ĐỊNH NGHĨA
Nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động, cụ thể, gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm.
Trí tuệ, tâm hồn con người muôn đời luôn thúc đẩy chúng ta kiếm tìm và thưởng thức, sáng tạo và ca ngợi cái đẹp. Cái đẹp này chính là yếu tố “Mỹ” trong Chân – Thiện – Mỹ hay còn gọi là Nghệ thuật.
Nghệ thuật cũng được sử dụng để phục vụ cho tôn giáo. Trong Phật giáo có nhiều loại hình nghệ thuật được sử dụng như hội họa, điêu khắc, âm nhạc... Nhưng cũng có một số ý kiến cho rằng nghệ thuật đem lại nhiều cảm xúc nên không hợp với tinh thần của đạo Phật, vì tu theo đạo Phật là đi tìm một nội tâm yên tĩnh. Do đó, chúng ta tìm hiểu quan điểm của đạo Phật đối với nghệ thuật như thế nào?
TỪ PHƯƠNG PHÁP ĐẾN NGHỆ THUẬT – TỪ NGHỆ THUẬT ĐẾN ĐẠO
Phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt động nào đó, tức là khả năng ban đầu, mức độ ban đầu, trình độ ban đầu của con người để chúng ta làm được mọi việc trong cuộc sống. Nếu chúng ta làm được những việc đó khéo hơn, hay hơn, thì phương pháp trở thành nghệ thuật. Ví dụ, nấu một món ăn chỉ áp dụng phương pháp chế biến bình thường, nhưng nấu món đó cho thật ngon, trang trí món ăn đẹp mắt, cách dọn khác lạ để người ăn thưởng thức một cách thích thú thì gọi là nghệ thuật nấu ăn. Hoặc nói chuyện với nhau một cách bình thường, chỉ nói đúng phương pháp từ vựng, ngữ pháp, diễn đạt, nhưng nếu nói một cách hấp dẫn, thu hút người nghe thì gọi là nghệ thuật nói chuyện trước công chúng. Như vậy, khi phương pháp được nâng cao hơn thì trở thành nghệ thuật. Nói cách khác, nghệ thuật là phương pháp được nâng cao, được thăng hoa làm đẹp, làm vui lòng người thưởng ngoạn.
Từ xa xưa, con người là một động vật văn minh hơn các loài vật khác nên xuất hiện ý thức hổ thẹn nếu cơ thể mình bị lõa lồ. Chính vì văn minh nên con người phải mặc quần áo. Lúc xưa, con người chỉ quấn thứ gì đó để che thân. Dần dần, tiến bộ hơn, con người dệt được vải nhưng cũng chỉ may mặc đơn sơ thôi. Ngày nay, may mặc đã biến thành một nghệ thuật rất cao. Các nhà thời trang, các cửa hàng quần áo, các kiểu mẫu quần áo ngày càng hấp dẫn được tung ra thị trường. May mặc đã trở thành nghệ thuật đòi hỏi sự đầu tư khéo léo, tinh tế làm đẹp lòng người mua lẫn người nhìn ngắm.
Hoặc trong lĩnh vực âm nhạc, thơ ca. Từ ngôn ngữ (nói, viết) bình thường mà khi có cảm xúc con người đã sáng tạo thành những điệu hát du dương, trầm bổng, hay những sáng tác thi ca làm cho người nghe, người đọc có cảm xúc thích thú. Đó là nghệ thuật.
Khi nghệ thuật bước lên cao hơn thì trở thành Đạo. Cái khác nhau giữa nghệ thuật và đạo như thế nào? Ví dụ như cắm hoa. Tự cái hoa đã đẹp ngay từ ban đầu, cắm hoa làm sao để tôn vẻ đẹp của hoa, tạo ra một bình hoa đẹp, thì gọi là nghệ thuật cắm hoa. Nhưng, người cắm hoa không chịu chỉ cắm cho đẹp mà lặng lẽ tư duy, tìm hiểu, muốn nói lên một ý nghĩa nào đó để gởi gấm vào trong bình hoa, thì trở thành đạo. Ví dụ trong chùa có một lọ hoa, họ nghĩ (nói) rằng cành hoa đặt cao nhất tượng trưng cho Thầy trụ trì chùa này; mấy cái hoa trắng điểm chung quanh là tượng trưng cho Phật tử dễ thương, xinh xắn; lọ hoa này không có gai nên không tượng trưng cho những Phật tử rắc rối; những cánh hoa đỏ tượng trưng cho Tăng, Ni; những cánh hoa trắng nhỏ tượng trưng cho Phật tử; còn cành, lá tượng trưng cho công hạnh của mỗi người gắn bó với nhau trong một sự hài hòa của Phật Pháp. Có nghĩa là cũng cái lọ hoa này, người ngắm chỉ thấy đẹp thôi, mà người cắm hoa thì gởi vào đó những ý tưởng, những đạo lý, những sự tượng trưng. Như vậy gọi là hoa đạo.
Người Nhật có hoa đạo, trà đạo, cung đạo, kiếm đạo... Ví dụ như uống trà. Cách nấu trà chỉ là phương pháp thôi, mà uống trà có kiểu cách khéo léo, phải ngồi trong tư thế nào, trong phòng yên tĩnh, cách rót trà... thì thành nghệ thuật uống trà. Người Nhật Bản nâng nghệ thuật uống trà lên thành đạo, gọi là trà đạo. Hoặc cung đạo, kiếm đạo cũng như vậy. Thường chúng ta gọi là cung thuật hay kiếm thuật, tức là nghệ thuật bắn cung hay nghệ thuật đánh kiếm. Người học cung, học kiếm tập các thế đánh, tập cơ thể, tập sự chiến thắng... đó gọi là nghệ thuật. Nhưng đối với một Thiền sư, môn kiếm thuật lại khác; ông nghĩ rằng chiến đấu quan trọng nhất của một con người không phải là chiến thắng người khác mà là chiến thắng chính mình. Khi cầm kiếm đánh với mọi người là đánh trong tinh thần hòa bình, nhiếp phục được bản ngã của mình, nhiếp phục được cái hiếu thắng của mình và khắc phục được cái tàn bạo của đối phương mà không ác, không muốn hơn người, không muốn sát hại người. Cũng đánh kiếm mà phải đánh như thế nào để đạt được những điều đó thì gọi là kiếm đạo.
Võ sĩ thường hiếu thắng và tàn bạo. Một trận đánh boxes bao quanh là tiền: tiền cá cược, võ sĩ đánh thắng được mấy triệu đô-la. Người ta chụp được những bức ảnh các võ sĩ đánh “bốc” (môn Boxes, quyền Anh, châu Âu) đăng lên báo, người ta thấy võ sĩ này đánh vào mặt võ sĩ kia. Người ghi hình được trong khoảnh khắc bộ mặt của võ sĩ y hệt một con thú, còn người bị đánh trúng méo đi, nước bọt văng ra. Người phương Tây đề cao môn Boxes là môn “Noble sport”, tức là môn thể thao quý tộc. Nhưng nhìn bức ảnh đăng báo người ta cho rằng đây là môn thể thao của dã thú, người ta kết tội như vậy, vì khi đánh nhau họ sát phạt và hiếu thắng dữ dội, nên đây chỉ là thuật thôi. Còn khi môn võ ở trong tay các nhà sư trong chùa thì biến thành Đạo. Nghĩa là đánh cách nào đó khuất phục được sự tàn bạo của đối phương mà vẫn giữ được lòng thương yêu và vô ngã, không hiếu thắng. Đánh như vậy, vừa thắng người và cũng thắng luôn cả chính mình. Đó gọi là võ đạo, chứ không còn là võ thuật nữa.
Như vậy, khi nghệ thuật trở thành Đạo là có triết lý về nhân sinh. Người Nhật Bản sâu sắc, họ không dừng ngang ở cái thuật mà nâng cái thuật lên thành Đạo. Chính nhờ tâm hồn tinh tế này mà ngày nay, người Nhật đã có nền khoa học kỹ thuật tinh vi, hiện đại.
