ĐỊNH NGHĨA
Chia rẽ là tách rời ra, làm cho trái ngược nhau, không chung sức, không đồng lòng với người khác để cùng làm nên một việc gì đó.
Trái với chia rẽ là đoàn kết thành một khối thống nhất, cùng làm việc vì mục đích chung.
VÀI MẨU CHUYỆN LIÊN QUAN ĐẾN CHIA RẼ VÀ ĐOÀN KẾT
Có một câu nói so sánh giữa người Việt Nam và người Nhật.
“Một người Nhật thì thua một người Việt Nam, hai người Nhật thì bằng hai người Việt Nam, còn ba người Nhật thì hơn ba người Việt Nam.»
Không biết vì lẽ gì mà ai đó lại lấy người Việt Nam để so sánh với người Nhật. Không biết có phải vì lý do lịch sử là đã có thời gian người Nhật xâm chiếm nước ta, hay đây chỉ là tự ái dân tộc của người xưa khi thấy người Nhật quá tiến bộ về khoa học kỹ thuật, về kinh tế mà Việt Nam vẫn còn tụt hậu.
Câu này nói lên điều gì? Có thể nói về khả năng và tính cần cù thì người Việt Nam hơn hẳn người Nhật. Nhưng nếu tập hợp càng đông lên dần, nếu đến ba người trở lên thì năng lực, sức mạnh của người Việt Nam không bằng sức mạnh tổng hợp của người Nhật, huống chi chín mươi triệu người Việt Nam thì chắc chắn sẽ thua xa dân Nhật. Nguyên nhân thua kém đó do đâu? Phải chăng tính cộng đồng, sự đoàn kết của chúng ta không bằng người Nhật.
Nếu không có một công việc chung thì không có chia rẽ. Ví dụ trong sáng tác nghệ thuật, người ta chỉ có một mình. Người họa sĩ chỉ có một mình với bức tranh đang sáng tạo; người viết văn chỉ một mình với ý tưởng đang tuôn trào; hoặc người nhạc sĩ khi tìm dòng nhạc để sáng tác thì họ cần ở một mình nơi vắng vẻ... những hành vi này không bị xem là chia rẽ mà lại là điều cần thiết, vì công việc của họ không cần phải chung sức với ai. Còn hầu như mọi lĩnh vực đều cần có sự đóng góp chung mới đạt hiệu quả cao. Có những công việc phải cần đến nhiều người chung sức với nhau nhưng những người trong đó lại chia ra mỗi người riêng một ý, mỗi người riêng một việc, không giúp nhau để cùng tạo nên thành công chung. Đó gọi là chia rẽ, và sự nguy hiểm của chia rẽ là làm cho công việc chung yếu đi.
Một việc chỉ mang yếu tố chia rẽ khi đó là việc chung, mang lại lợi ích chung nhưng vì lý do gì đó, có thể do bất đồng ý kiến, quan điểm mà người ta đã không thể kết hợp, hỗ trợ nhau cùng làm. Ví dụ vài người bạn đang có ý định hùn vốn kinh doanh nhưng bỗng họ không chung vốn nữa, mỗi người tách ra làm riêng. Chưa biết việc tách riêng này là đúng hay sai, nhưng dù sao đó vẫn là dấu hiệu của sự chia rẽ.
Nhìn lại lịch sử Việt Nam thời loạn mười hai sứ quân, dù đều có lý tưởng lo cho sự an nguy của đất nước nhưng mỗi sứ quân lại cát cứ một vùng, lại theo đuổi một con đường, mạnh ai nấy làm nên đã gây ra một giai đoạn nội chiến loạn lạc trong lòng đất nước. Thấy được mối nguy cơ từ sự chia rẽ này, Đinh Bộ Lĩnh đã kiên quyết dẹp hết mười hai sứ quân, thống nhất đất nước, lập nên nhà Đinh, lên ngôi vua hiệu là Đinh Tiên Hoàng.
Hoặc vào thời Pháp thuộc, thực dân Pháp cai trị nước ta bằng chính sách chia rẽ rất thâm độc. Họ truyền đạo Thiên Chúa (từ xưa, dân tộc ta thờ cúng tổ tiên và theo đạo Phật) và chia lãnh thổ làm ba miền: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ nhằm gieo tư tưởng kỳ thị tôn giáo, kỳ thị địa phương trong nhân dân. Do đó Phan Đình Phùng, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thiện Thuật... đều là những anh hùng muốn cứu nước nhưng vẫn không tập hợp được sức mạnh đoàn kết toàn dân, vẫn phải thua trước súng đạn của Pháp. Tuy họ làm việc chung nhưng cách làm lại riêng rẽ.
Rồi có trường hợp là việc riêng, vì quyền lợi riêng mà chúng ta cũng chia rẽ. Ví dụ người Việt ta có quan niệm là cơm ai nấy ăn, nhà ai nấy ở, đèn nhà ai nấy sáng. Đó là cuộc sống riêng của mỗi người, mỗi gia đình. Nhưng nếu ta cứ chấp cứng vào đó, dần dần sự chia rẽ cũng thành hình. Hãy nhìn lại đời sống ở nông thôn, trong một làng quê mà sự giàu nghèo không phân hóa nhiều lắm, người dân sống đơn giản đạm bạc, gắn bó với nhau. Mỗi khi gia đình nào có việc hữu sự như đám cưới, đám giỗ, đám tang, hoặc cất nhà, xây bếp... là cả làng lại phụ giúp, tình làng nghĩa xóm thật ấm áp. Ở phố thị xa hoa dù dư dả về vật chất nhưng con người lại thiếu thốn tình cảm này, người ta phải dè dặt, đề phòng, thủ thế với nhau hơn. Nếu chúng ta xem nhẹ, bỏ qua những cái chung rất ý nghĩa, rất đẹp như thế thì đó vẫn là một tội lỗi.
Trong đạo Phật cũng có những biểu hiện chia rẽ. Thi thoảng xuất hiện một vị cao tăng có duyên lớn đối với chúng sanh nên đã quy tập, thu hút được mọi người thành một khối. Rồi khi vị này ra đi, những người dưới dần dần phân hóa, chia rẽ tan nát ra.
