữ xinh đẹp. Một lần cô đang chải tóc, Thái tử nghịch ngợm đến sau lưng bịt mắt, cô giật mình tưởng tên thái giám nào đang trêu mình. Sẵn chiếc lược trong tay, cô đánh ngay vào đầu người đó, tới chừng buông lược ra mới biết đó là Thái tử. Cung nữ hoảng sợ tột cùng vì trên trán của Thái tử có vết xước. Khi hoàng hậu nhìn thấy vết xước, gặng hỏi chuyện gì xảy ra, Thái tử đành ấp úng khai thật là do đùa giỡn với cung nữ, bị cung nữ đập cái lược vào trán. Hoàng hậu lập tức ra lệnh treo cổ cung nữ đó.
Chúng ta thấy sự kiêu mạn của hoàng tộc rất lớn, họ coi sinh mạng của con người rẻ mạt, xử giết mà không chút áy náy bận tâm. Nên người làm Vua, làm Chúa thường dễ tạo nghiệp là vậy.
Ngày nay, có những trường hợp ngược đãi con người cũng làm chúng ta đau lòng, chẳng hạn như cảnh bóc lột công nhân. Đây đó trên thế giới, rất nhiều công nhân quần quật làm việc mà lương tháng chỉ vừa đủ sống ở mức tối thiểu. Họ cặm cụi làm trong nơm nớp lo sợ bởi nếu có một chút sai sót sẽ bị đuổi việc. Nhìn những cảnh đó ta mới hiểu sự khốn cùng của người công nhân vào thời kỳ cuộc cách mạng kỹ nghệ xuất hiện. Khi những nhà tư bản lớn mở ra các xưởng máy, xí nghiệp quy mô thì người lao động cũng bị bóc lột thê thảm, tuy nhiên họ chỉ biết nhắm mắt cam chịu. Đó là lý do mà chủ nghĩa Mác ra đời. Có thể các nước tự do ở phương Tây không đi theo chủ nghĩa Mác nhưng họ vẫn phải cải thiện đời sống công nhân, bởi Mác đã lên tiếng. Đây cũng là một công lao lớn của ông đối với nhân loại.
Rồi cảnh mẹ ghẻ con chồng cũng thật đau lòng. Tính hay ghen của người phụ nữ làm cho họ trở nên ích kỷ đối với những đứa con chồng. Những đứa trẻ bị hắt hủi, ngược đãi, chịu đựng sống qua chuỗi ngày bẽ bàng cay đắng.
Người ta còn lừa gạt cả người mù. Người mù có thể rất giỏi, nhưng không ai thuê họ làm việc nên rất nhiều người đã phải lang thang đi bán vé số. Họ mò mẫm từng bước đi trên hè phố, qua từng con hẻm giữa cái nắng gay gắt ban trưa. Thỉnh thoảng có những kẻ xấu đến giả vờ mua rồi giật luôn xấp vé số. Thế là họ phải nhịn đói để có tiền bồi thường lại xấp vé số đã mất. Có người bắt gặp một người mù bán vé số cứ quanh quẩn đi lại trên một đoạn đường. Người đó bước đến hỏi: “Anh bị lạc à? Tôi chỉ đường cho anh nhé”. Người mù lắc đầu rồi khóc. Từ hai hốc mắt không còn con mắt, nước mắt lã chã tuôn chảy: “Vừa rồi có người giật xấp vé số rồi chạy mất, em không biết ở đâu để đòi lại”. Thật đau lòng! Con người bình thường độc ác với nhau đã đành, nhưng ngay cả với người khuyết tật bất hạnh, nhiều người cũng hết sức nhẫn tâm.
Người mù bị khiếm khuyết chỗ này lại được bù đắp chỗ khác, nên đa phần họ rất giỏi. Họ có trí tuệ cao và trực giác tốt, có những người mù giải được cả toán hình học không gian. Vừa nghe đọc đề, họ hình dung ngay trong đầu đường nào thẳng góc, cặp đường nào song song, mặt phẳng nào cắt nhau... Có người đỗ một lần hai, ba trường đại học. Họ minh mẫn là vậy nhưng đôi lúc chúng ta không biết, nghĩ rằng họ không giúp được gì cho đời nên đã xem thường, không tuyển dụng. Vì vậy, họ chỉ còn cách đi bán vé số. Ngày hôm nay, chúng ta hãy nghĩ đến người mù một chút. Xin hãy giúp người mù bớt đau khổ, bớt đi lang thang ngoài đường kiếm sống bằng cách tạo cho họ có công ăn việc làm, giúp cho họ có cơ hội phát triển khả năng để sinh sống. Người Phật tử nếu là chủ, có thể tạo ra công ăn việc làm thì đừng quên dành lại vài chỗ cho người mù. Ta tưởng mình đang giúp họ nhưng không ngờ sau này, với trí tuệ của mình họ sẽ hỗ trợ ta nhiều hơn thế. Hãy mời họ đến và đào tạo cho họ, đó cũng là một việc thiện. Bằng không, cảnh tượng những người mù nối nhau chống gậy lang thang trên đường quả thật rất đau lòng. Người mù không thể tự vệ, vì thế họ thường bị kẻ xấu xâm phạm, hãm hại, lừa gạt.
