SỨC KHỎE VÀ HẠNH PHÚC
Hạnh phúc là mục tiêu của cuộc đời mỗi người. Nhưng người ta không thể nào thấy hạnh phúc nếu đau bệnh, nếu sức khỏe không tốt. Vì thế, người Việt Nam chúng ta gặp nhau, câu hỏi đầu tiên thường là: “Anh có khỏe không?”. Đó là sự quan tâm của chúng ta đối với người và với bản thân mình về một cuộc sống hạnh phúc. Bởi vì, hạnh phúc gồm nhiều yếu tố mà sức khỏe là một yếu tố quan trọng. Một người rất giỏi có nhiều khả năng làm việc nhưng cứ đau bệnh hoài thì công việc sẽ kém hiệu quả.
Trong cuộc sống nếu sức khỏe là một yếu tố quan trọng của hạnh phúc thì bệnh tật là nỗi đau khổ của con người, điều mà Đức Phật nói rất rõ ràng trong Tứ Diệu Đế. Đức Phật nói Sinh, Lão, Bệnh, Tử là nỗi khổ của kiếp luân hồi. Trong nhiều nỗi khổ của kiếp người, Đức Phật nói bệnh là nỗi khổ nhất. Thường thì chúng ta khỏe nên không thấy nỗi đau khổ của bệnh tật, nhưng ai đã đi qua bệnh tật rồi thì thấy thật khổ. Mỗi giai đoạn của cuộc đời, tức là mỗi giai đoạn của sức khỏe, chúng ta cảm nhận bệnh tật khác nhau. Ví dụ, một người trẻ khỏe khi bị một cơn cảm vẫn không thấy đau khổ vì có sức chịu đựng, chỉ cần gồng mình làm việc cho xuất mồ hôi là hết bệnh. Hoặc một người khỏe mạnh rủi bị đụng xe gãy chân, tuy có đau nhưng họ vẫn chịu đựng được, vì còn sức khỏe tiềm tàng. Đối với người lớn tuổi hay già yếu thì mỗi cơn bệnh là một nỗi khổ không chịu đựng nổi, họ cảm nhận một cách đau đớn nỗi đau của bệnh tật. Ví dụ, một người bị bệnh ung thư rất đau đớn về thể xác và tinh thần, càng đau khổ hơn vì biết cái chết sẽ đến dần dần. Vì vậy, sức khỏe là yếu tố rất quan trọng trong cuộc đời mỗi người.
Nhìn trên khía cạnh cộng đồng của toàn xã hội, một dân tộc có nhiều người khỏe mạnh thì dân tộc đó sẽ hùng mạnh; trái lại, trong xã hội mà đa số con người bạc nhược, nghĩa là dân tộc đó yếu đuối thì chắc chắn là một nước nghèo nàn. Nếu so sánh với người phương Tây thì người Á Đông, trong đó có người Việt Nam, đa phần không lớn con vì thiếu dinh dưỡng. Ngày nay, người Việt Nam chỉ sinh từ một đến hai con, nuôi con đàng hoàng, chu đáo, nên hầu hết những đứa trẻ của thế hệ hiện nay đều lớn con. Như vậy, có thể nói rằng người Việt Nam không phải nhỏ con mà vì các thế hệ trước thiếu dinh dưỡng.
Qua mấy ngàn năm dựng nước, do vóc dáng người Việt Nam nhỏ bé nên trên đất nước rất ít có công trình kiến trúc lớn. Động Phong Nha, Động Hương Tích, Vịnh Hạ Long... là các di tích kỳ quan có sẵn trong thiên nhiên chứ không phải do bàn tay con người tạo nên. Ở châu Âu có các công trình kiến trúc rất lớn, các tòa nhà được xây cất là cả một kỳ quan mà đất nước chúng ta không làm nổi. Những tòa nhà Quốc hội, đền đài, Giáo đường... của họ rất to lớn, hùng vĩ. Vì sao? Vì các dân tộc đó khỏe mạnh nên họ mới có sức làm được như vậy. Trong một nước mà đa phần người dân khỏe mạnh, đất nước đó giàu lên dần dần. Khi đất nước đã giàu, người dân có sức mạnh sẽ xây dựng được nhiều công trình lớn hơn.
