SỰ THẬT GIẢI PHÓNG CHÚNG TA
Sống trên đời ai cũng ít nhiều khao khát đi tìm một lẽ phải, một triết lý chân chính định hướng cho cuộc đời mình, đó gọi là đi tìm CHÂN LÝ. Nhưng giữa thế giới mà thiện ác, tốt xấu luôn đan xen chằng chịt, không phải ai cũng may mắn gặp được lẽ phải hay sự thật.
Nhiều người đã kiếm tìm chân lý trong tôn giáo. Tuy nhiên, khi dựng lên một giáo phái, tôn giáo tín ngưỡng, không ít người đã dựa trên sự tưởng tượng rồi thêu dệt những điều mơ hồ huyễn hoặc xa rời sự thật. Người tín đồ bị buộc phải tin, phải chấp nhận rồi quy phục tôn thờ. Ví dụ, họ dựng lên một thần linh tối cao rồi áp đặt thành niềm tin vì vị đó sẽ toàn quyền thưởng phạt con người. Hầu hết các tôn giáo đều có một thần linh riêng của mình. Ý nghĩa về thần linh của các tôn giáo giống nhau, nhưng khác nhau về tên gọi nên nhiều lúc đã châm ngòi cho những cuộc chiến liên miên giữa các phe phái. “Thượng Đế” được Do Thái giáo gọi là Giê-hô-va (Jehoval), Hồi giáo gọi là Allah, Đạo giáo của Trung Hoa gọi là Ngọc Hoàng, Ấn Độ giáo gọi là Brahma... Càng nhiều tôn giáo xuất hiện, Thượng Đế càng được đặt cho nhiều danh xưng. Hiển nhiên, khi một tín ngưỡng hay đạo giáo đặt ra vị Thượng Đế của riêng mình, họ đều buộc người tín đồ phải phát khởi niềm tin sâu sắc, không được phép hoài nghi thắc mắc.
Cho nên, khi chúng ta muốn đi tìm chân lý, thì đầu tiên ta phải xác định một điều: đạo là con đường tìm đến chân lý, tìm đến sự thật, không phải buộc con người tin vào những điều huyễn hoặc tưởng tượng. Nghĩa là, chúng ta chỉ tin khi có nền tảng của sự thực hành, có kết quả của sự tu tập. Đây cũng chính là nền tảng của Đạo Phật, bởi “Đạo Phật là đạo thấy, biết như thật” - sự thật như thế nào, chúng ta thấy biết đúng như vậy, không bóp méo, không tô vẽ, không tưởng tượng, không thêm thắt... Vì vậy, Đức Phật có sự chuẩn xác khách quan đối với đạo lý mà Ngài tuyên giảng cho thế gian.
Bên cạnh đó, Ngài thách đố niềm tin và trí tuệ của con người. Không những không buộc chúng ta răm rắp nghe theo mọi giáo lý kinh điển mà Đức Phật còn căn dặn con người đừng tin vào bất kỳ điều gì một cách dễ dàng, mà phải suy xét tất cả bằng trí tuệ và kinh nghiệm sâu xa của bản thân. Vậy nên Ngài đã tuyên bố: “Đạo Phật là đạo đến để thấy, đến để biết, không phải đến để tin”. Đi sâu vào giáo lý của đạo Phật, con người từ xưa đến nay cứ học và thực hành mãi nhưng vẫn thấy mênh mông vô cùng tận. Về Kinh điển có nhiều giáo lý căn bản như: Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Mười Hai Nhân Duyên, Thất Giác Chi... Tuy nhiên, để hiểu và thực hành được những đạo lý đó thì cả một đời một kiếp cũng chưa đủ.
Chỉ riêng đạo lý “Khổ Đế” trong Tứ Diệu Đế - bài pháp đầu tiên Đức Phật thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Nai, đồng thời là nền tảng của hệ thống giáo lý, là tuyên ngôn của đạo Phật - thì con người suy tư cả một đời cũng chưa hiểu hết. Có người lúc còn là cư sĩ khi nghe về “Khổ Đế” tức “cuộc đời là đau khổ”, tuy chưa hiểu hết nhưng vẫn tin rằng Phật đã nói đúng. Mãi đến khi trở thành tu sĩ, mỗi ngày càng đi sâu vào sự thực hành, tu tập, vị này mới hiểu thêm, thấm thía hơn về ý nghĩa của khổ. Tuy nhiên, sau bao nhiêu năm tu hành, vị tu sĩ vẫn không dám chắc mình đã lĩnh hội đầy đủ ý nghĩa chữ “khổ” mà Đức Phật đã tuyên bố.
Vì giáo lý “Khổ Đế” quá vi diệu nên rất nhiều người vẫn chưa hiểu hoặc chưa chấp nhận được. Những điều mà Đức Phật tuyên giảng, dù có người chưa đồng tình nhưng điều kỳ lạ là Đức Phật chấp nhận sự hoài nghi đó. Khi đến với đạo Phật, dù nghe vô vàn kinh điển giáo lý nhưng người ta vẫn được khuyến khích phải biết hoài nghi suy xét chứ không đặt niềm tin dễ dàng. Có như vậy, một khi con người đã nhận thức chín chắn và bắt đầu kính tin đạo lý thì niềm tin trong họ là kiên cường sắt đá không gì lay chuyển được.
Bây giờ chúng ta nói về bốn hạng người đến với đạo Phật.
Thứ nhất, người dễ tin. Khi đến với đạo Phật, nếu ai nghe tung hô về những điều có vẻ cao siêu rồi dễ dàng đặt niềm tin mà không cần suy xét, thì đó là hạng người căn cơ thấp (hạ căn), tâm đạo không vững vàng và duyên lành với Phật Pháp mỏng nhạt. Vì sao vậy? Bởi nếu một ngày họ gặp được tín ngưỡng tà bậy nào đó nói về những điều có vẻ cao siêu, họ sẽ lại đặt niềm tin và lạc lối trong tà kiến. Chẳng hạn như câu chuyện của một bà cụ, bà nghe nhiều người đồn đại chùa trên núi cao quy y linh hơn ở đồng bằng, thế là bà lặn lội lên núi quy y. Thời gian sau, bà gặp người khác mời gọi một đạo mà theo họ là thiêng hơn đạo ở trên núi, bà lại quy y tiếp mà không chút nghi ngại.
Thứ hai, người hoài nghi, phủ nhận tất cả. Hạng người này trái ngược với trường hợp đầu tiên. Ví dụ, hễ nghe nói tới các hiện tượng tâm linh, thế giới siêu hình, về tôn giáo tín ngưỡng thì họ liền gạt đi hoặc chống đối bác bỏ. Đây cũng là hạng người hạ căn, cực đoạn, họ khó tìm thấy lẽ phải.
Thứ ba, người khi nghe một đạo lý nào đó, không chấp nhận ngay mà bình tĩnh suy xét. Ví dụ, khi người này đến chùa nghe được những bài pháp, thì họ chưa chấp nhận ngay. Về nhà, họ suy tư, nghiền ngẫm, nghe băng lại, nếu phát hiện những điểm nào chưa hợp lý trong bài giảng, thì họ tìm cách hỏi lại để tìm cho ra lẽ phải. Hoặc khi lật mở từng trang kinh, nếu có chỗ nào còn gút mắc thì họ cũng tìm gặp quý Thầy Cô hỏi cho rõ... Đây là hạng người trung căn trở lên, họ có trí tuệ, có lý trí, đang dần chín chắn để bước vào đạo. Người này cũng khó đến với đạo nhưng hễ đến rồi thì hiếm khi trở lui, không bị lừa gạt dụ dỗ bởi tà đạo. Họ dè dặt ở bước đầu nhưng sau vài ba năm tìm hiểu và thấy rằng đạo Phật là con đường lý trí, không áp đặt niềm tin mơ hồ thì quyết định lấy đạo Phật làm định hướng cho cuộc đời mình. Từ đó, không gì có thể làm lung lay lý tưởng và lòng yêu kính của họ với Phật Pháp.
Thứ tư, người thượng căn. Đây là người đã theo đạo Phật từ nhiều đời nhiều kiếp, đã thực hành có kết quả, đã tìm thấy sự hợp lý vững vàng. Kiếp này đầu thai trở lại, nếu không làm người xuất gia thì họ là người cư sĩ trí tuệ, tinh tế và nhạy bén. Khi đọc một giáo lý, một quyển kinh hoặc nghe một vài câu nói thì trong chớp mắt, họ nhận ra sự hợp lý (hay không hợp lý) mà không cần suy xét nhiều. Nếu hạng người thứ ba phải có thời gian để suy xét, đánh giá vấn đề, thì hạng người thượng căn này chỉ trong tích tắc có thể đánh giá vấn đề đúng sai trong đường tơ kẽ tóc. Cái biết của họ rất chính xác và tinh tế.