TẠI SAO NGHỆ THUẬT XUẤT HIỆN Ở LOÀI NGƯỜI MÀ CÁC LOÀI KHÁC KHÔNG CÓ ?
Có hai lý do: Thứ nhất là do con người thông minh; thứ hai là do con người có phước.
Nói đến nghệ thuật là nói đến sự thông minh, sáng tạo của con người. Từ sự thông minh đó, con người cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái xấu, cái dở. Ví dụ, cũng mặc để che thân nhưng quấn mảnh vải ngang người không còn được chấp nhận nữa. Cái tinh tế, nhạy cảm trong tâm hồn con người đòi hỏi phải mặc khéo hơn, đẹp hơn. Đánh giá cái đẹp, phủ nhận sự xấu xa, trí tuệ đó thúc đẩy con người sáng tạo cái đẹp, gợi mỹ cảm. Đó là nghệ thuật. Đây là lý do thứ nhất nghệ thuật xuất hiện.
Thời xưa, con người nuôi sống mình chủ yếu bằng trồng trọt và săn bắn. Do thiên nhiên khắc nghiệt, phương tiện kỹ thuật không đầy đủ, săn bắn được con mồi về, người ta không có tủ lạnh để bảo quản lâu nên phải ăn vội vã, còn thì phơi khô để dành. Nhưng phơi khô rồi cũng không có chỗ để cất giữ cho khỏi sâu bọ, kiến, chuột... gặm nhấm. Không giữ được nên quanh năm suốt tháng con người cứ quần quật đi tìm miếng ăn để sống, để tồn tại. Khi con người dùng thời gian để tìm thức ăn thì không còn thời gian để sáng tạo nghệ thuật. Nghệ thuật chỉ xuất hiện khi con người dư dả cái ăn và có nhiều thời gian. Khi đêm xuống, trăng lên, quanh đống lửa bập bùng... những người trong bộ tộc họp lại ca hát, nhảy múa với nhau để tìm niềm vui, để tránh cô đơn (những điều đó bây giờ chỉ còn thấy trong phim ảnh, nhất là những phim nói về người da đỏ hoặc phim “Khiêu vũ với bầy sói”...).
Nhưng nếu chúng ta có ký ức về nhiều kiếp xưa thì tất cả chúng ta cũng đã từng nhảy múa, ca hát quanh đống lửa vào thuở hồng hoang, khi chúng ta còn sống trong những bộ tộc sơ khai, lạc hậu. Còn lúc này, con người có nhiều thời gian để suy nghĩ, để nghiên cứu: Phải xây cất như thế nào cho đẹp; ăn mặc như thế nào cho khéo; rồi những bài thơ văn, những bài nhạc được sáng tác phải thật hay, và trình diễn được trước công chúng. Khi con người bắt đầu có phước thì những sáng tác nghệ thuật nối tiếp nhau xuất hiện. Đó là lý do thứ hai nghệ thuật xuất hiện. Ngoài nhu cầu căn bản là ăn ở, mặc, con người còn có nhu cầu cao hơn là nhu cầu về tinh thần, đó là hưởng thụ cái hay, cái đẹp mang tính nghệ thuật với những tình cảm, cảm xúc của mình trước cuộc sống. Nghệ thuật cao cấp hơn phương pháp là vậy.
Nghệ thuật là nhu cầu cao của con người và cái giá phải trả cho nghệ thuật cũng cao hơn. Ví dụ, một người lao động phổ thông chỉ đáp ứng cho những nhu cầu thấp, căn bản của con người như ăn, ở... Nhưng một nhạc sĩ, nhất là ca sĩ nổi tiếng (gọi là “Sao”) hát một đêm, một show diễn có thể kiếm được nhiều triệu đồng. Đây là sự chênh lệch quá lớn, quá bất công giữa những người khai thác nghệ thuật và những người lao động bình thường. Có cách nào giải quyết không? Ở thời buổi kinh tế thị trường, không thể áp đặt ý chí trên giá cả được mà tùy nhu cầu mỗi người. Ví dụ vào thời điểm người ta dư ăn, dư mặc, họ sẵn sàng bỏ tiền ra để mua một cái vé xem ca nhạc, kịch hay phim... trong khi đó với số tiền mua vé ấy có thể nuôi sống một gia đình công nhân nghèo trong một ngày nhưng người ta vẫn chấp nhận vì người ta có nhiều tiền. Sự chi phối giá cả do quy luật của thời buổi kinh tế thị trường, chúng ta không áp đặt được.
CÁI GỐC CỦA VÀI LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT
Hội họa bắt nguồn từ đâu? Khi chưa có chữ viết, người ta vẽ để diễn tả cái ý, diễn tả những suy nghĩ của mình. Ví dụ, người cha có người con trai vào rừng săn bắn. Người cha ở nhà nhưng lại muốn con trai mình sẽ mang về cho ông một con heo rừng. Ông lấy thẻ tre ra, dùng con dao bằng đá, vẽ hình một con heo, rồi vẽ hình người con ông vác con heo về, rồi vẽ cái nhà có cả ông đang đứng đợi. Kế đến, ông gọi đứa con nhỏ cầm mấy cái hình vẽ đó chạy theo đưa cho anh con trai lớn. Thế là anh con trai nhìn hình vẽ, hiểu ý cha muốn bảo mình đi săn vác về một con heo rừng. Như vậy, ngày xưa người ta vẽ để diễn tả lời nói, tư tưởng của mình. Có thể nói đó là ngôn ngữ hội họa lúc ban đầu.
Hoặc một chàng trai muốn cầu hôn một cô gái ở làng bên. Anh ta vẽ hình hai người nắm tay nhau, dắt nhau đi trên đường, bao nhiêu người đưa tay vui mừng. Cha mẹ cô gái xem hình trầm ngâm suy nghĩ và biết người con trai đó muốn rước con gái mình đi. Hoặc muốn xin muối bên nhà hàng xóm, vẽ hình cái lon, cái tay xòe ra rồi có nhiều hạt muối rót vô lon. Đứa nhỏ mang thẻ tre có hình vẽ đưa người hàng xóm, người nhận phải suy nghĩ mới hiểu được người vẽ muốn nói với mình điều gì. Như vậy, đó là phương pháp để nói chuyện, để truyền đạt tư tưởng bằng hình vẽ, rồi dần dần người ta phát triển lên thành hội họa. Người ta tìm ra được những chất liệu màu bằng than, máu, củ nghệ, hoặc chất liệu màu từ trong thiên nhiên.
Về âm nhạc, từ lời nói phát triển thành thi văn, cao hơn nữa thành ca khúc. Việc đặt lời một bài thơ dễ hơn một bài nhạc. Cho nên, những ca khúc hay thật sự vĩ đại. Vì nhạc lý rất khó, phải thông minh lắm mới nắm vững được và còn phải có cảm xúc, có tâm hồn mới đặt lời hay để thành một ca khúc hay. Có những bài nhạc làm vội vàng, lời nhạc cạn cợt, kích động, đem gắn vào những dòng nhạc người ta gọi là dòng nhạc rẻ tiền thì chúng ta không nói. Còn những bài nhạc thật sự hay thì người nhạc sĩ phải là người có tài năng và cảm xúc chân thật. Nên từ thi văn bước qua nhạc là một bước tiến rất dài của con người.
Rồi khi chúng ta nghe hát hay nghe nhạc không lời thì chuyện gì xảy ra? Chúng ta sẽ nhịp chân, sẽ nhún, rung người theo điệu nhạc. Bởi vì nghe một giai điệu nào đó mà ta thích thú thì cơ thể sẽ có phản ứng nhún nhảy. Sự nhún nhảy của cơ thể phát triển thành điệu múa. Điệu múa là hình ảnh đẹp được tạo ra bởi cơ thể con người cho nên ngày xưa các vua chúa, quan lại thích xem múa. Đoàn vũ nữ múa theo điệu nhạc là hình ảnh vừa đẹp, vừa sinh động. Như vậy, múa là sự kết hợp giữa hai nghệ thuật: Âm nhạc và tạo hình.
