ĐỊNH NGHĨA
Lẽ phải là điều được coi là hợp đạo lý, là chân lý.
Sức mạnh là khả năng tác động mạnh mẽ đến những người khác, đến sự vật, gây tác dụng ở mức cao (như sức mạnh của thế lực, của vũ lực, của đồng tiền...).
Lẽ phải là điều chúng ta phải học hỏi, tuân thủ, theo đuổi, và áp dụng vào trong cuộc sống của mình như thế nào cho phù hợp với đạo lý. Đây là vấn đề vô cùng phức tạp. Ở đây, đứng trên quan điểm của đạo Phật, chúng ta nói đến lẽ phải là nói đến đạo lý, đạo đức, điều thiện; còn những khía cạnh khác thì chúng ta không nói đến (như nói theo quốc gia lẽ phải là luật lệ, luật pháp; nói theo khoa học lẽ phải là nguyên lý, định lý...).
Lẽ phải giúp chúng ta tránh được điều ác, làm được điều thiện, và tâm hồn cũng như cuộc sống của chúng ta càng ngày càng thánh thiện hơn. Ví dụ, ông bà ta nói: “Ở hiền gặp lành”, nghĩa là chúng ta cứ ăn ở hiền rồi điều lành, điều tốt đẹp sẽ đến. Vì tin đó là lẽ phải nên chúng ta tuân thủ, áp dụng trong cuộc sống của mình. Có những lúc gặp khó khăn, chúng ta chỉ cần ác một chút, tham một chút là có thể làm giàu. Nhưng vì tuân thủ đạo lý “ở hiền gặp lành” nên chúng ta khước từ sự làm giàu do lòng tham để giữ một cuộc sống thánh thiện. Bởi chúng ta tin rằng không tham (ở hiền) thì điều tốt sẽ đến. Hoặc chúng ta nhặt được một gói tiền lớn bên đường, dù đang cần tiền nhưng nghĩ đến giới luật trong đạo Phật, nghĩ đến nỗi đau khổ của người bị đánh rơi nên chúng ta không nỡ sử dụng, mang số tiền đó đến công an nhờ tìm người mất để trả lại. Khi khước từ lợi lộc do tham lam mà tâm mình vẫn an ổn là vì chúng ta tin và tuân thủ lẽ phải “ở hiền gặp lành”.
Chúng ta áp dụng, thực hành lẽ phải vào cuộc sống sẽ làm cho tâm hồn mình càng lúc càng tốt hơn.
Ví dụ có hai bên xung đột nhau, người này đi kiện người kia, tòa xử bên thắng-bên thua. Người thắng kiện luôn luôn kiêu ngạo, người thua kiện mang lòng hận thù. Chúng ta đứng ở giữa (do có quen biết cả hai bên) phải cố gắng tìm cách hòa giải làm cho người thắng không còn kiêu ngạo và người thua không còn hận thù. Chúng ta làm việc này để giúp cho mối quan hệ của họ tốt đẹp trở lại. Nỗ lực làm con người thương yêu nhau hơn như thế cũng là điều phù hợp với đạo lý. Đó gọi là làm theo lẽ phải, theo lương tâm, theo đạo lý.
Trong cuộc sống vẫn còn vô số điều thiện khác chờ đợi chúng ta học hỏi, ứng dụng. Lẽ phải là một phạm trù rất rộng. Đi sâu vào đạo lý thì thật mênh mông vi diệu, từ những điều nhỏ nhất như trả lại của rơi đến những điều cao siêu nhất như đạt được trí tuệ vô ngã trong Thiền định. Ở đây, chúng ta chỉ bàn đến sức mạnh của lẽ phải, việc thực hiện và bảo vệ lẽ phải trong cuộc sống.
Lẽ phải mang ba đặc tính:
- Tự nó có sức mạnh
- Cần sức mạnh để thực hiện
- Cần sức mạnh bảo vệ
Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn khi nhìn chúng trên tầm mức quốc gia. Với mọi đất nước, lẽ phải tồn tại trong luật pháp. Một đất nước thường có ba cơ quan chuyên trách về ba quyền cơ bản: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quốc hội là cơ quan Lập pháp, chịu trách nhiệm xây dựng, ban hành văn bản pháp luật. Chính phủ là cơ quan Hành pháp, nghĩa là thi hành pháp luật. Tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân... là cơ quan Tư pháp, chịu trách nhiệm bảo vệ pháp luật.
LẼ PHẢI TỰ NÓ CÓ SỨC MẠNH
Như một quốc gia với hệ thống luật pháp được thiết lập, trong tâm con người cũng tồn tại một số lẽ phải. Tự lẽ phải đó có sức mạnh chuyển hóa tâm hồn họ một cách nhẹ nhàng, tự nhiên.
Làm sao có được đạo lý trong tâm? Muốn có được đạo lý trong tâm, chúng ta phải học hỏi đạo với nhau. Chúng ta đến chùa nghe thuyết pháp, tìm băng đĩa, nghe bài giảng, đọc sách kinh hoặc đàm đạo với nhau. Tất cả những việc làm đó gọi là học hỏi đạo lý.
Những người có trí tuệ, có duyên phước gì từ đời xưa, họ lặng lẽ trong cái tâm thanh tịnh nhưng làm gì cũng có đạo lý, người này được gọi là có “trí vô sư”. Trí vô sư có nhiều mức độ. Có người trí vô sư đến vô tận, nghĩa là không có vấn đề gì họ bị trở ngại, bất cứ vấn đề gì họ cũng hiểu, cũng biết. Người có trí vô sư hữu hạn là tự họ suy nghĩ biết được điều xấu, điều tốt, nhưng không phải vô tận. Có những điều họ biết, nhưng có những điều phải qua suy nghĩ họ mới biết được.
Lẽ phải, đạo lý có sức mạnh chuyển hóa tâm hồn của chúng ta. Đánh giá một giáo lý đúng hay sai là khi đón nhận nó, chúng ta thấy tâm hồn mình tốt hơn hay không. Đây là thước đo tự nhiên. Chúng ta chưa cần tu, chưa cần phải ngồi thiền, chưa lạy Phật, chưa quán tưởng... nhưng nếu một đạo lý rớt vào tâm mình mà đúng, tự nó sẽ làm chuyển tâm mình. Ví dụ, chúng ta nghe đạo lý từ bi chỉ trong một thời gian ngắn thấy tâm mình trầm lặng, thanh thản, không còn bị căng thẳng, không dễ nổi nóng với ai. Như vậy, đạo lý về lòng từ bi đã chuyển tâm chúng ta. Tâm chúng ta trở nên lắng dịu, hiền lành, dễ chịu hơn.
Hoặc nghe đạo lý về lòng khiêm hạ, lúc nào chúng ta cũng thấy mình bé nhỏ, thấp kém. Dĩ nhiên, chúng ta vẫn giữ tôn ti trật tự bình thường trong cuộc sống, như cha mẹ vẫn đối xử với tư cách làm người cha, người mẹ; người thầy đối xử với tư cách làm thầy, nhưng trong thẳm sâu tâm hồn chúng ta vẫn thấy mình như cỏ rác, như cát bụi mà thôi. Dù chưa tu, nhưng một khi chúng ta chấp nhận đạo lý trong tâm rồi thì con người chúng ta sẽ thay đổi từ từ. Vì đạo lý đó là lẽ phải, tự nó có sức mạnh chuyển tâm.