Từ lâu, chúng ta bị ràng buộc bởi những khổ đau, tham vọng bởi vì không biết sự thật. Nếu cánh cửa sự thật được hé mở thì sợi dây trói giăng cuộc đời mỗi người mới được tháo gỡ. Thế nên, một nhà văn phương Tây đã nói: “Sự thật giải phóng chúng ta”. Nói trên ý nghĩa cao siêu, giải thoát là chân lý của đạo giúp chúng sinh thoát khỏi luân hồi sinh tử. Còn trong cuộc sống, biết được sự thật giúp con người giải quyết vấn đề dễ dàng hơn. Chẳng hạn vào thời đại hôm nay trẻ em thường rất nhanh nhạy, chúng thích tụ tập với bạn bè để có những cuộc vui chơi ngoài tầm kiểm soát của cha mẹ. Nếu một lần đứa trẻ về trễ với lý do học thêm giờ, mà cha mẹ vội kết luận con đàn đúm bạn bè rồi la rầy, có khi vô tình làm con bị oan uổng buồn tủi. Tuy nhiên, nếu đứa con ham chơi thật sự nhưng vẫn chiếm được lòng tin của cha mẹ, chúng sẽ tiếp tục lừa dối. Đây là điểm làm các bậc phụ huynh rất lúng túng. Vì không thấy được sự thật để giải quyết cho đúng nên chúng ta bị ràng buộc, phiền toái và bận tâm. Còn hôm đó có ai báo cho chúng ta biết rõ ràng đứa trẻ đi đâu thì chúng ta sẽ mạnh dạn khen ngợi khi thấy con siêng học hoặc nghiêm khắc rầy la nếu con đàn đúm ham chơi với bạn bè. Biết được sự thật làm cho chúng ta có thái độ đúng để giải quyết vấn đề một cách chuẩn xác, tâm tư không vướng bận phiền muộn. Nên sự thật giải phóng chúng ta là vậy.
Hoặc trong việc làm ăn, những lời hứa hẹn dù có chắc chắn đến đâu cũng chỉ là trên lời nói. Nhiều người dùng giấy tờ để cam kết, bảo đảm cho lời nói của mình nhưng mảnh giấy cũng không làm chúng ta hoàn toàn tin tưởng. Thường thì chúng ta hoang mang, nghĩ ngợi, lúng túng, bối rối... vì không biết người ta nói chuyện với mình có thật hay không. Đây là điều khó. Thế nên trong kinh doanh, nếu biết được người nào có uy tín, đến với ta bằng sự chân thật thì ta sẽ yên tâm khi hợp tác với họ, kể cả những tình huống khó khăn. Nên trong cuộc đời này, nếu biết được sự thật của mọi việc thì chúng ta sẽ tháo gỡ được sợi dây ràng buộc mà thoát khỏi những khó khăn, lúng túng.
Trong việc tu hành mà biết đúng sự thật sẽ như thế nào?
Trong các pháp tu thiền định của đạo Phật có một pháp tu gọi là Tứ Niệm Xứ. Tứ Niệm Xứ là bốn đối tượng mà người tu hành quán chiếu nơi chính mình: thân, thọ, tâm, pháp. Chúng ta xem về thân (quán thân), xem về cảm giác (quán thọ), xem về tâm (quán tâm) và xem về những đạo lý bắt đầu hiện hữu trong sự tu hành (quán pháp).
Chẳng hạn với quán thân, hành giả khi xem về thân của mình, thân đang như thế nào thì mình biết đúng như vậy. Ta cảm giác toàn thân, biết rõ toàn thân, biết thân đang buông lỏng hay gồng cứng, đang bất động hay nhúc nhích. Bên cạnh đó, ta biết rõ một ngày tấm thân này sẽ chôn vùi dưới lòng đất lạnh rồi rã tan thành cát bụi. Bất cứ ai hiện hữu trên cuộc đời đều không tránh được quy luật tự nhiên này. Ta biết rõ sự thật đó một cách khách quan và bình thản. Quán thân còn bao gồm yếu tố biết rõ hơi thở nơi thân. Biết hơi thở nơi thân mình đang vào hay ra, mạnh hay yếu, nông hay sâu,... ta không cần phải thêm hơi thở, không cần phải cố gắng thở, không điều khiển hay can thiệp vào mà chỉ xem cái thân này thở như thế nào một cách khách quan. Biết rõ một ngày nào đó thân này, hơi thở này sẽ rã tan... Chỉ cần biết như vậy mà hành giả có thể đạt được sự giải thoát giác ngộ cuối cùng trong đạo Phật. Với các pháp môn khác, người tu phải thêm một điều gì đó vào trong tâm mình như niệm Phật, tụng chú, thậm chí thêm cả yếu tố tưởng tượng để được gọi là tu tập thiền định. Đối với Tứ Niệm Xứ, người tu tuyệt nhiên không cần khổ công thêm điều gì trong tâm cả, chỉ cần biết đúng sự thật thì tâm từ từ được giải phóng, bắt đầu được an định. Đây là điều vi diệu.
Pháp tu Tứ Niệm Xứ tuy đơn giản như vậy, nhưng được Đức Phật ca ngợi là pháp môn độc đáo nhất trong các pháp môn tu hành của đạo Phật. Rất nhiều vị đi đúng con đường Tứ Niệm Xứ đã thành tựu kết quả tâm linh. Có vị đắc định, có vị chứng được Thánh quả, đôi lúc chứng đến Tứ quả A La Hán chỉ nhờ thấy rõ sự thật. Sự thật không chỉ giúp mọi điều được sáng tỏ mà còn mở ra cánh cổng giải thoát giác ngộ.
Trường hợp tu tập đến lúc tâm thanh tịnh không khởi niệm, rỗng rang tỉnh giác, rất nhiều người tu đã bị chệch hướng khi bắt đầu gởi thêm những quan điểm vào trong tâm. Người thì cho cái tâm thanh tịnh này là tối tôn tối thắng, là vi diệu không gì sánh bằng; người lại cho đó là chủ nhân, là Phật tánh... Chính những quan niệm được gửi thêm này khiến họ ra khỏi sự thật. Người tu đúng, khi tâm thanh tịnh chỉ biết đó là tâm thanh tịnh, không thêm gì nữa. Đồng thời, lúc nào người tu cũng phải tự nhắc rằng đó chỉ là mức độ thanh tịnh cạn cợt ban đầu, chưa phải là sự vi diệu cuối cùng; dù tâm được yên lắng nhưng chấp ngã vẫn đang còn tồn tại lẩn khuất đâu đó. Cho nên, chúng ta không quá tôn vinh, ca ngợi nó mà rơi vào tà kiến. Tâm thanh tịnh vẫn chưa phải là Thánh quả, chưa đi đến đâu, hành trình tu tập đạt đến sự vô ngã còn rất gian nan nên chúng ta cần nỗ lực phấn đấu không ngừng để trọn vẹn cuộc đời tu hành. Nếu không, vừa được yên lắng tâm ở giai đoạn đầu mà khởi kiêu mạn tự hào thì chúng ta sẽ rơi vào những sai lầm làm đổ vỡ đời tu.
NHỮNG CÂU CHUYỆN VUI BUỒN SAI SỰ THẬT
Từ sự suy diễn, thêm thắt của con người
Trong cuộc sống, sự thật hiếm khi được bộc lộ rõ ràng, đầy đủ mà thường bị che đậy. Khi đến tai chúng ta, sự thật đã bị bóp méo đi phần nào. Trước tiên, mỗi người do thành kiến của mình nên đã không nhìn mọi việc theo đúng bản chất của nó.
Trên trời cao mây trắng bồng bềnh, dưới mặt đất cỏ cây đong đưa theo gió, chung quanh xe cộ tấp nập qua lại... Cuộc sống của nhân gian đang trôi chảy trước mắt chúng ta, có những việc dường như thật hiển nhiên nhưng sự thật lại được ẩn giấu, che đậy bên trong chứ không hề phơi bày rõ ràng như con người lầm tưởng.
Cuộc sống của mỗi người đã và đang qua giai đoạn nào, chỉ người đó biết; còn những người khác, dù là thân cận cũng không bao giờ biết rõ được tất cả bí mật, mọi tâm lý sâu kín của người đó. Con cái không biết hết về cha mẹ, cả cha mẹ cũng không biết trọn vẹn về con cái. Vợ chồng cũng vậy, lúc chưa cưới nhau thì mơ ước, tô vẽ nên một cuộc sống hôn nhân lung linh như thiên đường, đến khi cưới nhau rồi, người bạn đời hoàn hảo trong tưởng tượng dường như biến thành con người khác. Rồi có thể họ đi đến ly hôn, hoặc phải chịu đựng sống đời với nhau trong đau khổ.