Chúng ta có nghe nói âm nhạc ở cõi trời thật hấp dẫn, phải không? Nhưng chúng ta, không ai có phước để nghe âm nhạc ở cõi trời như thế nào. Trong các tôn giáo, nhất là Phật giáo và Thiên Chúa giáo nói nhiều về nhạc của thiên thần. Trong kinh Phật có kể câu chuyện liên quan đến âm nhạc như sau:
Thần Càn Thát Bà đi theo hầu Đế Thích để tấu nhạc cho vua nghe. Vua trời Đế Thích có một lần muốn đến thăm Phật nhưng không gặp được do Ngài đang nhập định, ngồi yên trong hang động. Vì có ít thời gian nên vua muốn đánh thức Đức Phật một cách khéo léo để được gặp Ngài. Vua nhờ một vị thần âm nhạc đến gọi Ngài. Chàng trai này là thần Càn Thát Bà, đem cây đàn ngồi trước hang Đức Phật đang nhập định. Ở ngoài anh đánh bài nhạc ca ngợi người yêu của anh. Đó là bài nhạc tình tha thiết, trong đó có câu: “Anh yêu em như các vị A la hán yêu Thiền định”, Đức Phật nghe cũng bật cười. Ngài hỏi: “Ở đâu mà anh có bài nhạc này?».
Anh chàng để cây đàn xuống, đảnh lễ Đức Phật ba lễ rồi nói: “Bạch Thế Tôn! Lúc trước con có yêu một cô gái mà nàng đó yêu một người khác. Con sáng tác bài nhạc này để nói lên tấm lòng của con. Nhờ con hát câu anh yêu em như các vị A la hán yêu Thiền định, tức là con khen A la hán, nên nàng cảm động và cho con gặp nàng”. Lúc đó Phật đã xuất định, vua Đế Thích, các Chư Thiên mới đáp xuống đảnh lễ Ngài và vấn đạo.
Qua bài Kinh dài và thú vị này, chúng ta biết rằng trên cõi trời có âm nhạc rất phong phú. Những bản Kinh Phúc Âm (Thiên Chúa giáo) cũng kể về âm nhạc cõi trời. Thiên thần tấu lên vang lừng khi Chúa Jésus được sinh ra...
Ban nhạc Beatles (nước Anh) có nhiều bài nhạc nổi tiếng như bài Yesterday, Imacine. Bốn chàng trai của ban nhạc này sáng tác và hát nhiều bài nhạc làm ngạc nhiên cả thế giới. Nhạc hay đến nỗi người ta đồn rằng họ được cố vấn bởi một người Yoga Ấn Độ, người Ấn Độ này có khả năng nhập định lên cõi Phạm Thiên, nghe được những khúc nhạc trên đó, xuất định mới nói lại cho Beatles biết những điệu nhạc đó. Hư thực không biết ra sao nhưng ban nhạc Beatles là một huyền thoại âm nhạc thế giới, họ là những chàng trai bình thường mà đặt được những bản nhạc đặc sắc cho nhân loại.
CẢM XÚC VÀ NGHỆ THUẬT
Tâm hồn con người có một mảng lớn là cảm xúc. Chúng ta luôn luôn tìm cảm giác hạnh phúc và tránh né đau khổ. Mỗi khía cạnh của cuộc sống đều có thể mang lại hạnh phúc cho con người. Ví dụ, khi ăn chúng ta tìm cảm giác ngon; khi tiếp xúc và đối xử với nhau chúng ta tìm thương yêu vì thương yêu mang lại hạnh phúc. Nếu tình thương yêu mang lại hạnh phúc thì ganh ghét, oán thù mang lại đau khổ. Chúng ta muốn có hạnh phúc nhưng chúng ta lại không chịu đem hạnh phúc cho người khác trước. Chúng ta chỉ mong người khác mang lại hạnh phúc cho mình mà nhiều khi chúng ta chỉ đem lại đau khổ đến cho người khác, trong khi cảm xúc về hạnh phúc nơi con người là rất lớn.
Theo mười hai nhân duyên trong đạo Phật, ở đây chúng ta không nói hết mà chỉ nói một giai đoạn là lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ. Lục nhập là sáu giác quan. Theo khoa học, con người có 5 giác quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Đạo Phật có thêm giác quan thứ sáu, đó là ý căn (giác quan này khác giác quan “thứ sáu” là trực giác có thể linh cảm biết trước được việc gì đó sắp xảy ra). Chúng ta có năm giác quan để tiếp nhận sự vật bên ngoài; mắt nhìn thấy, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm các vị thức ăn, da thịt để xúc chạm nóng, lạnh, cứng, mềm. Riêng ý căn sẽ tiếp nhận phân tích ngoại cảnh trừu tượng. Sáu loại nhận thức phân biệt ứng với sáu căn thành nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Thức thứ sáu là ý thức bên trong để tự biết tâm mình. Nghĩa là chúng ta đang suy nghĩ chuyện gì, chúng ta biết mình đang suy nghĩ chuyện đó. Sự tự biết tâm mình gọi là ý thức (khác với thần thông hay trực giác).
Sáu giác quan này giúp chúng ta tiếp xúc với thế giới bên ngoài, với con người, rồi làm phát sinh khổ vui liên tục, tức là sinh ra những cảm xúc thương yêu, giận hờn, đắng cay, đau khổ... Ví dụ, gặp người hiền lành, ngoan ngoãn, thông minh, tế nhị chúng ta vui; còn gặp người mắt trợn, nói năng như cọp... mình sợ, ghét, không thích. Hoặc khi nghe một bài nhạc hay làm chúng ta rung cảm, đó là do cái nghe mà sinh thọ. Trong đạo Phật, lý luận cảm giác của con người là như vậy. Những cảm giác này có ảnh hưởng đến sự sáng tạo của con người.
Với trí thông minh con người luôn thích đi tìm cái hay, cái đẹp, cái vui. Ví dụ, chúng ta muốn đặt giỏ hoa trên bàn của giảng sư để tỏ lòng quý mến. Nhưng chúng ta không chấp nhận sự đơn giản như vậy, mà phải sắp xếp hoa như thế nào cho đẹp, tìm cái giỏ được đan bện khéo léo... tất cả đều nói lên trí tuệ con người, cảm xúc thẩm mỹ của con người. Nghĩa là con người không thích, không chấp nhận cái gì tầm thường, đơn giản, xấu mà chuộng cái gì đẹp hơn, hay hơn. Vì trong sâu thẳm tâm hồn con người, ai cũng đi tìm cái Đẹp. Mà cái hay, cái đẹp thì có trong nghệ thuật. Nói cách khác, nghệ thuật biểu hiện những cảm xúc hay, đẹp. Nghệ thuật cũng là cái hay, cái đẹp.
Nhưng nếu nghệ thuật chỉ biểu hiện cái Đẹp, tức là chỉ dừng lại ở cảm xúc mà không chuyển tải ý tưởng (cao đẹp) thì nghệ thuật đó cạn. Ví dụ, chúng ta nghe một bài nhạc, có thể bài hát đó hay nhưng lời lại cạn thì không để lại ấn tượng sâu trong tâm hồn người nghe. Còn một bài có nhạc hay mà có mang theo lời (ý tưởng) hay thì nghệ thuật đó mới có giá trị, mới gây ấn tượng. Nên nghệ thuật mà không có ý tưởng thì nghệ thuật đó cạn.
Chúng ta có thể thưởng thức loại nhạc không lời (hòa tấu), sự thật loại nhạc đó có gởi gấm ý tưởng ở trong, người tinh tế mới nhận được. Ví dụ, một người đánh Classic (nhạc cổ điển) giải thích với anh bạn ngồi nghe kế bên: “Bạn nghe không, đây là lúc con hươu băng qua cánh đồng hoang”... “con hươu dừng lại bên bờ suối mát”... “cảnh núi rừng mênh mông, hùng vĩ mà con hươu thì thật bé nhỏ”... Anh vừa đàn, vừa giải thích, người bạn nghe và ngủ lúc nào không biết. Tuy nhạc không lời nhưng có ý tưởng gởi gắm ở bên trong, vì người bạn không hiểu, không cảm nhận được nên mệt mỏi, ngủ luôn. Hoặc như bài “Phiên chợ Ba Tư”. Bài này được soạn cho đàn Piano và Guitar. Khi nghe bài đó, chúng ta hình dung đoàn lạc đà đi ngật ngà ngật ngưỡng qua sa mạc; rồi tới hội chợ và chúng ta cảm nhận sự náo nhiệt của phiên chợ. Đây là tác phẩm âm nhạc không lời, người nghe nhận ra được cái ý tác giả muốn nói, rất là độc đáo!
