CHÚNG TA BẮT ĐẦU LÀM VIỆC TỪ THIỆN TỪ
LÚC NÀO VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI VIỆC LÀM TỪ THIỆN
Trong xã hội có nhiều việc cần phải làm, có nhiều điều cần phải nói, trong đó có vấn đề quan trọng là làm việc từ thiện.
Từ thiện là có lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó. Việc làm từ thiện là những việc làm lợi ích cho con người nói chung và cho cộng đồng xã hội nói riêng.
Đời sống xã hội với những hoạt động không ngừng diễn biến theo thời gian. Cuộc đời của mỗi người cũng diễn biến, đổi thay với những nỗi thăng trầm không ai có thể biết trước được: thành công hay thất bại, hạnh phúc hay đau khổ, giàu hay nghèo, mất mát, cô đơn... Trong nỗi bất hạnh của cuộc đời như vậy, có lúc nào đó, chúng ta cũng phải cần đến sự giúp đỡ của người khác.
Trên thế giới, trong mỗi nước có những tổ chức từ thiện sẵn sàng tìm tới những vùng đất hẻo lánh, những vùng đất bị thiên tai, ở đó có những người đang gặp khó khăn trong cuộc sống. Hoặc có những cá nhân giàu lòng nhân ái, sẵn sàng giúp đỡ những người nghèo khổ, giúp đỡ những ai cần đến họ từ quần áo, thuốc men, chăn mền, cơm gạo...
Chúng ta bắt đầu biết đạo từ khi đến chùa, lạy Phật sám hối, nghe thuyết Pháp, tham khảo sách giáo lý... nhưng nếu chỉ dừng lại ở những việc như thế thì chưa gọi là thấm đạo, chưa hiểu đạo sâu sắc bởi đạo lý chưa được biến thành hành động. Vì khi hiểu đạo sâu sắc rồi, đời ta sẽ xuất hiện ra hai việc làm: Một là, có công phu tu tập như niệm Phật chăm chú để nhiếp tâm, hoặc thiền định chăm chú để đi sâu vào tâm linh; Hai là, phải làm việc từ thiện đối với xã hội. Nghĩa là chúng ta luôn luôn thấy thương người, tình thương này thôi thúc chúng ta sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khổ, người gặp hoạn nạn... Điều này có thể đánh giá được thiện căn của chúng ta đối với Phật Pháp. Bởi vì người có thiện căn thì luôn luôn được thúc đẩy, thôi thúc phải làm việc từ thiện.
Vậy chúng ta được thôi thúc phải làm việc từ thiện từ lúc nào? Chính là lúc chúng ta bắt đầu đến với Phật Pháp. Có những người sống an phận gần suốt cuộc đời cho đến khi gặp đạo Phật, rồi phải đến ba, bốn năm sau, trong tâm mới thôi thúc phải làm một việc gì đó để mang lại lợi ích cho con người và xã hội. Đây là người hiểu đạo muộn. Nhưng cũng có nhiều người dù chưa gặp đạo Phật, chưa hiểu đạo, chưa đến chùa quy y, nhưng người này có duyên với đạo Phật ở nhiều kiếp trước, thiện căn đời trước rất sâu dày, nên ở kiếp này, dù tuổi còn trẻ mà trong lòng luôn thôi thúc phải làm việc từ thiện. Quan trọng là cái tâm thôi thúc làm việc từ thiện. Chúng ta nói người này (từ nhiều kiếp trước) đã hiểu đạo. Vì thế, chúng ta hãy nhìn lại tâm mình, xem có bị thôi thúc phải làm điều gì đó để mang lại lợi ích cho con người hay chưa?
Nếu chúng ta vẫn chưa thấy thôi thúc phải làm điều gì đó mang lại lợi ích cho con người thì việc hiểu đạo của chúng ta vẫn chưa sâu. Trái lại, nếu chúng ta nhìn vào tâm mình, thấy sự thôi thúc đó đã xuất hiện là chúng ta có hiểu đạo sâu, hiểu chín chắn. Có thể chúng ta chưa có điều kiện, chưa có định hướng gì để làm việc từ thiện nhưng đã có sự thôi thúc bên trong nội tâm rồi. Vì sao vậy? Vì giáo lý của đạo Phật là giáo lý của lòng từ bi, thương yêu con người, nên khi có dịp là ra tay cứu người, giúp người.
Chúng ta có thể học thiên kinh vạn quyển, những bài kinh rất cao như Kim Cang, Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm v.v... Chúng ta học những bài kinh thuộc hệ Nguyên thủy như kinh Nikaya hoặc nghe giảng Pháp rất nhiều. Song, hiểu đúng đạo Phật thì chúng ta phải hiểu rằng đạo Phật là đạo từ bi, thương yêu chúng sinh. Cái hiểu đó phải được thấm vào tâm. Từ đó, chúng ta mới buông hết ích kỷ, mới bao dung độ lượng với mọi người, thấy ai cũng yêu thương, cũng muốn giúp đỡ, gần gũi. Điều cao cả, tuyệt vời vi diệu này, muốn thực hành được phải cả một đời tu hành chân chính. Trong cuộc sống, mỗi ngày, mỗi giờ, tiếp xúc với con người, chúng ta nhìn thấy đủ mọi thành phần, đủ mọi tầng lớp, đủ mọi tình huống. Nhưng, dù ở bất cứ tình huống, hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn thấy lòng tràn ngập tình thương yêu chúng sanh.
Ví dụ ngay cả những người lầm lỗi, chúng ta vẫn nhìn họ bằng cặp mắt và trái tim thương yêu; chúng ta vẫn thấy họ cần được tha thứ, chỉ mong họ vươn lên, tốt hơn, chứ chúng ta không công kích, chống đối, chỉ trích... Sống trong cuộc đời này mọi người đều phải thương yêu nhau. Khi thấy người ta sống mà ganh ghét nhau, người này hận người kia, lòng chúng ta ray rứt không yên. Chúng ta mong sao môi trường sống chung quanh mình, trong chùa, trong đạo, ngoài xã hội rồi rộng ra cả nước, cả thế giới mọi người đều thương yêu nhau. Chúng ta phải tu cho được cái tâm như vậy, thì mình sẽ là một chiến sĩ hòa bình của thế giới. Thế giới này sở dĩ chưa hòa bình là vì con người chưa thực sự thương yêu nhau, con người còn thiếu lòng từ bi.
Nếu chúng ta cảm nhận được, hiểu được sự vĩ đại, cao cả thiêng liêng của Đức Phật, chúng ta sẽ thấy mình vô cùng bé nhỏ đối với Đức Phật. Tình thương yêu của Đức Phật phủ trùm cả vũ trụ này. Nên là đệ tử Phật, chúng ta phải đạt được cái tâm như của Đức Phật, không nhiều thì ít. Và cũng không bao giờ chúng ta biết được hết cái bao la, vĩ đại; cái mênh mông, cao cả thiêng liêng của Đức Phật, thì mình chỉ xin làm hạt bụi nơi bước chân Ngài đã giẫm qua, một hạt bụi đầy ắp tình thương yêu con người.
