NGHĨ VỀ CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH
Thế giới luôn bất an vì sự đe dọa của chiến tranh. Ngay trong thế kỷ hôm nay – thời kỳ đỉnh cao của các phát minh khoa học kỹ thuật – nền hoà bình cho toàn nhân loại vẫn là viễn cảnh xa xôi. Thay vì tận dụng các kỹ thuật tiên tiến để đem đến bình an cho con người, nhiều quốc gia và tổ chức đã thi đua trang bị các vũ khí quân sự tối tân để hủy diệt nhau.
Ngày 13-11-2015, tại Pháp. Một loạt 7 vụ tấn công khủng bố đẫm máu đã xảy ra tại thủ đô Paris, khiến 129 người thiệt mạng, hơn 200 người khác bị thương. Tổ chức khủng bố “Nhà nước Hồi giáo” (IS) tự xưng đã nhận trách nhiệm dàn dựng và thực hiện các vụ tấn công khủng bố đẫm máu này, nhằm đáp trả việc Pháp “báng bổ nhà tiên tri của đạo Hồi” và không kích “trên lãnh thổ IS”. Đây là vụ khủng bố có quy mô và thiệt hại về người lớn nhất trong 40 năm trở lại đây ở châu Âu.
Là người đệ tử Phật, chúng ta không tự giới hạn trong khuôn khổ của một quốc gia, một tôn giáo, mà vượt qua mọi rào cản biên giới để chan rải tình thương đến tất cả mọi người. Vì vậy, sự khổ đau mất mát của quốc gia khác, tôn giáo khác cũng là nỗi quan tâm, lo lắng chung của người con Phật. Chúng ta sẽ nói với nhau về Ý NGHĨA CỦA HÒA BÌNH qua nhãn quan của đạo Phật và trách nhiệm của người đệ tử Phật trong việc chung tay xây dựng hòa bình cho thế giới. Đây là vấn đề có ý nghĩa lớn lao, tuy nhiên trong phạm vi của mình, chúng ta hãy bắt đầu từ những điều nhỏ bé, giản đơn nhưng cụ thể trong cuộc sống.
Nói đến hòa bình hay chiến tranh, có lẽ không ai thấm thía bằng người Việt Nam, nhất là thế hệ đã sống từ trước năm 1975. Vậy nên sự yêu quý hòa bình, có lẽ cũng không ai sánh bằng dân tộc Việt Nam - dân tộc đã bốn nghìn năm vất vả gian lao dựng nước và giữ nước. Lật lại những trang sử xa xưa, chúng ta thấy quê hương mình đã thấm đẫm bao máu xương của tiền nhân để gìn giữ từng tấc đất. Kẻ xâm lược thường rất hiếu chiến và có ưu thế về sức mạnh quân sự: từ những đội quân hùng mạnh như quân Nam Hán, Nguyên - Mông cho đến các quốc gia sở hữu các vũ khí chiến tranh hiện đại. Đi qua những trận chiến dai dẳng, đất nước ta đã gồng mình hứng chịu biết bao nhiêu sự giết chóc phá hủy, những đắng cay mất mát. Đó là những nỗi đau khôn nguôi.
Trong những giai đoạn có giặc giã, người dân chỉ mơ ước được trở về miền quê thanh bình để cày trên thửa ruộng, cưỡi lên lưng trâu, tắm trong dòng sông nước mát. Một đời sống đơn sơ đạm bạc, không sang giàu nhưng người dân ngày yên bình, đêm ngon giấc vì không nghe tiếng đại bác nổ, không chứng kiến cảnh giết chóc lầm than.
Chiến tranh đã đi qua. Ngày hôm nay chúng ta hạnh phúc biết bao khi sống trong một quê hương đất nước thanh bình, nhưng rất nhiều lần chúng ta đã không biết quý trọng hòa bình mình đang có, chỉ đến khi xảy ra chiến tranh thì mới nuối tiếc những tháng năm sống trong hạnh phúc.
Một người con được nuôi nấng trong tình thương yêu, sự chở che bảo bọc của cha mẹ nhưng xem nhẹ, đến ngày chập chững trên đường đời, phải lăn lộn đấu tranh hơn thua thì mới thấy trân trọng khoảng thời gian sống trong tình thương yêu vô điều kiện của cha mẹ. Hoặc như người Phật tử có những giây phút được ngồi dưới mái chùa, sống trong hào quang che chở của Chư Phật, được học hỏi giáo lý và tu tập nhưng không trân quý mà hướng về những điều tầm thường của thế gian. Năm tháng vội qua, đến lúc hồi tưởng lại thời gian sống đơn sơ đạm bạc trong tình người, dưới mái chùa thân thương, họ mới thấy quãng đời đó thật hạnh phúc.
NGUYÊN NHÂN CỦA CHIẾN TRANH
Theo khía cạnh xã hội
Chiến tranh nổ ra khi một đất nước bị xâm lược, hoặc chủ động gây chiến với nước khác. Việt Nam là đất nước hiền lành, yêu chuộng hòa bình nhưng không tránh khỏi những trận chiến liên miên suốt chiều dài lịch sử. Gần như triều đại nào của Việt Nam cũng từng đối đầu với phong kiến phương Bắc. Họ lớn mạnh và không bao giờ ngưng tham vọng đánh chiếm đất nước ta để bành trướng lãnh thổ. Vì thế ông cha ta đã phải trải qua bao nhiêu gian lao vất vả mới gìn giữ được nền độc lập cho Tổ quốc.
Cũng có khi ở vùng giáp biên giới nước ta, do nhiều lần bị giặc quấy nhiễu khiến các vị quan trấn giữ nơi đây rất vất vả vì kinh đô xa xôi, binh lính ít ỏi, sinh mạng dân quân tổn thất rất nhiều mỗi lần giao chiến. Trước tình hình gay go đó, triều đình phải cất quân đi đánh, nhằm đẩy biên giới ra xa. Cho nên, những cuộc chiến như thế cũng xuất phát từ mục đích tự vệ ban đầu.
Nhưng đối với một số quốc gia văn minh tiến bộ ngày nay, tuy không có biên giới chung nhưng để khai thác nguồn tài nguyên con người, tài nguyên thiên nhiên, vị trí chiến lược địa chính trị, địa kinh tế trọng yếu phục vụ chiến lược quân sự toàn cầu, nên các chính phủ tư bản phương Tây đã bành trướng khắp thế giới một thời gian dài trong nhiều thế kỷ. Châu lục, lục địa nào cũng in đậm dấu chân của các đoàn quân viễn chinh phương Tây. Họ chính là thủ phạm gây ra tội ác chiến tranh trên thế giới. Việt Nam là một trong những đất nước hứng chịu hậu quả nặng nề nhất từ sự hiếu chiến này. Tuy nhiên, quá khứ đã qua đi, nhân dân ta cũng khép lại ký ức đau thương để thiết lập tình hiếu hòa hữu nghị với thế giới. Thay thù hận bằng tình thương – đó là cách chúng ta xây dựng một tương lai tốt đẹp cho đất nước.
Theo Luật Nhân Quả
Chiến tranh do nghiệp sát của chúng sanh
Dưới góc nhìn của đạo Phật, chiến tranh có nguyên nhân tiềm ẩn ở sự thù hận, sự giết hại. Chư Tổ từng dạy:
“Nhất thiết chúng sanh vô sát nghiệp
Thập phương hà xứ động đao binh
Gia gia hộ hộ đồng tu thiện
Thiên hạ hà sầu bất thái bình”.
“Nhất thiết chúng sanh vô sát nghiệp”, nghĩa là nếu tất cả chúng sanh không có nghiệp sát sanh (kể cả nghiệp ăn thịt, cá) thì “thập phương hà xứ động đao binh” - mười phương thế giới làm gì có chiến tranh. “Gia gia hộ hộ đồng tu thiện” - mỗi nhà đều biết tu lành, làm phước thì “thiên hạ hà sầu bất thái bình” - thiên hạ chẳng có chuyện sầu buồn vì không thái bình.