Hội họa hay điêu khắc cũng vậy. Nếu cho ra đời một tác phẩm chỉ để cho đẹp thì dễ bị lãng quên. Người họa sĩ tài hoa gởi vào trong bức tranh của mình một triết lý gì đó, tác phẩm có thể để đời vì vừa đẹp, vừa chất chứa ý tưởng. Ví dụ, một họa sĩ bậc thầy vẽ một bức tranh: Trong thời chiến tranh, trên cánh đồng lúa chín, một đôi giày lính, vì (người mang giày) bước qua vội vã nên giẫm lên bụi lúa. Bức tranh rất đẹp và chuyển tải được ý tưởng: Quê hương khổ đau vì bị giày xéo bởi chiến tranh. Đó là một ý tưởng đẹp của một họa sĩ có tài. Hoặc một bức tranh có tựa đề: “Mẹ”. Trong tranh người ta nhìn thấy con sông, cây cau, đồng lúa, cánh diều, ngôi nhà, em bé...
Bàng bạc trong tranh là hình ảnh một phụ nữ đứng tuổi mờ mờ phủ lên trên tất cả những hình ảnh đó. Ngoài cái đẹp của bức tranh, họa sĩ đã gửi gắm một ý tưởng, một đạo lý: Mẹ là tất cả. Mẹ là dòng sông, là ngôi nhà nhỏ, là cánh diều bay trong gió, là hoa cau ngát hương... Tác phẩm đó để đời.
Nhưng, so sánh giữa âm nhạc và hội họa, thường người ta chuộng âm nhạc hơn. Vì âm nhạc có sự thay đổi của nốt nhạc mà lòng người thì cũng mau thay đổi, thích thay đổi, ít thủy chung. Cho nên, âm nhạc đáp ứng được tâm lý thích thay đổi của con người. Nốt cao, nốt thấp thay đổi trầm, bổng liên tục cuốn hút chúng ta. Còn hội họa yên tĩnh, trầm lặng. Chỉ những người biết thưởng thức, lặng lẽ ngắm nhìn mới thấy được cái khéo của họa sĩ, mới cảm nhận được ý tưởng trong bức tranh. Người cạn cợt khó thưởng thức được hội họa.
Còn có loại nghệ thuật ít chuyển tải ý tưởng, người có tâm hồn sâu sắc ít thích. Ví dụ, nấu ăn ngon. Nấu ăn ngon là một nghệ thuật nhưng không được ca ngợi lắm vì không có ý tưởng, chỉ là ngon thôi. Hoặc việc trang điểm của người phụ nữ thường không có chuyển tải ý tưởng gì, chỉ làm đẹp thôi. Người ta cũng gọi là nghệ thuật trang điểm. Ý tưởng nếu có thì cũng cạn. Người Phật tử khi hiểu đạo rồi, việc trang điểm không đặt thành vấn đề, cũng trang điểm nhưng nhẹ nhàng cho lịch sự thôi. Còn người Phật tử nào nghĩ ra nghệ thuật trang điểm có gửi gắm ý tưởng sâu sắc thì rất hay.
NGHỆ THUẬT CHÂN CHÍNH
Có thể xem nghệ thuật như là một phương tiện
Nghệ thuật có khả năng lôi cuốn và tạo hiệu quả nên có thể xem nghệ thuật như là một phương tiện, giống như kỹ thuật. Khoa học kỹ thuật cũng là một phương tiện tạo hiệu quả. Ví dụ, giảng sư nói bằng miệng thì chúng ta có người nghe rõ, có người không nghe rõ (ngồi xa). Nhưng nhờ cái Micro (kỹ thuật) làm phương tiện nên mọi người đều nghe rõ. Hoặc chúng ta nói đạo lý bình thường nghe cũng hấp dẫn. Nhưng nếu người nào có tài nói bài Pháp thành thơ, thuyết pháp bằng nguyên một bài thơ dài, có khi chúng ta thích thú và dễ nhớ; hoặc sau này có ai thay vì giảng bài Pháp thì hát bài Pháp từ đầu tới cuối, cũng có mấy người cầm đàn phụ họa theo, như bài hát Tứ Diệu Đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo chẳng hạn. Có thể hát một bài Pháp, chúng ta nghe sẽ thích vô cùng. Đó có thể nói nghệ thuật như là một phương tiện tạo thêm hiệu quả.
Và vì nghệ thuật là phương tiện nên việc sử dụng nó có thể thành tội hay có thể thành phước tùy theo người sử dụng. Cũng giống như đồng tiền. Đồng tiền tự nó không có tội mà tùy chúng ta dùng vào việc gì để thành tội hay phước. Ví dụ, đồng tiền đó, người ta đem xài một cách phung phí thì thành tội; người đó hết sạch phước, ngay trong đời này mà đời sau cũng không có tiền. Còn người nào có tiền mà xài rất kỹ (không phải là hà tiện); khi cần giúp ai thì giúp, khi tiết kiệm từng đồng. Nghĩa là đồng tiền được xài rất hợp lý, người này có phước, phước cứ tăng dần lên.
Nghệ thuật cũng vậy. Nếu chúng ta sử dụng nghệ thuật cuốn hút sự chú ý, thích thú của người khác mà cuốn hút họ đi vào sự bận tâm, sự loạn động thì chúng ta mang tội rất nặng. Có một bài Kinh, Đức Phật cảnh cáo về vũ kịch. Có một ông vũ kịch sư đến trình bày với Phật về vở vũ kịch của mình, Ngài kết luận là ông sẽ đọa địa ngục. Ngài nói vũ kịch là một nghệ thuật, dùng nghệ thuật làm người ta bận tâm là mang tội. Ông vũ kịch sư hết hồn! Một vở kịch hoặc một bộ phim mà người xem không thăng hoa được tâm hồn, không thấy được đạo lý, chỉ có buồn thương, giận ghét, oán thù, kích động thương yêu cảm tính, kích động thù hận... tệ hơn là có những cảnh như “phim sex” thì người sáng tạo ra nó mang tội nặng vì làm động tâm người thưởng thức. Còn ngược lại, nếu chúng ta dùng nghệ thuật để làm cho con người tăng được đạo lý trong tâm hồn, thương yêu nhau hơn, tâm hồn an tĩnh hơn thì cực kỳ có phước.
Ở đây, vì không có đạo lý trong nghệ thuật, chúng ta thấy con người đã lạm dụng nghệ thuật để truyền bá sự đồi trụy. Có những bộ phim, những vở kịch, những bài nhạc, không gửi gắm được đạo lý nào. Thật đáng tiếc! Cho nên, chúng ta phải có trách nhiệm với nhau về nghệ thuật, vì nghệ thuật cuốn hút con người rất mạnh. Nếu chúng ta thờ ơ với nghệ thuật thì chúng ta đã đặt trong tay người xấu một thứ vũ khí lợi hại.
Ở điểm này, người trong đạo Phật và chư Tăng, Ni phải chú ý tới. Chúng ta không nên nghĩ rằng âm nhạc làm động tâm do Phật không cho hát mà bỏ hẳn mảng âm nhạc. Như vậy, những người thích âm nhạc họ đi đâu? Họ sẽ tìm đến những loại âm nhạc “rẻ tiền” thê lương, sướt mướt, thì khổ cả đời. (Cũng vậy, ngày xưa, Đức Phật không cho giữ tiền mà ngày nay chư Tăng, Ni cũng phải giữ tiền để sử dụng vào việc thiện, việc đạo. Điều này không tội lỗi. Chỉ khi nào giữ tiền trong sự tham lam, tích trữ thì mới có tội). Vậy, nếu chư Tăng, Ni, Phật tử đã biết nghệ thuật rất quan trọng đối với con người thì nên mạnh dạn sử dụng hoặc sáng tác nghệ thuật (âm nhạc, hội họa, phim ảnh, kịch) ca ngợi đạo lý để cuốn hút con người về với đạo lý, giáo dục đạo đức, xây dựng con người.