Khi tự nhủ lòng rằng mình là đệ tử Phật, luôn thương yêu mọi người, đó là chúng ta đã hiểu đạo. Hiểu đạo sâu sắc chừng nào thì lòng thương yêu con người càng mạnh mẽ chừng nấy, cho đến lúc chúng ta luôn bị thôi thúc phải làm một điều gì đó có lợi cho xã hội, cho mọi người ở bất cứ trường hợp nào mà chúng ta thấy thích hợp. Cái hiểu chân chính là như vậy. Có nghĩa là tình thương yêu con người không phải nằm trong ý nghĩ, trên đầu môi chót lưỡi, mà phải được biến thành hành động. Không phải hiểu đạo rồi gặp nhau chúng ta chỉ nói chuyện đạo lý, chỉ trao đổi, thảo luận với nhau hết bài kinh này đến bài kinh nọ, nhắc đến thiền sư này, bậc đại sư kia rồi hoan hỷ, tự mãn ra về. Đây là sức hiểu chưa đúng, chưa đủ. Không phải đạo lý chỉ dừng lại ở ngôn ngữ, ở lý luận mà còn phải hành động. Chúng ta gặp nhau phải bàn với nhau làm gì có lợi cho con người.
Trong cuộc sống này, còn biết bao con người đau khổ, còn nhiều người chưa hiểu đạo. Khi chúng ta đã hiểu đạo đúng thì không dừng lại mà phải tiến tới hành động. Có nhiều Phật tử nói rằng mình tu tập từ bi như quý Tăng, Ni đã dạy, tự nhủ thương yêu người, rồi muốn làm việc thiện gì đó nhưng không biết phải làm điều gì. Những người đó chân thành nói thật. Thật sự, không phải luôn luôn chúng ta muốn làm điều tốt là làm được ngay. Làm được việc thiện cũng là một quả báo. Quả báo có nhiều chặng.
Quả báo giàu sang, danh vọng, vinh quang là chặng cuối cùng. Còn nghĩ đến điều tốt và làm được điều tốt mới chỉ là một quả báo. Cho nên, nhiều khi chúng ta nghĩ đến điều tốt mà vẫn chưa làm được vì thuận duyên chưa đến, quả báo chưa tới. Bước đầu suy nghĩ thích làm việc từ thiện đã là cái nhân, nhưng quả báo chưa tới nên không biết làm gì là vậy.
Chư Tăng, Ni xuất gia tu hành đã nhiều năm tháng, ai cũng thích làm việc từ thiện nhưng không phải ai cũng dễ làm, cũng làm được điều mình nghĩ. Đến khi cái phước đã chín muồi, nhân duyên đã hội tụ thì tài vật sung mãn, những người hỗ trợ đắc lực... mới dần hiện ra để họ bắt tay vào công việc. Nên muốn làm được điều gì phải cầu Phật gia hộ. Cầu Phật gia hộ chính là gieo nhân. Còn quả báo là do nhân quả. Khi gieo nhân tốt, chúng ta nên cầu nguyện Phật gia hộ. Ví dụ chúng ta muốn làm giàu, thì cầu nguyện sẽ không được, không linh, vì giàu sang thuộc quả báo, mà muốn giàu sang thì phải bố thí. Mỗi ngày chúng ta lạy Phật, cầu nguyện: Lòng con chân thành thương yêu chúng sanh, con muốn làm điều gì đó có lợi cho con người, cho cuộc đời, xin chư Phật gia hộ, dìu dắt con, cho con cơ hội làm được những điều đó. Cứ cầu nguyện như vậy đến một lúc nào đó, cơ hội bắt đầu mở ra. Bỗng nhiên có người đến rủ làm những việc tốt đẹp, hay gặp chuyện để làm giúp người.
Khi hiểu Phật Pháp rồi, lòng chúng ta luôn luôn muốn đạt tới những tâm hạnh cao cả. Muốn đạt được những tâm hạnh cao cả, chúng ta phải phát nguyện, phải cầu nguyện. Nhiều khi chúng ta chợt thấy tâm hồn mình chưa thanh thản, tâm chưa định, thì phải cầu nguyện trước Phật, phải tu tập thiền định. Khi thấy tâm còn kiêu mạn thích hơn người khác, thấy ai hơn mình thì khó chịu... chúng ta phải cầu nguyện trước Phật để đạt được tâm khiêm hạ. Hoặc trong đời sống, có khi chúng ta dễ bỏ qua những khổ đau của người khác là biết mình chưa từ bi, phải cầu nguyện trước Phật để được tâm từ bi. Chính lời cầu nguyện, lời phát nguyện đó mỗi ngày thấm dần dần và chúng ta sẽ đạt được tâm hạnh cao cả đó. Những tâm hạnh cao cả có thì những công đức thù thắng tới dần, tới dần... Rồi chúng ta bắt đầu ngồi thiền được. Song song với tu tập thiền định, chúng ta phải làm việc từ thiện. Đó là chúng ta hiểu Phật Pháp.
Tóm lại, đạo Phật cho chúng ta tâm hạnh cao cả. Từ khi bắt đầu hiểu đạo và tu tập tâm từ bi là chúng ta bắt đầu làm việc từ thiện. Như vậy, đạo Phật có tác dụng phát triển lòng yêu thương con người và có vai trò quan trọng trong việc làm từ thiện.
CÓ PHẢI LÀM VIỆC TỪ THIỆN CHỈ TẠO PHƯỚC HỮU LẬU?
Có một ít người công kích việc làm từ thiện. Họ cho rằng làm việc từ thiện chỉ tạo phước hữu lậu của nhân thiên, của cõi trời, cõi người. Dù có hưởng phước từ việc làm từ thiện vẫn tái sinh luân hồi mãi mãi, không cao cả bằng những người tu tập phước vô lậu. Cái phước vô lậu đó là phải tu tập Bát Nhã, thấy cái gì cũng “không”, không thiện, không ác. Tu như vậy họ nói là cao siêu hơn.
Một số người nói yếu chỉ Phật Pháp là nội tâm thanh tịnh, không nghĩ thiện, không nghĩ ác. Hiểu như vậy là lầm. Đúng là lúc tâm thanh tịnh thì không nghĩ điều thiện, không nghĩ điều ác, nhưng nếu cần phải khởi tác ý thì chúng ta luôn luôn nghĩ điều thiện; nghĩa là trong lòng chúng ta, cái ác, cái bất thiện đã được gạn lọc. Chỉ người nào trong lòng đã sạch hết, không còn điều bất thiện nữa, thì mới được quyền nói tâm thanh tịnh không thiện, không ác. Còn người nào mà trong tâm những điều bất thiện vẫn còn thì chớ nói không thiện, không ác, mà phải huân tập điều thiện cho tới thuần thiện tuyệt đối, rồi buông cái thiện trong định. Phía sau cái định là điều thiện tuyệt đối, đây là nền tảng căn bản. Nếu chúng ta vội vàng đi vào cái định, gọi là phước vô lậu, mà phía sau cái định đó, còn lẫn lộn thiện ác thì rất nguy hiểm.