Chúng ta đang trên lộ trình đi tìm chân lý, trên tinh thần đạo Phật, chúng ta cần phải dè dặt với mọi việc, dù đó là điều mắt thấy tai nghe. Trước tiên, hãy cảnh giác với những câu chuyện được nghe, vì khi tới tai chúng ta, đa số chúng đã bị sai lạc so với sự việc ban đầu, không ít trường hợp bị bóp méo đến quá nửa hoặc gần hết. Chẳng hạn như một câu chuyện tiếu lâm của dân gian nhưng hết sức thấm thía. Vào buổi sáng, một ông chồng đang ngáp dài thì từ trong miệng bay ra một sợi lông nhỏ. Cô vợ rảnh rỗi liền qua kể cho bà hàng xóm: “Chồng tôi sáng nay ngáp bay ra một chùm lông, không biết hôm nay, trong người ổng có bị làm sao không?” Bà hàng xóm chạy đi kể với người khác: “Có ông đó ngáp bay ra một con chim”. Qua đến xóm bên kia, người ta kháo nhau rằng: “Bên làng kia có một người mở miệng ngáp là cả một đàn chim bay ra. Thật lạ lùng hiếm có!”. Thế là người ta lũ lượt kéo đến nhà ông để xác thực xem có chuyện đó không. Quả thật, ông khổ sở ngơ ngác không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Một việc đơn giản khi được truyền miệng từ người này sang người kia bỗng trở thành một sự kiện ly kỳ hiếm thấy.
Trong thực tế cuộc sống cũng có nhiều câu chuyện dở khóc dở cười như vậy. Một vị Thầy trụ trì ngã bệnh, rồi dưới nhà kho có việc gì đó nên một đệ tử gọi điện hỏi ý kiến Thầy việc đó có nên làm hay không. Thầy bảo một chú đệ tử gọi xuống trả lời: “Việc đó đừng làm”. Thầy nói đơn giản, nhẹ nhàng nhưng người đệ tử nói đùa thêm vào: “Thầy bảo không được làm, nếu ai làm Thầy đánh ba hèo”. Người nghe điện thoại quay lại nói: “Lúc nãy ai đòi làm thì Thầy sẽ đánh người đó ba hèo”. Một người Phật tử đứng gần đó buột miệng: “Ông thầy sao dữ quá, không từ bi, việc không đáng gì mà muốn dùng đòn roi với đệ tử”. Sau đó, người Phật tử rời chùa và câu chuyện lan xuống chân núi. Người ta kháo nhau rằng: “Ngôi chùa đó nói chuyện với nhau bằng gậy gộc thôi, tu hành gì kỳ quá!”. Chúng ta thấy từ một câu nói nhẹ nhàng, hiền lành, đơn giản nhưng chỉ cách vài bước chân, chỉ thêm một lời nói đùa, sự tô vẽ một chút của người nghe mà sự việc thành hoàn toàn khác đi. Với người thích kết tội, họ vội kết luận ngôi chùa toàn người hung dữ, tu hành không chân chính. Họ không bình tĩnh để suy xét câu chuyện đó là đùa vui hay là sự thật.
Một số người có bệnh thích suy diễn điều xấu cho người khác, nghĩa là ai nói điều gì họ cũng gán điều xấu vào cho người đó. Có thể là họ mắc bệnh tâm lý hoặc chính cuộc đời họ đã chứng kiến quá nhiều điều xấu. Kết quả của những suy nghĩ sai lầm đó là sự tổn phước về sau.
Một vị Thầy đã than thở rằng trong việc dạy dỗ đệ tử, có những điều dường như Thầy không bao giờ dạy được. Một vài đệ tử - cả cư sĩ lẫn người xuất gia - thường thích suy diễn mọi điều theo chiều hướng xấu và luôn kết tội người khác. Vị Thầy cố gắng khuyên lơn nhưng không chuyển hóa được, cuối cùng đành để họ ra đi. Đó là những trường hợp vì bệnh tâm lý hay một nguyên nhân nào khác nữa mà người ta đã không nhìn ra sự thật.
Trong cuộc sống có không ít lời đồn đại được thêu dệt sai sự thật. Những thông tin truyền từ miệng người này đến tai người kia như thế thường không chính xác nhưng người nói đa phần không có ác ý. Họ nghe phong thanh về điều gì đó rồi tự suy diễn, thêm thắt một chút.
Từ sự xuyên tạc một cách cố ý
Trong thực tế vẫn có không ít kẻ do ác ý đã dựng lên những câu chuyện hoàn toàn sai sự thật để vu khống, mưu hại, triệt hạ uy tín người khác.
Một vị giảng sư Phật học về ngôi chùa quê để giảng kinh Pháp Hoa. Trong hội chúng có một góa phụ đoan trang xinh đẹp. Một lần người góa phụ mời vị giảng sư cùng nhiều Phật tử khác về nhà để góp ý giúp cô về cách thiết trí bàn thờ Phật. Câu chuyện này sau đó đã được một người dựng lên thành một chuyện động trời. Người này có lẽ do oan trái từ đời trước nên rất căm ghét vị giảng sư. Bà lặn lội tìm từng người biết đến vị giảng sư kia để bôi nhọ uy tín. Bà dựng chuyện chính mắt bà đã thấy trong thời gian về ngôi chùa quê, vị đó đã ở nhà người góa phụ bảy ngày bảy đêm và sáng nào cũng được cô đi mua thức ăn cho.
Vì thế, có những người sau khi đi qua nhiều năm tháng cuộc đời, lúc nghe những điều mọi người nói xấu nhau họ thường chỉ cười vì rất nhiều trường hợp sai sự thật đến 80%. Những người thích nghĩ xấu người khác thường tự suy diễn thêm. Vì thế nhìn được sự thật trên cuộc đời không phải điều đơn giản.
Một vị thầy khác có dịp đi ra nước ngoài vừa tham quan, vừa để chữa bệnh. Trong nước bỗng rộ lên tin đồn ông đi sang nước ngoài để hưởng thụ ái dục với một người phụ nữ, nên khi ông trở về Việt Nam thì bị người đời khinh chê. Sự thật, ông là người hiền lành đạo đức, giới hạnh trong sạch, tu hành chân chính, vậy mà bị mang tiếng xấu chỉ bởi những lời truyền miệng vô căn cứ.
Một Sư cô là đệ tử của vị Hòa thượng nổi tiếng, chợt xuất hiện tin đồn Sư cô chính là con ruột của vị Hòa thượng. Khi một vị thầy hỏi trực tiếp, Sư cô liền trả lời rành mạch về xuất thân, gia thế; kỳ thực quê quán và cha mẹ cô ở một tỉnh khác. Có lẽ vì duyên cha con từ kiếp xưa nào đó còn đọng lại nên kiếp này Hòa thượng thương Sư cô như tình cha con. Thế rồi nhiều người vội kết luận cô là con ruột của Hòa thượng. Sự suy đoán vô căn cứ đó lan rộng ra, không ít người đã tin chắc như đinh đóng cột. Đáng sợ là có kẻ đã lợi dụng sự hiểu lầm đó để phát tán những tin đồn ác ý: “Cô đó là con ruột của vị Hòa thượng này với Ni sư kia”. Lời nói đơn giản đó đã đánh sập uy tín của Hòa thượng lẫn Ni sư.
Thậm chí, nhiều tờ rơi bôi xấu hàng loạt vị Thầy nổi tiếng trong Giáo hội bằng những câu chuyện động trời đã được rải từ chùa này sang chùa kia. Chúng ta biết điều đó không đúng sự thật nhưng có nhiều người vẫn tin rồi đồn lan ra. Chính những lời đồn ác ý đó làm cho người ta nhìn vào đạo Phật chỉ thấy tối tăm u ám, rồi mất niềm tin đối với Tăng, Ni, đối với đạo; làm cho người ta thối tâm, ý chí tu tập bị thoái lui. Người ta nghĩ các Tăng, Ni tu lâu rồi mà còn sai phạm, huống hồ là người bình thường như mình. Vì vậy, họ sống cuộc đời nhàn rỗi, không thiết tha tu hành.
Quay lại câu chuyện đồn thổi về Sư cô và vị Hòa thượng, chúng ta thấy rằng đó là điều tai hại nặng nề đã góp phần phá hoại Phật Pháp. Vì sao như vậy? Vị Hòa thượng nếu đăng đàn thuyết pháp, những người trong thính chúng thường cảm thấy hoài nghi, ngờ ngợ trong lòng. Tin vào những tin đồn, họ nghi ngờ không biết ông có phải là người tu hành chân chính hay không, từ đó họ không thể trọn lòng nghe bất cứ bài pháp nào của ông nữa.