Ngược lại, những lý luận, quan điểm sai lầm sẽ quấy phá khi vừa rơi vào mảnh đất tâm của bất kỳ ai. Một người được ông thầy bùa cho tấm bùa với lời khẳng định lá bùa sẽ mang lại sự thương mến tin tưởng của mọi người và thành công trong công việc làm ăn. Tin chắc vào lời hứa hẹn, người này luôn mang theo tấm bùa bên mình. Một tuần sau, các thành viên trong gia đình nhận thấy ông xuất hiện những biểu hiện lạ lùng. Một tháng sau bạn bè dần phát hiện ông có những hành vi lệch lạc, mất đạo đức. Vì vậy, khi chúng ta chấp nhận một giáo lý sai thì điều đó sẽ phá vỡ nhân cách, làm cho chúng ta trở nên kiêu mạn, nóng nảy, bất an, ích kỷ... một cách tự nhiên.
Để có được lẽ phải, đạo lý ở trong tâm là cả một quá trình gian khổ, phải có duyên phước từ nhiều đời. Không phải bất cứ ai trong thế gian này đều muốn có minh sư là có được, muốn có chân lý là được chân lý. Có nhiều người khao khát đi tìm chân lý nhưng rồi chỉ gặp tà sư, gặp giáo lý sai dẫn đưa cuộc đời mình đi trong bóng tối. Nếu chúng ta có duyên phước sẽ may mắn được gặp minh sư, chánh đạo làm cho tâm hồn chúng ta mở rộng, thăng hoa, và sáng suốt dần dần. Đây là duyên may chứ không phải chủ quan hay khách quan mà được. Có nhiều người ít học nhưng do may mắn họ vẫn gặp được lẽ phải, cũng có khi người có bằng cấp cao mà lại nghe theo những điều sai lầm, có thể họ không biết nhưng vì họ chấp nhận khiến cho cuộc sống bất an.
Do vậy trước hết, chúng ta phải xét lại hai điều: tâm mình có yên hay không và đạo đức mình có tăng trưởng dần dần hay không. Nếu trong bao nhiêu năm qua đến với nhiều thầy, đọc nhiều sách, nghe nhiều băng đĩa thuyết pháp mà thấy tâm vẫn bất an, vẫn ích kỷ thì đó là dấu hiệu cho chúng ta thấy mình chưa có lẽ phải. Còn từ khi biết đạo, gặp những vị thầy, đọc qua những quyển sách, nghe những bài thuyết pháp, rồi xét thấy đạo đức mình có tăng trưởng, tâm mình đã bình an thì biết là đã gặp những vị thầy cho mình những lời dạy tốt, những quyển sách mình đọc đã nêu lên đạo lý cho mình học hỏi theo. Lẽ phải tự nó có sức mạnh, có tác dụng ở mỗi chúng ta là vậy.
LẼ PHẢI CẦN CÓ SỨC MẠNH ĐỂ THỰC HIỆN
Dù đã chuyển hóa được tâm con người, đạo lý vẫn chưa có tác động rõ ràng nào vào cuộc sống nếu họ không dùng đôi tay, khối óc của mình xây đắp vô số điều thiện lành cho đời. Nghĩa là đạo lý đó phải có tác dụng vào đời sống thường ngày. Ví dụ, chúng ta có đạo lý về lòng từ bi, về đời sống vị tha, về việc phải biết làm từ thiện, biết chia sẻ với người nghèo khổ. Nhưng đó không chỉ là những điều suy nghĩ trong thinh lặng mà phải có quyết tâm thực hiện. Quyết tâm đó phải được thực hiện bằng sức mạnh tinh thần, vật chất của nhiều người. Chúng ta rủ bạn bè cùng góp công, góp sức, góp tiền của để giúp người nghèo khổ một cách cụ thể. Nếu chúng ta nghe băng đĩa giảng pháp hay rồi cất kỹ thì đạo lý không lan tỏa sang bạn bè, hàng xóm nên không ích lợi gì. Đạo lý đó phải được truyền một cách mạnh mẽ sang nhiều người, nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Đức Phật sau khi giác ngộ Ngài vẫn phải thuyết pháp. Nếu Ngài im lặng, không nói gì cả thì thử hỏi thế gian này có được ánh sáng, có được chân lý không? –
Không có. Nếu Ngài yên lặng không nói gì thì cả thế gian này đã mãi chìm trong đêm tối vô minh. Ngài phải vất vả bốn mươi lăm năm đi thuyết pháp. Một mình Ngài chưa đủ, những đệ tử đắc đạo của Ngài cũng đều phải đi giáo hóa. Thời gian đầu, Ngài thấy người đi giáo hóa còn ít, nên không được hai người đi chung một đường, mà phải chia ra, tỏa ra khắp nơi để giáo hóa độ sinh. Các vị có lẽ phải, có sự giác ngộ trong tâm rồi nhưng không bao giờ yên lặng. Sự hi sinh, dấn thân của các Ngài là sức mạnh đã khơi nguồn cho dòng suối chân lý tuôn chảy vào sa mạc cuộc đời. Hành động đó gọi là sức mạnh để thực hiện lẽ phải. Do vậy, đạo lý mới lan tỏa nhiều trong cuộc sống.
Lẽ phải có sức mạnh chuyển tâm, làm cho tâm chúng ta tốt hơn. Nhưng để cho điều tốt lan rộng chúng ta phải làm cái gì đó chứ không được im lặng. Có những lúc im lặng là tốt nhưng có những lúc im lặng là thụ động, không tốt. Vì thế, lẽ phải cần được thực hiện một cách mạnh mẽ, cụ thể, thiết thực trong cuộc sống của mỗi chúng ta và trong đời sống chung của mọi người.
LẼ PHẢI CẦN ĐƯỢC BẢO VỆ BẰNG SỨC MẠNH
Trong một đất nước, dù hệ thống luật pháp đã được thiết lập nhưng luôn có những kẻ dám qua mặt công lý. Vì lý do này, lực lượng công an, cảnh sát luôn tồn tại ở tất cả các quốc gia để đảm bảo luật pháp được thực thi. Cũng vậy, lòng từ bi của Đức Phật là tuyệt đối, những lời Ngài dạy là vô giá đối với thế gian này, tuy nhiên đạo lý đó luôn cần được bảo vệ trước dã tâm của kẻ xấu.
Nhìn vào chùa, chúng ta thấy hai bên có tượng Hộ pháp: một bên là tượng Hộ pháp cầm kiếm, mặc áo giáp rất uy nghi; một bên là tượng ông Tiêu, đầu có sừng, tay cầm lưỡi lê, đôi mắt long lên dữ dội. Người chưa biết đạo Phật ngạc nhiên hỏi: “Chùa là mái ấm, là bóng mát từ bi nhưng sao trong chùa có hai hình tượng rất dữ. Như vậy, có ý nghĩa gì?” Các chùa Bắc tông Đại thừa giải thích rằng Đức Phật từ bi, Ngài dạy giáo lý tốt, nhưng để giáo lý đó lan tỏa thì phải có người bảo vệ. Hộ pháp là những vị thần giữ gìn, bảo vệ chùa. Có hai vị Hộ pháp tiêu biểu: một vị là ông
Thiện dùng thần lực của mình để bảo vệ chùa khỏi những điều quấy phá của người dương gian; một vị là ông Tiêu dùng thần lực của mình để bảo vệ khỏi sự quấy phá của người thế giới siêu hình như ma quỷ, siêu nhân. Nghĩa là chùa là nơi hiền lành, và có người hiền lành nói lên đạo lý thì phải có người bảo vệ đạo lý.