Chúng tôi có đọc lại những sách thiền, sử thiền ngày xưa thấy nói y như vậy. Sử thiền ngày xưa để lại luôn luôn nói cuộc đời của các vị Thánh Tăng đã thành tựu, khi qua đời nhập diệt thì không có tỳ vết, thanh tịnh hoàn toàn. Tuy nhiên, cũng có một số câu chuyện nói về sở đắc của thiền mà vẫn còn nhiều khiếm khuyết trong đời sống. Đọc tới đó, chúng tôi thắc mắc: tại sao nói người đã ngộ đạo, nhiếp được tâm trong thiền mà còn khiếm khuyết về tư cách. Sau này, học hỏi thêm, chúng tôi mới hiểu là vì các vị đó theo thuyết không thiện, không ác, vội vàng đi vào trong định mà tâm chưa gạn kỹ thiện-ác. Tuy được định nhưng phía sau cái định đó, thiện-ác vẫn còn lẫn lộn, khi gặp chuyện vẫn ứng xử sai. Cho nên, chúng ta tạo công đức, gạn lọc tâm mình trong cái thuần thiện bằng làm việc từ thiện. Đó là cái nền đi vào định, vào vô lậu vô vi.
Hoặc chúng ta chê làm việc từ thiện, chỉ tạo phước hữu lậu cũng là hiểu lầm, vì nếu không có phước hữu lậu, chúng ta sẽ không đạt được phước vô lậu. Nếu không có công đức từ thiện, chúng ta sẽ không khai mở được tâm linh vào trong thiền định. Nghĩa là chúng ta cứ phải sống vì con người, thương yêu con người, giúp đỡ con người, từ việc nhỏ đến việc lớn, việc gì trong tầm tay đang làm được, chúng ta đều sẵn sàng giúp đỡ quên mình để phá cái vị kỷ. “Cái khối” vị kỷ ở mỗi con người lớn lắm, tuy vô hình nhưng nó nặng gấp bội cái thân. Mỗi một việc làm giúp đỡ người khác như một nhát búa đập vào “cái khối” vị kỷ của mỗi chúng ta. Chúng ta càng làm việc từ thiện thì “cái khối” vị kỷ đó càng vỡ ra nhiều mảnh... Còn vị kỷ nên chúng ta không thể đi sâu vào tâm linh để chứng đạo được. Hiểu điều này, chúng ta phải phá vỡ “cái khối” vị kỷ vô hình nặng nề đó, bằng cách không phải là ta cứ ngồi suy nghĩ, tư duy rằng tôi nguyện lòng không vị kỷ, không ích kỷ nữa, tôi sẽ sống vị tha..., không được, mà phải phá vị kỷ bằng hành động mới được. Mỗi một việc làm giúp ai đó là một nhát búa đập vỡ được một mảng của cả “khối” vị kỷ nặng nề. Làm việc từ thiện càng nhiều thì “khối” vị kỷ càng vỡ dần, vỡ dần... Trên căn bản đập tan vỡ “khối” vị kỷ nhưng các mảnh vụn vẫn còn, người này chứng sơ quả Tu Đà Hoàn. Người chứng thánh quả Tu Đà Hoàn sẽ không còn vị kỷ, không sống cho bản thân mình nữa, người đó sống một cuộc đời vị tha. Còn người tuyệt đối không còn vị kỷ là người chứng quả A La Hán.
Bây giờ, dù chúng ta có tinh tấn tu hành nhưng nhìn thấy lòng mình vẫn còn ích kỷ, còn sống cho mình, không dám nhường phần lợi của mình cho người khác thì biết rằng mình chưa phải Tu Đà Hoàn, việc tu phải còn vất vả lắm. Còn nếu chúng ta thấy dễ thương yêu, dễ nhường nhịn điều tốt của mình cho người khác thì biết rằng vị kỷ của chúng ta đã vỡ nhiều, và chúng ta đang trên con đường đi tới Tu Đà Hoàn. Tới được Tu Đà Hoàn, có nghĩa là từ đây cho tới nhiều kiếp sau việc tu sẽ dễ dàng hơn. Tuy nhiên, người chứng quả Tu Đà Hoàn còn phải tái sinh luân hồi nhiều lần và họ thường tái sinh vào nhà giàu sang quyền quý. Nếu ngày xưa thì họ tái sinh vào trong hoàng tộc, vào nhà quan lớn, hoặc có khi được lên cõi trời. Còn ngày nay, nếu chúng ta có chứng quả Tu Đà Hoàn, thì có khi lên cõi Trời, cũng có khi xuống cõi người, nhưng luôn luôn ở trong vinh quang. Vì vậy, tâm của người Tu Đà Hoàn chỉ là vị tha mà thôi. Vị tha là cửa ngõ đầu tiên đi vào thiền định, vô vi, vô lậu.
Chúng ta theo Phật Pháp phải hướng đến mục đích cuối cùng là giác ngộ tâm linh. Giác ngộ tâm linh là phải qua con đường thiền định rất dài và phải bước qua cánh cửa đầu tiên. Cánh cửa đầu tiên đó là vị tha, mở được cánh cửa vị tha, vượt qua quãng đường dài thiền định rồi mới đi vào tâm linh. Các tôn giáo khác cũng hướng con người tới cuộc sống vị tha, làm việc từ thiện. Họ cũng có những bước đầu tiên vào cánh cửa tâm linh, nhưng rồi chỉ quanh quẩn ở đó, không có hướng đi tiếp theo. Nghĩa là các tôn giáo đó không có phương pháp thiền định hướng tới vô ngã. Còn trong đạo Phật, chúng ta may mắn được Phật dạy con đường Bát Chánh để đi tới mục tiêu Vô Ngã (lý thuyết vô ngã này chỉ có trong đạo Phật), dạy thiền định. Khi chúng ta mở được cánh cửa vị tha đầu tiên rồi thẳng một đường tới vô ngã, được sự giác ngộ - giải thoát.
Chúng ta hiểu đạo rồi thì phải sống vị tha, mà một trong những biểu hiện của cuộc sống vị tha là siêng năng làm việc từ thiện. Nếu có ai công kích việc làm từ thiện chỉ là phước hữu lậu, chúng ta chỉ mỉm cười, cứ lặng lẽ đi tiếp con đường của mình. Chúng ta mong cho mọi người tốt hết có khi cũng phải chờ đợi ba năm, năm năm, mười năm... Không phải lúc nào mọi người cũng đồng quan điểm với chúng ta.
Có chân lý do một người nói ra đến khi người đó chết vài trăm năm sau mới được công nhận. Vì thế, chúng ta cứ kiên nhẫn đi hết con đường của mình.
LÀM VIỆC TỪ THIỆN LÀ LÀM NHỮNG ĐIỀU LỢI ÍCH CHO CON NGƯỜI
Chúng ta đã biết chuyển hóa nội tâm mình một cách khó khăn, vất vả để trở thành người tốt như thế nào, thì chúng ta cũng mong tất cả mọi người đều chuyển nội tâm tốt như vậy. Đó là mục tiêu chính.