Trên cuộc đời, rất nhiều việc động trời đã được dựng lên để vu khống, hãm hại người khác. Vì thế, trước khi tu tập những đạo lý sâu hơn, người Phật tử khi sống giữa xã hội phức tạp này hãy tỉnh táo, bớt tin vào những lời nói xấu, những tin đồn thổi. Những điều thị phi đó trước tiên ảnh hưởng đến đạo tâm, đến đời tu của chính ta. Sau đó nếu ta tiếp tay lan truyền, chính ta sẽ trở thành kẻ phá hoại đạo pháp.
Khi nghe nhiều về điều tốt, con người có thêm niềm tin vào điều thánh thiện hiện hữu giữa thế gian. Niềm tin đó giúp họ tiếp tục sống có ích và tu tập. Bằng không, nếu thường xuyên nghe kể về chuyện xấu, những điều tiếng không hay của người khác, con người sẽ rất dễ bị mất niềm tin với cuộc đời và quyết tâm tu tập tự nhiên giảm đi. Tuy nhiên, trong những câu chuyện tán gẫu, người ta thường nghe vui tai, thấy thích thú khoái chí khi kể về khuyết điểm, lầm lỗi của kẻ khác hơn là điều tốt đẹp. Thích nói xấu dường như đã trở thành căn bệnh muôn thuở của con người.
Khi một người bước chân vào con đường đạo, rồi chín chắn, chững chạc, trưởng thành dần dần thì tự nhiên cái hạnh đầu tiên là không bao giờ thốt nên một lời nói xấu ai nữa. Nghĩa là họ đã đi đúng hướng, đã thuần thục trong sự tu tập Phật Pháp.
Còn khi gần một người, nghe người đó kể hết chuyện giật gân này đến đàm tiếu chuyện thị phi kia, chúng ta biết tâm hồn người đó còn loạn động, sự tu hành chưa vững. Nhưng một thời gian sau, chúng ta nghe chuyện nói xấu người khác thưa thớt dần, thì biết là họ đang tu đúng hướng. Rồi đến một lúc nào đó, vĩnh viễn không bao giờ chúng ta nghe họ nói xấu ai nữa, thì người này trình độ tu có nâng cao. Ý thức về đạo lý của họ đã đến lúc vững vàng, lòng từ bi, sự trí tuệ đã dần tăng trưởng. Về sau, người này tu tập đến đâu thì sẽ nhiếp tâm thanh tịnh, an tĩnh tâm hồn đến đó. Đó là thước đo đánh giá sự tu tập: nhìn vào mức độ nói xấu người khác để đánh giá được tâm hồn một người đã an ổn hay chưa, vì chúng ta chưa đủ tha tâm thông để nhìn thấu vào tâm nhau.
Người không bao giờ nói xấu ai, tức là đã có sự chín chắn trong công phu tu tập, thì khi được sống gần họ, chúng ta sẽ thấy vui tươi vì chuyện đời thị phi nhiễu nhương tan biến hết, chỉ còn thấy đạo vị chân tình, lòng thương yêu dễ chịu. Thế nên, hãy mong rằng mỗi người chúng ta bước chân đến đâu thì ở đó chỉ có niềm vui, sự tốt đẹp và tình thương yêu lan tỏa, tuyệt đối không có những điều xấu xa, u ám. Nếu có nghe lời đồn đại không hay về người khác, chúng ta cũng chỉ lắng nghe với sự cảm thông, tha thứ.
Trí thông minh và đạo đức
Khi đã đi qua nửa cuộc đời, không ít người cảm thấy chán ngán vì khó tìm thấy sự thật nơi lời nói của con người. Một câu chuyện khi đã được truyền qua vài người thường bị sai lệch rất nhiều so với thông tin ban đầu. Kinh nghiệm sống giúp họ nhận ra một điều: Sự thật thà, hiền lành là chưa đủ mà còn phải thông minh, có trí tuệ để có thể nhận xét đánh giá vấn đề đúng, sai sự thật như thế nào. Chỉ người vừa hiền lành vừa thông minh mới có thể thuật lại gần như chính xác mọi việc. Người thật thà vẫn có thể hiểu sai, đánh giá nhầm một câu chuyện bởi họ không đủ thông minh, sâu sắc và tinh tế. Chỉ khi một khối óc thông minh kết hợp với một trái tim đạo đức thì người ta mới thuật lại được 95% 98% từng câu chữ, từng sự kiện nhỏ. Đây là điều rất khó. Đọc báo Công An có cái lợi là thấy được sự thay trắng đổi đen của con người, lừa đảo, gian dối... Có những việc người ta nói xác quyết, chắc chắn như đinh đóng cột nhưng lại không phải là sự thật. Có những câu chuyện nói dối có chủ mưu, có dàn dựng, sắp xếp để đoạt tiền, đoạt tình, để mưu hại người khác. Chúng ta phải cảnh giác!
Rồi thêm cái tâm con người rất phức tạp. Người ta làm điều gì đó mà trong tâm tốt hay xấu, rất khó biết. Điều quan trọng là khả năng suy diễn, nhìn nhận vấn đề, khả năng đánh giá con người. Người vừa thông minh vừa đạo đức thường đánh giá trong tâm của người khác, không đánh giá hời hợt qua hành vi bên ngoài.
Chẳng hạn như chuyện vài người đệ tử trong chùa nhìn thấy một huynh đệ xuống bếp tìm cơm ăn vào đầu giờ chiều. Chuyện chỉ như vậy. Rồi có người đánh giá: “Huynh đó thật tham ăn, đã ăn cơm trưa nhưng đến chiều vẫn xuống bếp lục lọi thức ăn!”. Cuối cùng người đó kết tội người huynh đệ của mình mất đạo đức. Nhưng cũng chính sự việc này, một người khác thuật lại chính xác hơn: “Lúc trưa huynh đệ đó ăn không đủ vì phải vội vàng làm một công việc, mà cả buổi làm việc nặng nhọc nên đến đầu giờ chiều phải kiếm cơm ăn thêm mới đủ sức làm tiếp”.
Như vậy, với cùng câu chuyện một huynh đệ đi kiếm cơm vào đầu giờ chiều mà một người kể lại thì chúng ta thấy huynh đệ đó kém đạo đức, còn người khác kể có lý do chính đáng, thì thấy huynh đệ đó là người có đạo đức bình thường. Vì thế, một vị Thầy khi đệ tử thuật lại điều gì cũng chớ vội tin ngay mà hãy căn cứ vào hai điều để kiểm tra tính chính xác của thông tin: một là khả năng suy diễn, nhìn nhận sự kiện; khả năng diễn đạt của người đệ tử, hai là đạo đức của người đó.
Đó chỉ là những chuyện nhỏ trong cuộc sống thường nhật, còn nếu chúng ta đứng trước các sự kiện lớn trong đời thì liệu có đủ sức đánh giá nhìn nhận? Câu chuyện còn dài dòng, phức tạp hơn mà cả những người có trí thông minh sắc bén, rất thật thà cũng khó thuật lại đầy đủ hoàn toàn từng câu chữ.
Một chú tiểu khi mới xuất gia vào chùa đã có thể thuộc câu chuyện dài đến 10 trang trong kinh Phật chỉ sau một lần đọc. Sau đó, chú kể lại vanh vách không sót một sự kiện. Vài chục năm sau chú tiểu trở thành một vị giảng sư. Đôi lúc trong bài giảng, vị giảng sư có nhắc đến những câu chuyện mình đã đọc thuở xưa, tuy nhiên vị đó không còn nhớ chính xác từng chữ nữa. Sự kiện chính vẫn đúng nhưng vài thông tin như tên, địa danh, thời gian đã bị sai lệch một chút. Vì thế thông tin, sự thật vẫn có thể không chính xác dù được truyền đạt bởi những người rất thông minh và đạo đức.
HÀNH XỬ ĐÚNG HAY SAI SỰ THẬT ĐỀU CÓ NHÂN QUẢ
Tìm thấy được sự thật là điều rất quan trọng trong cuộc sống.
Ở mức độ quốc gia, Nhà nước phải đầu tư rất nhiều vào lĩnh vực tình báo. Lực lượng đó rất cần thiết, giúp Nhà nước thu thập thông tin, tìm ra sự thật để xử lý đúng vấn đề thuộc về an ninh quốc phòng, kinh tế, chính trị. Nắm được đầy đủ thông tin cơ mật là điều tối quan trọng đối với bất kì quốc gia nào.
Trong quân sự, nhờ có thông tin tình báo mà ta biết được địch có ý định, kế hoạch xâm chiếm nước mình hay không. Nếu đó là sự thật, ta sẽ tập trung đầu tư vào quân sự, hoặc ngược lại ta sẽ tập trung nguồn lực vật chất cho các mảng kinh tế, giáo dục nhiều hơn. Như vậy nếu nắm được chính xác thông tin rồi xử lý đúng ta sẽ tiết kiệm được tiền của và đất nước cũng được yên ổn, phát triển.