Điều đó, thực tế ngoài đời và trong đạo cũng vậy. Sức mạnh từ thế gian vẫn có thể chuyển hóa thành sức mạnh phụng sự cho đạo pháp. Như đức Đạt Lai Lạt Ma (người Tây Tạng) là nhà tu hành nhưng khi ông đi thuyết pháp có lực lượng cầm súng đi bảo vệ. Ở đây, lực lượng đó cầm súng bảo vệ đức Đạt Lai Lạt Ma thì gọi là năng lực phục vụ cho đạo pháp.
Ví dụ, trong Tây Du Ký, ngài Tam Tạng tượng trưng cho điều gì? Câu chuyện Tây Du Ký có nhiều nghĩa, nhưng chúng ta chỉ khai thác nghĩa gần. Ngài Tam Tạng (tức Đường Huyền Trang hay Đường Tăng) tượng trưng cho lẽ phải, cho đạo lý, cho sự hiền lành; Tề Thiên (Tôn Ngộ Không) tượng trưng cho sức mạnh để hành động thực hiện lẽ phải đó; Sa Tăng và Trư Bát Giới tượng trưng năng lực, sức mạnh của thế gian được chuyển hóa trở thành sức mạnh phục vụ cho đạo pháp, cho lẽ phải. Một mình Đường Tăng không thể đi tới được Tây phương để thỉnh kinh, mà đây là công lao của cả bốn người. Về ý nghĩa thì Đường Tăng tượng trưng cho lý tưởng, cho lẽ phải, cho sự công bình, cho đạo lý, đạo đức..., các người còn lại (Tề Thiên, Sa Tăng, Trư Bát Giới) là sức mạnh để đưa lý tưởng, bảo vệ lý tưởng đó đến mục tiêu cuối cùng.
Nên khi biết Phật Pháp, chúng ta chỉ có lý tưởng thôi vẫn chưa đủ. Sự khôn ngoan thuộc về thế gian phải được biến thành trí tuệ để chúng ta ứng dụng đạo lý vào cuộc sống. Cái cang cường bướng bỉnh trước kia phải biến thành ý chí chịu đựng những cơn đau chân khi ngồi thiền, biến thành quyết tâm làm điều thiện lành, trong đó không thể thiếu được công đức bảo vệ Phật Pháp.
Vì vậy, khi đến với Phật Pháp, chúng ta cũng có lý tưởng từ bi, có đạo đức, có lòng khao khát, có nhiệt tình thực hiện đạo lý. Những giờ chúng ta ngồi thiền đau chân đằng đẵng đã biến thành ý chí để cùng với mọi người rủ nhau đi làm việc từ thiện. (Ví như, Đường Tăng có Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng; cái nhiệt tình nóng nảy của Sa Tăng biến thành lòng nhiệt tình hộ đạo; cái khao khát cái tham lam của Bát Giới biến thành khao khát lý tưởng tu đạo; thần thông biến hóa của Tôn Ngộ Không biến thành sức mạnh của sự khôn ngoan để thực hiện đạo lý). Khi tới Tây phương, xong công quả thì Đường Tăng thành gì? - Thành Phật. Các vị kia thành gì? Cũng thành Phật. Đấu Chiến Thắng Phật là ở giai đoạn thực hiện có cao có thấp, có thầy có trò. Đường Tăng làm sư phụ đứng vai trên, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng là đệ tử đứng vai dưới. Công việc của mỗi vị rất vất vả, và công quả đó được đền bù, vì khi mục tiêu đạt được rồi thì ai cũng thành Phật như nhau. Nếu đặt trường hợp ban đầu Tôn Ngộ Không đòi bằng thầy, xuất gia làm người đạo đức, ngồi im một chỗ thì công quả có thành không? - Không thành. Cho nên, trong cuộc sống, mỗi công việc tự nó như đã phân công đúng căn duyên của mỗi người.
Cuộc sống này là một sự phân công và chúng ta buộc phải lựa chọn một đường đi đúng với căn duyên của mình. Trong nhóm bạn hữu có một người đạo đức, có lý tưởng và ta chấp nhận làm cái bóng bên cạnh để hỗ trợ cho người bạn đó tu, làm việc đạo. Sau này, cả ta và người bạn đều thành tựu phước lành.
Trong đạo, Tăng Ni tượng trưng cho đạo lý, lẽ phải. Người Phật tử vừa hỗ trợ cho Thầy làm việc đạo, vừa khéo léo bảo vệ Phật Pháp cho Thầy mình. Khi quý Thầy kêu gọi giúp đỡ người nghèo, đó vẫn là sự định hướng. Chính các Phật tử là người lên kế hoạch sẽ đến thăm những ai, xóa đói giảm nghèo như thế nào... Hoặc bỗng có người đến rỉ tai những Phật tử trong chùa: số tiền từ thiện quyên góp được đã bị Thầy trục lợi. Nhưng là người Phật tử theo sát bên Thầy ta biết rõ rằng các sổ sách, chứng từ liên quan đến công tác từ thiện của chùa, ngay cả đời sống của Thầy đều rất công khai, minh bạch. Vì thế ta giải thích, thuyết phục, ngăn cản người đã nói những lời ác ngữ đó. Sự cố gắng đó cũng là nỗ lực bảo vệ Phật Pháp, mang lại phước báu rất lớn cho chúng ta.
Trên đời hiếm có việc thiện nào được suôn sẻ hoàn toàn. Tại sao có người phá việc làm tốt của người khác? Do đố kỵ, do ích kỷ. Ví dụ, có hai nhà khoa học cùng nghiên cứu về một đề tài nhưng một người đang đi theo hướng khả quan hơn. Người còn lại bắt đầu lo sợ công trình nghiên cứu kia thành công, sự nổi tiếng của người bạn sẽ làm mình bị lép vế. Tâm tị hiềm đã khiến ông tìm cách phá hoại làm cho nghiên cứu của người bạn bị thất bại. Trong khi nếu được ứng dụng vào thực tế, công trình nghiên cứu khoa học kia sẽ giúp cộng đồng xã hội được hưởng lợi ích. Chỉ vì một chút ích kỷ cá nhân, rất nhiều người sẵn sàng đan tâm phá hủy cả một sự nghiệp có thể mang lại lợi ích lớn cho cộng đồng xã hội.
Trong đạo cũng vậy, không phải ai cũng chấp nhận, ủng hộ điều tốt của người khác. Vì thế, cũng phải có những người sẵn sàng bảo vệ lẽ phải, bảo vệ đạo lý. Lẽ phải và sức mạnh phải biết sử dụng đúng mức để tạo thành sự đoàn kết, tạo thành nét đẹp trong đạo Phật.
Do vậy, có bốn công việc người đệ tử Phật chúng ta phải làm đối với Phật Pháp:
Thứ nhất là tìm hiểu đạo lý (Học).