Thể lực của cộng đồng xã hội rất quan trọng. Những nhà lãnh đạo đất nước cũng thấy rõ điều này. Ở đây, chúng ta bàn về sức khỏe và bệnh tật trên tương quan cộng đồng chứ không phải trên bình diện cá nhân. Vì sức khỏe có một ý nghĩa rất lớn đối với cộng đồng dân tộc nên chúng ta phải làm sao cho mọi người đều hiểu được điều đó, và ai cũng phải có ý thức rèn luyện thể lực cho tốt thì xã hội mới tiến bộ được. Cũng như những giá trị tinh thần khác, những khả năng khác, nếu mỗi người cố gắng tiến lên một chút và cùng chung tay góp sức thì đất nước sẽ phát triển nhanh. Hoặc từng người chúng ta ai cũng biết làm việc từ thiện, sống cuộc đời đạo đức vị tha, đến khi mức độ đạo đức của cộng đồng tăng lên thì đất nước sẽ tiến bộ gấp bội lần.
Suy cho cùng, hạnh phúc của mỗi người, sự phồn thịnh của một cộng đồng xã hội, sự hùng mạnh của một đất nước do nhiều yếu tố tạo nên, trong đó không thể thiếu yếu tố sức khỏe. “Có sức khỏe thì không có chuyện gì mà không thành tựu được”, đó là lời chúc tốt đẹp nhất cho mỗi chúng ta.
KHÁI NIỆM VỀ SỨC KHỎE VÀ BỆNH TẬT CÓ TÍNH TƯƠNG ĐỐI
Ví dụ, chúng ta đi lạc vào một bộ tộc ít người. Bộ tộc này chưa bao giờ tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Người bộ tộc này chỉ có hai tay, không có hai chân. Nếu chưa tiếp xúc với chúng ta chắc không bao giờ họ nghĩ rằng mình bị tật nguyền, con người chỉ có hai tay là bình thường. Nhưng khi gặp chúng ta, họ biết rằng mình bị thiếu hai chân; còn chúng ta thì đau lòng, muốn giúp đỡ cả một bộ tộc tật nguyền.
Ví dụ trên trái đất này, con người bình thường có hai tay, hai chân, hai mắt... gọi là người khỏe mạnh. Nhưng một ngày nào đó, có người ngoài hành tinh đến trái đất thăm chúng ta, họ có đôi cánh bay trong không khí, chắc rằng họ sẽ thấy thương và tội nghiệp chúng ta vì phải lếch thếch đi dưới mặt đất, không bay được. Họ cho là chúng ta bị tàn tật nên cứu trợ lắp cho mỗi người một đôi cánh giả, mà dù có lắp cánh nhưng chúng ta vẫn không bay được, vì cứ bay lên... lại rơi xuống... Cho nên, chúng ta thấy chỉ một thay đổi nhỏ về sức khỏe là cả một nền văn minh thay đổi. Thử tưởng tượng một ngày nào đó con người trên trái đất biết bay thì thế giới này sẽ lên đến đỉnh cao của văn minh. Bởi vì chúng ta có thêm phương tiện. Lúc đó, cất nhà, xây tường ngăn cách chưa đủ, ăn trộm vẫn bay vô nhà được mà phải làm xây mái úp lên. Từ đó, người ta sẽ thay đổi quan điểm, thay đổi kỹ thuật kiến trúc. Hoặc nếu loài người có đôi cánh, biết bay thì máy bay không phải là phương tiện hiện đại nữa. Con người sẽ chế tạo thêm đĩa bay, bay xuyên qua không gian, tàng hình chỗ này, hiện hình chỗ kia.
Như vậy, có so sánh, chúng ta mới biết mình khỏe mạnh hay tật nguyền. So sánh với các lực sĩ hoặc với người phương Tây, họ vạm vỡ, mạnh mẽ, to cao hơn chúng ta. Hoặc so sánh với người hành tinh khác, họ có thể nhảy một bước đến ba, bốn trăm thước, còn chúng ta chỉ nhảy được trên hai thước. Đối với họ, chúng ta vẫn là người yếu đuối, bệnh hoạn. Và theo quan điểm đạo Phật thì đó là sự so sánh tương đối. Sức khỏe và bệnh tật cũng có nhân quả.