Như vậy qua bài kệ, chúng ta thấy chiến tranh khởi nguồn từ nghiệp sát của chúng sanh. Ngoài việc con người giết hại lẫn nhau là cái ác rất nặng phải đền tội thì sát sinh thú vật - việc tưởng chừng như không tạo tội lắm - cũng góp phần tạo nên nghiệp binh đao cho thế giới.
Nhiều nhà trí thức không tin vào thuyết luân hồi của đạo Phật. Họ lý luận: “Nếu nói rằng con người trôi lăn trong luân hồi, tái sinh qua nhiều kiếp sống, vậy thì dân số thế giới phải giữ nguyên. Tại sao thuở sơ khai chỉ xuất hiện thưa thớt vài bộ tộc mà hiện nay dân số thế giới đã hơn 7 tỷ người?”. Người ta đã quên rằng trên rừng, dưới biển, các loài vật đang vắng bóng dần dần. Biết bao nhiêu loài hươu, ngựa vằn, hổ, sư tử, cá voi, các loài thuỷ sản... bị đẩy đến bờ vực tuyệt chủng. Ai là thủ phạm? Chính con người với vóc dáng nhỏ bé nhưng trí thông minh sắc bén đã giết hại các loài thú không thương tiếc. Những loài thú bị giết đó đến khi đủ phước làm người sẽ mang theo mối oán thù từ kiếp trước và đi tìm kẻ sát hại mình để giết trở lại (Có khi chúng không phải là người được sung sướng lắm). Cứ thế, chiến tranh không bao giờ dứt. Dân số thế giới tăng cao do nhiều loài thú đã đầu thai làm người. Luân hồi là vậy, không phải người được đầu thai làm người mãi, nếu ai sống ác độc, gây tạo nhiều ác nghiệp thì sẽ trở lui làm súc sinh.
Không chỉ người giết thú mà cả thú đoạt mạng lẫn nhau cũng là nguyên nhân gây ra chiến tranh nếu cả hai loài đó cùng trở lên làm người. Trong những phim tài liệu về động vật, các nhà khoa học thường đặt camera trong rừng để ghi lại cảnh các loài thú săn mồi. Một nhà làm phim quay được cảnh sư tử săn bò rừng. Sau khi phóng hết tốc độ rượt theo đàn bò rừng, sư tử bắt được con bò rừng chạy chậm nhất. Dù sư tử nhỏ hơn nhưng nhờ sức mạnh và sự lanh lợi, nó nhảy chồm kên cắn gáy rồi luồn xuống ngoạm cổ họng con vật. Trong phút chốc, bò rừng bị quật ngã xuống đất và những con sư tử khác lao vào xâu xé. Đàn bò rừng vừa chạy vừa ngoái đầu nhìn lại, đến khi chứng kiến cảnh đồng loại bị bầy sư tử xé xác, chúng đứng lại và chảy nước mắt. Cảnh tượng đó thật thương tâm. Chúng ta hiểu khi những con vật này trở lên làm người, chúng sẽ tìm giết nhau để thanh toán món nợ kiếp xưa, và chiến tranh lại xảy ra.
Nếu quan sát mọi điều bằng cặp mắt giản đơn hoặc thậm chí qua góc nhìn của khoa học, chúng ta sẽ không lý giải được sự hận thù đến cuồng bạo của con người. Chỉ với nhãn quan của đạo Phật, ta mới thấy được oan trái đến từ sự tranh đoạt mạng sống lẫn nhau. Và một phần không nhỏ trong đó là để phục vụ nhu cầu ăn uống của con người. Theo thống kê, trung bình một người Pháp tiêu thụ khoảng năm mươi con bò, năm mươi con lợn, hàng trăm con gà trong đời. Để nuôi dưỡng cho một sự sống mà không biết bao nhiêu mạng chúng sinh đã bị tước đoạt. Điều này cho chúng ta hiểu rằng chiến tranh vẫn còn tiếp tục nếu nghiệp sát sinh của con người chưa ngưng lại.
Đó là lý do đạo Phật khuyến khích việc ăn chay. Ngày nay ở phương Tây, phong trào ăn chay đang dần lan rộng. Có người ăn chay để bớt bệnh tật, có người ăn chay vì thương yêu loài vật.
Y học hiện đại khẳng định các loại thực phẩm chay không cung cấp đủ dinh dưỡng cho cơ thể người. Nhưng không vì vậy mà chúng ta chủ trương ăn thịt rồi vô tình gây nghiệp đao binh cho thế giới và tạo nghiệp cho chính mình. Còn vấn đề thiếu hụt dinh dưỡng, người ăn chay nên khôn ngoan giải quyết bằng nhiều cách khác nhau: ngoài tăng cường chất đạm bằng đậu hủ, chúng ta ăn thêm trứng gà công nghiệp (không có trống, không mang sự giết hại), bổ sung sữa, thỉnh thoảng truyền thêm đạm. Song song với việc điều chỉnh ăn uống, chúng ta cũng kết hợp tập luyện khí công để hỗ trợ sức khoẻ.
Người Phật tử hãy tăng cường thêm ngày chay tịnh. Người mới quy y, quý Thầy thường khuyên ăn chay hai ngày trong tháng. Ăn quen dần, chúng ta tăng lên bốn ngày, tám ngày, mười ngày... rồi lúc cảm thấy đủ sức khỏe thì tiến đến ăn chay trường. Thức ăn chay không ngon, không hấp dẫn và đầy đủ chất đạm như thịt cá nhưng mỗi người hãy nghĩ đến tội - phước lâu dài cho bản thân và xã hội mà chấp nhận thiệt thòi, cố gắng tập ăn chay.
Số lượng người ăn chay trong vài trăm năm tới cũng sẽ rất ít, trừ khi khoa học nghiên cứu ra phương pháp tạo thành thịt nhân tạo. Đây là loại thịt không đến từ sự giết hại. Từ một mẫu thịt ban đầu của con vật, các nhà vi sinh học sẽ nuôi cấy trong bồn chứa vi sinh để miếng thịt nở lớn lên dần dần. Trên thực tế, phương pháp này đã thành công trong nhiều phòng thí nghiệm nhưng chưa được phổ biến rộng rãi. Có những nhóm nghiên cứu đã tách tế bào gốc từ mảng sinh thiết trên vai bò sống (không cần giết mổ) rồi nuôi cấy trong môi trường dinh dưỡng. Sau ba tháng, tế bào gốc sinh sôi nảy nở gấp 1000 tỷ lần tạo thành hàng chục nghìn sợi thịt. Tuy nhiên, phí tổn lên đến hàng trăm nghìn đô la. Đó là lý do mô hình vẫn chưa được đưa vào áp dụng trên thế giới. Chúng ta hi vọng rằng ngày nào đó khi khoa học công nghệ phát triển, thịt nhân tạo sẽ được đưa vào thị trường để con người có thể ăn những miếng thịt không đến từ sự giết hại.
Một số nhà chính trị và xã hội học từng mơ ước thế giới này là một quốc gia duy nhất, bởi khi không còn những ranh giới chia cắt, họ nghĩ rằng chiến tranh sẽ chấm dứt. Điều đó là không thể. Vì chừng nào căn nguyên ban đầu chưa được dứt trừ - máu chúng sinh còn tuôn đổ vì miếng ăn cho con người thì dù người ta có kết hợp được thế giới thành một quốc gia bằng phương pháp chính trị xã hội nào đó, chiến tranh vẫn sẽ xảy ra, chỉ là dưới hình thức khác.
Hoặc những thiên tai như động đất, sóng thần, thiên thạch nào đó sẽ va vào trái đất... khiến con người phải sống trong nỗi kinh hoàng khổ đau, trong cảnh chết chóc đổ nát.