Thứ hai, áp dụng đạo lý để thực hành tu tập (Hành).
Thứ ba, san sẻ đạo lý cho nhiều người cùng tu tập theo (Hoằng)
Cuối cùng, quyết tâm bảo vệ đạo lý trước những kẻ ác tâm (Hộ).
Ngược dòng lịch sử, vào thế kỷ thứ V, thứ VI, Hồi giáo bắt đầu xuất hiện ở vùng Trung Đông, bán đảo Ả Rập. Ở vùng đó, đạo Phật đã hiện diện trước rồi. Vì từ Ấn Độ đến vùng Trung Đông không xa nên các vị sư đi về những vùng phía bắc Ấn Độ, qua Trung Á, Trung Đông, sang châu Phi, hoặc đi về hướng Đông sang Miến Điện, Thái Lan, Indonésia để truyền đạo. Nhưng đến khi Hồi giáo xuất hiện, họ truyền đạo bằng sức mạnh của gươm đao. Từng làng mạc, từng thị trấn, từng thành phố dần dần Hồi giáo chiếm lĩnh hết, lan rộng cả vùng Trung Á, Trung Đông, xuống châu Phi, ảnh hưởng sang Ấn Độ qua tới Đông Nam Á... Các vùng Philippines, Viễn Đông, Cực Đông cũng xuất hiện những vùng lãnh thổ Hồi giáo.
Khi vó ngựa và lưỡi gươm Hồi giáo đi đến đâu thì đạo Phật mất dần đến đó vì người ta không chịu nổi sự giết hại. Niềm tin được canh giữ nghiêm ngặt bằng bạo lực. Hồi giáo tổ chức xã hội rất chặt chẽ: không ai dám ăn cắp, không ai dám lăng nhăng tình cảm, không uống rượu, không sa đọa. Xã hội rất kỷ cương. Hồi giáo truyền đạo và bảo vệ đạo bằng bạo lực một cách cực đoan và rất hiệu quả. Theo cách đó thì các sư, các Phật tử hiền lành chấp nhận theo đạo Hồi để được sống. Đạo Phật từ từ vắng bóng tại Trung Đông, Trung Á, châu Phi, rồi mất dần tại Ấn Độ...
Đạo Phật là đạo từ bi, là đạo của lẽ phải. Ngày nay, cả thế giới đều công nhận và ca ngợi không tôn giáo nào hay hơn Phật giáo. Những người trí thức sau khi tìm hiểu nhiều đạo và tìm hiểu đạo Phật đều ca ngợi đạo Phật. Như nhà bác học Albert Einstein viết về Phật giáo: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó”. Tuy nhiên, Phật giáo dù là chân lý được nhân loại công nhận, tôn vinh nhưng đã hoàn toàn biến mất tại rất nhiều nơi bởi sự nhu nhược, thụ động không quyết liệt hộ đạo của những người đệ tử Phật. Một chân lý không còn tồn tại đồng nghĩa với việc chấm dứt mang lại lợi lạc cho cuộc đời, bởi không còn ai tu tập, hành trì nữa.
Ở Trung Đông, Trung Á, Ấn Độ... thời đó thiếu hai mẫu người bảo vệ Phật Pháp:
Mẫu người thứ nhất là vua A Dục (Asoka đại đế, trị vì đế quốc Maurya từ năm 273 đến năm 232 tr.CN). Sử sách ghi lại ông là một trong những vị hoàng đế kiệt xuất nhất của Ấn Độ bởi luôn chiến thắng trong hàng loạt cuộc tấn công mở rộng bờ cõi, cai trị phần lớn vùng Nam Á từ I Ran, Afghanistan cho đến Bengal... Thế nhưng, cái khiến cho tên tuổi vua A Dục mãi mãi chói lọi không phải là chiến tích, mà là những điều ông làm với tư cách người hộ trì vững chắc cho Chánh pháp. Tất cả các tiểu quốc hay vùng miền nào thuộc đế chế của ông cai trị đều lập tức được truyền bá đạo Phật. Vì thế vào thời vua Asoka, Phật giáo được lan rất nhanh tại Ấn Độ. Sau thời vua A Dục, vùng Trung Á, Trung Đông đã thiếu một vị vua dám dùng vũ lực để bảo vệ Phật Pháp như thế. Và đó mới là sự nghiệp vĩ đại nhất của vua A Dục.
Mẫu người thứ hai là những người như Trần Quang Khải, Trần Hưng Đạo, Trần Thủ Độ của Việt Nam. Vào thời đó, quân Nguyên Mông tung vó ngựa khắp nơi nơi nhưng khi đến Việt Nam phải chùng vó. Ngay cả vua Trần Thái Tông cũng không bảo đảm là mình chiến đấu nổi nên có ý muốn hàng. Trần Thủ Độ nói: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ yên tâm”. Chính câu nói đó như một sức mạnh làm cho vua quan thời Trần Thái Tông đánh giặc giữ được nước.
Lần thứ hai, lần thứ ba quân Nguyên lại mang quân sang với khí thế rầm rộ gấp nhiều lần thứ nhất, vua Trần Nhân Tông chột dạ. Trần Hưng Đạo khẳng khái nói: “Nếu bệ hạ muốn hàng thì hãy chặt đầu thần trước”. Và Hội nghị Diên Hồng đã nêu quyết tâm chống giặc giữ nước của toàn quân, toàn dân ta thời đó. Các vua đời Trần đều mộ đạo Phật và có ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật. Đó là những Phật tử đã dám dùng sức mạnh để bảo vệ đạo Phật, bảo vệ đất nước yên bình.
Chuyện ngày xưa là vậy. Còn ngày nay, người Phật tử không cầm gươm lên ngựa để bảo vệ Phật Pháp như thời Trần mà đã có luật pháp quốc gia. Sức mạnh dù khác nhau ở hình thức nhưng vẫn luôn luôn tồn tại để bảo vệ lẽ phải. Trong chùa có Hộ pháp và ông Tiêu Diện, ngoài xã hội đã có luật pháp quốc gia. Tuy nhiên, việc tu tập và bảo vệ Phật Pháp thì không bao giờ dừng đối với người đệ tử Phật. Trách nhiệm của người đệ tử Phật, dù xuất gia hay tại gia, đều luôn luôn giữ vai trò hộ pháp.
Đoàn kết trong đạo là sức mạnh để bảo vệ Phật Pháp
Có nhiều hình thức tinh vi phá hoại Phật Pháp. Nếu không cảnh giác chúng ta sẽ rơi vào âm mưu của người ngoài phá hoại đạo Phật. Một trong những âm mưu phá đạo Phật là âm mưu gây chia rẽ trong đạo Phật, có khi do chính người trong đạo Phật, có khi do người ngoài gây ra mà chúng ta không biết để rồi chống đối lẫn nhau. Một ví dụ, chỉ cần ai đó không phải đạo Phật nói bên Thiền tông chê Tịnh độ tông; hoặc nói Tịnh độ tông chê Thiền tông. Người nào trung thành với Tông nào sẽ bảo vệ Tông đó và ác cảm với Tông kia. Đó là mưu kế do người ngoài quấy phá. Hoặc tự mình gây ra như người ở Thiền tông chê Tịnh độ tông; người Tịnh độ tông chê Thiền tông và bắt đầu gây chia rẽ. Chúng ta được quyền góp ý với nhau một cách chân thành về những điều chưa bằng lòng với nhau, mà không công kích, chỉ trích nhau rồi gây đổ vỡ, chia rẽ.