Với những người phụ nữ yếu đuối, tình cảnh của họ còn bi đát hơn. Một gia đình có người con gái bị tâm thần. Bỗng một ngày, mọi người sửng sốt phát hiện cô mang thai. Thì ra trong những lúc lên cơn cô đã đi luẩn quẩn trong xóm và bị kẻ xấu xâm hại ở những nơi vắng vẻ. Cả gia đình đau khổ, phẫn nộ nhưng không biết thủ phạm là ai mà thưa kiện. Chúng ta là những người may mắn có phước được lành lặn khỏe mạnh, không bệnh hoạn, không khuyết tật nên chúng ta phải từ bi, có tâm thiện và sẵn sàng chở che những người xấu số - nhất là người không có khả năng tự vệ - trước sự ác độc còn đầy dẫy trên cuộc đời.
Người ta còn độc ác thế này nữa: bắt cóc hay mua con nít rồi làm cho tay chân chúng quặt quẹo, nuôi lớn rồi bắt lê lết xin ăn trên đường. Ngày nào không xin được tiền, các em bị đánh đập thê thảm. Do đó, nhiều đứa trẻ tật nguyền không phải vì bẩm sinh mà bởi một âm mưu ác độc phía sau. Họ sẵn sàng ra tay tàn nhẫn như vậy, vì xin ăn đang trở thành nghề kiếm tiền khá lớn. Có những người lấy việc xin ăn thành một nghề, một ngày kiếm được vài trăm ngàn. Vì vậy, ngày nay việc bố thí cho người xin ăn ít nhiều đã mất đi ý nghĩa thiện như thuở ban đầu. Chúng ta có lòng thương và giúp đỡ người nghèo khổ nhưng không cho những người sống bằng nghề đi xin ăn. Nếu không cương quyết thì chúng ta vô tình nuôi dưỡng nghề đi xin phát triển, làm cho bộ mặt xã hội xấu đi.
Sân cũng là một khía cạnh của cái ác
Khi chúng ta gây tổn hại cho người khác, làm cho người khác đau khổ thì gọi là ác. Còn sân chỉ là mới nổi nóng nhưng đó là tiền đề để chúng ta làm điều ác. Có người không sân mà vẫn làm điều độc ác, điển hình như những tên cướp lầm lì, lạnh lùng ít nói nhưng giết người không gớm tay.
Ở miền Trung thời trước giải phóng, có vài người lính tụ tập ăn uống, vui chơi trong một quán rượu. Chợt có một người dừng chiếc xe Jeep trước quán và bước xuống. Anh ta đi vào đặt nón xuống, móc khẩu súng mạ bạc để lên bàn rồi gọi rượu uống. Bàn bên kia thấy thái độ của anh hơi xấc xược nên một người sĩ quan bước đến hỏi: “Này anh bạn! Biết bắn không mà sắm cây súng đẹp vậy?”. Anh ta lặng lẽ không trả lời, chỉ uống cạn ly rượu, dụi tắt điếu thuốc rồi cầm súng dí vào đầu người kia bắn đùng một phát. Người kia ngã xuống còn anh ta đội nón bước lên xe Jeep đi mất. Chúng ta thấy những người như vậy, họ không sân nhưng giết người một cách thản nhiên và lạnh lùng.
Còn có trường hợp nóng giận đưa tới hành động đánh người, giết người. Có thể bình thường chúng ta không hại ai, nhưng lúc nóng giận, mất bình tĩnh chúng ta dễ làm tổn hại người khác. Đó là trường hợp nổi sân rồi mới ác. Dù ở trường hợp nào, mỗi người cũng phải tập kiềm chế, từ bỏ cả sân lẫn ác. Hàng ngày, lòng ta lúc nào cũng mong mọi người tốt lên, ta không hại ai. Đồng thời, ta vẫn phải luôn luôn tỉnh táo, biết kiềm chế, đề phòng cái sân. Vì chỉ cần một phút nổi nóng vẫn có thể xui khiến ta làm nhiều chuyện tàn độc như thường.