Mục tiêu chính của việc làm từ thiện là việc làm lợi ích nhất cho con người, đó là làm cho con người có đạo đức, biết thương nhau. Nghĩa là trước hết, chúng ta phải nhắm tới mục tiêu tinh thần là chính; còn ngoài ra chỉ là mục tiêu phụ. Vì sao vậy? Vì thân xác này sẽ phải tan hoại. Mọi tài sản trên đời này đều bỏ lại, nhưng tinh thần sẽ trở thành “tài sản” của chúng ta mãi mãi. Khi chết rồi chúng ta không đem theo được thân xác và tài sản vật chất, nhưng chúng ta mang theo “tài sản” tinh thần, tức là mang theo tâm qua kiếp sống mới. Nếu tâm chúng ta ích kỷ, bỏ thân này, ích kỷ đi theo qua thân sau. Nếu tâm chúng ta hiền lành, vị tha thương yêu thì tâm này đi theo qua thân ở kiếp sau. Vì vậy, muốn cho mọi người tốt lâu dài (kiếp này, kiếp sau, kiếp sau nữa...), chúng ta phải nghĩ đến việc chuyển hóa tâm hồn mọi người, tức là nghĩ đến tinh thần con người. Vì tâm tốt, đời sống người đó sẽ tốt, sẽ được quả báo lành. Quả báo lành là được hạnh phúc. Cho nên việc làm từ thiện chính vẫn là chuyển hóa tâm con người cho tốt; còn việc làm giúp đỡ vật chất là giai đoạn phụ của bước ban đầu làm việc từ thiện.
Tuy nhiên, việc chuyển hóa tâm người khác trở nên tốt đẹp không phải dễ. Ví dụ, bên hàng xóm có người nóng tính, hay uống rượu, ích kỷ. Muốn anh ta chuyển tâm, chúng ta sang nhà nói với anh ta năm ba câu chuyện, rồi khuyên anh bỏ những thói xấu trên, nên sống hiền lành, gây tình cảm với người chung quanh. Anh tự ái, tức giận và có phản ứng mạnh. Người không có duyên với nhau, họ không muốn phục thiện, mình nói những điều tốt mà họ nghĩ là mình dạy đời... Đây là những người có nghiệp nặng, khó chuyển tâm. Vậy chúng ta phải làm sao? Phải dẫn dụ bằng nhiều cách, phải làm bao nhiêu việc phụ rồi mới nói đạo cho họ nghe được. Nghĩa là phải có “chiến lược, chiến thuật” để thuyết phục, từ từ người ta mới chịu nghe đạo lý.
Những người nghiệp nhẹ, dễ tiếp cận, dễ nghe đạo lý hơn. Ví dụ một người có tâm tốt, biết phải trái nhưng chưa biết đạo lý sâu, chưa tin nhân quả. Chúng ta có thể nói chuyện với họ bằng sự hiểu biết và uy tín của mình. Nói về lý nhân quả, chúng ta có thể nói rằng trong cuộc sống này, mọi chuyện đến với chúng ta không phải ngẫu nhiên. Vì không biết hay không tìm ra nguyên nhân của sự việc nên chúng ta nói là hên-xui, may-rủi. Theo Đạo Phật, luật Nhân quả Nghiệp báo chi phối những biến động thăng trầm của một đời người, vượt khỏi cái nhìn cạn cợt của con người trong một đời, trong một kiếp. Nếu chúng ta có khả năng thuyết phục những người có nghiệp nhẹ, có lý trí, có trí tuệ thì họ chấp nhận đạo lý từ từ... Như vậy là chúng ta đã thuyết phục, chuyển hóa được tâm của người khác bằng lời nói, lý luận vững vàng.
Còn nếu chúng ta không có khả năng thuyết phục bằng lời nói thì nên tặng quyển sách hay vài cuốn băng, hoặc đĩa thuyết pháp có kèm theo gói trà, hộp bánh để người ta vừa nghe, vừa uống trà hoặc vừa đọc sách, vừa ăn bánh. Và khi người ta đã hiểu và tin nhân quả là chúng ta đã nhắm vào tinh thần, đã chuyển hóa được tâm của họ (đó là những người có trí tuệ, có phước). Khi cuộc đời của một người thay đổi là chúng ta đã làm được một việc thiện. Thật ra, không dễ dàng gì mà dẫn dụ được một người chuyển hóa tâm; chúng ta phải toàn tâm, toàn ý theo dõi người đó tính tình ra sao, thích cái gì để mua tặng kèm theo cho mượn sách hay băng, đĩa thuyết pháp. Khi họ bắt đầu “ghiền” hỏi mượn nữa là hiểu họ đã thấm đạo lý rồi, chúng ta tiếp tục rủ họ đi nghe Pháp. Phương pháp này là nhắm thẳng vào tinh thần của người có lý trí, có trí tuệ, có phước.
Chúng ta biết tinh thần là chính thì vật chất cũng quan trọng không kém. Một người nghèo khổ, chúng ta muốn giúp nhưng không thể nói anh (chị) nghèo là do đời trước anh (chị) bỏn xẻn, đời này phải lo tu hay lo bố thí đi, sau đó đưa cho người ta cuộn băng rồi bỏ đi. Làm như vậy, không những không có hiệu quả mà còn bị người ta ghét nữa. Người nghèo khổ, trước hết họ cần được giúp đỡ vật chất như cơm gạo, quần áo, tiền bạc v.v... để họ vượt qua cảnh đói khổ. Khi vượt qua được cảnh khổ, người ta mới tìm đến đạo, lúc đó chúng ta mới giúp đỡ họ về tinh thần.
Có hai điều con người luôn luôn muốn chia sẻ: Một là khi quá hạnh phúc, người ta không giữ được ở trong lòng, muốn nói, muốn kể để san sẻ với người thân; Hai là quá đau khổ, một mình chịu đựng không nổi, cũng tìm cách chia sẻ với ai đó, thường là bạn thân, người thân thương của họ. Gặp những trường hợp này, nếu là niềm vui, thì dễ, chúng ta cùng chia sẻ niềm vui với họ. Nhưng, nếu là nỗi đau khổ, thì lúc này chúng ta phải có tấm lòng như sông, như biển, đón nhận hết vào trong, nghĩa là chúng ta phải kiên nhẫn nghe họ nói, nghe họ trút nỗi niềm, rồi từ từ mới phân tích, khuyên nhủ, nói về đạo lý sau. Đó cũng gọi là việc làm từ thiện. Tuy nhiên, những người có bản lĩnh, họ hoàn toàn tự quyết định một cách độc lập thái độ, lời nói của mình; họ biết kiềm chế những cảm xúc nên không phải dễ dàng chia sẻ vui buồn của cuộc đời.
Trần gian đầy ắp nỗi khổ đau. Cho dù chúng ta có yêu thương hết cả thế gian này, vẫn không bao giờ chúng ta đủ sức xoa dịu hết nỗi khổ đau của trần thế. Vì vậy, mỗi người hãy tùy theo khả năng, hoàn cảnh, sở thích của mình mà chọn một việc làm từ thiện nào đó, một việc thiện nguyện nào đó, mà mình có thể đeo đuổi suốt đời còn lại.