Vào thời Phật còn tại thế, uy đức vời vợi, trí tuệ siêu tuyệt từ nơi Người đã làm cho chư Tăng và hàng ngũ Phật tử cùng quy phục, nép mình dưới sự hướng dẫn của Người. Những tinh xá nơi Đức Phật ở thường có vài trăm vị tỳ kheo cùng trú ngụ, vì thế Ngài phải chọn những thành thị phồn thịnh, giàu có để ở thì dân chúng mới đủ sức cúng dường. Chỉ thỉnh thoảng khi đi du hóa ở những vùng nghèo, Đức Phật mới hạn chế số tỳ kheo cùng đi theo. Các tỳ kheo ở khắp nơi, không phải lúc nào cũng tập trung một chỗ. Dù vậy các vị vẫn đoàn kết với nhau, vẫn thấy mình và huynh đệ là một, vì tất cả cùng tôn thờ Đức Phật là đấng Thế Tôn duy nhất. Tăng đoàn lúc đó thật đẹp và lý tưởng. Nhưng rồi khi Đức Phật nhập diệt, chư Tăng đã bị phân hóa về tư tưởng, không còn ai đủ sức thống nhất Tăng đoàn.
Ví dụ, sau khi Đức Phật nhập diệt một thời gian, chư tỳ kheo cử ngài Đại Ca Diếp lãnh đạo để tiến hành cuộc kết tập kinh điển. Nhưng ngay trong lần kết tập đã xuất hiện sự phân hóa. Ngài Đại Ca Diếp chủ trương giữ lại tất cả những quy luật, nề nếp sinh hoạt như khi Đức Phật còn tại thế. Trong khi đó, ngài Phú Lâu Na cũng là một vị đại A la hán, một vị đệ tử thượng thủ của Phật lại nhấn mạnh Đức Thế Tôn đã dạy rằng có những điều có thể nới lỏng, linh động được. Do bất đồng quan điểm với ngài Đại Ca Diếp, ngài Phú Lâu Na đã từ giã ra đi. Rồi nhiều vị tỳ kheo đồng quan điểm với ngài Phú Lâu Na cũng rời đi. Tăng đoàn lúc đó đã tách ra là vì thế. Trên thực tế, chúng ta thấy sự nới lỏng những quy luật, nề nếp sinh hoạt là cần thiết. Việc giữ nguyên những quy luật, lề lối như thời Phật tại thế có thể bất lợi, không thích hợp cho việc tu tập và truyền bá chánh Pháp trong một thế giới hiện đại đa dạng sắc tộc đang tìm về đạo Phật để tu tập.
Sau này chúng ta nghe đạo Phật đã phân tách ra thành Đại chúng bộ và Thượng tọa bộ cũng là manh nha từ lúc đó. Rồi từ Đại chúng bộ và Thượng tọa bộ lại chia thành hai mươi bộ phái. Cho đến ngày hôm nay Phật giáo thế giới đã xuất hiện rất nhiều tông phái khác nhau. Có thể do mỗi địa phương có sự tu tập đặc thù nên cần có một tông phái thích ứng. Hoặc do có một vị Tổ ban đầu có uy đức lớn, thu hút đông đảo đệ tử rồi cũng tự nhiên dần dần hình thành tông phái, mặc dù đường lối tu tập thì không khác biệt so với các ngôi chùa khác.
Chính vì những lý do như vậy nên ngày nay đạo Phật không còn là đạo Phật thống nhất không chia tông phái như thuở ban đầu nữa. Tại Việt Nam, chúng ta đến một ngôi chùa là Bắc tông, đến một Tịnh xá khác thì thuộc hệ phái Khất sĩ hay Nam tông... Rồi Phật giáo ở các quốc gia khác cũng có hệ phái riêng của họ. Sang Tây Tạng, Mật tông cũng chia nhiều hệ phái nhỏ hơn. Đài Loan cũng xuất hiện nhiều hệ phái mới. Thậm chí có những cư sĩ cũng đứng ra thành lập một tông phái hay một tôn giáo khác lạ, dù giáo lý thì vay mượn từ đạo Phật.
Vì thế, mặc dù có một số lý do khách quan cho sự xuất hiện của tông phái nhưng cũng có lý do chủ quan là tâm con người. Tâm lý chung ai cũng muốn lập ra cái mới để mình được ở vị trí đứng đầu. Đó là mầm mống của rất nhiều sự chia rẽ trong cuộc đời, kể cả trong đạo.
Cho nên, Phật giáo mới có những việc đáng buồn như Bắc tông chỉ thích Bắc tông, không thích Nam tông hay Khất sĩ hoặc ngược lại. Chia tông phái là một căn “bệnh” nan y trong đạo Phật, bắt nguồn từ “bệnh” thích chia rẽ của con người. Đó là chưa kể đến sự kỳ thị địa phương. Nhiều người thường hay hỏi và phân biệt quý Thầy là người miền nào, Huế hay Bình Định, miền Nam hay miền Bắc, miền Trung... trong khi giáo lý đạo Phật không có sự phân biệt. Lời dạy của Đức Phật: «Không có giai cấp khi máu cùng đỏ, không có giai cấp khi nước mắt cùng mặn» vẫn còn đấy, nhưng con người đã quay lưng lãng quên.
Chúng ta biết rằng sự chia tông, rẽ phái đã xuất hiện sau khi Phật nhập Niết Bàn. Do điều kiện địa lý (Nam tông, Bắc tông) và do phân chia theo đạo lý, kinh điển (Nguyên thủy, Đại thừa). Các quốc gia Nam tông (Tích Lan, Cam pu chia, Thái lan, Mayanmar...) theo Nguyên thủy, kinh điển viết bằng Nam phạn Pali. Các nước Bắc tông (Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng, Népal, Việt Nam) theo Đại thừa, kinh điển viết bằng Bắc phạn Sanskrit.
Tư tưởng phân biệt, chia rẽ từ tâm con người mà ra. Nhiều vị thầy đã dạy đệ tử phải bảo vệ hệ phái, phải phát huy hệ phái của mình mà không ngờ rằng ngay đó chính mình đã quên mất lời Phật dạy. Hoặc ngay cả pháp môn tu hành cũng làm chúng ta chia rẽ. Người tu Thiền, tu theo Tịnh độ hay Mật tông vẫn còn có sự phân biệt, còn thấy khó chịu với nhau.