Người xưa có nói: “Văn dĩ tải đạo”, văn là để chở tải được đạo lý. Chữ “Văn” tượng trưng cho toàn bộ nghệ thuật. Nghệ thuật chân chính thì để tải đạo lý, không phải kích động tình cảm loạn động của con người. Đây là trách nhiệm của toàn thể Tăng, Ni, Phật tử đối với nghệ thuật. Còn nếu chúng ta thờ ơ với mảng nghệ thuật chân chính này thì nghệ thuật thế gian – loại nghệ thuật không chuyển tải được đạo lý sẽ cuốn hút con người đi về thế tục.
Nghệ thuật rất quan trọng nhưng trong đạo Phật ít được chú trọng. Nhạc về đạo còn thiếu nhiều, hội họa điêu khắc cũng thiếu. Chúng ta cất chùa cũng có chú ý đến nghệ thuật. Nhưng nghệ thuật cất chùa của đạo Phật so với nhà thờ của Thiên Chúa giáo thì không bằng. Những công trình kiến trúc của Thiên Chúa giáo rất đồ sộ, vĩ đại; những bức tượng điêu khắc bám trên tường, những hoa văn trên trụ cột rất tinh vi, trong khi đó kiến trúc của Phật giáo đơn giản hơn. Về cất chùa, có hai quan điểm. Có quan điểm cho rằng chùa phải cất thật đẹp, thật lớn để đánh dấu nền văn hóa thời đại. Cũng có quan điểm cất chùa đơn giản, chỉ là nơi để tu thôi. Quan điểm nào cũng hay. Tuy nhiên, cất chùa thật đẹp, thật lớn để đánh dấu văn hóa Phật giáo trong thời đại đó là cần thiết, nhưng mà không cần nhiều; chúng ta cần nhiều ngôi chùa đơn sơ để tu hơn.
Chúng ta có khả năng tạo ra nghệ thuật, tạo ra kỹ thuật, thì chúng ta phải có nhiệm vụ dùng nghệ thuật, kỹ thuật này để xây dựng tâm hồn con người được tốt đẹp hơn, đạo đức hơn, khoan dung hơn, nhân ái hơn và cuối cùng làm cho thế giới này ngày càng đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Ví dụ, giữa các tôn giáo phải có tinh thần khoan dung với nhau, không buộc người ta rời bỏ đạo này để theo đạo khác hay theo đạo của mình mà chỉ san sẻ thôi. Người Phật tử gặp người theo đạo khác hay đạo Thiên Chúa thì không nên kêu gọi người ta bỏ đạo Thiên Chúa theo đạo Phật. Nhưng trong sự tương quan tốt đẹp, chúng ta san sẻ giáo lý đạo Phật với người đạo Thiên Chúa giáo hay người đạo khác. Biết nhau thêm một chút để hiểu nhau thêm, gắn bó, tương quan tốt với nhau, khoan dung với nhau hơn. Tuy nhiên, có tôn giáo không khoan dung vì họ không chịu nghiên cứu một tôn giáo nào. Tín đồ bị cấm triệt để việc đọc sách báo của các tôn giáo khác. Nếu tôn giáo đó cho phép tín đồ nghiên cứu các tôn giáo khác, có lẽ họ sẽ khoan dung hơn. Sách báo tôn giáo cũng là phương tiện phổ biến văn hóa, nghệ thuật của các tôn giáo. Đó là phương tiện quan trọng để kêu gọi con người khoan dung với nhau hơn, thương yêu nhau hơn.
Chân – Thiện – Mỹ
Có nhiều người chủ trương: “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, đó là chủ trương người nghệ sĩ chỉ vì bản thân nghệ thuật mà sáng tác, tức là nghệ thuật chỉ đem đến cái hay, cái đẹp của thế tục, không cần phải phục vụ một đạo lý nào. Người nào quan niệm như vậy người đó chính là đối tượng mà Đức Phật nói là sẽ bị đọa địa ngục.
Có người chủ trương: “Nghệ thuật vị nhân sinh”, đó là chủ trương nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống xã hội, phải phục vụ con người. Nghĩa là nghệ thuật phải phục vụ cho đời sống con người, cho đạo lý con người, cho tình yêu nước, tình yêu nhân loại, cho sự vị tha, hy sinh... thì đó là nghệ thuật chân chính.
Cho nên, chúng ta không bao giờ được ngừng ngang ở cảm xúc nghệ thuật mà phải nâng cao hơn, biến nghệ thuật thành Đạo. Đây chính là nghệ thuật vì nhân sinh. Trong nghệ thuật phải có đạo lý, có triết lý, không phải chỉ có cái hay, cái đẹp. Nếu nghệ thuật chỉ dừng lại ở hay và đẹp thì một thời gian sau sẽ bị chán đối với người có trí tuệ. Người có trí tuệ khao khát hướng thượng, khao khát một cái gì đó cao hơn những điều tầm thường của cuộc sống. Những người không có trí tuệ, tâm hồn không cao cả, chỉ thích cái hay, cái đẹp là đủ rồi; chỉ thích ăn ngon, mặc đẹp, nhạc cuồng loạn là đủ. Đa phần người có tâm hồn sâu sắc, có trí tuệ thì mong mỏi nghệ thuật phải gắn trong đó đạo lý cao siêu hơn.
Nghệ thuật là một trong ba cái cao cả mà con người tìm kiếm, tôn trọng, đề cao. Ba điều đó là Chân – Thiện – Mỹ.
Chân là lẽ phải, là chân lý.
Thiện là điều mang lại lợi ích cho con người.
Mỹ là đẹp.
Ba điều này bình đẳng với nhau trong cuộc sống như ba chân vạc, làm cho văn minh con người vượt lên cao dần dần cho đến tột đỉnh. Chân lý là lẽ phải. Nếu chúng ta sống mà không tìm thấy lẽ phải hoặc chúng ta là người dối trá, chắc chắn chúng ta sẽ bị thoái xuống, đi lùi lại. Con người phải chân thật, sống phải có lẽ phải, tìm được đạo lý chân chính. Từ đạo lý, chúng ta sống phải đem lại lợi ích cho con người, đem lại hạnh phúc cho con người, đó là Thiện. Chân và Thiện phải được biểu hiện một cách sinh động, cụ thể và gợi cảm, tức là được biểu hiện rất đẹp, rất khéo léo, đó là Mỹ.
Chân - Thiện - Mỹ quyện lại với nhau thành một thể thống nhất, không nên tách rời ra. Ví dụ, chúng ta chủ trương tách chân lý ra: “Tôi là con người chân thật, tôi sống chân thật, thấy ai sai quấy là tôi nói thẳng, tôi đập vào mặt”. Như vậy, chúng ta chỉ có chân mà không có thiện, không có mỹ. Có thể điều mình phê bình người khác là đúng khi họ sai. Nhưng nói thẳng thắn quá làm người ta đau lòng vì lời lẽ chúng ta không đẹp, không hay, đó là lời nói không có cái mỹ. Còn khi thấy người ta sai, chúng ta muốn góp ý thẳng, góp ý đúng, thì phải nói như thế nào để đạt hiệu quả, và người ta chấp nhận lời góp ý để sửa sai. Tức là chúng ta phải dùng lời lẽ khéo léo, nói có ích lợi, nói những lời chân thật biểu hiện sự chân thành của chúng ta, chỉ mong người ta sống tốt hơn. Thì đó mới là Chân, là Thiện, là Mỹ. Ba điều này làm thành cái đẹp toàn vẹn cho cuộc sống văn minh của con người.