Cái ác vi tế khó thấy
Điểm qua vài sự ác độc của con người, ta thấy rùng mình bởi một khi đã quỳ dưới chân Đức Phật và thề nguyện làm đệ tử của Người, không ai dám nhẫn tâm đối xử tàn tệ với đồng loại mình như thế. Tuy nhiên, cái ác vi tế vẫn còn lẩn khuất trong tâm mỗi người. Vậy, chúng ta phải tu tập từ bi thật kỹ mới hy vọng diệt hết cái ác còn lẩn khuất đó, bằng cách thiết tha lạy Phật mỗi ngày và cầu nguyện:
Xin cho con mãi mãi
Lòng thương yêu khôn cùng
Trải thế giới tam thiên
Đến chúng sanh vô tận.
Cho tay con rộng mở
Biết san sẻ cúng dường
Biết giúp đỡ yêu thương
Đến những người khốn khó”...
Chúng ta đọc và tâm nguyện thương yêu tất cả, thương yêu người khốn khó lẫn người sang giàu, thương yêu cả người độc ác, người ghét bỏ, nói xấu, mưu hại, bạc đãi mình. Những lời nguyện đó không được đọc suông bằng lời mà phải tư duy cho thấm. Có huân tập tinh cần như vậy thì lòng từ mới dần phát triển, khiến tâm ác dần biến mất. Nếu chỉ nghe giảng qua loa, hiểu loáng thoáng thì hạt giống từ bi mãi mãi không bao giờ nẩy mầm, còn cội rễ ác độc vẫn cứ bám sâu trong tâm.
Cội rễ đó còn sâu dày thì chuyện gì xảy ra?
Khi nghe về cái khổ của chúng sinh, ta dửng dưng không quan tâm
Ví dụ chúng ta nghe xóm bên kia có nhà bị cháy, có người bị bỏng nặng toàn thân. Bình thường họ đau đớn vật vã vì nhiễm khuẩn, hoại tử, mất nước đã đành, nhưng mỗi lần họ bị đem đi tắm trong bồn dung dịch diệt khuẩn thì quả thật như sống trong địa ngục. Hoặc có người băng qua đường bị xe cán gãy chân, họ khóc lóc, hoảng loạn, suy sụp tinh thần. Nghe vậy, chúng ta không cảm nhận được sự khổ đau của người khác để xót xa, thương yêu mà thản nhiên chép miệng: “À vậy hả?” rồi thôi, là lòng mình còn ác.
Vội tin khi nghe kể về chuyện xấu của người khác
Một người siêng năng đi chùa nhưng bị người láng giềng gièm pha: “Ông đó ở gần nhà tôi nên tôi biết hết, bình thường hay nói dối, nhậu nhẹt bê tha mà nay giả vờ đi chùa. Đạo đức giả!”. Người nói ác đã đành, người tin ngay cũng thế. Tại sao vậy? Vì tâm ta còn muốn người khác xấu, nên khi nghe chuyện xấu của người khác, ta mới vội tin không chút đắn đo. Nếu lòng ta có đôi chút từ bi, muốn ai cũng tốt thì ta đã không dễ dàng nghe theo những lời thị phi như thế.
Còn người đích thân nói xấu người khác thì tâm ác độc còn nhiều hơn nữa. Có những người dù thời gian đi chùa tính ra đã được hàng chục năm nhưng chưa bao giờ hết “căn bệnh” này. Lúc nghe mọi người khen nhau, họ thấy rất khó chịu. Rồi họ dựng chuyện bậy bạ rêu rao nói xấu người khác. Hết chuyện ngoài thế gian, họ lấn sang chuyện trong chùa: “Chùa đó tôi biết hết, ông Thầy đó thế này, Sư cô đó thế kia...”
Như vậy, chúng ta đã phạm vào hai điều ác: Thứ nhất, làm mất danh dự, uy tín của người khác. Thứ hai, làm người nghe mất niềm tin vào cuộc đời. Người ta nhìn thấy đời toàn những điều tiêu cực, ai cũng xấu nên họ cũng “lây” bệnh xấu theo. Đây là điều mà chúng ta phải cẩn thận, nhất là đối với con cháu. Nếu hằng ngày ta rót đầy vào tai chúng những chuyện xấu của mọi người, chắc chắn chúng lớn lên trở thành những người xấu. Vì luôn nghe chuyện xấu nên con cháu chúng ta nghĩ cuộc đời xấu, con người xấu là bình thường. Cũng vậy, nếu muốn con cháu chúng ta trở nên người tốt, cái thiện trong tâm chúng lớn dần thì hãy kể cho chúng nghe những gương người tốt việc tốt hay ca ngợi những việc làm tốt xảy ra trong cuộc sống hằng ngày. Đó là cách nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ - giống như chúng ta nuôi dưỡng cây non, cũng cần phải tưới nước, bón phân.