NHỮNG TỔ CHỨC THIỆN NGUYỆN TRÊN THẾ GIỚI
Tổ chức Hòa Bình Xanh (Green Peace) chủ trương bảo vệ môi trường và bảo vệ động vật hoang dã. Tổ chức này được thành lập năm 1971 tại Vancouver, đó là tổ chức bảo vệ môi trường và động vật hoang dã nổi tiếng trên thế giới.
Trong một nền văn minh khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhu cầu sử dụng những tiện nghi vật chất ngày càng cao của con người làm cho môi trường sống ngày càng tồi tệ. Con người đã thẳng tay tận dụng tài nguyên thiên nhiên, khai thác tài nguyên ngày càng cạn kiệt. Tất cả những điều này tác động làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người và những sinh vật khác trên địa cầu. Ví dụ con người sử dụng đồ gỗ thì gốc của những tiện nghi đó là gỗ. Muốn có gỗ phải phá rừng. Hoặc xây dựng những nhà cao tầng thì cần có xi măng, thép, gạch, đá... Muốn có vật liệu xây dựng, con người phải khai thác các mỏ đá, mỏ kim loại từ lòng đất. Hoặc muốn tiện nghi đi lại là xe hơi bốn bánh, xe máy nổ hai bánh... thì khí độc thải ra từ các nhà máy sản xuất, từ các loại xe vào môi trường sống hàng ngày quá nhiều, phá hủy không khí trong lành rất cần cho sức khỏe của con người. Nền văn minh vật chất càng cao chừng nào, thì môi trường sống con người càng bị phá hủy chừng nấy. Vì thế, tổ chức Hòa Bình Xanh kêu gọi con người phải ra sức bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, tổ chức Hòa Bình Xanh còn kêu gọi con người bảo vệ cá voi. Cá voi là loài động vật rất thông minh. Không nói được như con người nhưng cá voi hiểu được tâm con người. Cá heo cũng vậy. Một số quốc gia như Nhật, Na-Uy rất thích ăn thịt cá voi. Họ săn và xẻ thịt cá voi bán như món ăn cao cấp. Đó là cái ác. Giết một con vật ngu đần thì tội ít, giết một con vật có tâm linh cao thì tội rất nặng, giống như giết một con bò, con trâu thì tội không nặng bằng giết một con người. Con người có tâm linh cao, cá heo, cá voi cũng là loài có tâm linh cao. Tổ chức Hòa Bình Xanh bảo vệ cá voi bằng cách tổ chức những con tàu chạy trên biển, đặc biệt là vùng biển có săn cá voi như Nhật, Na-Uy. Cá voi khi bơi phun nước thành vòi nên dễ phát hiện. Khi phát hiện có cá voi những đoàn tàu thiện nguyện chạy tới bảo vệ cá voi. Nếu tàu săn cá voi có bắn thì họ cản lại, chấp nhận bắn trúng họ trước. Những việc thiện như vậy phải có tổ chức lớn, mạnh, tiền bạc nhiều và với những con người đầy tâm huyết.
Những tổ chức từ thiện lớn trên thế giới làm việc từ thiện rất mạnh, nhất là ở các nước phương Tây. Về văn hóa, có những điều chúng ta không đồng quan điểm với các nước phương Tây, nhưng chúng ta phải phục họ vì sức đóng góp của họ vào việc làm từ thiện. Họ đăng ký đóng góp quỹ từ thiện, số tiền đóng góp được trừ vào tiền lương hàng tháng. Tiền đó được chuyển vào quỹ từ thiện. Cả nước đều làm như vậy nên số tiền đóng góp vào quỹ từ thiện của các tổ chức quốc tế rất lớn. Như Quỹ Bảo Trợ Nhi Đồng, Quỹ nghiên cứu bệnh AIDS, Quỹ Phòng chống sốt rét, Quỹ Tổ chức Y sĩ không biên giới v.v... Năm 2005, các ca sĩ và các ban nhạc lừng danh trên thế giới đã tổ chức Live Show 8, thu tiền giúp các quốc gia nghèo ở châu Phi với thông điệp: “Sẽ chẳng có tự do khi đói nghèo còn tồn tại”. Người Âu Mỹ chịu khó làm việc từ thiện và làm nghĩa vụ đóng thuế rất tốt, do vậy nên họ giàu. Vì đất nước chúng ta nghèo nên không có “gan” làm việc từ thiện nhiều, đó là lý do khiến đất nước chúng ta chậm phát triển... Thu nhập của chúng ta tuy còn thấp nhưng cứ trích ra làm việc từ thiện, không bao lâu, đất nước sẽ chuyển biến theo hướng tốt đẹp hơn.
Đạo Phật và Xã Hội
MỘT SỐ VIỆC LÀM TỪ THIỆN TRONG NƯỚC
Trong kho tàng văn học dân gian của nước ta có rất nhiều câu ca dao, tục ngữ nói lên truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Đó là truyền thống sẵn sàng cứu giúp, nâng đỡ nhau trong khó khăn, hoạn nạn:
“Lá lành đùm lá rách”
“Chị ngã, em nâng”
“Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”
“Bầu ơi, thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng”...
Nước ta không có những tổ chức thiện nguyện tầm cỡ quốc tế nhưng mỗi địa phương cũng có “Hội Chữ thập đỏ” cứu trợ đồng bào khi có hoạn nạn. Ngoài ra, các cá nhân giàu lòng hảo tâm cũng cứu trợ đồng bào thường xuyên bị đói nghèo, thiếu thốn. Cách làm từ thiện: họ tự tổ chức thực hiện, hoặc là mua gạo gửi các chùa phát chẩn vào những dịp lễ lớn... Việc làm từ thiện của các nhà hảo tâm thường âm thầm, không phô trương. Ví dụ, có một cô Phật tử ở bên Mỹ về, khi ra Quảng Trị chơi, cô biết được: “Ở ngoài đó, người ta cần hai tấn gạo”. Thế là cô vận động hai tấn gạo đem ra Quảng Trị. Chính quyền địa phương hỏi tên cô để biểu dương, cô không nhận. Rồi cô âm thầm đi nơi khác, nơi nào cần giúp đỡ, cô lại vận động tiếp. Chúng ta thấy rằng: Người Phật tử hiểu đạo, luôn luôn được thúc đẩy phải làm việc từ thiện, làm một cách âm thầm, chỉ khi nào làm một mình không nổi thì mới kêu gọi những ai thích tham gia đóng góp, rồi cùng nhau làm. Điều quan trọng trong cách làm là phải tin tưởng nhau, không tin nhau, không ai chịu đóng góp.