Trong kinh tế, khi một công ty làm ăn thất bại và có dấu hiệu lừa đảo, Nhà nước không bắt giữ ngay mà thường tiến hành thu thập thông tin trước. Lực lượng trinh sát sẽ điều tra về lương hướng, gia thế, đời sống, sở thích, các mối quan hệ công khai hay bí mật của người giám đốc, thậm chí của cả những nhân viên chủ chốt trong công ty. Sau quá trình thu thập và xử lý thông tin họ mới đánh giá tổng quát được việc thất bại của công ty là có chủ đích, có dấu hiệu phạm tội hay không.
Trong cuộc sống, biết đúng sự thật không đơn giản chỉ để vui chơi hay giải quyết vấn đề trước mắt mà còn giúp ta tạo thành tội hay phước cho cuộc đời mình. Vì sao vậy? Nếu không biết đúng sự thật về vấn đề nào đó mà hành xử sai thì chúng ta sẽ tạo thành tội lỗi. Biết đúng, hành xử đúng; biết sai, hành xử sai đều có tội phước - nhân quả. Cuộc đời nhiều người lận đận cơ cực không phải vì họ xấu ác mà bởi nhiều kiếp trước đã hiểu sai sự thật rồi làm bậy. Họ hiểu lầm người tốt là người xấu nên đối xử tệ bạc, hoặc nhìn nhận sai vấn đề rồi chi tiêu tốn kém vô lý... Những sự hiểu lầm này đều trở thành cái tội ở nhiều kiếp về sau. Ngược lại, người hiểu đúng rồi làm đúng thì xem như đã trồng được cội phúc mang lại quả báo lành trong vị lai.
Ví dụ trong việc tầm sư học đạo, nghe người ta khen có một ông Thầy đắc đạo, được ân điển của thần linh, chúng ta tìm tới học đạo. Nếu đó là sự thật thì chúng ta được nhiều lợi ích, thăng tiến về tâm linh. Còn nếu đó đều được đám đông tung hô chỉ là tin đồn thổi nhằm dụ dỗ lôi kéo tín đồ thành phe phái, thu hút sự cúng dường để trục lợi thì không những việc tu của chúng ta không thăng tiến mà phước lành còn hao tổn, vì mình đã sử dụng đồng tiền không hợp lý (cúng dường cho một người không xứng đáng). Biết đúng sự thật sẽ giúp chúng ta tránh đi hậu quả lâu xa này.
Ngược lại, có những vị Thầy chân chính mà bị đồn đại là xấu, nếu chúng ta vội tin rồi xem thường, không đến cầu đạo với vị đó thì phí hoài cả một đời. Hơn nữa, khi có tâm xem thường một người đáng kính thì chúng ta đã bị tổn phước, qua những đời sau không ai kính trọng mình và làm việc gì cũng khó thành công. Vì thế, khi chúng ta tìm thầy học đạo mà biết chính xác sự thật về vị đó thì rất có lợi cho con đường tu tập.
Các Tăng Ni khi làm Giảng sư, sau những buổi thuyết pháp, chúng ta nên hỏi thăm ý kiến của vài Phật tử về hiệu quả bài giảng. Chúng ta muốn biết sự thật, nhưng hãy cẩn trọng bởi ngoài những người có trình độ nhận xét chính xác thì cũng sẽ có người khen để lấy lòng, kẻ chê vì lơ đễnh không chú ý bài giảng hay vì đố kỵ hơn thua... Nếu lời chê là đúng sự thật, đó là cơ hội cho chúng ta nhìn nhận sự tu hành của mình - do công phu tu tập xuống dốc, bài giảng chưa chuẩn bị kỹ lưỡng, từ tâm không đủ hay kiêu mạn khởi lên? Từ đó, chúng ta biết lo sám hối, tỉnh giác lại. Dù sự thật đôi khi làm chúng ta đau lòng, nhưng hãy can đảm đón nhận sự thật, nhất là những điều dở của bản thân. Biết được sự thật về mình rất có lợi, bởi con người thường sung sướng khi đón nhận lời khen và buồn rầu khó chịu trước sự chê trách. Nên để đánh giá chính xác về những lời góp ý, chúng ta hãy bình tĩnh lắng nghe một cách khách quan, không để cảm tính chi phối và lấn át. Có giữ tâm bình thản không vui buồn trước khen chê thì chúng ta mới có thể làm việc đạo lâu dài được.
Trường hợp lời khen tiếng chê là chính xác
Khi nghe những lời khen đúng, Giảng sư rút được nguyên tắc trong việc soạn giảng, biết được ưu điểm từ đâu mà có, từ đó truyền lại kinh nghiệm cho người sau.
Một vị Giảng sư được khen ngợi có giọng nói hay. Vị đó không vui mừng sung sướng theo lời khen, chỉ bình tâm suy nghĩ về nguyên nhân từ đâu mà giọng nói của mình trở nên dễ nghe, dễ đi vào lòng người hơn ngày trước. Không chỉ trầm tư trong đời sống, lúc ngồi thiền Thầy cũng hướng tâm về thắc mắc đó. Cuối cùng Thầy nghiệm ra giọng nói hay của Thầy có được do hai nguyên nhân.
Thứ nhất là sự huân tập sâu dày của lòng từ bi thương yêu chúng sinh. Vài chục năm tu hành, khi mắt vừa trông thấy bất cứ ai trong cuộc sống, Thầy đều khởi lên lòng thương yêu sâu sắc. Đến khi lòng từ thấm dần trong tâm, tự nhiên giọng nói trở nên khả ái, làm chúng sinh thấy hoan hỉ dễ chịu và thương mến khi nghe thấy. Đó là nhân quả.
Thứ hai là siêng năng lễ Phật với lòng tôn kính thiết tha mỗi ngày. Tôn kính Phật là công đức căn bản sinh ra mọi công đức khác, là tâm hạnh căn bản sinh ra mọi tâm hạnh khác. Nhờ thường xuyên huân tập lòng tôn kính Phật, người tu không những nâng cao được nhân cách, xuất hiện nhiều ý chí vi diệu mà còn dần tăng trưởng những khả năng, ưu điểm. Giọng nói hay là một trong số đó.
Khi đã tìm được nguyên nhân tạo thành giọng nói hay, Thầy bắt đầu đúc kết thành kinh nghiệm, thành đạo lý để dạy lại cho mọi người.
Một lần có người nhận xét Thầy đã giảng hơi vội vã ở một đoạn trong bài giảng,... Thầy chỉ bình tâm nhận định lại lời góp ý mà không hề khó chịu tự ái. Trước tiên, Thầy tìm hiểu người nghe đã nghe trực tiếp hay nghe qua băng đĩa. Nếu họ nghe qua băng đĩa thì có thể sai vì máy phát có lúc nhanh lúc chậm. Nhưng nếu họ nghe trực tiếp thì có khả năng lời nhận xét là xác thực. Ngẫm kỹ lại, vị Thầy phát hiện ra mình đã bị động tâm trong khi giảng. Thầy tiếp tục suy nghĩ về lý do của lỗi này. Nguyên nhân được tìm ra là liên tiếp bốn, năm ngày trước đó thầy đã có sơ suất trong sự tu hành, đã không giữ được chánh niệm miên mật trong đời sống. Nhờ thấy được lỗi này, vị Thầy đã rút ra được nguyên tắc về tốc độ giọng nói của giảng sư khi thuyết giảng. Nếu chậm thì không truyền tải kịp nội dung; nếu nhanh thì bài giảng không có đạo vị. Trường hợp nói lắp, nói vội vã thì biết tâm thiếu tu, sức thiền định chưa vững. Đó là người đã gan dạ và bình thản đối diện với sự thật, trong tâm không hề phiền động vì lời khen tiếng chê. Mọi lời góp ý chân thành khi đến với người đó đều sẽ trở thành bài học kinh nghiệm, thành đạo lý quý giá.