Người Phật tử chúng ta có nhiệm vụ bảo vệ sự đoàn kết trong đạo Phật. Đây là điều rất quan trọng. Ví dụ, có thầy nào đó nói: “Con là đệ tử của thầy, con thuộc Tông này thì con không được biết Tông nào khác”. Ông thầy này có khuynh hướng chia rẽ, chúng ta hiểu vậy và tỉnh táo thoát ra ngay. Vì chúng ta biết rằng thầy nào cũng là đệ tử Phật. Xin cho các đệ tử Phật thương nhau, đoàn kết gắn bó với nhau, không phân biệt chùa này, Tông nọ. Cũng có khi đệ tử chùa này không muốn qua chùa khác dù cùng Tông phái. Tất cả những điều đó làm cho đạo Phật chia rẽ cực độ.
Trước hết để bảo vệ Phật Pháp, chúng ta không ngã lòng vì những lý luận chỉ trích cục bộ. Ngày xưa, Trư Bát Giới, Sa Tăng dữ dằn, nóng tính bao nhiêu thì vào đạo lại năng nổ bảo vệ đạo bấy nhiêu. Còn chúng ta, bình thường người Phật tử hiền lành, chỉ im lặng nhưng đến lúc cũng phải lên tiếng. “Thầy nào chúng con cũng thương hết. Chùa Tịnh độ tông con cũng lạy Phật, chùa Thiền tông con cũng lạy Phật. Quý thầy đừng phân biệt, chúng con vẫn mong đạo Phật đoàn kết”. Nếu tất cả Phật tử nói chân thành mong ước đạo Phật đoàn kết thì quý Tăng, Ni không thể chia rẽ và những thế lực bên ngoài cũng không dám gây chia rẽ. Vì chúng ta chân thật đơn sơ mà những thế lực bên ngoài thì có rất nhiều cách thức tinh vi để chia rẽ đạo Phật thành từng mảnh nhỏ. Họ đến tỉnh này lập giáo hội, đến tỉnh kia lập giáo hội. Trong đất nước này mà có nhiều giáo hội, chắc chắn sẽ có sự chia rẽ ngay. Nếu có tình trạng đó thì vai trò hộ đạo của người Phật tử là gì? Người im lặng không nghe theo được nửa công đức, người dám cản điều chia rẽ được hoàn toàn công đức. Công đức này ai biết, ai xử, ai thưởng? Luật Nhân Quả biết và có thưởng, có phạt công bằng tuyệt đối.
Người bảo vệ Phật Pháp một cách quyết liệt, ngăn cản sự đổ vỡ, sự chia rẽ thì có công đức lớn. Điều này dựa vào sức mạnh của Phật tử. Nếu mỗi Phật tử ai cũng ý thức, cũng hiểu rõ điều này, đạo Phật sẽ không bị chia rẽ. Đây là trách nhiệm lớn lao của người Phật tử chúng ta. Chúng ta hãy thành tâm nhận lấy trách nhiệm này: thứ nhất, không lạc lòng vì sự chia rẽ, chống đối trong đạo Phật; thứ hai, nếu có ai chống đối, gây chia rẽ, chúng ta thẳng thắn góp ý, giải thích khuyên bảo họ dứt bỏ điều đó. Hãy quyết tâm thực hiện thật tốt.
BẢO VỆ & TU TẬP GIÁO PHÁP CHÂN CHÍNH
Rất khó gặp được giáo pháp chân chính. Điều này tùy thuộc vào phước duyên mỗi người. Ngày xưa, mình có duyên phước với ai, thấy người đó luôn luôn đúng, hết nợ mới thấy người đó có sai. Ví dụ, có người đời trước là một ông quan tốt, còn mình là lính, là dân của ông ấy; đời này gặp lại thấy mến ông, theo ông. Hoặc đời trước người đó là trùm một băng đảng, còn mình là thuộc hạ, là lâu la; đời này còn nợ còn duyên nên cứ phải nghe theo ông ta. Những điều đó thuộc về quá khứ, hiện tại không sửa được.
Bây giờ phải làm sao để sửa?
Chúng ta không thể biết vị thầy nào đúng, vị thầy nào sai. Người đúng hoàn toàn thì không chắc có, chỉ có Phật. Gặp được người thầy đúng nhiều, sai ít là may mắn, là phước. Làm thế nào để gặp được minh sư? Chỉ nhờ cầu nguyện chư Phật: “Kính lạy mười phương chư Phật gia hộ, bởi vì con còn si mê, còn vô minh chưa có trí tuệ nên con chưa thể chọn ai làm minh sư chánh đạo để theo học đạo giải thoát giác ngộ. Xin chư Phật, chư Thiên dìu dắt cho con gặp được minh sư chánh đạo”. Đêm nào chúng ta cũng cầu nguyện, lời cầu nguyện có khi không logic lắm mà rất linh.
Ngoài sự cầu nguyện, chúng ta dựa vào một số giáo lý căn bản tự tìm được làm tiêu chuẩn đánh giá. Học về lý Nhân Quả, Luân hồi, Vô thường, Vô ngã, Bát chánh đạo, Mười hai nhân duyên, Tứ diệu đế làm căn bản. Phải đọc sách nghiên cứu trước, rồi khi gặp vị thầy nào nói về Tứ diệu đế rất chuẩn, hay hơn điều chúng ta đã hiểu thì có thể theo học được ở vị thầy đó. Hoặc chúng ta đã biết về giáo lý Vô thường, rồi gặp vị thầy nói về giáo lý Vô thường rất kỹ, nói về kinh nghiệm tu hành thâm sâu là có thể theo thầy để học hỏi kinh nghiệm tu hành. Đó là việc chọn minh sư để giúp chúng ta gặp được giáo lý chân chính.
Tuy nhiên, thời đại càng phát triển, tư duy và lý luận càng phát triển, thì cũng có nhiều người đưa ra lý luận mới. Đó chính là lý do xuất hiện nhiều giáo lý mới, nhiều tông phái và giáo phái mới. Cái bệnh của người “chế” ra cái sau luôn luôn cho rằng giáo lý của mình là cao hơn tất cả giáo lý đã có từ xưa đến nay. Ví dụ, có một ông đạo hay bà đạo nào mới xuất hiện, chúng ta sẽ nghe họ nói vị thần linh của họ là thần linh tối cao trong vũ trụ này. Phật hay Chúa cũng đều thua, và bà đạo hay ông đạo đó là đại diện duy nhất của vị thần linh trên hành tinh này. Chúng ta biết ngay đây là bệnh tâm lý chung, bệnh thích nâng mình lên thứ nhất thiên hạ; còn người tự hạ mình thấp xuống, chúng ta thử ghé thăm vài lần, hy vọng có khi là người tốt.