Người đệ tử Phật cần có quan điểm vượt lên trên pháp môn. Nghĩa là biết rằng pháp môn chỉ là ngọn mà cái gốc là nằm ở đạo đức, ở lòng từ bi.
Đi khắp nơi chúng ta sẽ thấy người thì muốn tu Thiền, người thích Tịnh Độ, người say mê Mật tông... Đừng vì thế mà kỳ thị. Chừng nào còn thờ kính chung một Đức Phật, còn có chung một cái gốc là lòng từ bi thương yêu tất cả chúng sanh, cùng hướng về vô ngã, diệt trừ bản ngã thì chúng ta còn là đệ tử Phật.
Nếu vì pháp môn mà chia rẽ thì thật là sai lầm! Chúng ta đừng để Phật giáo bị phân hóa vì cạnh tranh tín đồ, tranh giành ảnh hưởng tông phái. Hãy nhớ rằng điều quan trọng là đóng góp, không phải cạnh tranh.
Ví dụ khi đến với các Chùa theo Tịnh Độ đang tu hành ổn định, nếu trí tuệ sáng lên, ta chợt thấy bên trong còn nhiều điều sơ hở cần khắc phục nên tìm cách góp ý nhẹ nhàng. Ta góp ý với lòng chân thành chứ không tìm cách phát huy pháp môn này, dẹp bỏ pháp môn kia. Đó gọi là đóng góp mà không cạnh tranh.
Hoặc nói về quan điểm người giảng sư, ví dụ như khi đi giảng thì chúng tôi lấy những đề tài đó từ đâu ra? Thực sự, các đề tài đều phát sinh từ những vấn đề mà chúng tôi quan sát được trong cuộc sống thực tế lẫn trong đạo. Chúng tôi thấy có nhiều điều cần phải nói đến, thấy lợi ích của đạo, của chúng sanh nằm ở đó nên muốn góp ý, muốn đóng góp điều gì đó và Phật gia hộ cho thành bài giảng. Như đề tài CHIA RẼ ngày hôm nay chẳng hạn, đó thật sự là nỗi trăn trở của chúng tôi từ nhỏ mà nhiều khi bị quên. Đến khi chúng tôi thấy sự phân hóa, sự chia rẽ thường xảy ra trong đạo cũng như ngoài xã hội, mới sực nhớ đây là điều cần phải nói tới, không thể bỏ qua. Như vậy, người giảng sư cần phải có cái tâm chân thành đóng góp cho cái chung, chứ không phải nói ra để chứng tỏ mình giỏi, để truyền bá pháp môn của mình, hoặc để tranh giành Phật tử... thì mới có thể tránh để lại dấu vết chia rẽ trong Phật giáo.
Hiểu điều này rồi chúng ta chân thành tu tập, chân thành lắng nghe, rồi lúc nào có dịp chúng ta sẽ đóng góp vào Phật Pháp, làm lợi ích cho chúng sanh mà không gây nên chia rẽ. Còn nếu ai có ý chấp tông phái, muốn tranh giành hơn thua thì đó chính là tội nhân đã gây chia rẽ trong Phật Pháp và xã hội.
Hậu quả của sự chia rẽ là gì? Có lẽ là ai trong chúng ta cũng đều nhớ một bài học trong “Quốc văn giáo khoa thư” cách đây khoảng sáu mươi năm trước, có kể câu chuyện:
Người cha bị bệnh. Trước khi qua đời, ông gọi các con đến, đưa một bó đũa cột chặt và bảo các con bẻ. Không người nào bẻ gãy cả bó đũa. Rồi ông bảo các con bẻ gãy từng chiếc, đũa gãy dễ dàng. Ông nói rằng không ai có thể bẻ gãy bó đũa một lúc và dặn các con hãy nhớ lấy bài học này. Bó đũa cột chặt như sức mạnh của sự đoàn kết, của sự chung sức, chung lòng. Các con hãy gắn bó, thương yêu nhau, bảo bọc nhau. Điều đó sẽ giúp các con vượt qua những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống.
Không biết câu chuyện là thực hay hư nhưng để lại một ấn tượng rất mạnh cho các con của ông. Nếu ông chỉ dùng lời nói để khuyên nhủ các con: “Hãy đoàn kết đừng chia rẽ vì từng người sẽ suy sụp” thì lời nói đó sẽ không mạnh, không ấn tượng bằng cách đưa cho bó đũa bắt bẻ gãy. Đó là bài học mà các con ông sẽ ghi nhớ suốt đời. Qua câu chuyện, chúng ta hiểu thêm về sức mạnh của sự đoàn kết, về hậu quả của sự chia rẽ. Chia rẽ luôn làm cho sức mạnh chung suy yếu đi.
Nguyên tắc “hợp quần gây sức mạnh” hoặc “chia rẽ làm suy yếu” thì ai cũng biết, nhất là những nhà chính trị. Khi muốn đánh thắng kẻ địch, trước hết họ phải làm cho nội bộ kẻ địch xào xáo, nghi kị chia rẽ lẫn nhau.
Thời xưa Trung Hoa có câu chuyện Lưu Bang đánh nhau với Hạng Vũ. Lưu Bang có một quân sư giỏi là Trương Lương. Hạng Vũ cũng có Phạm Tăng giỏi không thua gì Trương Lương. Trương Lương tính được việc gì thì Phạm Tăng cũng tính được việc đó. Vì thế, Hạng Vũ và Lưu Bang đánh nhau mãi vẫn chưa phân thắng bại. Trương Lương thấy muốn đánh thắng Hạng Vũ thì phải tách Phạm Tăng khỏi Hạng Vũ nên bày kế ly gián khiến cho Hạng Vũ không còn tin Phạm Tăng nữa. Từ đó, Hạng Vũ đi từ thất bại này đến thất bại khác. Nghĩa là khả năng và lực lượng của hai bên tương đương nhau, nhưng cuối cùng Trương Lương dùng kế “ly gián” gây chia rẽ giữa Phạm Tăng và Hạng Vũ, và giúp Lưu Bang lập nên cơ đồ nhà Hán.