SỨC KHỎE NẰM NƠI THÂN
Quan điểm của đạo Phật đối với thân như thế nào?
Đối với đạo Phật, thân này là chiếc bè, bè là phương tiện để qua sông, qua sông rồi không mang bè đi. Tuy nhiên, khi đang qua sông đừng rời bỏ chiếc bè, bè sẽ chìm. Chúng ta phải nhìn cái thân này như vậy.
Thông thường, chúng ta không nghĩ thân này là chiếc bè mà bị rơi vào một cực đoan. Đó là chúng ta xem thân này rất quan trọng, là một đối tượng để cung phụng, để hưởng thụ. Từ xưa đến nay con người bị quan điểm chung như vậy, vì cái thân này chính là TA. Ví dụ tôi tên Hùng, nếu người ta hỏi Hùng là ai thì tôi chỉ vào cái thân này, chứ tôi không xem Hùng là sự thông minh, là kiến thức của tôi. Nghĩa là chúng ta lấy cái thân này để ám chỉ con người và xem cái thân là quan trọng. Vì vậy, bao nhiêu điều chúng ta đeo đuổi phấn đấu cả một đời cũng dành cho cái thân, cũng vì cái thân. Chúng ta muốn cho cái thân này ăn no, mặc đẹp, ở nhà sang trọng, thụ hưởng bao nhiêu điều sung sướng khác. Đây là một cực đoan mà 99% con người bị vướng mắc.
Cực đoan còn lại chiếm rất ít là ép xác, không muốn thụ hưởng. Có một số tôn giáo quan niệm cái thân này là sự hưởng thụ tội lỗi nên phải hành hạ ép xác thân để thoát khỏi tội lỗi, để cho tinh thần được thanh cao thoát tục thì mới lên được thiên đường hay nhập Niết Bàn. Đó là quan niệm ép xác ngược lại với quan niệm hưởng thụ.
Quan niệm xem thân là đối tượng để cung phụng hưởng thụ và quan niệm xem thân là cái gì tội lỗi, phải ép xác hành hạ. Cả hai quan niệm đều sai, đều cực đoan và dẫn đến sai lầm.
Ấn Độ thời xưa người ta coi trọng người sống khổ hạnh vì cho rằng con người có thói quen hưởng thụ thích sống sung sướng; chỉ những bậc tu hành chân chính mới là người dám ép xác, có ý chí khắc phục sự hưởng thụ để hành hạ thân xác mình. Nên người ta có quan niệm rằng: Người nào khổ hạnh càng giỏi thì người đó tu hành càng cao siêu.
Đức Phật đi qua cả hai giai đoạn với hai cực đoan đó. Đầu tiên, Ngài là một Thái tử trong cung, bị rơi vào hoàn cảnh thụ động mà phải hưởng thụ vì phước từ nhiều kiếp của Ngài. Vua cha vì quá thương yêu con nên luôn luôn tạo mọi điều kiện để Thái tử hưởng thụ. Đó là giai đoạn thứ nhất. Đến khi xuất gia thì quay ngược hẳn lại, Ngài ép xác, ép đến cùng cực. Đây lại là cực đoan thứ hai. Ngài khổ hạnh đến độ Ngài nói: “Trước Ta, không có người nào khổ hạnh được như vậy. Sau Ta cũng không có người nào có thể khổ hạnh hơn như vậy. Nhưng Ta đã không tìm thấy chân lý, không tìm thấy sự giác ngộ. Vì vậy, Ta kết luận sự khổ hạnh, ép xác này không đưa đến mục tiêu Giác ngộ, Giải thoát”.
Ngài khẳng định như thế.
Lúc năm anh em Kiều Trần Như cùng tu chung với Ngài, họ kính trọng Ngài hết mực. Do nể phục ý chí phi thường về hạnh tu ép xác khổ hạnh của Ngài mà không một ai có được, nên họ ở lại vừa tu vừa hầu hạ Ngài. Đến một hôm Ngài phát hiện mình sắp chết mà sự giác ngộ không đến thì biết đã đi sai đường, phải thay đổi, nên Ngài quyết định ăn uống trở lại. Lúc đó, năm anh em Kiều Trần Như cho rằng Ngài rơi trở lại sự hưởng thụ, họ bất mãn và bỏ Ngài ra đi. Sau này, Ngài đắc đạo, tìm lại năm anh em Kiều Trần Như để nói với họ rằng: “Hưởng thụ và ép xác đều sai.”