Để tìm cho ra chánh đạo, chúng ta phải biết tập hoài nghi tất cả mọi lý luận ngay từ ban đầu. Ví dụ gặp người nào đó cho rằng trong con người tồn tại một cái ngã chân thật. Nghĩa là dù thân này có chết, dù có luân hồi nhưng cái ngã chân thật đó vĩnh viễn bất biến, luôn luôn tồn tại. Điều đó chúng ta phải xét lại, không tin ngay, phải đọc thêm nhiều giáo lý, gặp thêm nhiều vị thầy để học hỏi. Chứ tin ngay có cái ngã chân thật là chúng ta “bị dụ” phải tu theo cách của người này mới tìm được cái ngã chân thật đó. (Mà muốn tu theo thì phải nhập môn, muốn nhập môn phải cúng hai cây vàng. Nói tới, nói lui thế nào cũng có tiền hoặc có vàng ở trong (!))
Hay Đức Phật đã xác quyết: “Không có bản ngã chân thật”. Tất cả chúng sinh đều thấy có bản ngã (cái ‘ta’). Lúc sống cái ta là thân xác vật chất, khi chết đi chính là linh hồn. Nhưng khi đầu thai, linh hồn lập tức biến mất và một bản ngã mới thành hình. Vì thế, bản ngã không phải là thứ tồn tại vĩnh cửu. Kiếp này ta có tên họ như thế, sang kiếp sau ta lại tái sinh với một thân phận, hình hài, tên gọi khác. Đồng thời nếu ta tu tập đến chứng đạo, cái ngã sẽ tự tan vỡ. Nên theo quan điểm của đạo Phật, bản ngã chân thật không hề tồn tại.
Tuy nhiên, ta hãy can đảm xét lại cả giáo lý này. Qua nhiều năm tháng quan sát nơi chính mình và mọi người, ta thấy rằng vì chấp có bản ngã nên mình đã tăng trưởng ích kỷ, kiêu mạn. Ngược lại, ý niệm vô ngã làm ta càng lúc càng hiền lành khiêm tốn, vị tha hơn. Sự trải nghiệm này là cần thiết để ta vững tin vào giáo lý Vô ngã Phật dạy.
Hoặc có một ông đạo nào đó nói rằng chỉ có Phật Địa Mẫu là cao hơn mọi thứ. Chúng ta phải xét lại kinh nào nói hay ai đặt ra... Ông đạo đưa cuốn sách Địa Mẫu chân kinh, chúng ta xem sách này ai viết, viết lúc nào, xuất xứ từ đâu, chứ không phải nghe, tin và chấp nhận ngay. Cũng có người tự xưng là được Thượng đế giao cho sứ mạng xuống trần gian để cứu thế trong thời đại nhiễu nhương, thiên tai bệnh dịch hoành hành... Có nhiều người nói chắc như đinh đóng cột như thế, chúng ta chớ vội tin mà phải luôn luôn xét lại, hoài nghi ngay từ tiền đề đầu tiên trước khi những “đạo sư” này dẫn dắt ta đi xa hơn. Đó là cách chúng ta tìm được lẽ phải để tu, đồng thời có sức mạnh của niềm tin và trí tuệ để bảo vệ lẽ phải.
Cuối cùng, trong việc tìm học đạo lý, hãy nhớ rằng đạo lý đó phải vừa cao siêu nhưng cũng vừa thực tế. Từ chỗ giải quyết, hóa giải được những vấn đề rất thực của cuộc sống này, đạo lý mới đưa chúng ta đi dần đến chân trời giải thoát. Đừng nhẹ dạ tin theo những điều nghe mơ hồ huyễn hoặc nhưng tách biệt khỏi cuộc đời.
BA ĐIỀU CHÚNG TA PHẢI LÀM SUỐT ĐỜI
Một là chúng ta phải tìm học hỏi đạo lý và truyền bá đạo lý
Có người hỏi muốn tu đắc đạo mà còn bận tâm lo cho người khác thì làm sao đạt được Thiền định? Chúng ta phải hiểu rằng chính người bận tâm làm lợi ích cho chúng sanh, đem an vui cho người khác, những việc làm đó đánh vào trong tâm, đến lúc ngồi thiền tâm rất yên. Còn người sợ động tâm nên tránh né không dám xông xáo, không giúp được ai, được định bao nhiêu ở phước đời trước là chỉ bấy nhiêu, không đi sâu được. Cho nên chính người tích cực dấn thân, bận tâm làm lợi ích cho mọi người, sau này đạo quả lớn. Điều này phải tin chắc.
Việc mà chúng ta làm suốt đời là học hỏi đạo lý và truyền bá đạo lý, không chỉ riêng cho Tăng, Ni mà cho bất cứ ai là Phật tử. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình đã đủ đạo lý không cần học nữa; đừng cho rằng tôi đạt được đạo lý vô ngôn, tôi không cần học nữa; nghe giảng hay đọc sách chỉ là văn tự ngữ ngôn, là cỏ rác. Câu nói đó là tà kiến. Đắc đạo như A la hán mà vẫn cần trang bị kiến thức thế gian để độ sinh. Chúng ta phải khiêm tốn suốt đời tìm học đạo lý và truyền bá đạo lý không dừng nghỉ. Ví như một cụ già đang làm vườn, có người nói: “Cụ già rồi sao không nghỉ ngơi cho khỏe?”. Cụ trả lời: “Nếu biết ngày mai tôi chết thì tôi phải trồng cho xong cây cam này ngày hôm nay”. Con người này rất hay, trồng mà không cần hưởng để lại cho người đời sau hưởng thành quả của mình. Chúng ta cũng vậy, cái chết không biết đến lúc nào thì hôm nay, từng ngày cố gắng học hỏi đạo lý và truyền bá đạo lý.
Hai là đạo lý phải được áp dụng trong đời sống thực tế
Chúng ta tổ chức cho mọi người cùng tu tập đạo lý và cùng thực hiện đạo lý đó. Ví dụ, tu tập tụng kinh sám hối, tập ngồi thiền, tổ chức cho nhiều người cùng làm việc từ thiện. Đạo lý phải áp dụng được trong đời sống thực tế và đưa dần đến cao siêu. Cái cao siêu đó có nền tảng từ cuộc sống thực tế. Nếu chúng ta nghe nói đến một đạo lý cao siêu mà không có nền tảng từ cuộc sống thực tế thì đừng tin vội, phải xem xét lại.
Về việc tổ chức áp dụng đạo lý vào cuộc sống
Chúng ta phải nhớ rằng lẽ phải không tự lan tràn để biến thế gian này thành cực lạc, mà phải nhờ công sức của nhiều người biết yêu chuộng lẽ phải, biết yêu quý Phật Pháp thì mới đem lẽ phải, đạo lý đó đến với mọi người được. Cũng vậy, giống như Đức Phật ngày xưa, nếu đắc đạo rồi Ngài im lặng thì ngày hôm nay, chúng ta không có Phật Pháp. Chính nhờ bốn mươi lăm năm Ngài vất vả thuyết pháp và biết bao nhiêu đệ tử của Ngài qua hàng ngàn năm vẫn thuyết pháp (nói hoặc viết) nên Phật Pháp mới lan tràn. Công sức làm cho Phật Pháp lan tràn rất đáng quý. Như Đường Tam Tạng tượng trưng cho lẽ phải mà nếu không có Tôn Ngộ Không cũng không đi thỉnh Kinh được. Người có đạo lý là Đường Tam Tạng; người có công sức đem đạo lý lan tràn là Tôn Ngộ Không, cả hai đều thành Phật như nhau.