Khi thấy người khác thành công, ta bực bội trong lòng, đó là tâm đố kỵ
Ví dụ như có một người hàng xóm trúng số rồi đổi đời, ăn nên làm ra, hay một người bạn không biết bằng cách nào mà cất được căn nhà lầu khang trang trong khi ta còn mái lá nhà tranh. Thấy cảnh đó, ta cười vui chúc mừng nhưng thực ra đang nghiến răng tức tối trong lòng. Đó là ác tâm: ta không muốn ai thành công hoặc tài giỏi hơn mình. Để diệt tâm lý này, chúng ta hãy cầu nguyện mỗi ngày:
Xin cho con sung sướng
Khi thấy người thành công
Hoặc gây tạo phước lành
Như chính con làm được”...
Những lời nguyện đó được huân tập thường xuyên sẽ thấm vào tâm. Chúng ta sẽ thấy sự ganh tị hơn thua của mình vơi dần theo năm tháng. Đến một lúc, nó sẽ giúp chúng ta vượt qua tâm đố kỵ, hẹp hòi.
Không muốn người khác được thương yêu, chỉ muốn một mình ta chiếm trọn tình cảm của mọi người
Ví dụ như khi đi chung với nhóm bạn, họ cứ nhắc đến một người khác và thường ân cần đón tiếp khi gặp người đó – điều này khiến ta bực bội. Ta không thích ai được người khác ưu ái, quan tâm hơn mình. Điều này cả người xuất gia cũng còn vấp phải. Được phước làm Tăng (nhờ đời trước có làm việc thiện, có tôn kính Phật, có cúng dường Chư Tăng) nhưng nếu không khéo diệt trừ mầm mống ác trong tâm, nhiều người vẫn còn tạo nghiệp bất thiện. Câu chuyện của Tổ Bồ Đề Đạt Ma là một minh chứng. Ngày xưa Ngài từng bị chuốc thuốc độc năm lần bởi lẽ lúc đó sự có mặt của Ngài gây ảnh hưởng lớn trong quần chúng, người ta kéo theo Ngài nườm nượp vì lòng họ quá kính phục. Thế là những vị Tăng khác sục sôi lòng đố kị và tìm cách chuốc độc Ngài. Rõ ràng các vị đó dù biết rõ nhân quả, tội phước mà vẫn hại người. Còn ganh tỵ nghĩa là còn độc ác, vì nó là ý muốn người khác không thành công trong việc thuyết Pháp, giáo hóa chúng sanh nữa. Đây là điều đáng buồn nếu vẫn còn tồn tại trong đạo Phật. Đôi khi chư Tăng, Ni chưa thật sự thương yêu nhau nhiều, khiến đạo Phật bị chia rẽ, phân tán và suy yếu là vậy.
Khi thấy khuyết điểm của người thì ta chú ý, còn ưu điểm lại phớt lờ
Mỗi người trong chúng ta đều chưa phải là những con người hoàn thiện. Ai cũng có ưu điểm và khuyết điểm. Có người có nhiều ưu điểm hơn khuyết điểm, có người khuyết điểm nhiều hơn ưu điểm. Do tâm vị kỷ thiếu bao dung, người ta thường chú ý khuyết điểm của người khác hơn là ưu điểm. Ví dụ nghe kể về một người đã từng vượt qua hoàn cảnh khó khăn để sống vươn lên, dám hy sinh gian khổ và chịu vất vả để làm được nhiều điều thiện, chúng ta nghe mà không có một chút động tâm. Vậy mà, khi nghe có người nào đó vì quá túng thiếu, trong lúc đi qua chợ đã lỡ tay lấy cắp trứng gà đem về cho gia đình, chúng ta ghim trong lòng rồi đem kể đi kể lại với mọi người, trong khi hành vi này tuy xấu nhưng không đáng kể so với cái thiện mà họ làm được. Đó là tâm ác ở chúng ta vẫn còn.