Do đó, ở đây, chúng ta theo tinh thần của Phật dạy mà hiểu cho thấu đáo. Thân này là một phương tiện, là chiếc bè thì chúng ta không dại gì cung phụng nó quá đáng, chỉ dành cho nó những gì tốt đẹp thôi. Nó là một chiếc bè phương tiện nên chúng ta cũng chỉ mặc cho nó bộ đồ phương tiện tương đối tươm tất là được rồi. Cũng phải cho nó ăn uống đàng hoàng, đối xử với nó công bằng, tử tế một chút. Nghĩa là nó đói cho nó ăn, nó dơ tắm rửa cho nó, nó mệt cho nó ngủ. Đối xử với nó công bằng để duy trì nó lâu dài cho các mục tiêu khác quan trọng hơn. Vậy, khi chúng ta hiểu sâu sắc thân này là phương tiện thì chúng ta sẽ biết cách đối xử công bằng với cái thân và sau đó dùng nó để đi đến bờ bên kia.
Trong đạo Phật có từ bờ bên kia (Parakita) rất hay mà không thấy ở ngôn ngữ tôn giáo nào khác. Đi đến bờ bên kia. Bờ kia là hình ảnh tượng trưng cho cái gì đó tốt đẹp, hoàn hảo tuyệt đối; là sự thành đạt, sự hứa hẹn; miền đất hứa hẹn sự thành công, là nơi đến đích.
Ngày xưa bên Ấn Độ, có lẽ người Ấn không có phương tiện để vượt qua dòng sông nước lớn và chảy xiết như sông Hằng. Người dân ở bờ bên này sống rất nghèo khổ, phải cày cuốc suốt ngày. Đứng bờ bên này, họ nhìn sang bờ bên kia xanh xanh giống như Thiên đường. Và họ hy vọng sẽ qua được bờ bên kia để có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Cũng vậy, thân này là chiếc bè để đưa chúng ta từ bờ bên này đau khổ sang bờ bên kia hạnh phúc giác ngộ. Vì vậy, chúng ta không phải mất nhiều thời giờ cho cái thân này nhưng cũng phải giữ gìn nó cho đúng mức, hợp lý, hợp tình. Chúng ta biết thân là phương tiện thì cũng phải biết dùng nó để làm gì. Là đệ tử Phật, chúng ta lập tức đặt cái thân này vào hai mục đích của cuộc sống.
Thứ nhất, dùng thân xuất hiện ở nơi thế gian này để thương yêu và giúp đỡ mọi người. Từ lâu chúng ta bị khuynh hướng ích kỷ tiềm tàng qua nhiều kiếp, chỉ muốn lo cho mình, tìm mọi cách để cung phụng cho thân. Ngày hôm nay hiểu đạo rồi, chúng ta xác định lại, huân tập lại, nhắc nhở lại, tâm nguyện cho vững chắc là sự có mặt của thân này trên cuộc đời chỉ để sống thương yêu, giúp đỡ mọi người; nguyện làm tất cả vì lợi ích, vì an vui, vì hạnh phúc của mọi người chung quanh. Việc dùng cái thân này làm ảnh hưởng đến lợi ích lớn trên toàn xã hội, trên toàn thế giới đòi hỏi khả năng của một vĩ nhân. Còn chúng ta thì quá bình thường, nhưng khi làm điều gì cũng phải cân nhắc có đem lại lợi ích cho mọi người chung quanh hay không.