Ở Việt Nam ta, Phật giáo cũng có một thời gian dài bị chia ra nhiều Giáo hội như Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Giáo hội Thiền Tịnh đạo tràng, Thevarada, Khất sĩ, Cổ Sa Môn, Lục Hòa Tăng... Mỗi Giáo hội lại có một hiến chương khác nhau. Có điều kỳ lạ là đa phần Phật tử vào chùa là lạy Phật, là cúng dường, không cần biết vị Thầy thuộc Giáo hội nào; khi quy y không hề biết vị bổn sư của mình thuộc đời nào, thuộc hệ phái nào, chỉ cần biết Thầy đó có đạo hạnh là xin quy y. Đó là tâm không phân biệt, không chia rẽ đúng theo lời Phật dạy. Tất nhiên, vẫn còn một số Phật tử mang nặng tư tưởng chấp hệ phái do ảnh hưởng từ vị Thầy nào đó. Tuy nhiên, điều đáng mừng là ngày nay, chúng ta đã có chung một Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ CHIA RẼ
Bây giờ chúng ta hãy phân tích lại nguyên nhân của sự chia rẽ để tránh, và từ đây về sau chúng ta đoàn kết lại với nhau, nhất là trong đạo Phật. Từ sự đoàn kết trong đạo Phật rồi dần dần tinh thần đó mới lan ra ngoài xã hội được.
Chia rẽ có nhiều nguyên nhân:
Trước hết là do bất đồng quan điểm đối với những vấn đề chung (hoặc là về tu tập, hoặc là về lề lối làm việc). Muốn khắc phục điều này cũng khó vì người ta thường quá chấp tâm mình. Phật dạy ta hãy sống bằng tâm của huynh đệ không sống bằng tâm của mình, phải biết bỏ ý mình xuống. Nhưng việc buông bỏ ý mình rất khó. Trong những lúc bàn luận việc gì đó có nhiều ý kiến, mình có theo được ý của người khác không, hay là buộc người khác phải theo ý của mình? Ví dụ trong một chùa, Tăng Ni đến giờ đó phải lạy Phật, giờ kia phải ngồi Thiền... Nhưng cũng có vài người không đồng quan điểm, cho rằng lạy Phật nhiều, ngồi Thiền nhiều thì ít có thời gian học tập. Hoặc nhiều khi đang sống yên vui trong một đại chúng, một tu sĩ chợt khởi lên tư tưởng không thích đường lối của chùa này nữa, thích tìm một “chân trời mới” hứa hẹn hơn. Thế là từ đó vị này thấy khó lòng sống chung nên từ giã ngôi chùa này tìm đến ngôi chùa khác, hoặc cất cốc ở riêng. Do bất đồng quan điểm rồi không thể ở chung, không hợp tác với nhau được cũng đều gây ra chia rẽ. Đó cũng là yếu tố làm cho đạo Phật suy yếu.
Một nguyên nhân của chia rẽ nữa là tham lam, ích kỷ, làm mất lòng tin của nhau. Ví dụ, thầy ở chùa kêu gọi Phật tử vận động quyên góp giúp đỡ người bị nạn do thiên tai. Trong quá trình làm việc, mọi người phát hiện có vài người lấy bớt đi số gạo hay số vật dụng quyên góp được. Thế là niềm tin trong tập thể bị mất đi rồi sinh ra chia rẽ, nói xấu nhau. Trường hợp này, muốn giữ được niềm tin, giữ được sự đoàn kết, chúng ta phải chân tình góp ý, tránh công kích lẫn nhau.
Một số người có “bệnh” thích nói xấu người khác, nhiều khi còn nói xấu, đồn sai về chư Tăng, Ni. Giáo Pháp được truyền giảng rõ ràng, công khai mà vẫn không có sức mạnh bằng lời đồn đại, bằng lời nói xấu sau lưng. Chẳng hạn như có một tu sĩ thuyết pháp được nhiều người thích nghe. Nhưng có ai đó nói rằng vị này ốm yếu lắm không đủ sức để giảng, thường là trước khi giảng ông ăn trứng vịt lộn, uống bia cho khỏe nên mới nói mạnh như thế. Nghe thế có vài ba người bất mãn, không muốn nghe vị tu sĩ đó giảng nữa. Rất may có một Phật tử thề danh dự, khẳng định vị tu sĩ này không làm như vậy mà chỉ bị người ta nói xấu thôi, từ đó họ mới nghe giảng pháp trở lại. Vì thế, người Phật tử chúng ta phải cảnh giác, phải tỉnh táo, đừng để giáo pháp vô cùng cao quý mà lại đánh mất vì những lời nói xấu sau lưng, tin theo lời nói bậy, thì coi như bao nhiêu điều tốt đẹp trôi mất hết. Nếu ở chỗ này mà chúng ta đánh mất bản lĩnh để mình bị thoái tâm thì đạo Phật cũng sẽ yếu đi.
Một nguyên nhân khác gây chia rẽ nữa là tâm lý thích làm thủ lĩnh. Ví dụ, trong đạo tràng, Thầy chia ra nhiều chúng. Có người khởi tâm không thích người chúng trưởng, cho rằng người chúng trưởng bất tài, không có gì hơn mình. Người này rủ rê thêm vài ba người nói xấu, công kích chúng trưởng và sau đó trình Thầy xin phép được lập một chúng mới. Trước những lý do có vẻ hợp lý họ đưa ra, vị thầy đành chấp thuận, đồng thời cho phép người đó được làm chúng trưởng mà không ngờ bí mật đằng sau đã có sự đặt để, đấu đá nhau. Ý muốn tách riêng ra để làm lãnh đạo là một bệnh rất nặng của con người. Trong thực tế, nhiều tôn giáo hay đảng phái xuất hiện cũng do con người thích làm giáo chủ, thích làm thủ lĩnh. Vì vậy người Phật tử chúng ta tu tập không tham vọng, hướng về vô ngã, sống lặng lẽ hòa hợp với mọi người, không chủ ý làm nổi bật hơn người. Nếu quên đạo lý này, sẽ có lúc chúng ta trở thành thủ phạm gây ra chia rẽ.