Chúng ta nên tập thay đổi quan điểm, cách nhìn, cách đánh giá một người nào đó. Chúng ta hãy tập nhìn ưu điểm nhiều hơn nhìn khuyết điểm. Đó cũng là cách nhìn của các vị Bồ tát trên cao. Tại sao chúng ta được Phật thương, được Bồ tát Quán Thế Âm thương? Chúng ta tin mình được Bồ tát thương vì thường cầu nguyện Bồ tát cho mình có trái tim biết yêu thương chúng sinh. Ngài nhìn vào tâm chúng ta và biết tuy chúng ta còn lầm lỗi chập chùng nhưng điều thiện vẫn còn. Các Ngài biết thiện tâm sẽ phát triển dần dần rồi thắng lướt được cái ác, cái lầm lỗi của chúng ta. Bồ tát là vậy. Chúng ta cũng phải tập theo trí tuệ của Bồ tát để nhìn huynh đệ, dù thấy ai có lỗi, ta vẫn độ lượng thương yêu vì biết thiện căn ở người đó vẫn còn.
Hoặc người xuất gia mong nhận được nhiều sự cúng dường
Người tu cần dè dặt khi thọ nhận tài vật, bởi đồng tiền người thí chủ dâng cúng đến từ bao công khó, nhọc nhằn của họ. Việc quá mong cầu sự cúng dường đủ đầy dư dả vẫn là một cái ác tiềm tàng. Dù là đã xuất gia hay còn tại gia, hễ là đệ tử Phật, chúng ta hãy dùng bàn tay, dùng tấm lòng của mình làm sao cho tình thương, điều thiện lấp đầy vào chỗ của sự ác độc trên đời. Đừng bao giờ dừng sự tu hành của mình ở chỗ nghe Pháp, tụng kinh, niệm Phật, ngồi Thiền – bởi sự tu tập đúng đắn thì phải vượt lên, thăng hoa để trở thành vô số lợi lạc thiết thực cho cuộc sống này.
CÁI ÁC NÚP SAU DANH NGHĨA
Ác tâm thường xuất phát từ tham lam ích kỉ. Tuy nhiên, có những điều ác tưởng chừng không phải do tham lam ích kỷ mà vì một điều gì đó rất cao đẹp. Đây là điều kỳ lạ. Từ xưa đến nay, rất nhiều lần con người đã nhân danh lẽ phải để làm một điều gì đó. Nhưng thật ra điều đó chỉ đem lại quyền lợi cho một số người này và làm tổn hại đến một số người khác, hoặc một cộng đồng, một đất nước.
Nhân danh tôn giáo
Không ít các giáo phái đã khai thác niềm tin về tôn giáo, về thần linh mà cho phép tín đồ giết hại đồng loại. Người ta ác không phải vì tham lam vật chất thường tình, mà vì vin vào những điều tưởng như cao siêu.
Ví dụ, có giáo phái nào đó đưa ra giáo lý cúng tế thần linh không có vật gì tốt bằng cúng mạng người. Các vật tế như hoa quả, vàng bạc, lợn gà... là quá tầm thường. Chỉ một câu nói đơn giản như thế mà rất nhiều người vô tội bị giết để cúng tế làm đẹp lòng thần linh. Hành động man rợ này vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Ở Nam Mỹ hay châu Phi, có những bộ tộc bán khai sống trong rừng rậm hoang dã thường cúng tế thần linh bằng mạng người. Có khi vì tình đồng loại gì đó, họ không giết người của bộ tộc mình mà săn người của bộ tộc khác. Họ mai phục trên đường vắng, trên đồng hoang, trong đêm khuya để khi ai đó đi ngang qua, họ ập ra bắt trói “con mồi” mang về giết tế thần. Sau đó, họ chặt phần đầu đặt lên bàn thờ cho nghi thức thêm linh thiêng. Nếu một lần đặt chân vào chỗ thờ của họ, chúng ta sẽ choáng váng kinh hãi khi thấy những chiếc đầu lâu nằm ngổn ngang.
Điều ngạc nhiên là ngày nay, ngay cả các xứ sở văn minh có khoa học tiên tiến như Mỹ, Thụy Sĩ, Nhật... cũng xuất hiện những giáo phái lừa gạt con người, và những người tin theo có cả người học nhiều hiểu rộng. Tại Nhật, Shoko Asahara tự nhận mình là cứu tinh của nhân loại rồi lập ra giáo phái Aum Shinrikyo. Sau khi quy phục hàng chục nghìn người và lấy được số tiền tương đối lớn, y nảy sinh ý đồ chiếm chính quyền. Y ra lệnh cho tín đồ dùng một loại chất độc thần kinh tấn công hệ thống tàu điện ngầm Tokyo làm nhiều người chết và hàng ngàn người bị ảnh hưởng.