Hoặc người ngoài hành tinh đến xâm lược trái đất, các loài thú nào đó bị đột biến gène rồi trở thành quái vật có sức mạnh vô song và trí thông minh siêu việt nổi dậy cai trị loài người. Những cảnh dường như chỉ có trong các bộ phim khoa học viễn tưởng sẽ trở thành hiện thực. Lúc đó các vũ khí quân sự có tối tân đến mấy cũng phải đầu hàng, nhân loại vẫn phải hứng chịu cảnh bom rơi đạn lạc để đền trả quả báo.
Hoặc hận thù sắc tộc vẫn bùng nổ dù cùng chung một quốc gia duy nhất. Tôn giáo nào cũng muốn độc tôn nên các giáo sĩ tìm cách uy hiếp tín đồ của tôn giáo khác cải đạo và tiêu diệt những ai bất tuân. Các cuộc chiến vẫn âm thầm được khơi mào. Các tổ chức tội phạm như mafia vẫn tồn tại. Họ buôn lậu, ám sát, thanh trừng lẫn nhau.
Vì vậy các thỏa thuận, dàn xếp về chính trị không phải là gốc rễ của hòa bình. Nghiệp sát từ sự hận thù lặt vặt, từ nhu cầu ăn uống của chúng sinh chưa chấm dứt thì chiến tranh vẫn xảy ra dù thế giới trở thành một quốc gia duy nhất. Chỉ khi nào con người biết dừng tay giết hại, sống hiền lành nhân ái thì thế giới này mới mong ngày thanh bình.
Biết chăng mỗi miếng thịt ngon
Giấu sâu trong đó trận đòn giết đâm
Tiếng kêu máu chảy thương tâm
Vậy mà ai nỡ cúi gầm mặt ăn
Giả vờ không biết không cần
Nỗi đau khủng khiếp của thân phận nào
Than ôi, thế giới khổ đau
Bắt nguồn từ thứ đưa vào bụng ta
Sau này nhân quả không tha
Chiến tranh, tai họa, mọi nhà khóc than
Chi bằng tìm cõi bình an
Ngay từ cuộc sống nhẹ nhàng giản đơn
Ăn chay đời sẽ vui hơn
Tình thương lan tỏa rất gần chư Thiên.
Yếu tố lòng dân
Hiện nay, trên thế giới nổi rõ nhất là sự xung đột kéo dài giữa dân Israel và dân Palestine. Dải đất nằm giữa bờ đông Địa Trung Hải và sông Jordan thuở xưa là lãnh địa của dân Do Thái. Khi Chúa Jésus xuất hiện, người ta kéo theo Ngài rất đông nên các giáo sĩ Do Thái sinh lòng ganh ghét. Thế là họ lập mưu, tìm cách mượn tay người La Mã để giết Chúa bằng cách buộc tội Chúa chống lại đế quốc La Mã rồi bắt Ngài đi giao nộp. Sau khi được chính quyền La Mã giao quyền xử lý, người Do Thái đã đóng đinh Chúa trên cây thập giá. Chúa Jésus đã tiên đoán người Do Thái phải lưu vong khỏi quê hương của mình. Và điều đó đã xảy ra. Hơn 60 năm sau khi Chúa bị đóng đinh trên cây thập giá, nhiều nhóm người Do Thái nổi lên đấu tranh giành độc lập. Nhưng đế quốc La Mã với binh hùng tướng mạnh đã đập tan các cuộc kháng chiến và trục xuất dân Do Thái ra khỏi đất nước. Kết quả, người Do Thái lang thang khắp thế giới đúng như lời tiên tri của Chúa Jésus.
Từ đó, người Palestine cư trú nơi đây nhưng đất nước vẫn không phồn thịnh và hùng mạnh. Còn người Do Thái trong giai đoạn lưu vong thì làm ăn thuận lợi và trở nên giàu có. Sau khi Hitler tàn sát hơn 6 triệu người Do Thái trong Thế chiến II, người Do Thái quyết định trở về quê hương để lập quốc dưới sự ủng hộ của Mỹ. Do có sức mạnh quân sự nên họ giành được vùng đất đó. Thế là người Palestine kháng chiến vì cho rằng đây là mảnh đất của họ khi đã trải qua hơn 2000 năm gắn bó. Trong khi đó, người Do Thái tuyên bố vùng đất này thuộc về tổ tiên họ từ hơn 2000 năm trước. Chiến tranh giữa hai bên dai dẳng và gây ra nhiều đau khổ mất mát. Đến khi thiệt hại nặng nề, hai bên thương lượng chia đất và ký kết hòa bình. Tưởng như mọi việc êm xuôi, họ lại bắt đầu giành nhau từng tấc đất. Do Thái muốn chia cho Palestin ít lại, Palestine lại muốn nhiều hơn. Họ đánh nhau và lãnh tụ hai bên phải đứng ra dàn xếp. Mỗi cuộc dàn xếp như vậy, những người lãnh tụ phải bay sang Mỹ hoặc châu Âu để họp bàn cách giải quyết. Và dù có họp bàn thế nào, người dân hai bên vẫn gây chiến với nhau mãi.
Một cuộc xung đột nổ ra làm hơn 300 người chết trong vài tháng chỉ vì vụ việc đơn giản. Trong lúc bực tức, một vài người Palestine đã lấy đá chọi vào một nhóm người Do Thái, ngay sau đó người Do Thái rút súng bắn lại. Rồi hai bên lao vào đánh nhau, tạo thành cuộc xung đột lớn. Lúc đó, hai vị lãnh tụ của Palestine và Do Thái cấp tốc sang Mỹ họp bàn nhưng vẫn không tìm ra đối sách ổn thỏa.
Xung đột nổ ra vì lòng dân không muốn hòa bình. Nền văn hóa mà họ hấp thu từ truyền thống là phải chiến thắng để giành sự sống - lối suy nghĩ đó ăn sâu vào tiềm thức bao thế hệ nên mọi thỏa hiệp đều vô ích. Họ sẵn sàng châm ngòi cho chiến tranh. Nếu có súng họ sẽ dùng súng; nếu không có súng họ sẽ chọi đá. Thậm chí nếu mua được bom nguyên tử họ cũng sẵn sàng kích nổ để tiêu diệt phe kia. Tâm hận thù khiến họ trở nên sắt đá, không còn chút lòng trắc ẩn. Ngay cả những vị lãnh tụ nếu nhân nhượng với phe kia liền lập tức bị ám sát hoặc lật đổ. Thuận theo lòng dân, các lãnh tụ này buộc phải luôn làm căng với đối phương.
Do đó, muốn chấm dứt chiến tranh không dễ. Việc dàn xếp chính trị không phải là gốc rễ, mà nó ở chỗ “nhất thiết chúng sinh vô sát nghiệp”, “gia gia hộ hộ đồng tu thiện”. Con người phải dừng tay tạo sát nghiệp, tu tập phước thiện thì mới mong dựng xây được nền hòa bình cho nhân thế.
Điều này làm chúng ta nhớ lời Phật dạy trong Kinh Pháp Cú:
Lửa nào tắt được lửa
Thù nào tắt được thù
Tình thương diệt thù hận
Là định luật ngàn thu.
Đây là đạo lý được thế giới ca ngợi là nhân bản và hòa bình nhất mà không tôn giáo nào có được. Đạo lý được nói ra bởi bậc Đạo sư vĩ đại với trí tuệ siêu việt, lòng từ bi vô hạn và sự giác ngộ viên mãn. Chúng ta không thể dùng lửa dập tắt lửa, bởi làm vậy chỉ càng khiến lửa bùng cháy dữ dội hơn. Chúng ta không thể đem lòng thù hận để xóa bỏ thù hận, vì càng làm con người chuốc thêm oán đối. Chỉ có tình thương yêu, nhường nhịn mới diệt được thù hận. Người càng căm thù, ta càng từ ái. Suối nguồn tình thương sẽ hàn gắn mọi tình cảm rạn vỡ và làm lắng dịu ngọn lửa thù hận. Đó là chân lý bất diệt.