Trường hợp lời khen chê không đúng sự thật
Khen nhằm lấy lòng, hay chê để bôi xấu, đố kỵ... đều rất đáng sợ. Ví dụ, có một người tìm đến cô Phật tử rồi khen ngợi tấm tắc: “Thời gian này thấy mặt chị sáng sủa và xinh đẹp hẳn ra”. Nghe xong, cô thích thú nghĩ rằng có lẽ qua ba năm quy y Tam Bảo, chăm chỉ đi chùa nên mình được đổi tướng, đâu ngờ họ khen để mượn tiền. Lời khen đó không phải là sự thật, vì người khác nhìn mặt mình vẫn chưa thấy sáng ra như lời khen. Hoặc có người đến nói rằng: “Người gì càng đi chùa càng dữ ra, càng hắc ám!” Trong khi cô không dữ nhưng tin lời chê đó rồi dao động hoang mang, tự vấn: không biết mình tu đã đúng chưa, vị Thầy dạy có hợp lý không, ngôi chùa này có tốt không, vì sao tu ba năm rồi mà xuống sắc như thế... Lời chê không chính xác (có thể là do đố kỵ) nhưng đã làm cô chao đảo, mất hướng đi trong sự tu hành. Nên trước mọi lời khen chê của cuộc đời, chúng ta hãy giữ lòng bình thản, vì chưa chắc đó là sự thật. Điều quan trọng là mình biết đúng sự thật. Người tốt khen chính xác, chúng ta biết là đúng, tiếp tục phát huy; Người tốt chê đúng, chúng ta biết tiếp thu để sửa lại. Khi chúng ta tin sai, rất dễ bị tổn phước, nhất là những lời nói xấu qua người này người kia. Người xấu mà tưởng là tốt thì mình dễ bị gạt; còn người tốt mà tưởng là xấu, sau này mình sẽ bị quả báo oan ức.
Chúng ta lưu ý thêm một điểm nhỏ. Sự trung thực và khách quan nơi người góp ý là cực kỳ quan trọng, bởi những lời tâng bốc quá đáng sẽ làm người nghe phát sinh tâm lý chủ quan, kiêu mạn. Một vị giảng sư dù chưa quá xuất sắc nhưng luôn nhận được vô số lời khen ngợi nức nở từ Phật tử. Không giữ được tâm, vị đó đã ngây ngất trong sự tự mãn, kiêu mạn. Theo nhân quả, tâm lý đó là một điều làm tổn phước. Thời gian sau vị đó không bao giờ có được những bài giảng giá trị nữa.
Dè dặt trước thông tin
Chúng ta thấy việc biết được sự thật hay không quan trọng như vậy, nên chúng ta hãy cố gắng để biết được sự thật. Đó vừa là đạo đức, vừa là bản lĩnh của người tu. Đạo đức là ở chỗ biết được sự thật giúp chúng ta dễ làm đúng. Bản lĩnh ở chỗ, người khôn ngoan luôn cố gắng biết được sự thật trước mọi thông tin đến với mình. Họ biết rằng ngay cả những chuyện cỏn con vô hại khi đến tai ta vẫn có khả năng đã bị bóp méo hoặc bị hiểu lầm, nghe nhầm. Nên chúng ta dù thấy mọi chuyện đã chính xác, hợp lý rồi thì vẫn nên dè dặt để lại 5% hoài nghi trong tâm, không bao giờ chúng ta tin một điều gì hoàn toàn 100%.
Có những trường hợp chúng ta phải vận dụng trực giác. Người Phật tử dù tu chưa đến độ có thần thông nhưng cũng có trực giác chút ít, để không dễ dàng tin ngay mọi chuyện. Như có một người tìm đến một ngôi chùa, sau khi quỳ xuống đảnh lễ và tấm tắc ca ngợi đạo hạnh của vị Thầy trụ trì thì người đó bắt đầu than thở hoàn cảnh nghèo khó: “Thầy ở chùa bên kia biết hoàn cảnh con, thường giúp đỡ gia đình con lắm. Hôm nay gặp khó khăn, con đến xin Thầy cho con chút ít gạo”. Dù Thầy trụ trì biết vị Thầy ở chùa bên kia thường hay giúp đỡ, câu chuyện nghe cũng hợp lý nhưng chưa tin ngay là sự thật. Bằng trực giác của mình, vị Thầy trụ trì nhìn sâu vào đôi mắt người đó để xem họ là người thật thà hay một kẻ lừa đảo chuyên nghiệp, lợi dụng hình ảnh một ngôi chùa gần đó để đi xin tiền. Những kẻ lừa đảo thời nay rất tinh vi.
Đa phần chúng ta chỉ dựa vào lời nói để biết sự thật. Chỉ những người đã chứng đắc trong đạo mới có thể thấu rõ từng sự thật nhỏ. Ngoài ra, Chư Thiên ở cõi trời cũng không cần đến ngôn ngữ, họ chỉ cần lướt nhìn qua cũng biết hết mọi điều trong tâm nhau dù chưa nói tiếng nào. Một sự kiện ở xa nhưng bằng tâm linh, Chư Thiên vẫn thấy biết rõ ràng. Nên hầu hết Chư Thiên tử sống rất chân thật. Khi sinh xuống cõi người, họ là những người rất thánh thiện, trong sạch và thật thà.
KHÔNG PHẢI GIÁO LÝ NÀO CŨNG LÀ CHÂN LÝ
Trong Phật giáo
Mỗi tôn giáo đều có giáo lý riêng, nhưng đa phần đều dạy con người đặt niềm tin tuyệt đối vào lời nói của vị giáo chủ hoặc các giáo sĩ. Có những tôn giáo, nếu tín đồ dấy khởi sự hoài nghi, họ sẽ nhanh chóng dập tắt bằng cách dùng lời hù doạ như: “Những ai không tin ta, không theo ta sẽ bị đày đọa dưới hỏa ngục, bị quỷ sứ tra tấn linh hồn”; hoặc họ sử dụng bạo lực đối với tín đồ đó. Tất cả chỉ để bảo vệ niềm tin với đạo.
Đạo Phật là tôn giáo duy nhất trên thế giới dạy con người biết nghi ngờ thắc mắc tất cả mọi điều. Trong bài kinh Kalama, Đức Phật đã khuyên con người chớ có tin vào bất kỳ điều gì, dù điều đó do chính bậc Đạo sư của mình nói lại. Thông thường, chúng ta phải tin tưởng vào đạo đức, vào sự chân thật của một vị thì mới dám tôn thờ làm bậc đạo sư để nương tựa học hỏi. Vậy mà Đức Phật dạy chúng ta phải biết hoài nghi lời dạy của chính thầy mình. Qua lời dạy đó của Đức Phật, ngày nay chúng ta được quyền hoài nghi. Với trí tuệ vĩ đại của mình, Đức Phật đã mở ra con đường đi tìm chân lý cho thế gian. Con người nhờ đó mà tránh rơi vào lầm lạc của những niềm tin mù quáng. Tuy nhiên, vì đã cách Phật hơn 2500 năm, con người thời đại ngày nay có thể đặt ra nghi vấn: liệu mọi kinh điển giáo lý trong đạo Phật đều do chính Phật thuyết hay không?
Một số tu sĩ khi nghiên cứu chuyên sâu Kinh điển đạo Phật đã phát hiện những bản kinh tồn tại nhiều điểm bất hợp lý khi đối chiếu với những đạo lý căn bản, với những kiến thức khoa học, và với những kinh nghiệm miệt mài tu tập của bản thân vị đó trong nhiều năm tháng. Có những chân lý thiêng liêng cao cả, những điều cực kỳ vi diệu do chính Đức Phật thuyết giảng, khi nương tựa vào đó, chúng sinh đạt được vô số lợi ích trên con đường tu tập. Nhưng không phải giáo lý nào “mang nhãn hiệu đạo Phật” cũng là chân lý, thật sự có những điều đã được người sau lén đưa vào trong những kỳ kết tập kinh điển, có những cuốn kinh được mạo nhận là Phật thuyết rồi len lỏi vào trong đạo Phật. Những bản kinh đó cũng tràn ngập hình ảnh của Phật, của chư vị Bồ Tát, có vẻ rất cao siêu nhưng kỳ thực tồn tại rất nhiều kẽ hở, những điểm bất hợp lý. Chúng ta có quyền hoài nghi mà không sợ bị mang tội.
Trong các tôn giáo khác
Cùng nhận xét về một đồ vật nhưng có hai ý kiến trái ngược nhau. Một bên cho rằng món đồ màu đen, một bên khẳng định đó là màu trắng. Ý kiến nào là đúng nhất? Thường ta cho rằng một trong hai ý kiến phải đúng, nghĩa là đồ vật đó phải có màu đen hoặc màu trắng. Nhưng có khi cả hai điều cùng sai vì màu sắc thật sự của món đồ đó là màu khác.
Khi có hai suy đoán ngược nhau, thường chúng ta nghĩ điều này đúng thì điều kia sai, hoặc ngược lại điều kia đúng thì điều này sai. Tức là phải một đúng, một sai. Tuy nhiên, cuộc sống phức tạp không đơn giản như vậy. Sẽ tồn tại một suy đoán thứ ba đúng nhất ở đâu đó, và cả hai suy đoán ta đã biết đều sai. Đó là lý luận logic.