Chúng ta thấy cái mỹ là nghệ thuật cuốn hút con người, làm xúc động con người, thì cái chân, cái thiện cũng làm xúc động con người. Khi chúng ta nghe một bài nhạc hay (mỹ) làm chúng ta xúc động, rung động, thì Chân và Thiện cũng như vậy. Ví dụ, chúng ta nghe có một cụ bà trong lúc khó khăn mà vì lợi ích chung bà đã hiến hết tám sào đất của bà để cho Xã nhà cất trường học. Chúng ta có xúc động không? Nghe những chuyện như vậy mà chúng ta trơ trơ thì... quả thực, «trái tim có vấn đề». Một cụ già không giàu, đất đai không nhiều, nhìn thấy đám trẻ mỗi ngày phải lặn lội đi học ở nơi xa nên hiến đất cất trường học. Nghĩa cử đó, cái thiện đó làm cho chúng ta xúc động. Như vậy, Thiện cũng cuốn hút con người, làm rung động con người. Chân lý cũng vậy. Ví dụ, chúng ta nghe quý Tăng, Ni trình bày đạo lý. Quý Thầy nói đúng chân lý, đúng lẽ phải, đúng “tim đen” của mỗi người, ai cũng thích. Cái thích đó cũng là sự cuốn hút của lẽ phải, của chân lý.
Chân lý, lẽ phải trong cuộc đời này cuốn hút con người; việc từ thiện trong cuộc đời này cuốn hút con người; cái đẹp trong cuộc đời này cũng cuốn hút con người. Cả ba đều có giá trị như nhau, chúng ta không được chấp riêng biệt điều nào. Nếu nói tới chân lý, lẽ phải thì chúng ta phải xem chân lý đó, lẽ phải đó có đem lại điều thiện không và chân lý, lẽ phải đó có được trình bày một cách khéo léo, đẹp đẽ không. Nếu chúng ta nói tới việc từ thiện thì chúng ta xem việc từ thiện đó có hợp với đạo lý không. Và việc từ thiện đó có được làm một cách khéo léo không. Nghĩa là thiện phải có chân, có mỹ ở trong.
Thế nào là thiện đúng đạo lý và không đúng đạo lý? Ví dụ, chúng ta cho gạo, cho tiền một người ăn xin là làm việc thiện. Nhưng chúng ta phải suy nghĩ đằng sau sự xin ăn của người này là điều gì. Thứ nhất, có thể người này biến việc ăn xin thành nghề ăn xin chuyên nghiệp. Thứ hai, có thể họ dùng tiền xin được để về nhà đánh bài, cho vay hay cất đó để làm giàu (Có những đứa bé đi xin bị sự kiểm soát của một tay anh chị, xin được đồng nào về nộp đồng đó, không nộp đủ thì bị đánh đập). Đây là làm việc thiện mà đằng sau lại sai đạo lý. Hoặc chúng ta giúp ai điều gì có làm một cách tốt đẹp không? Ví dụ, chúng ta gặp một bà lão lỡ đường, bà không phải xin ăn chuyên nghiệp, bà cần sự giúp đỡ của chúng ta. Chúng ta giúp bà ba chục, năm chục ngàn đồng để bà về xe. Cách đưa tiền của chúng ta có trân trọng không? Chúng ta có nói những lời lẽ lễ độ không? Tức là trong thiện có mỹ không? Và có chân không? Cũng vậy, trong chân phải có thiện và mỹ. Trong cái mỹ cũng phải có chân và thiện.
Nói đến nghệ thuật là nói đến Chân – Thiện – Mỹ. Do vậy, nghệ thuật phải có đạo lý chân chính, biểu hiện vẻ đẹp của cuộc sống, chuyển hóa được tâm hồn con người ngày càng trở nên tốt đẹp hơn.
Người Phật tử đối với nghệ thuật
Cuộc đời của mỗi người không dài chỉ mấy mươi năm ngắn ngủi. Trong ba mươi năm đầu, chúng ta bị bản năng lôi cuốn trong việc học hành, chuyện tình cảm riêng tư, những vui chơi sôi nổi của tuổi trẻ... vì thế cuộc sống của chúng ta ít có ý nghĩa. Trừ những gia đình biết đạo sớm thì những đứa trẻ được xây dựng từ nhỏ, có thể chúng sống có ý nghĩa sớm, còn đa phần chúng ta bị bản năng cuốn hút nên trong ba mươi năm đầu chúng ta sống không có ý nghĩa lắm.
Ba mươi năm sau chúng ta bắt đầu biết được đạo lý, từ từ điều chỉnh cuộc sống để vượt qua những nông nổi, những cảm xúc, để làm nhiều việc có lợi cho đời. Nhìn lại đời sống của chúng ta, thời gian mà chúng ta sống một cuộc đời tốt đẹp, chân chính và làm lợi ích cho mọi người không bao nhiêu. Cho nên, ngày hôm nay biết đạo rồi chúng ta hãy dùng hết phần đời còn lại, chúng ta xây dựng tình thân ái, giúp nhau thăng tiến tinh thần và giúp đỡ nhau về vật chất. Đó là cái Thiện. Nghệ thuật phải nhắm vào điều đó. Chúng ta kêu gọi những nghệ sĩ hoặc người có chút “máu” nghệ sĩ hãy chở đạo lý và điều khiển con thuyền nghệ thuật; đừng để nghệ thuật chỉ có cảm xúc cô đơn mà không có Chân, không có Thiện, nhất là đối với chúng ta - những nghệ sĩ Phật tử.
Một điểm mà chúng ta cần nhớ là mỗi khi đọc hay chiêm ngưỡng một tác phẩm văn học, nghệ thuật, chúng ta không chỉ đơn thuần nhận xét, đánh giá hay, dở, đẹp, xấu mà còn xem đạo lý, điều thiện nơi tác phẩm nghệ thuật đó có hay không. Ví dụ, nghe một bài nhạc, ngoài âm hưởng, tiết tấu chúng ta còn phải đánh giá thêm tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của tác phẩm đó, hay đó chỉ đơn giản là bài nhạc tình não nề, rên rỉ, gào khóc... Báo chí vẫn phê bình có những bài nhạc như thương vay khóc mướn, ai kêu gào chừng nào thì nổi tiếng chừng nấy. Có nhiều bài nhạc mới bây giờ về khía cạnh nghệ thuật rất cạn cợt, chuyển tải nội dung quá tầm thường, vậy mà vẫn có nhiều người ưa thích. Cho nên, người Phật tử chúng ta phải tỉnh táo điều đó, khi tiếp nhận nghệ thuật chúng ta phải đánh giá được đạo lý chuyển tải trong đó nữa.
Hoặc xem một bức tranh, chúng ta phải đánh giá được người họa sĩ, tác giả của những bức tranh này có gửi gắm đạo lý vào đó hay không, hay chỉ đơn thuần là trình bày một khả năng hội họa. Những họa sĩ phương Tây vẽ một bức tranh như ảnh thật, còn hơn một bức tranh chụp, rất sống động. Nhưng chỉ có vậy! Chỉ có vẻ đẹp, sự tài hoa mà không có đạo lý ở trong thì thật là đáng tiếc!
Hoặc xem một bộ phim, chúng ta phải đánh giá bộ phim đó có tính giáo dục hay không. Hay các nhà làm phim chỉ dựng lên bộ phim có những cốt truyện và những kỹ thuật lôi cuốn, hấp dẫn người xem. Ví dụ, gần đây trên ti vi có chiếu bộ phim “Nếu như yêu” của Hàn Quốc. Vì mâu thuẫn tôn giáo nên cuộc hôn nhân của con trẻ gặp trục trặc. Trong phim, họ trình bày đạo Phật như là một cái gì thuộc về tín ngưỡng hơi mê tín, chỉ thuộc về người già mà giới trẻ không chấp nhận. Qua bộ phim này, chúng ta hiểu đạo Phật ở Hàn Quốc đang suy thoái, không phát triển, vẫn còn đi theo lối cổ nên không hấp dẫn được giới trí thức trẻ ở đó. Chúng ta thấy đạo Phật ở Việt Nam tiến bộ hơn. Ở những pháp hội giảng, ngoài những cụ già vững vàng, chững chạc còn có rất nhiều người trẻ đến nghe thuyết pháp, chứng tỏ đạo Phật ở Việt Nam phát triển theo đường lối mới.