Sự kỳ thị địa phương, sắc tộc, tôn giáo và phân biệt chủ nghĩa, ý thức hệ cũng là nguyên nhân của chia rẽ.
Óc kỳ thị địa phương của người Việt Nam có lẽ bắt nguồn từ thời thuộc Pháp. Chúng ta thường phân biệt người Bắc, người Trung, người Nam từ giọng nói của từng vùng, lề lối làm việc đến cách làm ăn sinh sống của từng địa phương. Tuy nhiên, đó chỉ là hình thức bên ngoài, trong sâu thẳm tâm hồn, người Việt Nam có tình đồng hương, đồng bào rất sâu nặng. Khi gặp hoạn nạn thì “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, hay kêu gọi tình đoàn kết vượt qua khó khăn. “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Hay “Lá lành đùm lá rách” v. v...
Sắc tộc cũng là nguyên nhân chia rẽ. Ở châu Phi thường xảy ra xung đột giữa các bộ tộc. Không biết do oán thù gì mà người châu Phi dễ bị kích động sắc tộc rồi giết hại nhau một cách kỳ lạ. Bình thường họ vẫn sống chung nhưng có người nào đó kích động là họ lập tức chống đối nhau. Bộ tộc này tấn công bộ tộc kia, họ tàn sát nhau đẫm máu, ngay cả trẻ em cũng bị giết. Do trí tuệ họ không lớn, họ không may mắn có được một đạo lý chân chính dẫn đạo tâm hồn. Giữa thế giới văn minh này mà con người có thể dễ dàng chém giết nhau vì sắc tộc thì thật là lạc hậu, thật là đáng buồn, thật đau lòng!
Tại nước ta cũng có nhiều bộ tộc sống rải rác ở các vùng núi và chúng ta cũng đừng bao giờ khởi tâm phân biệt, xa lánh, mặc dù có khi lối sống, nếp nghĩ của họ chưa theo kịp thời đại, chưa tương đồng với người Kinh lắm. Ví dụ như ta nghe câu chuyện có người đồng bào chạy xe máy nhưng chở ba, người cảnh sát giao thông thổi còi gọi lại hỏi: “Anh có biết anh đã phạm lỗi chở ba người không?”. Anh kia thành thật trả lời: “Không, cái xe Dream này tốt lắm, ở chỗ tôi họ chở bốn người luôn, không sao đâu”. Họ ngây thơ, không hiểu nhiều về luật pháp nên chỉ nghĩ ông cảnh sát bắt bẻ vì chiếc xe không chở nổi ba người. Dù còn nhiều sự khác biệt, tuy nhiên ta vẫn luôn tôn trọng, thương yêu họ trong tình đồng bào.
Hoặc con người cũng chia rẽ nhau vì màu da, vì chủ nghĩa hay ý thức hệ. Đó là những vấn đề lớn của nhân loại mà chúng ta không bàn sâu trong phạm vi bài này. Ngày nay, tính cộng đồng ngày càng được đề cao nên khoảng cách của sự kỳ thị dần dần được rút ngắn, mọi người biết chấp nhận nhau hơn bằng sự dung hòa quyền lợi, bằng nguyên tắc thỏa thuận công bằng, bằng sự đồng cảm thân phận con người v.v... Cho nên, chúng ta chỉ mong rằng thế giới mỗi ngày tiến bộ hơn, con người cọ xát với thực tế hơn thì càng tiến gần đến một lẽ phải, mà lẽ phải này là điều gì đó rất chung, rất thuyết phục, phù hợp với lương tâm loài người và buộc họ phải chấp nhận nhau, không còn chống đối nhau được nữa.
Tuy nhiên, xung đột tôn giáo vẫn là vấn đề lớn mà con người đang bận tâm, chưa có cách giải quyết. Ví dụ ở vùng Bắc Ai Len có hai đạo Tin Lành và Thiên Chúa đều thờ chúa Jésus, họ chia thành hai vùng riêng biệt mà người dân không được qua lại tự do. Suốt mấy mươi năm họ cứ khủng bố, bắn giết nhau, thương lượng mãi vẫn chưa xong. Bên này cử hành lễ, lễ diễu hành không được đi ngang qua vùng bên kia, bằng không sẽ có bạo động, đánh nhau. Hoặc ở Iraq, người Hồi giáo chia ra làm hai dòng Chiite và
Sunni quyết liệt tranh chấp quyền lực nên các cuộc khủng bố đẫm máu cũng xảy ra liên miên.
Với chúng ta, dù bản thân theo đạo Phật nhưng đừng phân biệt người đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài hay Hồi giáo. Dù là tín đồ của tôn giáo nào đi nữa thì tất cả mọi người đều là chúng sanh đáng được thương yêu, trân trọng. Tâm từ bi của đạo Phật là như vậy, vượt qua cả sự khác biệt về tôn giáo. Chúng ta tìm hiểu nguyên nhân của chia rẽ để vun đắp lại tình đoàn kết trong đạo Phật, góp phần vào sự đoàn kết chung trong cộng đồng xã hội, đất nước và cao hơn nữa là đắp xây vào nền hòa bình thế giới.
XÂY DỰNG SỰ ĐOÀN KẾT- SỰ HÒA HỢP
Đông đảo mà rã rời không bằng số ít mà hợp lực. Trong đạo cũng như ngoài đời, muốn đạt được mục đích cao đẹp đều cần có sức mạnh của sự hòa hợp và đoàn kết.
Một số ý tưởng sau đây nếu được vận dụng sẽ góp phần tạo nên sự đoàn kết.
Sống bằng tâm huynh đệ
Để xây dựng sự hòa hợp và đoàn kết, chúng ta có thể chấp nhận sự bất đồng quan điểm ở một chừng mực nào đó để vẫn tiếp tục sống và làm việc chung với nhau.