Thứ hai, chúng ta biết rằng mọi vật chất thể xác đều tạm bợ vô thường. Thân này sẽ tan hoại một ngày nào đó, kể cả những người chúng ta đã từng thương yêu, giúp đỡ, lo lắng cho họ. Cái thân của tất cả chúng ta một ngày nào đó cũng vùi sâu dưới lòng đất lạnh, hoặc bị thiêu đốt mà thôi. Trong cuộc sống hiện tại, cái thân này rồi sẽ không còn tồn tại. Do đó, mục tiêu mà chúng ta nhắm đến phải là tinh thần, là tâm linh. Đó là mục tiêu mà chúng ta phải thăng hoa lâu dài, và là mục tiêu tối hậu. Đó cũng là sự phát triển của tinh thần-tâm linh, của đạo lý, của sự thánh thiện, sự giác ngộ, giải thoát cho mình và cho mọi người. Như vậy, tức là chúng ta đứng bờ bên này với thân phận nghèo nàn, thấp kém, khổ đau mà mơ ước mọi sự vinh quang, hạnh phúc, an lạc, tốt lành nơi bờ bên kia.
Tất nhiên, mục tiêu cao cả nhất của tâm linh mà đạo Phật nhắm tới là giác ngộ giải thoát. Vì thế, chúng ta dùng cái thân này tu tập để phát triển đời sống tinh thần, đời sống tâm linh cho mình và cho mọi người. Những gì tốt đẹp nhất chúng ta phải tâm nguyện cho mọi người đừng nghĩ riêng cho mình nữa. Nếu có nhiều người tìm đến đạo Phật, thấy được mục tiêu cao cả của đạo Phật thì thế gian này tốt đẹp biết bao. Còn nếu chỉ bản thân mình đi tìm mục tiêu cao cả đó thì lập tức rơi vào ích kỷ. Cho nên, chúng ta phải cẩn thận và nhớ: Hễ thấy được mục tiêu cao cả tốt đẹp là phải nghĩ đến, đem đến cho mọi người.
Khi đã biết cái thân này chỉ là phương tiện, có ba điều chúng ta cần chú ý. Một là đừng khờ dại ép xác vì sẽ không đạt đến những mục tiêu cao thượng. Hai là không nên cung phụng nó quá đáng. Ba là phải biết luyện tập cho cái thân này khỏe mạnh, vì thân này nếu không tập luyện nó sẽ yếu ớt và phát sinh bệnh tật. Một khi thân đã bệnh thì khó mà làm được điều gì. Luyện tập có nhiều phương pháp, căn bản nhất là thể dục, mạnh hơn nữa là thể thao, vận động cử tạ, chạy, nhảy... Làm việc bằng tay chân cũng là cách luyện tập; làm việc trong văn phòng phải chịu khó tập thể dục nhiều hơn. Ví dụ, người nào làm việc bằng hai tay, còn chân đứng yên thì phải tập những bài thể dục có vận động chân; còn người nào làm việc chỉ vận động chân thì nên tập những bài có cử động tay nhiều hơn.
Nội công gần với Đạo và với Thiền định
Người Trung Hoa có bí thuật luyện nội công làm tăng sức khỏe một cách kỳ diệu. Chúng ta xem phim Hồng Kông thấy họ đánh nhau dữ đội, có khi đánh chưởng trên mái nhà. Có thể người ta nghĩ rằng những phim ảnh đó chỉ là bịa đặt, thế giới phương Tây phê bình rất nhiều về điểm này. Nhưng người Trung Hoa có những bằng chứng sống động về những người đã từng đạt được những điều tuyệt diệu đó. Dù thời gian sau này môn võ thuật bị thất truyền nhưng vẫn còn nhiều người có khả năng đó trên đất nước Trung Hoa. Người Trung Hoa khẳng định môn nội công của họ làm ảnh hưởng đến suy nghĩ của người phương Tây.
Từ ban đầu người phương Tây xem phim chưởng Trung Hoa, rồi bị lôi cuốn, bị thuyết phục phải tin là người Trung Hoa thật sự đã thủ đắc được khả năng nhảy lên mái nhà, tung ra chưởng. Họ đã tìm đến chùa Thiếu lâm hoặc đến những danh sư, những vị ẩn sư của Trung Hoa để học võ thuật. Ngày nay, người phương Tây cũng theo học võ thuật Trung Hoa nhưng ít ai được truyền dạy hết những bí mật về nội công. Nhân ngày Quốc khánh lần thứ 230 của Hoa Kỳ, 500 võ sinh thuộc môn phái Thiếu Lâm đã hành hương về chùa Thiếu Lâm tại Trung Hoa. Chùa này được thành lập khoảng 1500 năm trước, và khá nổi tiếng về việc phối hợp võ thuật và Thiền học Phật giáo nhằm thanh tịnh hóa tâm hồn.