Nhiều Phật tử chịu khó lặn lội vào những vùng sâu, vùng xa làm việc từ thiện rất tốt. Người dân tộc còn nghèo, ít học, nhiều tập tục còn sơ khai, ta giúp họ nâng cao hiểu biết trong cách sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, thuốc men, khám trị bệnh v.v... Hiện nay, các tôn giáo truyền đạo rất mạnh ở các dân tộc vùng sâu vì họ có quỹ từ nước ngoài rót về mời gọi. Ai theo đạo của họ sẽ được giúp vốn, hoặc được cất cho căn nhà. Còn chúng ta không đủ tiền để “mời” người ta theo đạo Phật, nên chúng ta phải làm việc thiện nhiều, phải nói đạo lý cho người ta hiểu. Tiền bạc có giá trị; đạo lý càng có giá trị hơn. Chúng ta rất mong mọi người hiểu đạo Phật, rất mong mọi người tin nhân quả, tin Tam Bảo, nhưng chúng ta tránh tư tưởng làm việc thiện để lôi cuốn người ta trở thành tín đồ đạo Phật. Bởi vì quy y Tam Bảo, trở thành tín đồ đạo Phật là sự tự nguyện của mỗi người. Ví dụ một bên cho năm triệu làm vốn để theo đạo; một bên cho hiểu biết về nhân quả, cho tình thương yêu con người. Chúng ta làm từ thiện chỉ thuần vì lòng thương yêu thôi, rồi cho người ta đạo lý. Khi họ hiểu được đạo lý, họ tin nhân quả, tin lẽ phải, rồi tự nguyện theo đạo mà không nhất thiết là chúng ta phải có tiền mới thuyết phục được họ. Một bên là tiền. Một bên là đạo lý, là lẽ phải. Chúng ta phải đưa đạo lý vượt qua được tiền bạc để dẫn dắt người ta đến với lẽ phải. Rất cực nhọc, nhưng phải như vậy. Trong cái nghèo, nhiều khi đạo lý có sức mạnh hơn tiền bạc. Từ xưa tới nay, chính nghĩa và tấm lòng vẫn hơn.
Thanh niên, sinh viên có tổ chức “Mùa hè xanh” hay “Chủ nhật xanh”. Họ tổ chức đi hốt rác, quét rác trên đường phố; đi thuyền vớt rác trên các kênh, rạch. Đó là những việc làm từ thiện nhằm bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp; đồng thời cũng giáo dục ý thức cộng đồng, giữ gìn vệ sinh công cộng và bảo vệ môi trường.
Câu chuyện của người quyết đấu tranh đến cùng để bảo vệ rừng ở Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận thật cảm động. Vợ chồng ông đã phải bán hết tài sản để “chiến đấu” tới cùng với những người phá rừng lấy gỗ, cuối cùng cả gia đình phải bỏ trốn vào Sài Gòn sống. Đây thật sự là tấm gương cho chúng ta noi theo. Đấu tranh cho lẽ phải cũng là việc làm từ thiện.
Hoặc như ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp (trước đây là Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh), vận động đóng góp tiền mổ mắt cho người nghèo bị đục thủy tinh thể. Một ca mổ tốn khá nhiều tiền. Chúng ta theo dõi những chương trình đó, để có thể ủng hộ đóng góp theo khả năng của mình.
Trên đây chỉ là một số việc làm tiêu biểu có thể kể ra, còn biết bao nhiêu người cũng có tấm lòng từ bi, vị tha sẵn sàng cứu giúp người nghèo khổ, hoạn nạn, họ làm việc thiện một cách âm thầm mà chúng ta không hề biết.
MỖI PHẬT TỬ PHẢI LÀ MỘT CHIẾN SĨ TỪ THIỆN
Tại sao chúng ta nói: “Mỗi Phật tử là một chiến sĩ từ thiện”? - Bởi vì việc làm từ thiện không dễ. Làm việc từ thiện phải xông pha, dấn thân, can đảm, dũng cảm như một chiến sĩ ra trận. Nếu chúng ta không chịu khó, chịu khổ thì làm không nổi; vừa chịu khó, chịu khổ, vừa có người giúp đỡ để cùng nhau làm. Vì thế, chúng ta phải chuẩn bị cái tâm trước. Từ đây cho đến cuối đời, nếu nguyện làm việc từ thiện là phải biết đối diện với gian nan, tinh thần phải dũng mãnh. Làm sao cho mỗi Phật tử chúng ta phải là một chiến sĩ từ thiện. Người hiểu đạo rồi, không thể ngồi nhà yên vui trong câu kinh tiếng kệ mà phải tìm nhiều việc thiện để làm.
Nếu không có điều kiện tham gia làm việc thiện thì lấy ngay chính công việc, nghề nghiệp của mình làm từ thiện. Lấy việc làm của mình làm từ thiện là sao? Nghĩa là mình làm việc gì, làm bổn phận gì thì làm trọn vẹn, tốt đẹp việc đó, bổn phận đó. Cán bộ viên chức, giáo viên, bác sĩ... hãy tận tụy với công việc, làm hết sức mình để đạt hiệu quả cao. Người cán bộ tận tụy giúp dân, không gây khó khăn với dân để được tiền bồi dưỡng; người bác sĩ thương yêu chăm sóc bệnh nhân không phân biệt giàu nghèo; người thầy (cô) giáo dạy dỗ học trò đến nơi đến chốn... tất cả đều là làm việc từ thiện.
Cuộc đời mỗi người trôi qua nhanh. Nếu chúng ta không tạo cơ hội để làm việc từ thiện, lấy đó là niềm vui, là hạnh phúc, đến khi tuổi già bóng xế, nhìn lại thấy mình không làm gì lợi ích cho người khác, có lẽ chúng ta sẽ buồn, sẽ hối hận! Làm sao để đến lúc “ra đi”, chúng ta thấy an vui vì biết mình đã sống có ích cho đời.
Khi chúng ta làm việc từ thiện là chúng ta biết tâm ích kỷ, tham lam, đã, đang và sẽ mờ nhạt. Mỗi một việc làm từ thiện là mỗi lần xóa tan ích kỷ, càng làm việc từ thiện thì tâm ích kỷ càng nhạt dần. Ví dụ, chúng ta không làm việc từ thiện mà chỉ lo tụng kinh, niệm Phật và tin rằng lúc chết không bị đọa. Rồi đi hỏi quý Tăng, Ni, thấy cũng nói như vậy, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn chúng ta vẫn hồ nghi, không tự tin rằng mình sẽ được về cõi lành. Còn nếu trong mấy mươi năm của cuộc đời, chúng ta làm việc thiện, từng giúp đỡ biết bao người, chắc chắn chúng ta tự tin rằng: Tuy còn luân hồi, nhưng chúng ta đã có chỗ dựa vững chắc bởi việc làm từ thiện suốt bao năm qua của cuộc đời. Và trong sâu thẳm tâm hồn, chúng ta cũng tự tin rằng: Sau khi thân xác này bỏ đi, chúng ta sẽ được về cõi an lành. Đó là sức mạnh của việc làm từ thiện.
Làm việc từ thiện không nên cầu danh, cầu phước. Cái tâm cầu danh, cầu phước luôn luôn lén lút, ẩn núp trong mỗi con người chúng ta. Cái ý muốn được đăng lên báo, muốn được nhiều người biết đến việc làm từ thiện của chúng ta là điều sai với đạo.