Ví dụ, chúng ta có chung Đức Phật, chung một Thầy, chung Tam Quy, Ngũ Giới, có bao nhiêu đạo lý chung nên đừng vì một cái riêng nào đó mà gạt bỏ bao nhiêu cái chung đã có sẵn. Phật đã khen ngợi những vị tôn giả sống một đời hòa hợp với nhau vì họ đã sống bằng tâm của huynh đệ, không sống bằng tâm của mình. Các Thánh Tăng sống với tâm rỗng lặng, từ bi. Tâm ý của huynh đệ khởi lên là họ sống bằng tâm ý đó. Ví dụ trong bài Kinh Sống Hòa Hợp, có ba vị Thánh Tăng sống chung với nhau. Buổi sáng, tới giờ đi khất thực, có một vị khởi ý sẽ đi vào làng ở phía Nam thì hai vị kia liền đi theo, không hề thắc mắc. Hoặc họ đang sống với nhau trong thanh tịnh, một hôm có một vị khởi ý ngày mai sẽ sang làng bên cạnh thuyết pháp để giáo hóa dìu dắt, để gieo duyên thì hai vị kia hoan hỷ làm theo. Sống bằng tâm của huynh đệ là vậy, là gieo sự hòa hợp, đoàn kết, không tranh cãi hơn thua.
Đạo lý đó thật hay, những vị A la hán mới làm được. Dù chúng ta chưa chứng A la hán nhưng từ hôm nay, chúng ta nên tập sống bằng tâm huynh đệ. Ví dụ, trong ngày tu Bát Quan Trai, trong tâm không khởi ý gì, chỉ niệm Phật rồi tùy huynh đệ mà làm theo. Vào chùa, chắp tay chào Thầy, chào Chư Tăng, chào huynh đệ. Chợt có một người bảo: “Chị để đồ ở đây đi!” - “Dạ”. Một lát, họ nói: “Đồ của chị mất rồi!”- “Dạ, không sao hết,” “Chị vào đây phụ dọn cơm,” hoan hỷ phụ dọn cơm. “Chị lên quét chánh điện đi!” Rồi suy nghĩ: “Những huynh đệ đó cũng như mình sao sai mình đủ thứ vậy!”. Thật ra, đó là những người đang tập cho chúng ta sống bằng tâm huynh đệ. Tập được như vậy là chúng ta đang tạo sự hòa hợp, đoàn kết trong chùa, trong đạo.
Còn giả sử như khi nghe huynh đệ nhờ quét chánh điện mà ta trả lời để tôi dọn chén đã, khi phản đối như vậy thì vô tình ta đang tạo sự chia rẽ vì cái tâm không nhu thuận. Chúng ta sẽ thấy rất khó buông bỏ ý của mình để sống tùy thuận theo ý của huynh đệ chỉ vì tâm chúng ta chưa thanh tịnh, ý nào khởi lên là ta dính chặt vào ý đó. Bây giờ để tạo nên sự đoàn kết giữa huynh đệ với nhau, buộc chúng ta phải bắt chước các vị thánh là sống trong thanh tịnh, dễ dàng buông bỏ ý của mình một cách nhẹ nhàng.
Đóng góp để giúp đỡ người khác
Có một bài học mà chúng ta phải học tập từ người Trung Hoa. Người Hoa sống khắp nơi trên thế giới. Họ không sống riêng rẽ, mà thường sống tập trung ở một vùng. Người Hoa làm kinh tế rất giỏi và thường giúp nhau làm ăn. Ví dụ, vùng họ đang sống có ai đó là người Hoa đến ở rất nghèo khổ. Thế là họ tìm hiểu quê quán, gia cảnh và lập tức cộng đồng tìm cách giúp đỡ người này: tìm cho một chỗ ở, một chỗ làm, rồi góp vốn giúp người này mở tiệm buôn bán. Từ một người không có gì, người đó nhanh chóng trở thành ông chủ. Đến khi giàu có, nhớ lại thuở hàn vi, người đó lại tìm cách giúp lại những người đồng hương nghèo khó khác. Cứ như thế người Hoa tới đâu cũng không sợ cô lẻ bởi tinh thần tương trợ của họ rất cao.
Thường thì chúng ta cũng tương trợ nhau qua sự kêu gọi bằng sức lực, tiền của theo khả năng của mình khi có thiên tai lũ lụt, hỏa hoạn v.v... Tuy nhiên, đóng góp qua sự vận động, kêu gọi (đôi khi miễn cưỡng) không bằng lòng hảo tâm, tự nguyện. Và chỉ có sự tu tập tâm từ bi vị tha thì chúng ta mới có thể toàn tâm toàn ý phụng sự cho con người.
Không tô đậm sự chỉ trích, hiềm khích
Với bản tính ích kỷ, con người dễ nói xấu, chỉ trích, hiềm khích nhau. Chúng ta phải xử sự như thế nào khi gặp những trường hợp này? Ví dụ, ông A nói xấu ông B: “Ông ta rất xấu xa, từng gian tham gạt gẫm người khác”. Chúng ta đoán rằng có lẽ họ đã từng xích mích nhau, nhưng hãy cố nói lời nào đó để họ có thiện cảm với nhau: “Tôi nghe anh B cũng khen anh lắm. Lúc này tôi thấy anh B cũng hiền, được nhiều người mến”. Ta mạnh dạn bênh vực kẻ bị nói xấu, bị chỉ trích (khác với bao che, thông đồng với kẻ có tội) để tạo sự đoàn kết, cảm thông.
Đừng bao giờ đi rêu rao về sự bất hòa của kẻ khác: ông A xem ông B như kẻ thù, ông B gặp ông A đâu là mắng đó... Có khi hai người cũng không ưa nhau thật, nhưng nếu đừng ai biết thì có khi dần dần họ sẽ vui với nhau. Còn nếu ai cũng biết chuyện rồi mỗi người thêm mắm dặm muối một chút, tức là khoét sâu thêm mối hiềm khích thì hai người họ sẽ căm thù nhau suốt đời.