Nguyên nhân nào mà người nghệ sĩ tạo được một tác phẩm hay? - Cái gốc là ở lòng thương yêu con người; trăn trở với cuộc sống; khắc khoải về những điều chưa đẹp, chưa tốt trong cuộc đời này. Chính những trăn trở, băn khoăn và lòng thương yêu đó sẽ thúc đẩy người nghệ sĩ tạo nên những tác phẩm hay, những tác phẩm lớn để đời. Còn nếu người nghệ sĩ không có tình yêu lớn với con người, nhìn cuộc sống bừa bãi, nhìn thấy con người chia rẽ, ích kỷ, oán thù như là “sói” với nhau mà lòng không cảm xúc, không băn khoăn thì chắc chắn người đó không có những tác phẩm hay.
Vì thế chúng ta dù là Tăng, Ni hay Phật tử nếu muốn sau này có những tác phẩm xuất sắc để lại cho đời, thì hôm nay, trong trái tim mình chứa chan niềm thương yêu con người; luôn luôn làm chúng ta trăn trở, thôi thúc chúng ta làm cái gì đó cho con người tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Đến một lúc nào đó trái tim bật lên tiếng nói, thì tiếng nói đó sẽ là một tác phẩm lớn cho nhân loại. Ví dụ, chúng ta biết làm thơ, cũng chỉ là những câu thơ bình thường như:
“Chuồn chuồn bay lượn bờ ao
Nước trong cá lội thấy nao nao lòng”.
Nhưng có một lúc nào đó tình thương yêu con người dâng trào; thương con người chia rẽ, hận thù nhau; thương nỗi cô đơn bất hạnh của trẻ thơ vô tội... chúng ta sẽ làm được những bài thơ hay, viết được những bài văn tuyệt tác mà ai đọc cũng cảm động. Cho nên cái gốc, cái hay cái đẹp của nghệ thuật là do sự cảm xúc tột độ, sự dồn nén tột độ, sự sáng tạo tột độ. Sự sáng tạo nghệ thuật xuất phát từ đạo đức, từ cái tâm (trái tim) lớn chứa chan niềm thương yêu con người. Đó là Chân – Thiện – Mỹ. Đó là nghệ thuật chân chính.
NGHỆ THUẬT LÀ MỘT YẾU TỐ TẠO THÀNH VĂN HÓA TOÀN XÃ HỘI
Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Khía cạnh giá trị đó là nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, âm nhạc, ẩm thực, phục trang... Nghệ thuật là một khía cạnh để đánh giá nền văn hóa của một dân tộc, một xã hội, một đất nước. Qua đó, cũng đánh giá được đạo lý của dân tộc đó. Dân tộc đó sống có hiền lành không, có tương trợ nhau không? Dân tộc đó có thông minh, tiến bộ không? Nghĩa là dân tộc đó có đề cao Chân – Thiện – Mỹ không?
Ở đây, chúng ta nói về mặc, tức là trang phục. Trang phục đã trở thành một loại hình nghệ thuật, một ngành công nghiệp lớn: Ngành công nghiệp thời trang. Người mẫu trình diễn thời trang có thù lao rất cao, đặc biệt là ở các nước phương Tây. Việc làm đẹp thêm là khuynh hướng của nữ giới, điều này do nội tiết tố không thể giải thích được. Nếu nam giới chú ý đến tài năng của mình có giỏi hay không, có bươn chải với cuộc sống hay không, thì nữ giới, đa phần chú ý đến sắc vóc của mình. Đó như là một khuynh hướng tự nhiên. Người ta nói trai tài, gái sắc là vậy.
Tuy nhiên, người ta đã lạm dụng và kích thích khuynh hướng đó ở người phụ nữ mạnh lên thành một nhu cầu quá đáng đến nỗi mất quân bình với những giá trị tinh thần. Ông bà chúng ta nói: “Cái nết đánh chết cái đẹp”, chữ “Nết” có nghĩa là đạo đức, là đức hạnh của người phụ nữ; chữ “đánh chết” có nghĩa là cái đẹp tinh thần (đức hạnh) có giá trị cao hơn cái đẹp bên ngoài (sắc vóc). Nhưng ngành công nghiệp thời trang đẩy nhu cầu mặc đẹp lên tột độ. Và người phụ nữ, nhất là giới trẻ bị kích thích quá độ về nhu cầu làm đẹp: ăn mặc đẹp, trang điểm đẹp (có những người trang điểm quá đậm thành ra... không đẹp).
Có những loại thời trang phương Tây mà người phương Đông không thể bắt chước. Do hai nền văn hóa khác nhau, nếu chúng ta vô tình rập khuôn theo thời trang phương Tây là chúng ta quên đi cội nguồn của mình. Người Á Đông đẹp ở tâm hồn và còn đẹp ở sự kín đáo. Áo dài Việt Nam được cả thế giới ca ngợi vì vừa thướt tha vừa kín đáo, toát lên vẻ đẹp thanh cao của người phụ nữ. Nhưng áo dài truyền thống đã được cách điệu nên vẻ kín đáo bị mất đi. Người ta kể là có vài phụ nữ Việt Nam, mặc áo dài, đi đến ngôi đền ở Thái Lan, người giữ đền không cho họ vào vì họ không được kín đáo (!). Chúng ta chạy theo phương Tây mà làm mất đi vẻ đẹp kín đáo đáng trân trọng của phụ nữ Việt Nam. Thật đáng tiếc!
Mặc dù bên phương Tây họ nói rằng: Cơ thể người nữ là một tác phẩm nghệ thuật mà tạo hóa đã ban cho con người. Cho nên, mới có những bức tranh, những bức tượng điêu khắc người nữ khỏa thân, và những bộ thời trang quá... tiết kiệm vải. Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ một điều là sự hở hang sẽ kích dục. Và đạo lý ở đây là người nữ không được theo quan niệm của người phương Tây là ăn mặc hở hang trước bàn dân thiên hạ. Nhìn cách ăn mặc, cách trang điểm của một phụ nữ, chúng ta có thể đoán biết họ có đoan chính hay không, có mời gọi người khác giới hay không. Đây là tâm lý. Đạo Phật có lý do để khắt khe đối với điều tế nhị này.
Cách ăn mặc hở hang của người phương Tây là một nguyên nhân làm cho người Hồi giáo thù ghét phương Tây, cho rằng phương Tây sa đọa. Người Việt Nam cũng đang dần dần bước vào vực thẳm của phương Tây. Có một tầng lớp phụ nữ đang làm giảm đi, đang đánh mất đi cái vẻ đẹp truyền thống của phụ nữ Việt Nam. Điều này khiến cho văn hóa Việt Nam đang yếu dần, xuống dần.
Người ta kể chuyện có hai xã giáp ranh: Xã A có tệ nạn mại dâm, có những hang ổ mại dâm; xã B tuyệt đối không có. Tại sao lạ vậy? Vì văn hóa ở xã B mạnh hơn. Có cô gái nào muốn về đó làm nghề thì cả làng họ tìm cách ngăn chặn lại, nên không dám, phải đi ngay. Nhưng cô gái qua xã A làm gì cũng được; tức là ở xã A, ai muốn làm gì thì làm, không ai nói tới ai; họ không có trách nhiệm với cộng đồng. Từ ngàn xưa, dân tộc ta có tinh thần cộng đồng sâu sắc; người lớn có trách nhiệm với trẻ con dù không bà con quen biết; đứa trẻ có hư thì ai cũng rầy la được. Do vậy mà văn hóa xã hội của dân tộc mạnh lên, phát triển. Nhưng ngày nay, gặp một đứa trẻ hư, ăn nói vô lễ, ăn mặc không kín đáo người ta để mặc nó tự do... Chúng ta cần chú ý giáo dục con trẻ cách ăn mặc thể hiện một tâm hồn thanh cao, trong sáng. Tâm hồn đẹp biểu hiện ra bên ngoài qua lời ăn, tiếng nói, cách trang phục, trang điểm. Đây là một khía cạnh góp phần tạo nên hạnh phúc mỗi con người, tạo thành văn hóa toàn xã hội.