Cũng vậy, trong tôn giáo có hai lý thuyết ngược nhau về sự thành lập của vũ trụ. Những tôn giáo cổ xưa cho rằng vũ trụ do thượng đế tạo ra. Các giáo phái mới thành lập hiện nay cho rằng trời đất do một Phật mẫu tạo ra. Vậy lý thuyết nào là chân lý? Cả hai lý thuyết trên đều không chính xác, bởi tồn tại một sự thật: Vũ trụ, trời đất này do nhiều điều kiện, nhiều nhân duyên mà hợp thành, không hề có một đấng thần linh nào đủ quyền năng để sáng tạo ra vạn vật. Đó là chân lý tuyệt đối, không hề đi ngược lại khoa học.
Thế nhưng nhiều tôn giáo trên thế giới cho đến ngày nay vẫn chọn lý thuyết thứ nhất: một ông trời đã tạo ra vũ trụ trời đất này. Chúng ta mong rằng, tất cả tôn giáo đều có được tinh thần hoài nghi như Đức Phật đã khuyến khích, như vậy thế giới sẽ tốt đẹp hơn. Chính người tín đồ sẽ được quyền xét lại tất cả kinh điển, giáo lý của tôn giáo mình, dù đó là những bài kinh được ca tụng là thiêng liêng trong nhiều ngàn năm. Khi bình tĩnh đem mọi thứ ra mổ xẻ, nhìn nhận một cách khách quan, họ sẽ phát hiện ra bên cạnh những lời dạy đúng đắn vẫn có các bài kinh chứa đựng rất nhiều điều sai lầm, những điểm bất hợp lý cần được sửa chữa hoặc loại hẳn đi. Tuy nhiên, đây là điều rất khó trở thành hiện thực. Giáo điều vừa là niềm kiêu hãnh, vừa là niềm tin sắt đá với họ. Đã tin thì không cần chứng minh, không lý luận nữa. Người ta bảo vệ niềm tin bằng sự đe dọa (kẻ không tin sẽ xuống hỏa ngục), hoặc bằng bạo lực (bị chém giết, bị trừng trị bằng gươm đao). Đó là lý do những giáo điều hết sức vô lý vẫn cứ tồn tại dai dẳng từ thế kỷ này đến thế kỷ kia.
Ngày nay, trên thế giới có rất nhiều đạo, mà đạo là tín ngưỡng, niềm tin. Trong Bản Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc và Hiến pháp của các quốc gia đều nhắc đến việc tôn trọng tự do tín ngưỡng. “Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.” (Điều 18 - Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền)
Trong vài thế kỷ tới, thế giới phải điều chỉnh lại quyền tự do tín ngưỡng, phải tìm điều đúng (tín ngưỡng) cho con người tin, không thể để cho con người tin vào điều sai lầm nữa. Việc làm đó phải được xem là lương tâm loài người. Xã hội dựng lên Luật pháp, Hiến pháp hay Tuyên ngôn nhân quyền với mục đích đi tìm hạnh phúc cho con người. Ai sinh ra cũng được quyền hưởng hạnh phúc. Nhưng một khi lạc vào những niềm tin tôn giáo sai lầm, các giáo điều tà bậy, cuộc đời con người lại đi vào đau khổ. Trên thế giới hiện nay tồn tại quá nhiều tín ngưỡng, rất nhiều tín ngưỡng thật sự sai lầm nhưng lại được bảo vệ bởi luật pháp. Sự bảo vệ đó là kẽ hở đưa đến khổ đau, nuôi dưỡng niềm tin mù quáng, làm con người không còn tìm thấy lẽ phải.
Có những điều trong thế kỷ XXI này được cho là chân lý nhưng có thể đến vài thế kỷ sau, đó lại là sai lầm. Giống như mấy ngàn năm trước, con người xem chế độ quân chủ là chân lý, vua nắm toàn quyền. Nhưng từ thế kỷ XVII đến nay, nhân loại tôn vinh chế độ dân chủ là chân lý. Chế độ quân chủ trở thành lạc hậu, cực đoan. Nhưng đến những thế kỷ sau, liệu dân chủ có tiếp tục là chân lý để nhân loại đi theo? Có thể tương lai mai sau, thế giới sẽ tìm ra một chân lý mới. Cũng vậy, hiện nay tự do tín ngưỡng được xem như chân lý mà Hiến pháp của quốc gia nào cũng phải ghi nhận, Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền cũng phải công nhận. Nhưng vài thế kỷ sau, biết đâu lúc đó nhân loại lại nhận thấy rằng tự do tín ngưỡng là một điều sai lầm.
Ngày nay có nhiều giáo phái mới xuất hiện, lẽ phải càng lúc càng bị che lấp bởi những “chân lý mới” được tô vẽ, tưởng tượng ra. Người ta không cần lý trí phán đoán mà chỉ cần niềm tin là đến với đạo, đó là sự lạc hậu, ấu trĩ. Chúng ta may mắn được là đệ tử Phật thì hãy luôn dùng lý trí để tìm cho ra tất cả sự thật: sự thật trong cuộc sống, trong tương quan đối xử với nhau và sự thật trong đạo lý, trong triết học... Chúng ta đừng cả tin, kể cả lúc đang nghe một vị Pháp sư giảng thì cũng phải biết suy xét, hoài nghi. Đó là cách tập cho trí tuệ khai mở từ từ. Trong Kinh Hoa Nghiêm có câu: “Niềm tin là mẹ của mọi công đức”, chúng ta cũng hoàn toàn có thể hoài nghi điều này, bởi Đức Phật hay bất cứ bậc Thánh nhân nào trong đạo Phật từ xưa đến nay đều không hề cổ vũ, ca ngợi con người đặt niềm tin dễ dàng vào tất cả mọi điều.
Trong khoa học
Trong lĩnh vực khoa học cũng vậy, nhờ những khám phá tiến bộ của khoa học, chân lý càng phơi bày, những kết luận cũ dần được điều chỉnh lại. Ví dụ nói về cấu trúc vật chất của thân, theo tinh thần khoa học xưa của Ấn Độ là Đất, Nước, Gió, Lửa (Tứ đại); đối với khoa học Trung Hoa là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ (Ngũ hành). Đó là kiến thức thời xưa. Nhưng đến ngày nay, khoa học hiện đại đã phân tích rất chuyên sâu về cơ thể con người trên cấu trúc của gen di truyền, những sợi gân, sợi cơ, các nơron thần kinh... Từ vô số các yếu tố tinh vi phức tạp đó, con người bắt đầu nhìn vào thân thể của mình theo một cách khác; nhận thấy sự ảnh hưởng tương quan của nội tiết tố lên sinh hóa cơ thể, lên tâm tính tình cảm và khám phá thêm nhiều điều mới lạ. Tất cả không còn đơn giản chỉ là tứ đại hay ngũ hành như suy luận ngày xưa.
Cách đây hơn 2500 năm, Đức Phật cũng từng nói cơ thể con người là sự hợp thành của đất, nước, gió, lửa vì Ngài dựa theo kiến thức khoa học của thời đó để người ta dễ tiếp nhận, dễ thấu hiểu đạo lý. Nhưng nếu một Giảng sư thời nay giải thích kinh điển mà vẫn giữ nguyên lời Đức Phật, nói cơ thể con người là tứ đại, là đất, nước, gió, lửa thì người nghe rất khó đồng thuận, chấp nhận. Những kiến thức khoa học cơ bản về cấu tạo cơ thể người là điều hầu như tất cả mọi người thời nay đều biết qua. Cho nên, việc chấp vào từng câu từng chữ trong kinh điển cũng sai với tinh thần đạo Phật. Hãy y cứ vào lời dạy của Đức Phật nhưng có đối chiếu với kiến thức của thời đại. Nếu nói về thân thể con người, ta vẫn nói đến đạo lý về sự vô thường tạm bợ của thân xác; tuy nhiên trong sự phân tích, triển khai đạo lý đó ta phải sử dụng đến các kiến thức khoa học về tế bào, gen di truyền... Đi theo Phật nghĩa là ta nương theo tinh thần, theo trí tuệ của Phật, không phải bắt chước lại từng câu từng chữ của Ngài.
Đạo Phật là sự uyển chuyển linh động, sự phát triển tiến bộ chứ không cứng ngắc, lạc hậu, kìm hãm sự phát triển. Ví dụ trong Kinh Lăng Nghiêm - bộ kinh xuất hiện sau thời Đức Phật 600 năm - có câu: “Nếu lấy một vật chia chẻ mãi tới còn bằng đầu sợi tóc, gọi là mao trần. Lấy hạt bụi bằng mao trần này chia chẻ còn bằng hạt bụi bay trong hư không, gọi là khích du trần. Hạt bụi bay lại chia chẻ nữa thành vi trần nhỏ, rồi hạt vi trần nhỏ này lại chia ra nữa cho tới khi không còn chia được nữa, gọi là cực vi trần, lân hư t r ầ n” . Nói một cách nôm na, lân hư trần là hạt bụi đã được chia nhỏ gần tới hư không, nếu đập vỡ một lần nữa thì nó sẽ trở thành hư không.