Trong đạo Phật, có một câu chuyện được ghi lại trong Kinh Pháp Cú như sau:
Vào trước thời Đức Phật, có một cặp vợ chồng chung sống đã lâu nhưng chưa có con. Dưới áp lực của mẹ chồng, người chồng buộc phải cưới thêm vợ lẽ để sinh con nối dõi. Một thời gian sau cô vợ lẽ có thai. Lo sợ gia đình chồng sẽ dành hết tình thương yêu cho người mới, người vợ cả bí mật trộn thuốc vào thức ăn khiến cô vợ lẽ bị hư thai. Không dừng lại ở đó, người vợ cả tiếp tục dùng thủ đoạn khi cô kia có thai lần hai. Sang lần ba, cô vợ lẽ phát giác và hai người đã giết nhau trong căm phẫn thù hận.
Sau khi chết, cô vợ lẽ đầu thai làm mèo, cô vợ cả trở thành con gà. Mỗi khi con gà đẻ trứng, con mèo tìm đến ăn sạch để trả thù xưa. Kiếp sau, con gà đầu thai làm beo, con mèo thành nai. Cũng vậy, con nai sinh lứa nào cũng bị con beo ăn thịt. Sang kiếp kế tiếp, con nai đầu thai làm quỷ dạ xoa, con beo trở thành cô gái nhà giàu. Oán thù còn chồng chất nên mỗi khi cô gái sinh con, quỷ dạ xoa đều bắt đi để ăn thịt. Cho đến một lần cô gái trốn được quỷ dạ xoa và hớt hải ôm con chạy vào tinh xá của Phật. Quỷ dạ xoa đuổi theo sau nhưng không vào trong được. Đến khi Đức Phật cho phép, quỷ dạ xoa chạy vào tinh xá và hiện nguyên hình.
Đức Phật đã khuyên hai người: Nếu hết kiếp này đến kiếp kia họ cứ mãi thù hận, mưu hại lẫn nhau thì oán đối sẽ không bao giờ chấm dứt. Hãy dừng lại một lần, hãy dùng tình thương để xóa thù hận, hãy chấp nhận trả nghiệp cũ để chấm dứt oan trái tại đây. Sau khi Đức Phật đọc lên bài kệ Pháp cú, quỷ dạ xoa chứng quả Dự Lưu. Quỷ dạ xoa ôm ấp đứa trẻ vào lòng, vỗ về thương yêu rồi trả lại cho cô gái. Sau đó, hai người trở thành bạn tốt và chăm sóc giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Tình thương yêu giúp họ cởi bỏ thù hận và sống một đời an vui.
Câu chuyện này là minh chứng cụ thể nhất cho sự kỳ diệu của tình thương yêu.
ĐẠO LÝ VỀ SỰ HIẾU HÒA – HÒA BÌNH
Chúng ta luôn luôn mưu tìm sự thuận hoà trong đời sống thường ngày. Đối với bạn bè, láng giềng và thân quyến, chúng ta dùng tình thương diệt thù hận và chấp nhận sự thiệt thòi về vật chất để đổi lại niềm vui và sự thoải mái êm ấm khi sống chung với nhau.
Chẳng hạn một đại gia đình cùng chung sống dưới một mái nhà. Họ xài chung nguồn điện, nguồn nước; trong đó có một gia đình tuy không khá giả nhưng vẫn vui vẻ gánh hết tiền điện nước cho các gia đình kia. Tốn thêm một chút, không cần sự phân chia công bằng mà chỉ cần sự thương yêu nhường nhịn nên họ đổi lấy được niềm hạnh phúc vui vẻ của các thành viên trong gia đình.
Cũng câu chuyện trên, nhưng nếu từng gia đình so đo tính toán với nhau chỉ vì vài đồng tiền ít ỏi thì sẽ gây ra sự khó chịu bực bội và phá tan không khí hoà thuận an vui, tình thân ái gắn bó giữa mọi người. Cho nên, để có được sự hiếu hòa, có được tình thương diệt thù hận như lời Phật dạy, đôi khi chúng ta chấp nhận sự thiệt thòi về vật chất. Vật chất là hữu hạn, vô thường; niềm vui tinh thần mới là quý giá. Vì vậy, trong cuộc sống hàng ngày, đối với thân quyến, bạn bè, láng giềng, mỗi người chấp nhận thiệt thòi, chấp nhận hi sinh nhường nhịn để đổi lấy sự êm ấm thuận hòa khi chung sống với nhau. Nếu tư tưởng đó lan rộng thì thế giới này sẽ dần đi tới hòa bình.
Ông cha chúng ta có đạo lý về hòa bình rất sâu sắc. Trong lịch sử, Trần Thủ Độ từng chiếm ngôi nhà Lý về cho nhà Trần, dù lúc đó quyền uy rất lớn nhưng ông không lên ngôi vua mà dành vị trí đó cho cháu mình. Ông có hai người cháu rất xứng đáng là Trần Liễu và Trần Cảnh. Trần Cảnh tuy là em nhưng có đức lớn và tài trị quốc. Nhìn thấy điều này, ông đã sắp đặt cuộc hôn nhân giữa Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng – vị nữ hoàng triều đại nhà Lý. Sau đó, ông chuyển giao triều chính bằng cách để Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng.
Năm 1225, Trần Cảnh lên ngôi vua lấy hiệu là Trần Thái Tông. Sau này vì Chiêu Hoàng không sinh được người kế vị, Trần Thủ Độ đã ép Trần Thái Tông phế truất bà để lấy Thuận Thiên công chúa – người chị dâu đang mang thai ba tháng. Vua Trần Thái Tông khổ sở vì những oan trái này nên ông trốn khỏi kinh thành và lên núi Yên Tử đi tu. Chính vì sự kiện này, dân chúng vốn ác cảm với nhà Trần trở nên yêu mến và ủng hộ triều đình.
Vì bị cướp mất vợ, Trần Liễu nuôi lòng căm phẫn với người em. Trước khi mất, ông dặn con mình là Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) phải giành lại ngôi vua để rửa sạch mối thù cho cha. Thế nhưng, Trần Hưng Đạo không chỉ tài ba kiệt xuất mà còn đức độ hơn người. Ông sẵn sàng đặt quyền lợi đất nước lên trên mối thù nhà. Khi quân Nguyên xâm lăng, Trần Quốc Tuấn được vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh các đạo quân thủy bộ. Ông đã mời Thái sư Trần Quang Khải - người anh em chú bác ruột của mình lên thuyền, sai nấu nước thơm để tự tay xối nước tắm cho Trần Quang Khải. Hưng Đạo Vương làm như thế để vĩnh viễn xóa bỏ mối hận thù trong dòng họ. Từ đó, họ đoàn kết cùng nhau chống giặc ngoại xâm và kết quả là Đại Việt đã ba lần oanh liệt chiến thắng quân Nguyên Mông.
Chúng ta thấy rằng xưa nay, đôi khi chuyện lớn lại được giải quyết một cách dễ dàng bắt đầu từ một chuyện ngỡ như rất nhỏ. Chuyện nhỏ vì thế không còn nhỏ nữa, bởi chỉ có những đấng đại trượng phu chính tâm thành ý mới có thể dũng cảm làm được. Vì thế, cho đến ngày nay Trần Hưng Đạo vẫn được nhân dân ca ngợi và xưng tụng là bậc Thánh muôn đời của dân tộc.
Tinh thần Việt Nam là tinh thần yêu chuộng hòa bình. Dân tộc chúng ta là dân tộc hiếu hòa: “Một câu nhịn, chín câu lành”; “Dĩ hòa vi quý”, đạo lý đó của dân tộc rất gần với đạo lý nhà Phật. Nhưng đôi khi chúng ta quên không áp dụng sâu sắc vào các mặt của cuộc sống. Ngày xưa, ông cha chúng ta sống theo đạo lý qua những câu ca dao, tục ngữ và dùng chúng để giáo dục, răn dạy con cháu mình:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”.