Ví dụ, chư Tăng, Ni là những người có đạo lý thì các Phật tử là những người đem đạo lý đến với cuộc đời, đến với những người chưa biết đạo. Công quả của Phật tử và chư Tăng, Ni như nhau, sau này đều thành Phật. Phật tử tổ chức áp dụng để đạo lý được lan tràn, công đức đó nhiều khi còn lớn hơn pháp sư. Chư Tăng, Ni cho chúng ta đạo lý. Chúng ta đem đạo lý đó hỗ trợ với chư Tăng, Ni để giáo hóa. Một ngày nào đó chư Tăng, Ni về cõi Phật, thấy Phật tử ngồi sẵn đó, họ thành Phật từ đời nào rồi. Khi hỏi ra mới biết đó là những Phật tử ngày xưa đem băng đĩa, đem sách giảng Pháp đi truyền bá...
Về việc tổ chức cho mọi người tu
Chúng ta nên sắp xếp cho thuận tiện. Đâu phải chỉ có chùa mới là nơi để tu mà mỗi gia đình đều có thể tổ chức cùng tu tập. Nếu là cha mẹ, là anh chị thì phải tổ chức nghiêm khắc việc tu tập trong gia đình. Đạo Nho ngày xưa, tổ chức gia đình rất có nề nếp.
Người cha, người mẹ trong gia đình luôn giữ vững kỷ cương, tức là dạy con phải biết vâng lời cha mẹ, phải sống theo đạo lý, phải là người quân tử... Đối với đạo Nho, mỗi gia đình là một nơi để tu tập, đề rèn luyện con người thành một nhân cách của người quân tử. Ngày nay, đạo Phật chúng ta cũng phải tổ chức lại, mỗi gia đình chúng ta phải là nơi để tu tập. Muốn vậy, cha mẹ phải nghiêm khắc, phải cương quyết dạy con từ nhỏ.
Một gia đình Phật tử bên Mỹ kể rằng họ có một người con trai rất thông minh, ngoan ngoãn và mến đạo. Do sinh ở Mỹ nên người con này không rành tiếng Việt lắm. Trước khi ăn cơm, cháu đều cầu nguyện Phật, nhưng một tháng gia đình họ ăn chay chỉ có bốn ngày, các ngày còn lại ăn thịt cá, nên họ phân vân không biết phải cầu nguyện như thế nào, cần được chúng tôi hướng dẫn.
Chúng tôi có soạn một bài tụng trước khi ăn dành cho trẻ bằng tiếng Anh, và gửi cho gia đình đó.
“Trước hết, con cám ơn chư Phật, lòng biết ơn này dâng lên chư Phật. Vì chư Phật cho con giáo lý nhiệm mầu. Nhờ đó, con đã sống một đời chính đáng, chân chính. Lòng biết ơn của con cũng dâng lên cha mẹ đã nuôi dưỡng, dạy dỗ con với tất cả lòng thương yêu và nhờ đó con đã có cuộc sống hạnh phúc như thế này. Trước bữa ăn này, con gửi lòng biết ơn đến với tất cả mọi người, những người đã cho con bữa ăn này cũng như mọi điều trong cuộc sống, nhờ đó, con đã bước đi trong cuộc đời tươi đẹp này. Và sau nữa, con nguyện cuộc đời của con sẽ dành tất cả cho chúng sanh là những người mà con hết lòng thương yêu, con dành mọi nỗ lực để đem đến hạnh phúc cho mọi người”.
Đó là lời cầu nguyện ngắn trước khi ăn, nếu các gia đình của Phật tử cũng áp dụng được như vậy cho con cháu mình thì rất hay.
Vậy để đạo lý được áp dụng vào đời sống thực tế, chúng ta phải chú ý mấy điểm sau: Thứ nhất, phải cố gắng tổ chức việc tu tập nơi gia đình; thứ hai, quý Tăng, Ni lo việc tu tập ở chùa, chúng ta phụ thêm. Nghĩa là khi quý Tăng, Ni khởi ý tổ chức tu tập như
Bát quan trai, những khóa niệm Phật, những khóa tọa thiền v.v... chúng ta ủng hộ và rủ thêm người thân, bạn bè cùng tới dự. Vì việc hiểu đạo chưa đủ mà đạo lý còn phải được thực hành từ bản thân đến gia đình, đạo hữu và mọi người.
Ngoài ra, có những hình thức khác cũng gọi là tổ chức Phật Pháp mà chúng ta phải ủng hộ như tổ chức thanh thiếu niên gia đình Phật tử hay các Chúng thanh niên Phật tử. Đó là môi trường đạo giúp trẻ biết Phật Pháp. Tuy nhiên, tổ chức này phải thay đổi khác hơn mấy mươi năm về trước, nghĩa là phải bổ sung nội dung cho phong phú, phù hợp với tình hình tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay. Huynh trưởng buộc phải giỏi kỹ năng sinh hoạt. Vì sao? Vì trẻ ngày nay có nhiều trò vui hấp dẫn ở ngoài đời như chơi games, hát karaoke, trình diễn thời trang v.v... lôi cuốn các em. Vì thế các tổ chức thanh thiếu niên Phật tử phải thông minh, phải có những trò chơi, những hình thức sinh hoạt thu hút các em vô chùa trở lại. Để các em tới chùa thấy vui hơn chơi games, thông minh hơn, trò chơi phải phát huy trí tuệ, hấp dẫn các em đến tham gia vào Chúng thanh thiếu niên Phật tử; đồng thời chúng ta phải cho con em vào tổ chức thanh thiếu niên Phật tử và ủng hộ góp ý về giáo lý, về mọi sinh hoạt của tổ chức này. Đó cũng gọi là hộ đạo.
Ba là bảo vệ đạo pháp bằng mọi cách theo khả năng của từng người, trong đó việc bảo vệ sự đoàn kết của Phật Pháp là điều rất quan trọng
Thời xưa, Đức Phật có nói rõ chư Tăng đến đâu là phải trình diện giáo hội tại đó để hòa vào chung một Tăng đoàn mà sinh hoạt, không được tách riêng. Dù ở tịnh thất ẩn tu nhưng trong làng có giáo hội thì chư tăng cũng phải tới trình diện rồi sau đó ẩn tu; còn nếu trong làng chưa có giáo hội thì khi tới đó tu phải xây dựng giáo hội từ đầu. Như vậy, giữa người tu (Tăng, Ni) và giáo hội luôn luôn có sự gắn bó chặt chẽ.
Đạo Phật không có giáo hội Phật giáo thống nhất trên thế giới như Vatican (Thiên Chúa giáo). Mỗi nước có giáo hội Phật giáo riêng. Nhưng cũng có nhiều vị cùng một vùng mà lập ra nhiều giáo hội. Nói theo tinh thần đạo Phật thì điều đó không hay lắm vì lập thêm hai, ba giáo hội chỉ tạo mầm mống chia rẽ.
Vì vậy, chúng ta phải cố gắng bảo vệ sự đoàn kết Phật Pháp. Nếu thấy ai có khuynh hướng chia rẽ, chúng ta ngăn cản lại. Hiện nay có thể có nguy cơ chia rẽ trong giáo hội vì có những người thích thành lập giáo hội mới, giáo hội khác ở đất nước ta. Một giáo hội đủ rồi, có điều gì chưa tốt, chúng ta kiên nhẫn xây dựng lại; không nên loại trừ, chống đối nhau, vì tất cả đều là đệ tử Phật. Cái tốt không chỉ nằm nơi giáo hội mà còn chính là nằm nơi sự tu hành của từng người.