Vào thời nhà Lý, nhà Trần, võ thuật ở Việt Nam rất mạnh. Vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) ngày xưa lúc còn ở chùa đã được sư Lý Khánh Vân và sư Vạn Hạnh dạy võ thuật nên Ngài cực kỳ giỏi võ. Còn nhà Trần thì được truyền dạy những bí thuật của nội công. Nhờ vậy nên chúng ta đánh thắng được quân Nguyên Mông. Triều đại nhà Trần, vua chúa, quan quân, kể cả con gái trong hoàng tộc cũng đều rất giỏi võ. Một người con gái trong dòng họ nhà Trần phải đánh thắng được mười người đàn ông mới được công nhận là người hoàng tộc, không thắng sẽ bị loại ra khỏi hoàng tộc. Nghiêm khắc như vậy. Bí thuật về nội công là bí thuật quan trọng, nâng thể lực chúng ta lên. Ví dụ, chúng ta đang yếu, nhưng nếu chúng ta có bí thuật về nội công thì từ từ sức khỏe sẽ được tăng lên. Chỉ tiếc rằng người Việt Nam đã không giữ được bí thuật này.
Vì vậy, chúng ta có hai điều cần quan tâm:
Một là, chúng ta tìm người nào biết nội công chỉ dạy, rồi cố gắng học cho bản thân, đồng thời truyền dạy từ từ cho con cháu mình. Nội công là lối tập có chiều sâu làm tăng sức khỏe và thể lực, khác với các môn tập thể dục của phương Tây dù là thể dục thẩm mỹ, thể dục thể hình, đó chỉ là ngoại công cạn cợt. Nội công gần với Đạo, với Thiền định hơn.
Hai là, chúng ta kêu gọi người nào biết nội công hãy vì cộng đồng xã hội mà truyền dạy rộng rãi cho cộng đồng. Chúng ta bị thất truyền võ công là do biết mà không truyền đạt rộng rãi, chỉ dạy cho con cháu trong dòng họ. Ngày nay, võ công phải được dạy lan tràn để nâng thể lực của cộng đồng, vì nếu thể lực kém, chúng ta sẽ thua rất nhiều dân tộc trên thế giới.
Người Trung Hoa cho rằng huyệt đan điền mà các đạo gia luyện công hay nói đến như là một điểm kỳ diệu tạo nên nguồn nội lực. Huyệt đan điền này không nằm ở ngoài da như ta vẫn tưởng, mà nằm lơ lửng ở bụng dưới. Hít hơi đầy vào bụng dưới (huyệt đan điền) và giữ hơi lại tại nơi đó nhẹ nhàng, rồi mới bắt đầu đánh. Ví dụ, hít hơi vào, giữ hơi ở bụng dưới, đánh ra một đòn bằng tay nhẹ nhàng, rồi thở ra. Hít hơi khác vô giữ lại dưới bụng, đánh một đòn khác rồi thở ra. Họ luyện tập như vậy.
Có câu chuyện liên quan đến nội công. Ở Nhật có người tài xế có thói quen lúc nào cũng để tâm dưới đan điền, không biết anh được vị đại sư nào truyền dạy. Vị đại sư biết đệ tử mình lúc nào cũng bận rộn đi sớm về khuya nên ông chỉ dạy một điều là lúc nào cũng phải để tâm tại đan điền, không suy nghĩ gì hết, đừng để ý đến chuyện đời xung quanh. Người tài xế nghe theo lời thầy, anh thấy sức khỏe mình ngày một tăng lên, bệnh hoạn giảm đi. Cho đến một ngày, xe tải của anh và một xe tải khác ngược chiều đâm vào nhau với vận tốc cao. Tài xế xe kia chết tại chỗ. Còn anh tài xế này vẫn sống, tay vẫn cầm vô lăng, đầu xe phía trước tan nát hết. Trong những trường hợp thế này thường tài xế bị đập đầu hoặc ngực đập vào vô lăng chết liền. Anh tài xế này không chết mà cái vô lăng bị bẻ cong gập xuống. Nghĩa là tay anh chịu một lực lớn đến nỗi cái vô lăng cong xuống, giữ được cái ngực của anh không đập vào. Đây là tiềm lực bí mật xuất hiện lúc đó và truyền vào hai cánh tay, hai bàn tay cứng như thép, giữ cho cái ngực của anh không bị đập vào vô lăng. Bấy giờ anh mới hiểu rằng người thầy đã truyền dạy cho mình một phương pháp khí công tuyệt diệu.