Hay:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.
Đối với lớp trẻ ngày nay, không biết những đạo lý tốt đẹp đó có được người lớn nhắc nhở nhiều không? Còn đối với người đệ tử Phật, chúng ta chỉ sống bằng tình thương yêu, nghĩa là trong đôi mắt ta không có ai là kẻ thù cả. Nói thấp hơn một chút, trong lòng một người đệ tử Phật không được ghét ai, dù cái ghét rất nhỏ nhặt từ những điều lặt vặt trong cuộc sống. Chúng ta chỉ sống với lòng từ bi chan rải khắp nơi. Càng tu, lòng thương yêu của chúng ta đối với chúng sanh phải càng sâu đậm. Tất cả chúng sinh đều đáng được thương yêu và hóa độ bởi Phật Pháp, ngay cả với những người xa lạ hay những kẻ chỉ trích, công kích, gây ra đau khổ cho chúng ta.
Xin tâm con yêu mến
Cả những người chẳng quen
Trên đường đời nhiều phen
Gặp nhau mà không biết.
Xin tâm con thương hết
Cả những người ghét con
Thậm chí đã đưa con
Vào khốn cùng đau khổ.
Rất nhiều người đã có tội với Phật Pháp, với dân tộc này. Họ mượn danh nghĩa đạo Phật để kết án và chống đối người khác. Những người này thường nằm trong hai trường hợp: Một là hiểu sai về giáo lý, hai là rắp tâm phá hoại đạo Phật. Trường hợp sau rất đáng lo ngại. Việc nêu cao tinh thần yêu chuộng hòa bình là một trong những lý do khiến đạo Phật trở thành mục tiêu chống phá của nhiều phe phái. Có những thế lực bên ngoài đã cho người giả mạo làm Phật tử nhằm gây chia rẽ, xích mích nội bộ để phân hóa đạo Phật.
Là đệ tử Phật, chúng ta quyết ngăn cản để họ dừng tay tạo nghiệp nhưng lòng không bao giờ được thù oán, lúc nào cũng cầu mong cho họ được hóa độ bởi Phật Pháp. Họ có làm những điều sai lầm chỉ bởi vì si mê, vô minh. Họ không nhận thức được chân lý, không nhận thức được lẽ phải, không tin vào nhân quả nghiệp báo nên mới đối xử tàn bạo với mọi người. Dù phạm lỗi nhưng họ đáng thương hơn đáng trách. Chúng ta phải suy nghĩ như vậy mà thương yêu họ. Đó là cách sống theo đạo lý của nhà Phật.
Nhìn lại lịch sử thế giới, khi một nước muốn cướp đoạt, chiếm hữu nhân lực, tài nguyên của nước khác thì họ tìm cách gây chiến tranh xâm lược. Đó là cuộc chiến tranh phi nghĩa. Tổ tiên chúng ta và các dân tộc trên thế giới đã nhiều lần phải chiến đấu để tự vệ trước những thế lực áp bức nhân danh chính nghĩa để giành lại độc lập tự do cho dân tộc, thoát khỏi chuỗi ngày sống trong khổ sở.
Ví dụ, thế kỷ XV, nhà Minh sai Trương Phụ, Mộc Thạnh mang 20 vạn quân sang xâm lược nước ta, lấy danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ” nên được hỗ trợ bởi một số lực lượng người Việt. Non sông gấm vóc, độc lập chủ quyền nền văn hiến lâu đời của quốc gia Đại Việt quằn quại dưới gót giày xâm lược của giặc Minh. Chúng cấu kết với bọn Việt gian bán nước, gây ra bao tội ác, trời không dung đất không tha:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”;
“Dối trời, lừa dân, đủ muôn nghìn kế
Gây binh kết oán, trải hai mươi năm”.
“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”.
Có thể nói sau thảm họa hơn nghìn năm Bắc thuộc thì thời Minh thuộc 20 năm là thảm họa lớn thứ hai đặt ra trước nhân dân ta một thách thức có ý nghĩa sống còn của dân tộc. Vận mệnh của cả cộng đồng dân tộc cùng với nền văn hóa dân tộc, cuộc sống và phẩm giá của con người, tất cả đứng trước nguy cơ hủy diệt.
Vì ước vọng hòa bình và độc lập khẩn thiết của toàn dân mà Lê Lợi giương cao ngọn cờ để tập hợp hào kiệt, khởi nghĩa chống giặc. Dưới ngọn cờ đại nghĩa ấy, nhân dân ta đã nhất tề đứng lên đoàn kết chiến đấu hơn mười năm mới giành được độc lập.
Đánh giá sự hiếu hòa hay hiếu chiến của một dân tộc căn cứ trên giới hạn chịu đựng của dân tộc đó. Nếu chỉ vì một lý do cỏn con cũng gây chiến hoặc chỉ một chút xích mích mà lao vào đánh nhau, vì một số lợi ích không đáng có mà đòi ly khai, khủng bố, đặt bom thì đó là dân tộc hiếu chiến. Ngược lại, khi xung đột bắt đầu xảy ra người ta tìm cách dàn xếp, ngoại giao, kiềm chế... thì gọi là hiếu hòa. Dân tộc nào cũng luôn phải cân nhắc giữa giới hạn chịu đựng và mơ ước thanh bình mà quyết định sẽ hành động như thế nào. Bởi quyết định này không chỉ liên quan đến quốc gia của họ mà còn ảnh hưởng đến nền hòa bình thế giới.
Trên hành tinh nhỏ bé này, chiến tranh đã gây ra vô số khổ đau mất mát cho dân tộc. Chiến tranh xảy ra, con người sống vô cùng khổ sở. Khi các sắc tộc đánh nhau ở châu Phi, từng đoàn người phải lũ lượt đi tị nạn. Họ gồng gánh hành lý, bồng bế con cái trên lưng, băng qua những sa mạc không thức ăn nước uống. Trên hành trình đó, có những em bé co quắp lại như bộ xương vì đói, có những người ngã gục nơi đất khách quê người. Họ không được sống yên bình trên mảnh đất tổ tiên để cày cấy trồng trọt, để sống đời yên vui của kiếp người. Chiến tranh đã cướp đi ước mơ về cuộc đời bình dị yên ổn của vô số người.
Ngoài sự tàn bạo, giết chóc, chiến tranh còn gây đau khổ cho người dân vô tội. Nói theo nhân quả thì họ có tội ở kiếp nào đó nên phải gặp quả báo, nhưng ở đời sống hiện tại họ vẫn là những người đáng thương. Những kẻ gây chiến luôn có quyền lực, tổ chức quân đội và nhắm đến mục đích chính trị, tôn giáo, kinh tế. Cho nên người tin sâu nhân quả không bao giờ nghĩ đến việc gây ra chiến tranh. Họ hiểu rằng việc giết hại hoặc gây đau khổ cho con người, nhất là người dân lương thiện là một tội nặng. Còn những kẻ hiếu chiến, đa phần là người không tin vào nhân quả.
Đạo Phật luôn luôn gìn giữ con người trong hòa bình. Vì vậy, thế giới này rất cần tinh thần “tình thương diệt thù hận” của đạo Phật bên cạnh sự tin hiểu nhân quả để đắp xây cho nền hòa bình chung.
Rồi hòa bình sẽ đến
Đến cho dân tộc Việt
Đôi chim bồ câu trắng
Rủ nhau về làng xưa...