Trong việc bảo vệ Phật Pháp, chúng ta vừa bảo vệ sự đoàn kết trong giáo hội, vừa bảo vệ Tăng, Ni tu hành chân chính. Ngoài những vị nổi tiếng, bất cứ Tăng, Ni nào ở trong làng, trong xóm, chúng ta đều có trách nhiệm bảo vệ đời sống tu hành và bảo vệ uy tín của các vị đó. Ví dụ, trong làng chúng ta có hai ngôi chùa tu tương đối tốt. Bỗng có người nói xấu một ngôi chùa, chúng ta biết điều đó không đúng nên tìm cách bảo vệ, không để tiếng xấu đó lan truyền tiếp tục nữa. Bảo vệ Tăng, Ni cũng là bảo vệ Phật Pháp trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh.
Ở nước ngoài có một số quý thầy tu hành chân chính, làm được nhiều việc đạo. Nhưng vị thầy nào vừa nổi tiếng, có uy tín thì lập tức có luồng dư luận đập tan. Chúng ta nghĩ xem biết đâu đây là âm mưu bên ngoài, họ muốn đạo Phật không phát triển. Bởi vì người tài đức sẽ đưa đạo Phật đi lên, được nhiều người theo tu hành đông hơn. Biết đâu có âm mưu của một thế lực nào đó phá đạo Phật bằng cách: Một là gây chia rẽ, chống đối nhau mà lập ra nhiều giáo hội; hai là người có tài có đức có thể tạo ra một sinh khí tu hành mới cho đạo Phật thì họ tìm cách triệt hạ uy tín người đó. Người Phật tử chúng ta phải cảnh giác và cẩn thận về những điều này.
Hoặc chuyện một vị thầy ở nước ngoài, vì thầy có sơ suất gì đó và bị người ta thu băng, rồi để một ngàn cuốn băng ngoài chợ, ai đi ngang qua người ta đưa cho cuốn băng để nghe lời vị đó sơ xuất... Người đệ tử Phật sẽ không bao giờ làm những việc như vậy. Vậy ai làm? Người bên ngoài, người không phải đạo Phật mới làm như vậy. Trong việc bôi nhọ, nói xấu hình ảnh đạo Phật thường là có âm mưu từ bên ngoài. Vì vậy, Phật tử chúng ta phải cảnh giác tối đa để không bị gạt bởi âm mưu đó. Ngày xưa, Đức Phật đã cảnh giác rằng trùng trong thân sư tử tự ăn thịt sư tử. Vì thế, chúng ta phải thương yêu, đoàn kết với nhau, Tăng, Ni, Phật tử phải gắn bó yêu thương nhau. Đôi khi có thể chúng ta khác quan điểm tu hành nhưng không vì thế mà chống đối nhau, từ từ tìm ra cái hay nhất, đúng nhất để cùng hướng về. Ai tu đường nào cứ theo đường đó; chùa nào tu yên chùa đó. Bởi vì, chúng ta cùng có một điểm chung nhất, đều là đệ tử Phật, một điểm chung quý báu và trân trọng biết bao!
Lời nói cũng vậy, rất quan trọng, là phương tiện giúp chúng ta bảo vệ lẽ phải, bảo vệ đạo lý. Chúng ta dựa trên luật Nhân Quả để giải thích, bảo vệ giáo lý đạo Phật. Ví dụ, người không hiểu đạo Phật cho rằng đạo Phật là đạo tu tĩnh lặng, thụ động, tiêu cực, chỉ lo giải thoát; nếu theo đạo Phật rồi là tự nhiên không còn sức để làm ăn, không còn biết phấn đấu gì nữa, kinh tế gia đình sẽ xuống dốc... Họ nói: “Ở xóm tôi có ba ông, từ lúc đi chùa, bỏ vợ con đói nheo nhóc, không biết lo làm giàu”. Gặp trường hợp này chúng ta phải làm sao? Phải giải thích, phải bảo vệ lẽ phải, chứ không thể để cho người ta hiểu sai như vậy. Chúng ta nói cho họ hiểu muốn vui, muốn giàu có, họ phải lo cho người khác vui, làm cho người khác giàu trước thì cái vui, cái giàu sẽ đến bằng sự phấn đấu, năng nổ làm việc suốt đời, chứ không phải thụ động mà có được. Còn những lúc tĩnh lặng là để tâm hồn mình được thanh thản, tự tại trước sóng gió của cuộc đời. Đó cũng là một cách để giải thoát.
Nên ở đây, người theo đạo Phật là người làm việc hết sức mình để mang lại lợi ích cho nhiều người; đối với làng xóm là người luôn hết lòng giúp đỡ mọi người; còn đối với vợ con thì luôn chăm sóc, thương yêu. Nghĩa là người này hiểu luật nhân quả nên suốt đời làm điều từ thiện để đem an vui đến cho mọi người. Khi đó, niềm hạnh phúc an lạc cũng sẽ đến với chính mình, đó là nhân quả.
Chúng ta cũng không im lặng một cách thụ động mà phải biết dùng lời nói để bảo vệ Phật Pháp với tất cả khả năng, trí tuệ đã có. Vì lời nói cũng là phương tiện để đem cái thiện đến cho mọi người. Nói nhẹ nhàng, hiền hòa để bênh vực, để giải thích những điều mà người khác hiểu lầm về đạo Phật, về giáo hội, nhất là đối với những người có tôn giáo khác. Bênh vực, bảo vệ, truyền giảng Phật Pháp là điều tốt. Tuy nhiên, chúng ta không bị bệnh nói nhiều, gặp ai cũng “bắt” người ta nghe giảng đạo, không khéo người ta “sợ” rồi trốn chúng ta. Chỉ nói khi cần. Nói súc tích mà đầy đủ đạo lý, chứ không phải phô trương là người hiểu đạo nhiều. Khi cần im lặng, chỉ ngồi im lặng và mỉm cười mới là người có bản lĩnh để thuyết Pháp và bênh vực đạo Pháp.
***
Chúng ta đi tìm đạo lý để ứng dụng suốt cuộc đời tu của mình. Đạo lý đó tự nó có sức mạnh chuyển hoá nội tâm chúng ta. Nhưng lẽ phải đó, đạo lý đó không thể tự nó lan tràn mà phải nhờ sức mạnh khác từ bên ngoài. Tức là phải nhờ công sức của từng người làm cho Phật pháp được lan truyền; đồng thời đạo lý cũng cần những người đệ tử Phật, những người chân chính nhiệt tình bảo vệ. Chúng ta không được để đạo lý bị mai một, bị phá hoại, bị tàn lụi như Phật giáo đã từng bị lụi tàn ở những vùng Ấn Độ, Trung Đông thuở xưa... Nên chúng ta nhớ, khi đến với đạo, chúng ta không chỉ lặng lẽ học đạo, tu tập cho riêng mình mà còn phải có trách nhiệm truyền bá rộng rãi, bảo vệ và áp dụng đạo lý vào đời sống hiện tại và trong tương lai.