Hoặc có những giáo phái sau khi chiêu dụ tín đồ, họ kêu gọi đóng góp tiền bạc. Thực chất, mục tiêu của họ là thu vén của cải vật chất, trục lợi từ sự cả tin của con người. Họ đưa ra những giáo điều chiêu dụ tín đồ rất mạnh mẽ. Ví dụ, họ nói ngày tận thế sắp đến gần, trần gian này không phải là chỗ để bám víu, chỉ những người tin theo họ thì mới được cứu vớt lên ở cõi trời, còn ai không tin thì bị chết thê thảm, bị đày đọa xuống địa ngục. Và để tỏ lòng thành với đạo thì phải giao tài sản cho giáo chủ vì đó là thứ phù du, huyễn hoặc... Giáo điều phi lý như thế đã được rất nhiều tín đồ nhẹ dạ tin theo. Thế là vợ giấu chồng, chồng giấu vợ đem nộp tiền bạc, của cải cho giáo chủ rồi chờ ngày tận thế. Nhưng chờ mãi mà ngày tận thế vẫn chưa thấy tới, hậu quả là họ nghèo khổ, rồi vợ chồng bỏ nhau. Như vậy, người ta đã nhân danh thần linh và tín ngưỡng làm cho con người đau khổ, chết chóc.
Nếu lật Kinh Cựu Ước của Do Thái giáo, ta sẽ thấy vô số cảnh con người chém giết nhau, thậm chí có những đoạn mô tả Đức Chúa Trời cũng giết người. Ví dụ như khi người dân bất tuân, Đức Chúa Trời sẽ giáng thiên tai xuống đập tan nhà cửa, hoặc xúi nước này cầm quân san bằng nước kia với lời hứa hẹn: “Nếu ngươi giết chúng, ta sẽ cho ngươi toàn quyền cướp đoạt tài sản, bắt hết phụ nữ của đất nước chúng”. Chính vì thế mà tín đồ cũng thuận theo khuynh hướng này.
Mãi đến khi Chúa Jesus xuất hiện, Chúa mới cải cách đạo Do Thái bằng khẳng định:“Chỉ cứu chữa, không giết hại”. Trong một lần Thánh Simon rút gươm ra bảo vệ Chúa trước đoàn người muốn bắt Chúa Jesus ở vườn Gethsemani, Chúa đã quở trách: “Hãy xỏ gươm vào vỏ vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm”. Đó là lời dạy đúng với Nhân Quả và chính tinh thần này đã làm cho tín đồ đạo Thiên Chúa hiền dịu lại. Phúc Âm giúp con người sống tốt đẹp với nhau, chúng ta ca ngợi Chúa Jesus là vì vậy. Tuy nhiên, dưới ảnh hưởng lâu dài của Kinh Cựu Ước trong suốt mười thế kỷ (thế kỷ V – thế kỷ XV), đạo Thiên Chúa cũng gieo rắc nhiều đau khổ cho người châu Âu. Đó là lý do Đức Giáo Hoàng John Paul đệ nhị kêu gọi toàn thể tín đồ Thiên Chúa giáo khắp thế giới phải ăn năn sám hối vì những tội lỗi họ đã gây ra cho loài người.
Nhân danh quốc gia
Khi một quốc gia này xâm chiếm quốc gia kia, người ta đưa ra chiêu bài yêu nước hay bảo vệ đất nước. Những điều đó thật sự chỉ đem lại sự tàn sát sinh linh, gây đau khổ cho con người.
Suốt một ngàn năm, dân tộc ta bị lệ thuộc phong kiến phương Bắc, suốt một trăm năm sống dưới thời thuộc Pháp và hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ, người Việt Nam đã gánh chịu bao nhiêu đau khổ, sưu cao thuế nặng, lao động vất vả, đói khổ, tù đày, chết chóc, chia ly... Một vài quan huyện đã đứng ra bênh vực quyền lợi cho người dân thì bị người Pháp ra lệnh cách chức để họ trực tiếp cai trị đất nước ta. Lúc đó, đất nước ta không có chủ quyền, nhân dân ta chỉ là người nô lệ nên bị họ hành hạ mặc tình. Đó là sự ác độc được tô vẽ, che đậy khi kẻ xâm lược khéo léo nhân danh đất nước của họ để khống chế và gây đau khổ cho dân tộc khác.
Trong chiến tranh cứu nước, người chiến sĩ buộc phải giết kẻ địch. Tuy đạo Phật ngăn cấm việc sát sinh, nhưng ta đừng kết luận rằng hành vi hạ gục quân thù của người chiến sĩ là ác.