THIỀN ĐỊNH LÀ NGHỆ THUẬT SIÊU VIỆT
Thiền định là một nghệ thuật. Chúng ta nói nghệ thuật là phải có cái Đẹp. Thiền định có gì Đẹp không? Ngồi yên lặng một chỗ thì có gì là đẹp? Nhưng tại sao gọi là nghệ thuật? Chúng ta đâu ngờ rằng trong thiền định có đủ ba điều Chân- Thiện- Mỹ. Chúng ta hãy tưởng tượng hình ảnh một người đang Thiền định. Dưới ánh nắng ban mai của buổi bình minh, nơi một cánh rừng, qua một dòng suối, trên một mỏm đá, một vị sư ngồi kiết già bất động. Hình ảnh đó đẹp không thể tưởng tượng. Đây là một nghệ thuật siêu việt hơn mọi nghệ thuật khác.
Hoặc ví dụ, chúng ta ngồi uống trà với nhiều người, trong đó có một người ăn nói lưu loát, hoạt bát, hết bắt chuyện với người này đến người kia rất vui. Chúng ta thích. Nhưng trong đó cũng có một người ngồi im lặng, trầm tĩnh, nghe và chỉ mỉm cười. Trầm tĩnh, hoan hỷ, thái độ không ngăn cách với mọi người nhưng vẫn lặng im, ít nói. Một vẻ đẹp của người khéo léo, hoạt bát. Một vẻ đẹp của người trầm tĩnh, lặng im lại là một điều tuyệt vời. Một người im lặng, trầm tĩnh có thể cuốn hút chúng ta. Một cục đá vô tâm trầm lặng không đẹp nhưng một người trầm lặng thì rất đẹp. Người có tâm hồn sâu lắng, sâu sắc một chút, có trí tuệ mới chiêm ngưỡng được cái đẹp của sự trầm lặng nơi một người, mà người cạn cợt thường không biết chiêm ngưỡng vẻ đẹp đó.
Sự yên tĩnh sâu thẳm trong thế ngồi, trong tâm hồn và nơi phong cách của người tu tập Thiền định là cái Đẹp, là một vẻ đẹp. Cái Đẹp của người ngồi Thiền biểu lộ nhiều mặt:
Dễ thấy nhất là trong tư thế ngồi kiết già, nhất là ngồi nơi yên tĩnh, vắng vẻ, nơi có suối chảy, mây bay.
Thứ hai, cái Đẹp của người ngồi Thiền thể hiện trong phong cách. Người có tu tập Thiền định, trong đời sống hàng ngày, từ lời nói, ánh mắt, từ cái đưa tay cất chân đều trầm tĩnh, thong dong. Ở đời, chúng ta vẫn thường tiếp xúc với rất nhiều người. Có người nông nổi, vụt chạc, hấp tấp,... chúng ta thấy rất bình thường, tầm thường. Nhưng cũng có khi chúng ta gặp người trầm tĩnh, từ cái nhìn, cái đưa tay cho tới lời nói đều nhẹ nhàng, điềm đạm, thong dong... Thật tuyệt vời!
Đức Phật là biểu tượng của điều tuyệt vời đó. Ngài bất động trong từng giây từng phút, từng thớ thịt, từng ngón tay, ngón chân. Nghĩa là khi Ngài ngồi yên lặng trước hội chúng để nói chuyện, không một cử chỉ thừa. Hoặc Ngài đi trên đường, từng bước, từng bước thong dong nhẹ nhàng, đi mà như không đi, Ngài đang đứng mà ngồi xuống hoặc đang ngồi mà đứng lên đều đẹp.
Người có tu Thiền định, dù trong phòng vắng, không ai thấy họ nhưng họ nằm, ngồi đều giữ tư thế rất đẹp. Điều đó rất tự nhiên như trí tuệ của họ buộc họ phải như vậy. Họ tự kiểm soát chính mình. Nằm trong phòng một mình, không bao giờ dang tay dang chân một cách bừa bãi, hoặc ngồi làm việc trong phòng họ không hề có cử chỉ thừa. Cái Đẹp toát ra từ phong cách trầm tĩnh, trong sự kiểm soát dáng vẻ của họ. Cho nên, người mà tâm thanh tịnh thâm sâu, toát ra bên ngoài mọi cử chỉ đều đẹp và chỉ người có trí tuệ mới tự đánh giá được cử chỉ của họ.
Người nghệ sĩ đóng kịch, đóng phim hay người mẫu thời trang, phải học về nghệ thuật tạo dáng, học rất kỹ, được đạo diễn chỉ huy. Người tu tập Thiền định (không cần học tạo dáng) do sự kiểm soát nội tâm cũng tạo cho mình dáng rất đẹp. Nói Thiền định là một nghệ thuật là vậy.
Thứ ba, trong Thiền định, hành giả phải đối diện với các vấn đề của tâm thức và phải giải quyết vấn đề đó một cách khéo léo, sáng tạo. Tuy người thầy đã dạy con đường phải nhiếp tâm rồi, nhưng khi thực sự bước vào tu tập chúng ta vẫn thấy có trục trặc, vì tâm thức của mình với thầy không giống nhau. Trong khi tu tập, vừa áp dụng lời thầy dạy, vừa phải khéo léo sáng tạo để đạt được thiền định nội tâm. Chính cái khéo léo, sáng tạo, đối diện với những vấn đề trong tâm thức là cả một nghệ thuật. Đó là những phương pháp rất khéo léo nên đã biến thành nghệ thuật; đồng thời đó là cả một đạo lý lớn trong Thiền định. Đạo lý lớn đó là gì? Đạo lý về vô ngã, đạo lý về giải thoát, đạo lý về từ bi, đạo lý về sự vượt qua tham sân si, đạo lý về sự tăng trưởng đạo đức. Vì vậy, trong Thiền định tập hợp được cả Chân – Thiện – Mỹ.
Một điều nữa là khi hành giả từng bước vào định thì niềm hạnh phúc, an lạc mở ra dần dần. Cho nên, Thiền định là một hạnh phúc lớn mà không một hạnh phúc nào trên thế giới có thể so sánh được. Dù người ta có bao nhiêu hạnh phúc, nhưng cuối cùng không có hạnh phúc nào bằng hạnh phúc trong Thiền định. Từ Thiền định chúng ta có hạnh phúc, có an lạc, có trí tuệ, có từ bi phủ trùm lên tất cả mọi loài. Vì vậy, Thiền định cũng là một nghệ thuật, nghệ thuật siêu việt hơn cả các loại nghệ thuật khác.
Nghệ thuật biểu hiện Chân – Thiện – Mỹ của cuộc sống. Đây là vấn đề lớn của nhân loại mà chúng ta chỉ bàn đến một vài điểm chính yếu để chúng ta nhắc với nhau rằng không thể thiếu nghệ thuật chân chính trong cuộc sống, vì trí tuệ con người luôn luôn hướng tới Chân – Thiện – Mỹ.
Cái phước của con người khiến cho con người có thời gian để có thể tìm ra Chân – Thiện – Mỹ. Tuy nhiên, nghệ thuật là con dao hai lưỡi. Nếu chúng ta dùng nghệ thuật để phổ biến, để truyền bá cái xấu thì rất tội lỗi. Còn nếu chúng ta dùng nghệ thuật để truyền bá đạo đức và những điều tốt đẹp cho con người thì công đức vô cùng lớn.
Người Phật tử chúng ta, dù là nghệ sĩ hay không thể là nghệ sĩ nhưng cũng có thể biết chiêm ngưỡng nghệ thuật. Trong sự chiêm ngưỡng đó, chúng ta biết đánh giá và biết chọn lọc nghệ thuật nào làm thăng hoa tâm hồn con người, mang lại lợi ích cho mình và cho gia đình. Cuối cùng, thiền định là một nghệ thuật siêu việt, vĩ đại nhất.
Con người ngồi thiền sẽ thương nhau
Quên được hận thù, hết thương đau
Xin tìm về thiền như mái ấm
Thanh bình cội nguồn cõi tâm linh...