Ngày xưa đã từng có bài hát như vậy. Có chiến tranh xảy ra vì nghiệp được gieo đến lúc phải trả. Khi hết nghiệp, chiến tranh sẽ đi qua và hòa bình được tái lập. Nhưng rất nhiều người chưa biết đạo vẫn đè nặng trong lòng dấu ấn của cuộc chiến cũ để rồi tiếp tục hơn thua, thù hận, chống đối dù đất nước đã thanh bình. Chúng ta phải xây dựng lại tất cả từ đạo lý thương yêu. Nếu là người thắng, chúng ta vẫn thương yêu kẻ thua; nếu là người thua, chúng ta không oán thù kẻ thắng. Chiến tranh là do nghiệp nhân quá khứ, nó như một trò đùa, một bi hài kịch diễn ra trong cuộc sống này. Với người đệ tử Phật, mọi hận thù phải được xả bỏ, tâm hồn không bao giờ còn được vương mang oán đối. Chúng ta gieo nhân hòa bình thì đời đời kiếp kiếp mới được sống trong hòa bình.
Trong cuộc sống bình thường vẫn có những xung đột xảy ra thường xuyên: trong cơ quan làm việc, họ hàng, lối xóm... Chúng ta sẽ phải đối diện với những sự tranh quyền đoạt lợi, sự chỉ trích hay thậm chí mưu hại. Những lúc như thế mỗi người hãy bao dung, không dưỡng oán thù. Chúng ta dừng lại những cuộc chiến nhỏ như cãi vã, hơn thua, xung đột lặt vặt với nhau để tránh rơi vào các trận chiến lớn ở tương lai. Tâm yêu chuộng sự an bình là nhân lành để không phải sống trong cảnh chiến tranh giết chóc. Trái lại, nếu với những xung đột nhỏ nhặt trong cuộc sống mà xé ra thành chuyện lớn thì một ngày nào đó chúng ta sẽ bị cuốn vào những cuộc chiến lớn theo đúng nhân quả. Thế nên tư tưởng “Thêm bạn bớt thù”, “Một câu nhịn chín câu lành” của người Việt Nam hoàn toàn phù hợp với luật nhân quả và gần gũi với giáo lý đạo Phật.
Tại một số vùng ở Trung Đông, người ta sống với tinh thần “răng phải đền răng, mắt phải đền mắt”. Hễ bị ai đánh, họ sẽ trả đũa lại bằng như những gì nhận được. Lối suy nghĩ đó ăn sâu, truyền đời rồi trở thành cách sống của dân tộc, biến họ trở thành kẻ hung hăng hiếu chiến. Và khi vào tôn giáo, họ cũng có niềm tin cuồng nhiệt, ai không đi theo đạo với họ, người đó đáng bị giết. Đây là điều đáng lo vì khi họ đã có niềm tin thì không dùng lý luận cãi được, họ tin mà không cần giải thích. Cứ thế, họ đi giết chóc và khơi mào chiến tranh. Ở Algeri, nhóm cực đoan Hồi giáo thỉnh thoảng lại tấn công các ngôi làng, bắt trẻ em và phụ nữ ra cắt cổ. Khi họ rút đi chỉ còn xác người nằm ngổn ngang. Họ muốn dùng nỗi khiếp sợ để khuất phục kẻ khác, tuy nhiên họ đâu biết cái mình nhận lại là nỗi oán thù và sự khinh bỉ.
“Một câu nhịn, chín câu lành” vượt hơn hẳn đạo lý “Răng phải đền răng, mắt phải đền mắt”. Chúng ta may mắn có một đạo lý dạy con người biết chịu đựng, nhẫn nhịn để giữ được sự hiếu hòa. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta nhút nhát, sợ hãi và tránh né.
Ví dụ như trong làng xóm có thành phần hung hăng nguy hiểm, chúng ta phải báo cho các nhà chức trách xử lý để giữ sự bình yên cho mọi người. Bằng không, chúng sẽ tiếp tục hiếp đáp người khác. Còn giữa xóm làng với nhau, những người sống gần gũi đôi khi có những đụng chạm quyền lợi. Quyền lợi đó tuy nhỏ nhưng ta bực dọc, hơn thua, giận hờn rồi ghét nhau mãi mãi. Đó là điều không đáng chút nào. Vậy nên, dù có những lúc mà tài năng người vượt trội hơn ta, ta vẫn vui vẻ chấp nhận; hoặc gặp những lời nói xỏ xiên, hạ nhục, chỉ trích, ta lặng lẽ mỉm cười bỏ qua. Đó là ta dùng đạo lý nhẫn nhục, hiếu hòa, từ bi của đạo Phật để vượt qua. Đạo lý nhẫn nhục có giá trị rất lớn trong việc xây dựng đời sống thanh bình cho xã hội. Đạo lý này dạy con người khi bị xúc phạm hoặc chịu thiệt thòi thì không bận tâm, không giận dữ tự ái mà hoan hỉ bỏ qua hoặc xem như một sự bố thí vật chất. Đôi khi những người xa lạ mà có hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, ta vẫn chủ động biếu tặng vật chất, huống hồ là những người sống gần gũi mình như họ hàng, làng xóm.
Như vậy, chúng ta có thể đo được sự bao dung của mình đến mức độ nào. Ví dụ, ai xúc phạm ta một câu, ta kiềm chế được; ai hiếp đáp dăm ba lượt, ta nhẫn nhịn được nhưng tới bảy lần thì ta phản kháng. Tức là, lòng bao dung của chúng ta chỉ tới mức bảy. Mức độ đó vẫn chưa đủ. Vì nhân như thế nên quả báo trở lại, tuy ta sẽ không rơi vào các cuộc xung đột nhỏ nhưng vẫn bị cuốn vào chiến tranh lớn của nhân loại. Ngược lại, nếu lòng ta bao dung trước mọi sự xúc phạm, mưu hại được thì vĩnh viễn ta không bị kéo vào các cuộc chiến dù nhỏ hay lớn. Sự nhẫn nhục vô hạn giúp ta đủ sức thoát ra mọi cuộc chiến mà đi về nơi thanh bình yên ả, bỏ lại đằng sau những con người hơn thua thù hận. Họ sẽ lại tiếp tục quay cuồng chém giết lẫn nhau theo đúng duyên nghiệp của mình.
TRÁCH NHIỆM TRUYỀN BÁ HÒA BÌNH THEO TINH THẦN ĐẠO PHẬT
Có ba trường hợp khơi mào chiến tranh: người lãnh đạo đủ sức mạnh (người dân không cưỡng lại được); hoặc người dân quá hiếu chiến (người lãnh đạo phải theo ý dân); hoặc người lãnh đạo và toàn dân đều hiếu chiến. Ngược lại, cũng có ba trường hợp chặn đứng chiến tranh: lãnh tụ muốn gây chiến (người dân đủ tiếng nói và sức mạnh để ngăn lại); hai là người dân muốn gây chiến (lãnh tụ dập tắt, kìm hãm được); ba là cả lãnh tụ và dân đều hiếu hòa.
Yếu tố lòng dân là rất quan trọng. Một đất nước muốn người dân có tinh thần hiếu hòa thì lãnh đạo đất nước đó phải giáo dục người dân có đạo đức. Đó là một sự giáo dục lâu dài. Nhìn lại tranh chấp Israel – Palestine, nếu người dân ít nhiều thấm nhuần tinh thần của Phật giáo, có lẽ họ sẽ bớt kỳ thị, phân biệt nhau bởi dân tộc, tôn giáo; thậm chí xóa đi biên giới lãnh thổ để hai quốc gia liên bang thành một mà thôi.
Vì vậy, nền hòa bình trước tiên phải được xây dựng từ trong lòng người. Từng người tu tập, sống hiếu hòa, thương yêu, chịu đựng, nhẫn nhục... và giáo dục điều đó lại cho con cháu. Như vậy, chúng ta vừa gieo nhân hòa bình cho bản thân, cho các thế hệ con cháu, cho dân tộc và toàn thể nhân loại. Hòa bình không phải là kết quả vài nỗ lực đơn lẻ của một vài lãnh tụ, đó phải là công trình kiên cố được xây đắp từ lòng dân.