Chúng ta cũng cần hiểu rằng trong chiến tranh, để bảo vệ sinh mạng và cứu nước, người chiến sĩ buộc phải giết kẻ địch. Không thể nói theo tinh thần đạo Phật (không sát sinh) mà chúng ta vội cho rằng hành động giết quân thù là ác. Nếu họ không cầm chắc tay súng, không chấp nhận bỏ lại con sông bến nước, mái nhà tranh liêu xiêu có cha mẹ già, người vợ, những đứa con thơ để dấn thân vào nơi chỉ có bom rơi đạn lạc thì ngày hôm nay những em bé đã không được cắp sách đến trường, những cánh đồng lúa đã không còn nặng hạt, tiếng chuông chùa đã không được thanh thản ngân xa...
Bảo vệ Tổ quốc là công đức rất lớn mà ta phải đời đời biết ơn và tưởng nhớ.
Trong thời gian dài, người Nhật có tinh thần tu tập theo đạo Phật, lấy đạo Phật làm quốc giáo. Nhưng đến thời kỳ nền văn minh khoa học vượt trội, đất nước hùng mạnh, chủ nghĩa quân phiệt thắng thế, quân Nhật phát động cuộc chiến tranh khủng khiếp lan khắp châu Á. Quân Nhật cũng có mặt ở Việt Nam một thời gian, hai triệu người dân Việt đã chết đói vào thời đó vì chính quyền Nhật ra lệnh phá lúa trồng đay. Đó là nỗi thương tâm khó xoá nhòa trong lịch sử. Có chiến tranh là có chết chóc, đau khổ. Dù một đất nước có chất đạo Phật trong lòng dân tộc nhưng cái ác, sự tham lam ích kỷ vẫn có cơ hội bành trướng và ngự trị. Đây là điều chúng ta phải cẩn thận, chớ tin rằng đã biết đạo thì luôn luôn là người tốt.
Hôm nay, chúng ta biết tu tập, biết làm phước, nhưng đến lúc vinh quang giàu sang sẽ sinh ra kiêu mạn, lúc đó chúng ta có thể làm điều ác không lường được. Vì thế mỗi ngày, chúng ta phải nhìn lại tâm mình, tìm cho ra cái ác, nếu có, chúng ta phải sám hối, phải diệt trừ.
MỘT SỐ HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CÁI ÁC TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
Trong thời đại ngày nay, ở bất kỳ xã hội nào, cái ác luôn luôn có mặt, biểu hiện một cách đa dạng dưới nhiều hình thức. Chúng ta biết được, thấy được điều đó để tránh, và để giúp mình sống an vui, ý nghĩa hơn.
Nhiều người dù không thật lòng thương yêu nhưng vẫn buông lời ngọt ngào để rồi quay lưng khiến kẻ khác phải ê chề khổ sở. Người tuổi trẻ hãy lưu ý, cẩn thận trong quan hệ tình cảm. Nếu ta không có duyên xuất gia, phải sống đời thế tục, phải lập gia đình thì phải giữ gìn thật tốt, vì trong thời đại ngày nay người ta dễ lừa lọc, gạt gẫm về tình cảm. Người ta thường dùng sức mạnh của vật chất để xô đẩy, làm sa ngã biết bao người trong các mối quan hệ tình cảm. Một chút phụ bạc, lừa gạt tình cảm vẫn là cái ác, vẫn là chút nghiệp xấu rơi vào dòng luân hồi của ta, sẽ kết thành quả báo không dễ chịu vào những kiếp sau.
Trò chơi (games) trên Internet đã thu hút, hấp dẫn biết bao người, nhất là lứa tuổi học sinh, sinh viên. Người ta mê games đến bỏ ăn, bỏ ngủ, đột quỵ... Vì thế, chúng được xem như một loại ma túy tinh thần. Tại sao người ta tạo ra các trò chơi bạo lực, đánh đấm ầm ầm, có lửa cháy, đạn bay? Tại sao không tạo ra các trò chơi nhẹ nhàng, hiền lành hơn? Các trò chơi bạo lực khiến thanh thiếu niên tăng tính hung hăng, độc ác. Nếu chúng ta không ngăn cản, kiềm chế lớp trẻ, mà để mặc chúng tiếp tục vui chơi như vậy thì con em sẽ bị ảnh hưởng thể chất, tinh thần rất lớn. Không chỉ việc học hành bê trễ mà tương lai chúng cũng chìm vào tăm tối. Vì khi bước ra ngoài cuộc sống thật, chúng dễ trở thành người ác độc, những tội phạm nguy hiểm cho xã hội. Báo chí đã đăng tải biết bao nhiêu vụ án đau lòng về những nghịch tử sẵn sàng đoạt mạng người thân của mình để lấy tiền chơi Game.