Chúng ta phải hết sức tránh, hết sức cẩn thận. Làm việc từ thiện mà cầu phước (tâm ích kỷ) sẽ nguy hiểm ở kiếp sau. Vì cầu phước qua kiếp sau được phước giàu sang, vinh quang mà tâm ích kỷ vẫn còn tồn tại, phát triển theo cái phước. Phước lớn, tâm ích kỷ càng lớn. Đó là những người vừa giàu, vừa ác. Người đời thường thắc mắc: “Theo luật Nhân Quả, nhân nào quả nấy. Vậy tại sao có những người ác mà giàu quá!”. Phải hiểu rằng người (giàu) đó ở kiếp trước làm phước có cầu phước, đời này họ giàu mà ác là vậy. Còn nếu đời này chúng ta làm việc thiện chỉ do lòng thương yêu chúng sanh, hoàn toàn buông xả thì đời sau vinh quang giàu sang mà không ác. Đời sau nữa vẫn tiếp tục vị tha, hiền lành thì có phước vô tận. Chúng ta để ý điều này.
NHỮNG VIỆC LÀM BÌNH THƯỜNG MANG LẠI LỢI ÍCH CHO CON NGƯỜI ĐỀU LÀ VIỆC LÀM TỪ THIỆN
Khi nói đến làm việc từ thiện, người ta thường hình dung phải có nhiều tiền bạc, của cải bỏ ra mới làm được. Không nhất thiết phải vậy. Từ những việc làm lớn đến những việc làm rất bình thường mang lại lợi ích cho con người, nhất là đối với những người đang sống trong cảnh khó khăn, nghèo khổ đều là việc làm từ thiện.
Như có một cụ Phật tử nói: “Con già quá, sức yếu, tuổi cao, mà cũng không có tiền nhiều, con không biết mình làm được việc thiện gì?” Chúng tôi hỏi: “Thường thường sức cụ làm được gì?” - “Dạ, mỗi sáng con đi bộ vận động cơ thể chừng nửa tiếng rồi về”. - “Tốt, vậy mỗi sáng đi bộ cụ đem theo cái giỏ để lượm rác”. Cụ trợn mắt kêu: “Trời, con đi lượm rác hả?” - “Loanh quanh trong phố thế nào cũng có rác. Hình ảnh một ông già trí thức, hiền lành, tuổi cao, vậy mà cầm cái giỏ đi nhặt rác là một bài học cho tất cả mọi người. Cụ thử đi lượm rác chừng một tháng, mọi người nhìn thấy không ai dám xả rác nữa. Vậy là cụ đã làm việc từ thiện”. Việc thiện đó (lượm rác) không chỉ làm sạch đường phố mà còn có tác dụng giáo dục. Người Việt Nam mình “thích” xả rác thì hình ảnh một cụ già đi lượm rác là hình ảnh đẹp, lớn lao.
Không phải nói làm việc từ thiện là lúc nào chúng ta cũng nghĩ đến những việc lớn lao, ảnh hưởng đến hòa bình thế giới. Không, đừng phân biệt việc từ thiện lớn hay nhỏ, vinh quang hay thấp hèn. Việc thiện nào cũng tốt hết. Chúng tôi còn nhớ hồi nhỏ, ai lười học thường bị người lớn mắng: “Không lo học, lớn lên cho đi đổ rác”. Vì trong xóm có người đẩy xe ba bánh khép nép đi đổ rác từng nhà, người ta nghĩ đó là nghề thấp hèn. Nhưng khi lớn lên, chúng tôi mới hiểu ra rằng nghề nào mang lại lợi ích cho con người đều là vinh quang cả. Cho nên, mỗi lần đi ngang qua những xe đổ rác, chúng tôi thật lòng biết ơn họ. Họ đã chịu dơ, chịu hôi, để đời được sạch đẹp. Chúng ta biết ơn họ, và phải hiểu như vậy.
Một, hai người lẻ loi làm việc từ thiện sẽ ít có hiệu quả. Chúng ta nên tổ chức từng nhóm gồm những người bạn thân nhau, hợp nhau, không cần đặt ra luật lệ khắt khe, chỉ đặt trên nền tảng tự nguyện và tin tưởng nhau để làm việc từ thiện. Trước khi thành lập nhóm, chúng ta phải bàn trước vấn đề này: đồng tâm, đồng ý với nhau để tập hợp nhau làm việc từ thiện, không hơn thua nhau, không nói xấu nhau mà phải luôn luôn gắn bó, đoàn kết với nhau để làm việc cho có kết quả tốt. Phải tâm nguyện điều này với nhau thật chặt chẽ, nếu không, sau này có thể đổ vỡ.
Khi nghĩ ra việc làm có ý nghĩa, chúng ta đến nhờ các Tăng, Ni cố vấn, góp ý kiến. Ví dụ, có một nhóm người muốn làm từ thiện. Biết trong nhóm có người quen biết rộng, quý Tăng, Ni góp ý nên tổ chức tìm việc làm cho những người trong xóm đang thất nghiệp. Tùy theo khả năng của từng người, chúng ta tìm giúp họ việc làm. Hoặc chúng ta tập hợp được một nhóm khoảng hai mươi người nhưng chưa biết phải làm việc từ thiện gì? Quý Tăng, Ni nhìn nhóm người này, thấy người nào mặt mày cũng có vẻ bặm trợn, có thể góp ý rằng ở trong xóm có dân nghiện nên giúp họ cai nghiện v.v...
Hoặc trẻ em lang thang đường phố thường kết bè, kết nhóm đánh nhau, có khi phạm tội. Chúng ta tìm cách tiếp cận, tập hợp các em, mở lớp tình thương: dạy chữ, dạy nghề, giáo dục đạo đức cho các em.
Biết bao nhiêu việc cần phải làm đến với chúng ta, từ việc lượm rác vệ sinh đường phố cho đến việc chăm sóc người già cô đơn, tàn tật; nuôi dạy trẻ mồ côi v.v... Đó là những việc làm từ thiện thật ý nghĩa.
Có một quan niệm cần chú ý là: nhiều người nghĩ rằng mình không đủ điều kiện, hoàn cảnh khó khăn, phải đợi giàu, hoặc trúng số mới có thể làm từ thiện. Đừng nghĩ như vậy, cứ mạnh dạn tham gia đóng góp từ những việc rất nhỏ, được làm bằng những đồng tiền ít ỏi của mình. Mọi chuyện sẽ thuận lợi dần dần, vì cái phước đến từ từ, về sau mình sẽ làm được những việc lớn hơn. Phải siêng năng làm việc từ thiện ngay khi mình còn đang khó khăn... rồi kết quả sẽ đến.
Một việc làm từ thiện rất hay nữa là âm thầm giúp nhau làm nên sự nghiệp. Nhìn ra nước ngoài, chúng ta thấy có hai cộng đồng đoàn kết với nhau mạnh mẽ để giúp nhau làm giàu. Một là người Hoa, hai là người Do Thái. Nghĩa là ở đâu có người Hoa (người Do Thái) nào nghèo thì từ từ cũng trở thành ông chủ, vì chung quanh họ, người đồng hương hoặc bạn bè trong cộng đồng của họ sẵn sàng giúp vốn cho họ làm ăn, mở cửa hiệu, dạy nghề... để tạo nên sự nghiệp. Họ giúp nhau như vậy. Tinh thần đó chúng ta nên học tập. Hỗ trợ nhau, giúp nhau làm nên sự nghiệp, chính là làm việc từ thiện. Giúp người ta giàu lên cũng là niềm vui, là niềm hạnh phúc của chúng ta.