Đến ngày hôm nay, khẳng định đó không còn phù hợp với khoa học. Khi nghiên cứu chuyên sâu về cấu trúc vật chất, về phân tử, nguyên tử, khoa học đã chứng minh được rằng: vật chất nếu phân hủy hoàn toàn sẽ trở thành một năng lượng khổng lồ đủ để phá sập một căn nhà. Nhiều quốc gia hùng mạnh trên thế giới đã vận dụng nguyên lý này để chế tạo nên bom nguyên tử, phục vụ cho mục đích quân sự. Vật chất khi bị đập vỡ sẽ tạo thành một vụ nổ lớn. Đó là sự thật. Vì vậy, tư tưởng vật chất phân chia đến cuối cùng trở thành hư không trong kinh Lăng Nghiêm đã không phù hợp với khoa học. Cùng với sự tiến bộ của nhân loại, có những sự thật càng ngày càng được phơi bày chính xác hơn. Nên hôm nay chúng ta phải điều chỉnh lại cách nói cho phù hợp với kiến thức ngày nay, để bức màn chân lý càng được vén mở rõ ràng hơn về sau.
Trong thế giới siêu hình
Sự thật về thế giới siêu hình thì như thế nào? Trong Kinh Phật có nhắc đến các cõi như địa ngục, ngạ quỷ, thế giới của Atula, các tầng trời cao thấp khác nhau. Đó là cấu trúc về thế giới siêu hình trong đạo Phật. Những tôn giáo hay quốc gia khác có quan niệm đơn giản hơn về thế giới siêu hình. Thiên Chúa giáo khẳng định rằng sau khi chết, con người chỉ có hai chỗ đến: hoặc là xuống địa ngục, hoặc lên cõi trời để về với Chúa. Người Trung Hoa quan niệm thế giới siêu hình là cõi âm ti. Đó là nơi người ta sống như ở cõi dương gian: cũng họp chợ mua bán, cũng có quan, có dân...
Mỗi chúng ta, trong tâm tưởng cũng đặt ra một thế giới siêu hình khác. Các thầy pháp, thầy bói càng đặt ra nhiều thế giới siêu hình. Vậy đâu là chân lý? Thế giới siêu hình nào mới là sự thật? Ai là người có thể kiểm chứng? Đây là điều khó xác định vì chúng ta vẫn còn sống ở thế giới vật lý này. Vì ngay cả khi tu tập thiền định rồi bắt đầu thấy được thế giới siêu hình, cũng không có gì đảm bảo điều ta thấy là sự thật. Đó có thể là sản phẩm của trí tưởng tượng, một dạng ảo tưởng của tâm thức. Chỉ đến khi chứng Alahán thì chúng ta mới có thể ngồi Thiền nhập định, thấu suốt được sự thật về thế giới cõi siêu hình.
TU TẬP THIỀN ĐỊNH GIÚP CHÚNG TA BIẾT SỰ THẬT
Ngày nay, những điều chúng ta tin được, biết được chưa chắc là chân lý muôn đời. Chúng ta hãy luôn bình tĩnh, chuẩn bị tâm thế để chờ đón những sự thật đến sau chính xác hơn. Ai cũng phải như vậy, cả người giảng Pháp lẫn người nghe Pháp. Ví dụ, hôm nay chúng ta nghe vị Pháp sư giảng là hợp lý thì đó vẫn chưa phải là chân lý cuối cùng. Năm mười, năm sau có thể chúng ta sẽ gặp một vị khác giảng hay hơn, hợp lý hơn, cao siêu hơn, tỉ mỉ hơn, chính xác hơn. Bản thân người giảng pháp cũng vậy, đừng bao giờ nghĩ rằng đã thuyết lên những lẽ phải cao tột, đã đạt được chân lý cuối cùng. Phải biết vài năm sau, Phật Pháp có thể sẽ xuất hiện những giảng sư tài năng, giảng được những điều sâu xa, vi diệu hơn. Đó là tinh thần của khoa học, cũng là tinh thần của đạo Phật.
Người Phật tử nào cho rằng thầy tôi là chân lý tuyệt đối, không ai thay thế được là trái với tinh thần của đạo Phật. Họ cố chấp và tự đóng khuôn mình lại. Nếu có ai nói khác với điều mình tin tưởng, nói ngược lại với vị thầy mình tôn thờ, họ liền phản ứng quyết liệt. Cũng vậy, vị Pháp sư giảng những điều được nhiều người ưa thích rồi tuyên bố là chân lý, ai nói khác hơn là sai; đó cũng là người kìm hãm sự tiến bộ của đạo Phật. Bởi vì, đạo Phật luôn luôn uyển chuyển, linh động, phát triển, tiến bộ chứ đạo Phật không phải là cái gì cứng nhắc, cố định, kìm hãm và lạc hậu. Cho nên chúng ta, cả người nghe và người giảng Pháp, phải luôn luôn mở lòng để đón nhận những điều mới tốt đẹp trong sự suy xét chín chắn của mình.
Bây giờ xét lại bản thân mình, chúng ta thường nhìn đời qua thành kiến. Ví dụ, gặp người có phản ứng mạnh trước mọi vấn đề của cuộc sống. Nếu thương mến, chúng ta nói người đó khí khái, thẳng tính. Còn nếu có ác cảm, chúng ta nói người đó hung dữ, bướng bỉnh. Hoặc khi nhìn một người vạm vỡ, nếu yêu quý thì chúng ta cho rằng họ nam tính, mạnh mẽ nhưng nếu không thích chúng ta liền quy chụp họ là thô lỗ cộc cằn. Cùng một dáng điệu, cử chỉ, thái độ nhưng đã được nhìn nhận khác nhau qua lăng kính riêng của từng người.
Cũng vậy, khi đọc một tác phẩm hay nghe một bài giảng, chúng ta thường đánh giá theo cảm tính mà cảm tính thường không chính xác. Ví dụ cùng nghe một vị Thầy thuyết giảng, nếu người Phật tử có duyên với vị đó thì yêu thích ca ngợi: “Thầy giảng hay, thấu tình đạt lý”, còn người có thành kiến, ác cảm thì chê bai đủ đường: “Thầy giảng nghe vô lý, kỳ khôi!”. Cũng một bài giảng nhưng người khen, kẻ chê.
Rồi cũng có khi chúng ta bênh vực thầy mình, chống đối thầy kia. Vì thầy mình quy y, có cảm tình nên bênh ông. Lời khen, tiếng chê, bênh vực, chống đối đều không chính xác, vì đều do thành kiến, cảm tính, chứ không khách quan đúng sự thật. Ví dụ, khi nhìn vị Tăng trẻ nói chuyện với người Phật tử nữ, lúc thương thì người ta biện minh:“Có gì đâu, thế kỷ XXI rồi, chuyện đó bình thường”, còn không ưa thì người ta bĩu môi: “Ông thầy cứ đứng rề rà nói chuyện với nữ Phật tử!”.
Sự thật là gì? Điều này thật khó biết. Sống trên cuộc đời, con người thường nhìn mọi thứ méo mó qua thành kiến, qua cảm tính của mình. Bản thân ta nhận xét người khác sai và người khác đánh giá ta cũng không đúng. Vì thế, đừng vội tin những lời khen tiếng chê trên cuộc đời. Sự thật luôn bị bóp méo, bị biến đổi qua cách nhìn của mỗi người.
Cho nên, muốn biết được sự thật, chúng ta phải tu tập Thiền định để vượt qua hết những cảm tính của mình. Nghĩa là chúng ta nhìn đời bằng tâm rỗng rang, thanh tịnh, hư vô; không cảm tính, không thành kiến, không thương, không ghét với tư cách cá nhân. Lúc đó, mọi việc hiện ra trước mắt ta tương đối chính xác hơn, ít sai lầm hơn. Như vậy, tu tập Thiền định giữ tâm thanh tịnh, không buồn, thương, giận, ghét nhiều giúp chúng ta dễ thấy được sự thật trên cuộc đời này.
***
Chúng ta hãy luôn cố gắng vun bồi công đức, kính Phật, trọng Tăng, thương yêu con người và nỗ lực tu tập Thiền định. Nhờ tâm thanh thản, chúng ta nhìn sự vật nhạy bén. Nhờ có trực giác, trí tuệ phát ra từ cái định và đồng thời lắng dần mọi tình cảm thương ghét, chúng ta sẽ nhìn đời, nhìn người đúng với sự thật hơn.