Nếu một ngày nào đó cả thế giới đều tin luật Nhân quả - Nghiệp báo, tất cả đều hiểu được đạo Phật thì ngày đó thế giới mới có thể có hòa bình lâu dài. Vì sao? Vì hòa bình hay chiến tranh lệ thuộc vào lòng người. Một số ít vị lãnh đạo cũng không bằng toàn dân một lòng yêu chuộng hòa bình. Cho nên làm cho con người có tình yêu hòa bình rất quan trọng, và đạo Phật có dư đạo lý để thắp sáng cho nhân loại tình yêu như thế. Nhưng tiếc rằng trong nhiều ngàn năm qua, cách truyền đạo lý của đạo Phật chưa hiệu quả lắm.
Ngày xưa ở các vùng Ấn Độ, Trung Đông, Trung Á, Phật giáo đã từng có thời kỳ phát triển huy hoàng nhưng rồi gần như biến mất trước những tôn giáo có lối truyền đạo mạnh mẽ, quyết liệt.
Trách nhiệm này thuộc về ai?
Trước hết là lỗi của Tăng Ni, kế đến là Phật tử. Tăng Ni không nhiệt tình năng nổ, không thấy được trách nhiệm nặng nề trong việc truyền bá đạo lý Phật dạy. Và không ít Phật tử biết chút ít về đạo Phật rồi chỉ muốn đi về cõi cực lạc, hoàn toàn quên lãng lý tưởng, quên trách nhiệm phải mang đạo lý đến với cuộc đời. Vì lý do thầm kín này, ngày nay Phật giáo tại nhiều vùng đất đã hoàn toàn biến mất. Ở đó, súng vẫn nổ, đạn vẫn bay, máu vẫn đổ, nước mắt vẫn rơi và xác người vẫn tiếp tục phơi ngoài đồng.
Thời kỳ khi đạo Phật chiếm ưu thế ở vùng Trung Đông, Trung Á sang đến châu Phi, nếu Tăng Ni và Phật tử kiên cường hộ đạo, nhiệt tâm truyền bá thì ngày hôm nay có lẽ những nơi này đã là miền quê yên bình với đồng cỏ phì nhiêu, đàn bò gặm cỏ tươi và trẻ thơ ca hát bên dòng suối mát. Ngày nay ở những miền đất này, một xung đột nhỏ cũng đủ làm người ta mang bom đi giết nhau.
Tinh thần hòa bình của đạo Phật quá tuyệt vời là điều không thể phủ nhận, nhưng cách truyền bá yếu ớt đã không đem được nhiều điều lợi cho thế giới. Vậy từ đây, biết được lỗi của mình, hiểu trách nhiệm của mình, Tăng Ni và Phật tử chúng ta phải cố gắng sửa đổi, tích cực nỗ lực truyền bá đạo Phật. Hãy phát nguyện mạnh mẽ để trở thành “Sứ giả của Như Lai” mang Chánh pháp, trong đó có thông điệp hòa bình của Đức Phật đến với mọi nẻo đường nhân thế.
Chúng ta mang thông điệp hòa bình đó đến muôn nơi bằng cách:
Làm cho mọi người trên thế giới tin hiểu Luật Nhân Quả
Nhưng bằng cách nào? Dĩ nhiên không ai có thể “kêu gọi mọi người trên thế giới”, bởi điều này thật sự vô cùng khó. Chúng ta chỉ tùy duyên mà làm những việc trong tầm tay, nghĩa là khi quen biết ai, chúng ta khéo léo gieo duyên để họ tin vào sự công bình của luật Nhân quả - Nghiệp báo để họ dừng tay tạo nghiệp, dừng tay làm điều ác, tu tập làm phước lành.
Có một Phật tử trên một chuyến xe buýt đã trò chuyện làm quen và thuyết phục được người khác tin vào nhân quả. Sau đó, dù bị kẻ gian móc túi mất ví tiền ngay trong chuyến xe nhưng Phật tử này vẫn thấy lòng mình bình an. Chúng ta thấy niềm tin nhân quả mang đến những điều lợi lạc vô cùng trong cuộc sống như vậy, nên để tạo dựng được niềm tin này, chúng ta không từ nan bất cứ khó khăn nào. Con người càng hơn thua giành giật vì không biết đến nhân quả báo ứng, ta càng thiết tha, quyết tâm mang thông điệp hòa bình của Đức Phật đến với thế giới. Ta phải làm điều này thật chu đáo. Nếu còn một người nào trước mắt ta chưa tin hiểu nhân quả là ta còn phải bận tâm lo lắng. Khi ta rời bỏ cuộc đời này, tiền bạc danh vọng đều hư ảo, chính cái phước từ những lần gieo rắc nhân quả vào lòng người đó mới trở thành tài sản vô hình theo ta qua nhiều kiếp luân hồi
Kêu gọi con người sống với tình thương yêu đại đồng
Tình thương trong đó có những cái riêng tư và chung đồng. Riêng tư nhất là tình yêu nam nữ; chung đồng nhất là tình thương yêu tất cả chúng sinh; ở khoảng giữa là tình cha mẹ, anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp, đồng chí, đồng đạo, tình yêu nước, tình nhân loại.
Còn tình thương yêu đại đồng là gì?
Đức Phật từng dạy:
“Không có giai cấp khi máu cùng đỏ
Không có giai cấp khi nước mắt cùng mặn”.
Sự sống của tất cả mọi người đều đáng quý như nhau. Chúng ta có mặt trên cuộc đời này, tất cả đều chịu chung những nỗi khổ giống nhau – nỗi khổ khi người thương yêu phải chia lìa, người oán đối cứ gặp gỡ, những ước nguyện không được toại ý... Vì vậy, chúng ta kêu gọi con người cùng nhau hướng đến tình thương yêu đại đồng - tình thương vượt qua mọi điều khác nhau về biên giới, đất nước, quốc tịch, chủng tộc, giai cấp, tôn giáo.
Dĩ nhiên không phải mọi tôn giáo đều chân chính. Trong tương lai không xa, thế giới sẽ phải tìm ra một tôn giáo chung cho toàn thể nhân loại. Tuy nhiên hiện nay tất cả phải cùng nhau bỏ qua mọi khác biệt để đi tìm tình thương chung cho con người trước. Đó mới là điều nhân loại lúc nào cũng khát khao nhất.
Lời kêu gọi sẽ không có sức mạnh nếu chỉ dừng lại ở đầu môi hay vành tai. Một người đứng lên kêu gọi mọi người sống nhân ái nhưng trong lòng họ không thương yêu được ai thì mọi lời nói đều trở nên sáo rỗng, không có sức mạnh. Cũng vậy, lời kêu gọi thương yêu nhân loại nhưng chỉ dừng lại ở cái nghe thì trái tim cũng dửng dưng không lay động.
Muốn đem thông điệp hòa bình thứ hai của Đức Phật đến với nhân loại, chúng ta phải đi từ trái tim đến trái tim (from heart to heart).
Mỗi ngày chúng ta lễ Phật tọa thiền, hãy dặn lòng thương yêu khắp tất cả chúng sinh. Từ những phút giây quán tưởng, rải lòng từ bi đến mọi người mọi loài và những ngày tháng tu tập vất vả, khi chúng ta cất lên thông điệp hãy thương yêu mọi người thì trái tim người nghe sẽ lay động. Từng lời nói của ta không dừng lại ở vành tai mà đủ sức mạnh đi thẳng đến trái tim và nằm kiên cố tại đó. Tâm hồn người nghe được rung động, cảm hóa để họ bắt đầu mở lòng mình ra mà yêu thương con người.