Cũng có những việc chúng ta làm trong âm thầm để giúp đỡ người mà người không biết, nhưng Phật biết, nên khi cầu điều gì là được điều đó. Như có lần chúng tôi gặp một người em họ, gia đình không biết gì về đạo. Chúng tôi có nói chuyện về đạo Phật, nhằm giúp người em tin Phật. Nào ngờ từ lâu người em đã rất tin Phật dù gia đình chưa tin. Em tin Phật bởi vì bất cứ điều gì em cầu nguyện cũng đều có kết quả. Chúng tôi nhớ ra rằng người em họ của mình từ nhỏ đã sống hiền lành vị tha, có cái tâm rất tốt nên cầu nguyện được linh ứng.
Có những việc làm rất bình thường nhưng mang lại lợi ích cho cuộc sống chung cũng là việc làm từ thiện. Ví dụ, làm ăn kinh doanh, chúng ta đóng thuế đầy đủ theo quy định. Tiền thuế sẽ được sử dụng vào lợi ích chung cho toàn xã hội như: bệnh viện, trường học, đường sá v.v...
Sống tiết kiệm cũng là việc làm từ thiện. Tiết kiệm điện, nước, chúng ta chỉ dùng điện nước theo nhu cầu cần thiết, vừa đủ; hạn chế dùng xăng dầu để giảm khí độc thải ra làm ô nhiễm môi trường. Lưu lượng xe gắn máy, xe hơi ngày càng tăng ở các thành phố. Vì thế, tùy theo công việc và quãng đường phải đi, chúng ta nên cố gắng đi xe đạp hoặc đi bộ để góp phần giữ gìn bầu không khí bớt bị ô nhiễm. Những điều đó thuộc ý thức của người công dân. Phật tử chúng ta cần biết vấn đề này để hạn chế bớt tiện nghi vật chất. Đây cũng là việc làm từ thiện.
Dạy con ngoan cũng là việc làm từ thiện, vì chúng ta cung cấp cho xã hội những công dân tốt, làm chủ đất nước trong tương lai. Dạy con không tốt, con làm điều bất thiện là chúng ta có tội với đời. Chúng ta chú ý nhắc nhở trẻ con ở gia đình mỗi buổi sáng đọc tụng bài “Lời nguyện cầu buổi sáng” (dành cho trẻ). Những lời nguyện cầu tốt đẹp khi đã nhập vào tâm, các cháu sẽ phấn đấu hành xử theo những điều đó.
Đi chùa đều đặn cũng là việc làm từ thiện. Đi chùa đều, sinh hoạt ở chùa ổn định, người ta thấy đi chùa vui, cũng thích đi chùa. Nhờ đi chùa, người ta biết tu hành, hiểu được đạo lý, đó cũng là cái phước. Có thể tổ chức làm việc từ thiện trong phạm vi các chùa, vì con người cũng cần những giải trí làm tâm hồn được thăng hoa. Thay vì đi giải trí với karaoke, cà phê ôm, máy lạnh, bi-da, bowling, ma túy... bước vào đó, tuy có vui, có khuây khỏa, nhưng cái hiếu động ở những nơi đó làm tăng ích kỷ, làm độc hại cả thể chất lẫn tinh thần, chúng ta nên tham gia các khóa thiền. Các chùa nên mở những khóa tĩnh tu hai hoặc ba ngày. Người tham gia khóa tĩnh tu, tâm linh phát triển, tâm hồn an lạc. Ở các nước có nền văn minh kỹ thuật cao như Mỹ vẫn có những khóa thiền. Các doanh nhân, người trí thức thường tham gia các khóa thiền ngắn ngày như một cách trị liệu tinh thần, thể chất, giúp họ có trí tuệ hơn, sáng suốt hơn, làm việc hiệu quả hơn. Nếu những Phật tử nào biết Thái cực quyền nên tổ chức tại sân chùa các khóa dưỡng sinh cho mọi người tham gia. Người lớn tuổi hay nhỏ tuổi tập dưỡng sinh đều có lợi cho sức khỏe và tinh thần, tánh tình trầm tĩnh hơn.
Hoặc mở những khóa giáo dục hôn nhân gia đình. Ngoài những người xuất gia ra, còn hầu hết đều lập gia đình. Ai đã qua đời sống hôn nhân gia đình đều thấy không dễ gì. Đời sống vợ chồng không dễ hòa hợp. Dạy con cũng không dễ. Cho nên chúng ta, nhất là những Phật tử có kinh nghiệm, nên tổ chức những khóa học giáo dục về hôn nhân gia đình để giúp đỡ cho những thanh niên Phật tử sắp bước vào ngưỡng cửa hôn nhân, gia đình, nuôi dạy con cái... Rồi có thể tổ chức hôn lễ cho Phật tử theo nghi thức của chùa. Lứa đôi, trước đấng cao cả, hứa với nhau cùng hướng về một hướng trong cuộc sống chung, cùng có trách nhiệm với nhau, với gia đình mình, cùng tu tập v.v... Nhà văn Pháp S. Exupery có nói: “Yêu nhau không phải là nhìn nhau, mà cùng nhìn về một hướng” là như vậy.
Từ ngôi chùa là cái gốc cho chúng ta có đạo lý, có con đường tu tập, có sức mạnh tinh thần, nên mỗi Phật tử phải là một “chiến sĩ” từ thiện, ra ngoài xã hội, dấn thân vào những nơi có người nghèo đói, bệnh tật, đau khổ, neo đơn... Vô số việc từ thiện trong đời chúng ta đem đến cho xã hội, cho mọi người những điều lợi ích, tốt đẹp. Sự thiện nguyện đó phải được thực hiện từ đây cho đến suốt đời.
Mái chùa không phải là chốn cho ta dừng lại rồi mải mê trong câu kinh tiếng kệ. Đó là gốc rễ, là nơi tiếp thêm sức mạnh, thắp sáng đường đi, khơi nguồn đạo lý. Còn bổn phận của chúng là mang đạo lý từ mái chùa biến thành vô số điều thiện lành cho cuộc đời. Nên mỗi Phật tử phải là một “chiến sĩ” từ thiện, ra ngoài xã hội, dấn thân vào những nơi có người nghèo đói, bệnh tật, đau khổ, neo đơn... Vô số việc từ thiện trong đời chúng ta đem đến cho xã hội, cho mọi người những điều lợi ích, tốt đẹp. Sự thiện nguyện đó phải được thực hiện từ đây cho đến suốt đời.
Em có buồn không khi nhìn lên
Tòa nhà cao ngất ở tầng trên
Dưới kia áo rách người cúi xuống
Cầu chút tình thương giữa bụi đường.
Em có chờ mong một ngày mai
Người người ai cũng giống như ai
Dù cho sai biệt về công đức
Nhưng lại chung nhau ước mộng dài.
Đã trót sinh ra kiếp con người
Tiếng khóc thường chen với tiếng cười
Chút tình nhân ái xin vun đắp
Để gió xuân về trong nắng mai...