Không tham vọng địa vị độc tôn
Tham vọng quyền lực, địa vị chỉ làm chúng ta đau khổ, bởi không phải muốn có danh vọng, địa vị là có được. Với người đệ tử Phật, ta nên tâm nguyện làm “kẻ thấp kém” để có cơ hội giúp đỡ người đồng sự, đồng môn. Ví dụ, ai làm chúng trưởng chúng ta xin làm chúng viên phụ giúp chúng trưởng. Còn là người xuất gia chỉ nguyện lòng: “Xin cho con mãi mãi chỉ làm hạt bụi dưới chân người, cho người giẫm lên để họ được đi về nơi giác ngộ”. Chỉ như vậy thôi chứ đừng thêm: “Xin cho con làm người dẫn đạo để con hóa độ chúng sanh...” mà: “Con chỉ xin là cọng cỏ bên đường, xin là bông hoa dại tỏa hương để làm cho người dịu êm trên con đường đi đến giải thoát ”. Hãy tâm niệm như vậy chứ không nên mong muốn làm lớn rồi có lúc cũng tách ra thành phe, nhóm. Và chia rẽ bắt đầu...
Đề phòng âm mưu ly gián
Âm mưu ly gián là gì?
Là những lời nói, hành động khiến cho người này ghét người kia. Thật là nguy hiểm. Ví dụ trong một đại chúng đang tu hành tốt đẹp thì có người đến nói xấu Chư Tăng, nói xấu Thầy trụ trì. Chúng ta hãy cảnh giác con người đó, khuyên họ tĩnh tâm lại. Ta ngăn chặn không để sự nói xấu, chỉ trích lan rộng tạo thành mối nghi ngờ, chia rẽ lẫn nhau.
Hoặc trong chính trị có thủ đoạn khoét sâu lòng thù hận giữa con người với nhau cũng vậy. Ngày xưa Hitler đã sử dụng thủ đoạn này. Trong một nước Đức đang suy tàn sau đệ nhất thế chiến, người Đức có tâm trạng buồn, nhục nhã và muốn phục thù. Nắm được tâm lý đó, sau khi nắm quyền trong đảng Quốc xã, Hitler kêu gọi sự độc tôn về chủng tộc: Nước Đức là dân tộc hùng mạnh, là chủng tộc cao quý nhất loài người, ai bầu cho đảng Quốc xã sẽ thấy lại ngày vinh quang của nước Đức. Toàn dân Đức bầu cho Hitler làm thủ tướng và không lâu sau thế giới chìm trong chiến tranh đẫm máu. Mỗi khi Hitler xuất hiện trước quần chúng để diễn thuyết, đám đông sôi sục trước sức lôi cuốn khủng khiếp như thôi miên của ông ta. Mà khi số đông đã thần tượng rồi, đã lao theo sự kích động rồi thì họ quyết chiến đấu như điên cuồng.
Trong thời đại mà các nhà chính trị nghiên cứu rất kỹ về tâm lý quần chúng, họ biết rằng muốn nắm được số đông thì phải làm cho quần chúng chống lại ai, căm thù ai. Do đó, khi thấy mọi người bị kích động, bị ly gián thì ta hãy cẩn thận vì có khả năng tất cả đang rơi vào một cái bẫy, một dòng thác tâm lý do kẻ nào đó bí mật giăng ra và ta là nạn nhân, là con cờ trong đó. Ta nên biết khéo léo giữ sự ôn hòa để chính mình thoát ra, kéo mọi người thoát ra, đồng thời biết đấu tranh, ngăn chặn.
Sống với tâm hồn bao dung, khiêm hạ
Sống với tâm hồn bao dung, khiêm hạ khiến cho người khác dễ đến gần chúng ta, tạo nên sự thân ái đoàn kết. Dù được khen hay bị chê chúng ta cũng hoan hỷ đón nhận. Chấp nhận lời chê vi diệu hơn được khen. Bởi việc chấp nhận, tận hưởng lời khen làm tăng trưởng kiêu mạn; còn hoan hỷ chấp nhận lời chê lại giúp ta giữ gìn tâm khiêm hạ. Ví dụ, khi được ai đó khen, chúng ta tự hạ mình: “Một mình tôi không làm được gì đâu, cũng nhờ huynh đệ góp sức...”. Nếu là giảng sư mà được Phật tử cùng trao đổi chuyện đạo, góp ý cách giảng, chúng ta sẽ thấy vui hơn là việc được khen và nên cám ơn họ về sự đóng góp.
Chúng ta cũng đừng để tâm ghét ai, hãy cố gắng trải tâm từ mặc dù biết người khác làm điều gì đó không phải, không đúng. Hễ thấy trong tâm mình xuất hiện cảm giác bực bội, tức tối ai là phải sám hối ngay. Người đệ tử Phật không được quyền ghét ai hết. Đồng thời chúng ta phải biết ngợi khen cái hay của người khác, vì tâm lý con người, ai cũng thích được khen. Nhưng chúng ta phải khen một cách chân thành thì người được khen mới cảm thấy vui thật sự.
Ta còn phải biết tha thứ lỗi lầm của người khác vì suốt một đời người có ai không mắc phải sai lầm, không phạm lỗi. Ví dụ, khi biết một người vừa mãn hạn tù, ta đừng nghĩ tới bản án trong quá khứ của họ. Trong tâm chúng ta phải thương yêu họ và thăm hỏi, giúp đỡ họ trở thành người lương thiện, quên đi lỗi lầm đã qua.
Một điều quan trọng là cần tránh sự kết bè phái, đây là thói quen xấu của con người, dễ đưa đến chia rẽ. Ví dụ trong chùa kết thân riêng cũng là một sai lầm. Điều này là một thách đố đối với đạo Phật. Tăng chúng hoặc Ni chúng sống chung với nhau, tất nhiên người có duyên nhiều hơn, người có duyên ít hơn, nhưng đừng kết thân riêng, đừng chỉ chú ý giúp đỡ, trò chuyện với một hai người riêng... như vậy sẽ tạo thành bè phái chia rẽ. Đây là điều rất khó làm.
Chúng ta còn phải sống có uy tín nữa. Tin tưởng và chân tình với nhau cũng đưa đến đoàn kết. Tuy nhiên, đoàn kết không phải là lúc nào cũng thích đông vui náo nhiệt, vì chúng ta còn cần những giờ phút yên lặng để tu tập Thiền định, để lắng tâm trong thanh thản nhẹ nhàng. Tuy trong tâm ta luôn đoàn kết, ở bên ngoài thì ta sẵn lòng chung tay góp sức, cống hiến cho việc chung nhưng không có nghĩa là lúc nào cũng rủ rê tụ tập nhau lại cho đông vui. Dù đoàn kết cùng nhau làm việc nhưng vẫn tôn trọng, giữ gìn sự yên tĩnh theo tinh thần đạo Phật, mà cũng theo tinh thần thời đại: «Sự yên tĩnh là một tài sản quý của cộng đồng mà ai cũng phải bảo vệ» để tránh căng thẳng, stress.