Rồi có những kẻ chuyên tạo ra virus để phá hoại dữ liệu trong máy tính. Đây là việc làm độc ác, mỗi năm, thế giới tổn thất hàng tỷ dollar từ các loại virus này. Chúng ta mong có nhiều chuyên gia máy tính, tạo ra những “virus hiệp sĩ” chuyên săn lùng tiêu diệt các loại virus phá hoại để “cứu nguy” hệ thống mạng toàn cầu.
Kế đến là văn hóa phẩm đồi trụy - chúng không giết chết thể xác nhưng lại đầu độc tâm hồn con người ghê gớm. Kẻ sát nhân giết chết sinh mạng con người trong một kiếp, còn kẻ gieo rắc điều ác vào lòng người: dạy họ hại người, truyền bá tư tưởng tham lam ích kỷ, lối sống trụy lạc sa ngã thỏa mãn bản năng thì lại giết họ trong nhiều kiếp sau. Bởi lẽ khi điều thiện trong lòng họ đã tắt, họ sẽ làm những điều ác độc, sẽ trượt dài trong dục vọng rồi chịu khổ đau hết kiếp này đến kiếp khác. Vậy nên, người phổ biến văn hóa phẩm đồi trụy, phá hoại tâm hồn con người là kẻ mang trọng tội. Ngược lại, người xây dựng được điều thiện trong tâm hồn con người là người gây tạo công đức lớn.
Sản xuất và buôn bán ma túy lại càng vô cùng ác độc. Người sản xuất và buôn bán ma túy chỉ nghĩ tới cái lợi cho bản thân (mặt hàng siêu lợi nhuận) mà bất chấp tất cả, mặc bao gia đình tan nát, bao cuộc đời phải kết thúc một cách thê lương. Đây là tội ác rất lớn và họ thường phải đền tội bằng những bản án rất nặng, thường là tội tử hình.
Hiện nay, phá rừng là một trong những tội ác nặng nhất, bởi đó là hành vi tiêu diệt sự sống. Ta không ý thức rõ ràng lắm, tuy nhiên trái đất này nhanh đi đến ngày tận thế, bởi vì rừng đã bị tàn phá khủng khiếp. Chính người phá rừng đang đẩy trái đất mau chóng đến ngày đó. Tuy nhiên, khung hình phạt cho những kẻ phá rừng đôi khi còn nhẹ. Chừng nào loài người xem phá rừng là tội ác chống nhân loại thì chúng ta mới bảo vệ rừng được. Không chỉ phá rừng mà việc giết cá voi là một tội ác nặng, vì cá voi là loài vật hiền lành, thông minh và có trực giác nhạy bén, đôi khi còn vượt trội hơn con người. Hoặc có những người đánh mìn hủy hoại các rạn san hô dưới đáy biển làm phá hoại môi trường biển, khiến các sinh vật không còn nơi sinh sống – nó cũng giống như phá rừng.
Chúng ta đã nói nhiều đến cái ác của con người, nhất là những cái ác vi tế, để mỗi người có dịp nhìn lại tâm mình, biết tâm mình có “con sói” ngự trị hay không mà tìm cách đánh đuổi nó.
Tuy không tiêu diệt được hết “những con sói” trong tâm con người nhưng không vì thế mà chúng ta bi quan. Trong cuộc sống, trong xã hội vẫn còn có những điều tốt đẹp, vẫn còn những con người có thiện tâm. Chúng ta phải dốc mọi tâm sức để thắp lên điều thiện, và xua đuổi cái ác nơi mỗi người. Chính bản thân mỗi người tự tiêu diệt mầm mống ác ở tâm mình và giúp mọi người xung quanh cùng rời xa cái ác bằng những việc làm từ thiện, đọc kinh sách, nghe thuyết pháp và sám hối thường xuyên... Đó là cách chúng ta đền ơn Phật và yêu thương nhân loại.
Vì sự ác độc còn giăng đầy trên trần thế, mỗi người đệ tử Phật hãy tự nguyện là một “chiến sĩ” diệt ác bằng cách khéo khuyên bảo, đối thoại, thuyết phục, khéo dùng mọi phương tiện... giành giật từng người ra khỏi điều ác trong tâm hồn họ. Chúng ta mơ ước một mai sau, loài người cùng nhau đắp xây một tinh cầu thiện lành, an vui và ngập tràn hạnh phúc.