Kêu gọi mọi người tu tập hạnh nhẫn nhục
Vì sao cần phải có lời kêu gọi như thế? Vì trong cuộc sống này đầy những điều bất ổn, bất cứ ai đều từng trải qua những điều không toại ý hoặc bị thiệt thòi xúc phạm vì sự chi phối của nghiệp duyên nhân quả quá khứ. Chúng ta phải tu hạnh nhẫn nhục, phải chịu đựng, bình thản mà không oán hận trước những cảnh trái ý nghịch lòng, trước những sự mưu hại của người khác đối với mình. Hãy lý giải về nhân quả và kêu gọi mọi người tu tập hạnh nhẫn nhục để tránh gây nghiệp oán thù: Không dùng oán thù xóa oán thù mà chỉ có nhẫn nhục, có thương yêu mới xóa được oán thù. Nếu càng tạo oan trái, con người càng nhận lấy những quả báo xấu và chồng chất thêm đau khổ.
Thông điệp hòa bình này cũng phải đi từ trái tim đến trái tim. Trong cuộc sống nếu chúng ta đã nhiều lần bình thản, nhẫn nhục; đã nhiều lần nén nước mắt để chịu đựng nỗi đau nào đó, và đã phải cố nhẫn nhục để vượt qua mọi uất ức, bực bội, oán thù để giữ lại lòng thương yêu và sự tha thứ thì khi chúng ta đứng lên kêu gọi sự nhẫn nhục, trái tim người nghe sẽ bị lay động mạnh mẽ. Nhờ lan truyền được thông điệp này, nhiều người biết dừng lại cái nhân chiến tranh nhỏ trong cuộc sống, dần dần thế giới sẽ tiến đến tương lai hòa bình.
Biết và giải thích cho mọi người hiểu thế gian này là vô thường
Sinh ra và lớn lên giữa lòng nhân loại, được đón nhận bao nhiêu ân nghĩa nên chúng ta không được tránh né mà phải có trách nhiệm với cuộc đời. Nhưng chúng ta cũng biết thế gian này là vô thường tạm bợ, không phải là nơi để đi tìm hạnh phúc vĩnh cửu. Hạnh phúc vĩnh cửu nằm ở đời sống tâm linh. Ở mức độ cao siêu hơn, đó là Niết Bàn tuyệt đối. Tuy nhiên, chúng ta cũng không vội vã quay lưng với thế gian để đi tìm Niết Bàn mà phải sống hết lòng với tất cả. Song song với trách nhiệm đó, chúng ta vẫn lặng lẽ đi tìm hạnh phúc vĩnh cửu từ trong tâm linh. Đi tìm hạnh phúc tâm linh bằng tâm định là một cách tuyệt vời nhất.
Vậy nên chúng ta phải nỗ lực tu tập thiền định. Một ngày nào đó khi công đức đủ đầy, ta sẽ nhập được vào định. Lắng tâm trong sự thanh tịnh vô biên đó, quên cả thân, cả tâm, lúc đó ta mới thấy đây là sự an lạc giải thoát, là hạnh phúc thật sự mà không niềm vui xao động nào của thế gian có thể so sánh được. Do có niềm vui từ nội tâm thanh tịnh nên đối với thế gian này, chúng ta mỉm cười trước nghịch cảnh, độ lượng thứ tha trước những lầm lỗi, thương yêu chan hòa thế giới nhưng không dính mắc.
Chúng ta cũng hiểu rằng nếu ngày nay chiến tranh xảy ra thì sự hủy diệt sẽ rất lớn. Nhà bác học Albert Einstein đã từng nói: “Tôi không biết chiến tranh thế giới thứ III sẽ xảy ra khi nào nhưng tôi biết rằng chiến tranh thế giới thứ IV, người ta sẽ dùng đá và gậy để ném nhau”. Câu nói trên ngụ ý chiến tranh thế giới thứ III sẽ hủy diệt sạch nền văn minh nhân loại và đưa con người trở về thời kỳ đồ đá. Nếu có một vài người sống sót để gây nên cuộc chiến tranh thế giới thứ IV, chắc chắn chỉ còn cách dùng gậy gộc, đất đá để chọi nhau.
Phương tiện kỹ thuật ngày nay quá hiện đại nên mức độ tàn phá của chiến tranh sẽ không thể lường được. Vì thế, đối với loài người, hòa bình có một ý nghĩa cực kỳ quý giá nên chúng ta phải hết sức yêu chuộng, giữ gìn. Ngoài ra, chúng ta còn có bổn phận thấm sâu thông điệp hoà bình của Đức Phật và nỗ lực truyền bá thông điệp đó khắp mọi nẻo đường nhân gian bằng trái tim đầy ắp tình thương yêu.
ĐẤT NƯỚC THANH BÌNH
Chúng ta đang sống trong một đất nước thanh bình. Cảnh thanh bình trên đất nước mà trong thời chiến thế hệ của chúng tôi - những người lớn tuổi - hằng khao khát từng ngày, từng giờ.
Ngày nay, có thể đất nước ta còn chậm phát triển so với các nước trên thế giới bởi tàn dư của những cuộc chiến tranh liên miên suốt thời kỳ dựng nước, và cũng còn nhiều điều hạn chế nhưng trên nền hòa bình này, chúng ta xây dựng lại dần dần. Có thể chúng ta chưa bằng lòng về nạn kẹt xe, xả rác bừa bãi, thiếu vệ sinh an toàn thực phẩm hay thực trạng tham nhũng, hối lộ làm mất lòng tin của dân... nhưng chúng ta hy vọng mọi điều chưa tốt đẹp đó sẽ được gầy dựng lại như mơ ước trên nền hòa bình này. Và chúng ta cũng đừng để đất nước lại chìm trong khói lửa. Dân tộc đã quá khổ đau vì chiến tranh. Chúng ta phải luôn cảnh giác, đề phòng và tìm cách ngăn chặn các thế lực ngấm ngầm xúi giục, châm ngòi cho chiến tranh.
Tại Belarus, lực lượng an ninh đã từng bắt được số lượng vũ khí rất lớn được vận chuyển từ châu Âu. Những tổ chức bên ngoài đã âm mưu chuyển số vũ khí này cho các lực lượng chống đối ở Belarus để gây nên tình trạng bất ổn trong nước. Trên thế giới luôn có những thế lực như vậy, họ giàu có, dư dả phương tiện và muốn phá vỡ nền hòa bình của các dân tộc.
Sự tàn khốc của chiến tranh càng lớn, ý nghĩa của hòa bình càng quý giá. Hãy trân quý gìn giữ sự bình yên của đất nước, bởi luôn có những thế lực sẵn sàng xúi giục và châm ngòi cho các trận chiến vì tư lợi cá nhân. Trong khi máu người dân vô tội đổ xuống, họ vẫn an ổn giàu sang ở xứ sở của mình mà không mảy may bận lòng. Đây là điều mỗi đất nước phải đề cao cảnh giác.
Yêu chuộng và bảo vệ nền hòa bình của đất nước quê hương là bổn phận, trách nhiệm của tất cả mọi người. Chúng ta đã gây nhân lành để được sống trong đất nước thanh bình thì kiên quyết không để lọt vào âm mưu chiến tranh. Cần nhắc lại là khi trong tâm ta còn xem ai là kẻ thù thì ta còn phải hứng chịu mưa bom bão đạn. Vậy nên mỗi người hãy dừng lại mọi hận thù hơn thua, sống yêu thương tử tế với cuộc đời để chung tay chấm dứt nghiệp chiến tranh cho thế giới trong vô lượng kiếp sắp đến.
Và cái ước mơ nhỏ bé của chúng tôi đã được kết thành bài thơ, xin tặng cho tất cả những ai yêu chuộng hòa bình:
Ý nghĩa của hòa bình
Xin máu người vô tội đừng rơi
Xin xác người vô tội đừng phơi
Trong mắt em thơ đừng kinh sợ
Cho mẹ già yên giấc nghỉ ngơi.
Xin hòa bình đến với muôn nơi
Xin loài người lệ hết đầy vơi
Xin thương yêu này không bờ bến
Tặng cho nhau tất cả người ơi!