Cùng một lý tưởng
Chúng ta phải vượt qua sự khác biệt về sắc tộc, giai cấp, địa phương, tôn giáo... để đi đến lý tưởng chung. Ví dụ, trong đạo Phật có nhiều hệ phái mà chỉ có một lý tưởng chung là giác ngộ-giải thoát, thương yêu chúng sanh. Hiểu được điều này thì sự khác biệt về tông phái, hệ phái không còn là vấn đề quá trầm trọng. Điều cần quan tâm là sự đoàn kết trong hàng ngũ Tăng Ni, hàng ngũ Phật tử. Đã là những người con của Phật thì chùa nào cũng là mái nhà chung của chúng ta; Tăng, Ni nào cũng là Thầy của chúng ta.
NHỚ LỜI PHẬT
Phật dạy không làm ba điều về thân: giết hại, trộm cướp, tà dâm; không làm bốn điều ác về lời nói: nói ác, nói dối, nói chia rẽ, nói lời vô nghĩa; không dung dưỡng ba điều ác về ý: tham lam, sân hận, si mê. Trong đó, Đức Phật nghiêm cấm sự chia rẽ, cấm lời nói chia rẽ một cách gay gắt.
Tội nào phải đọa địa ngục? Đó là làm điều ác quá đáng, làm điều ác mà người khác không cản được. Có những người dựa vào khả năng của mình, dựa vào thế lực tiền bạc do họ đang có phước để làm đau khổ người khác, đến khi hết phước chắc chắn họ phải đọa vào địa ngục. Ví dụ, họ cho người nghèo khổ vay quá nặng lãi. Lãi cao, nợ chồng chất làm người kia không trả nổi dù đã cố gắng làm ăn. Người cho vay vẫn thẳng tay lấy vốn lấy lãi, còn con nợ phải cầm cố nhà cửa, bỏ đi xứ khác. Sống qua một đời cho hết cái phước của mình rồi, khi chết đi người đó sẽ phải xuống địa ngục. Vì sao vậy? Vì họ đã hưởng đồng tiền mà kẻ nghèo khó đã cực khổ nhọc nhằn, dầm mưa dãi nắng, lạnh lẽo, bệnh hoạn, đói khát...
tìm từng đồng để trả tiền lời cho họ. Tất cả sẽ được cộng lại trở thành những nỗi khổ mà họ phải nếm trải trong địa ngục.
Trong các tội đọa địa ngục, tội gì cũng có thời gian để đền tội; còn tội đọa địa ngục vô gián là không biết bao giờ mới thoát ra. Tội đọa địa ngục vô gián là giết cha mẹ, giết A la hán, làm thân Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng (làm cho Tăng đoàn chia rẽ). Ví dụ, một người nào đó bị tội nặng phải đọa làm súc sinh từ một đến năm kiếp; hoặc phạm trọng tội phải đọa vào địa ngục, ở đó họ bị thiêu đốt, bị cưa cắt chừng vài chục năm (sự đau đớn làm cho người bị đọa thấy thời gian lâu gấp trăm lần); hoặc không làm chư Tăng chia rẽ mà làm những người khác chia rẽ, tội cũng không nhẹ. Người ta đang sống vui vẻ với nhau, hàng xóm đang sống yên vui với nhau bỗng có người nói những lời chia rẽ làm họ ghét nhau thì đó là gieo tội lỗi.
Trong cuộc sống, chúng ta thường nghĩ mình không cướp của giết người là không có tội. Nhưng nếu có đạo nhãn, nhìn lại từng phút, từng giây chúng ta mới giật mình, vì đã làm khổ nhiều người. Chúng ta đã quên đi những hành vi, những lời nói của mình đã từng làm cho người khác mất ăn, mất ngủ mà chúng ta không hề hay biết.
Luật Nhân Quả rất công bằng. Khi biết Phật Pháp, biết phân biệt thiện-ác, chúng ta cần tĩnh tâm tu sửa lỗi lầm. Dù chúng ta không nhớ cụ thể đã làm gì, gây tội lỗi gì nhưng cũng xin sám hối tội lỗi từ vô lượng kiếp cho đến nay.
Nhớ lời Phật dạy, chúng ta không làm ba điều ác về thân (không sát hại, không trộm cắp, không tà dâm); không làm bốn điều ác về lời nói (không nói lời độc ác, không nói dối, không nói lời vô nghĩa, không nói lời chia rẽ); không nuôi dưỡng ba điều ác về ý (không tham lam, không sân hận, không si mê). Từ đó, chúng ta tránh được điều ác và chỉ hành thiện trong suốt cuộc đời mình.
Nỗi đau của kiếp người phải chăng là sự chia ly, chia cách, chia rẽ?
Và hạnh phúc của con người phải chăng là tình thương yêu, gắn bó con người với chất keo cho sự đoàn kết.
Xã hội có thể chia rẽ phân hóa nhưng người Phật tử phải có trách nhiệm làm cho người người thương yêu nhau, đoàn kết với nhau; bước đầu là tạo sự đoàn kết trong chùa; Tăng Ni với Tăng Ni hòa hợp, Phật tử với Phật tử hòa hợp. Từ tinh thần đoàn kết hòa hợp này, chúng ta mang đến sự đoàn kết trong cộng đồng xã hội. Đoàn kết chung tay góp sức nâng cao đời sống tinh thần, tâm linh, làm cho xã hội ổn định, đất nước an lạc, thế giới hòa bình.
Ngoài ra, tinh thần đoàn kết trong đạo Phật ở mỗi quốc gia chưa đủ mà đạo Phật cần phải có một Giáo hội Phật giáo chung cho cả thế giới. Đó là điều chúng ta cùng nhau mơ ước, cùng nhau biến ước mơ thành hiện thực.