Người Trung Hoa tập như vậy. Họ tập kiên trì dần dần thành tựu được khí công. Nhưng đó chỉ là sơ đẳng, còn nhiều bí mật khác mà chúng ta không biết nên chúng ta phải tìm học khí công và dạy lại cho mọi người. Vì luyện tập khí công cải thiện được sức khoẻ, giảm được bệnh hoặc không còn bệnh.
BA HỆ THỐNG Y HỌC LỚN TRÊN THẾ GIỚI
Khi cơ thể chúng ta hoạt động không bình thường, nghĩa là có trục trặc thì gọi là bệnh. Cha mẹ nuôi con rất cực khổ vì trẻ con thường hay bệnh, hiếm có những đứa trẻ nào khỏe mạnh, ít bệnh, đó là do phước đặc biệt. Loài người cũng như hầu hết các loài chúng sanh trên trái đất này đều phải đối diện với bệnh tật từ khi lọt lòng mẹ. Vì thế, đất nước nào cũng dần dần hình thành một hệ thống y học của nước mình.
Có ba hệ thống y học chính trên thế giới.
Thứ nhất là Tây y, hệ thống y học lớn nhất thế giới hiện nay. Các bệnh viện theo y học hiện đại với máy móc thiết bị và các lý thuyết phẫu thuật phân tích thực tế.
Thứ hai là Đông y, xuất phát từ Trung Quốc dựa vào hệ thống Âm Dương Ngũ Hành, hệ thống huyệt mạch kinh lạc trên cơ thể, và những thuốc lấy từ thảo mộc thiên nhiên. Ngành Đông y của Trung Hoa với hệ thống lý thuyết về Âm Dương Ngũ Hành hơi lạ đối với mọi người vì trừu tượng nhưng rất hiệu quả, trị được rất nhiều bệnh mà Tây y nhiều lúc phải bó tay. Việt Nam cũng kế thừa xuất sắc Đông y và trở thành một ngành trong y học nước nhà.
Thứ ba là hệ thống y học của các dân tộc thiểu số, các bộ tộc sống rải rác khắp nơi trên thế giới. Liên Hiệp Quốc đang kêu gọi khắp thế giới tìm hiểu những phương thuốc đặc biệt của người dân tộc vì chúng có nhiều hiệu quả lạ lùng. Ví dụ, từ lâu người ta đang sử dụng thuốc ngừa thai của Tây y, nhưng ngày nay, người ta phát hiện thuốc ngừa thai dùng nhiều quá sẽ sinh ung thư. Người dân tộc có loại thuốc bằng lá cây, uống vô thì ngưng sản, còn khi nào muốn tái sản có loại thuốc khác uống tái sản trở lại. Ở Việt Nam có người dân tộc Châu Ro. Khi người phụ nữ muốn ngưng sản, họ lấy cây nhang đốt vào vài vị trí trên rốn, trên bụng là người phụ nữ đó triệt sản luôn. Nhưng họ giấu không bao giờ cho người Kinh biết những điều đó. Và cũng chính vì giấu nghề (những kinh nghiệm) nên nền văn minh nhân loại chậm phát triển.
TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN BỆNH ĐỂ PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH
Nguyên nhân của bệnh theo Tây y
Theo y học hiện đại, bệnh là do vi trùng. Ví dụ, người bị bệnh lao được tìm thấy trong phổi có vi trùng Koch, tức là vi trùng Koch gây bệnh. Có bao giờ chúng ta nghĩ ngược lại không? Nghĩa là người đó đã bị bệnh lao rồi vi trùng Koch mới xuất hiện. Hoặc người bị loét bao tử chữa hoài không được, người ta phát hiện trong ổ loét đó có vi khuẩn HP và họ kết luận rằng do vi khuẩn tạo thành vết loét bao tử. Có bao giờ chúng ta lật ngược lại vấn đề vì bao tử loét nên vi khuẩn mới xuất hiện để sinh sống? Nhiều trường hợp phải lật ngược lại vấn đề. Bệnh tạo ra vi trùng hay vi trùng gây bệnh? Nên có nhiều vấn đề phải xét lại, là vậy. Phật dạy chúng ta chớ vội tin vào một điều gì mà hãy xét lại rồi mới tin.
Bệnh khủng khiếp nhất hiện nay là bệnh AIDS, ung thư và các bệnh do gène di truyền. Ví dụ, người bệnh tiểu đường là do gène. Ông bà, cha mẹ bị tiểu đường thì trong số các con nếu ai có gène trội dễ bị bệnh. Hoặc bệnh ung thư hay tim mạch, họ cho rằng đều có dấu vết của di truyền. Chỉ riêng bệnh ung thư rất lạ, hiện nay chưa có thuốc chữa.
Tây Y tìm thấy bệnh cũng là do chúng ta có lối sống sai lầm. Ví dụ, đáng lẽ ngủ thì chúng ta thức để xem phim, sáng đi làm sớm mà thời gian ngủ quá ít sẽ gây căng thẳng, từ từ xuất hiện bệnh huyết áp cao hay tim mạch,... Hoặc bệnh do dinh dưỡng, ăn uống không hợp lý như ăn ớt nhiều, ăn quá mặn, ăn nhiều mỡ, mỡ đóng trong thành mạch máu, trong gan... Vấn đề ăn uống hợp lý là cả một môn học chúng ta phải nghiên cứu. Hoặc bệnh do môi trường: khói xe, tiếng ồn cũng làm người ta bệnh. Ở các nước môi trường được bảo vệ rất kỹ, họ hạn chế xe phun khói, quá mười giờ đêm không được bấm còi xe. Ở Việt Nam, vấn đề trên còn rất hạn chế. Hoặc rối loạn tuyến nội tiết cũng làm chúng ta bệnh. Ví dụ tuyến giáp hoạt động mạnh sinh bệnh cường giáp, tức là bệnh bướu cổ làm cho mắt lồi, rồi sẽ chết vì bệnh tim mạch. Đại khái theo Tây y, bệnh do nhiều nguyên nhân không thể nói hết được.
Nguyên nhân của bệnh theo Đông y
Theo Đông y, nguyên nhân của bệnh là do mất quân bình âm dương, trong đó cũng do ăn uống, do môi trường, do thực phẩm. Lý về âm dương Ngũ Hành rất khoa học và hợp lý. Đó là sự khôn ngoan mà người xưa đã tìm thấy. Khi cơ thể của chúng ta mất quân bình về âm dương, người thầy thuốc lựa những loại thuốc cân đối âm dương để chữa bệnh. Tuy nhiên, có những bệnh nan y mà cả hai hệ thống Tây y và Đông y chưa giải quyết được. Ví dụ, bệnh AIDS, ung thư, hội chứng down, sơ gan, viêm thận mãn, tiểu đường... Người ta nghi ngờ ăn bột ngọt nhiều cũng bị bệnh tiểu đường.
Bệnh tiểu đường nguyên nhân là do tụy tạng suy yếu không tiết ra đủ Insulin để đưa đường vào các tế bào khiến cho đường (glucose) kẹt lại trong máu làm cho máu bị “ngọt”. Máu ngọt này đi tới đâu phá hoại tạng phủ cơ thể tới đó. Bệnh tiểu đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh hiểm nghèo, điển hình là bệnh tim mạch vành, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, cao huyết áp, hoại thư, v.v...
Trong tụy tạng có insulin để điều hòa lượng đường trong máu, khi đường cao insulin được tiết ra nhiều để hạ bớt, hoặc khi trong máu hạ thấp đường, insulin giảm để tăng lượng đường.
Khi chúng ta dùng thuốc tây hạ đường huyết ép tụy tạng tiết ra insulin thì thời gian ngắn tụy tạng sẽ bị tê liệt. Nếu chúng ta tiêm Insulin từ bên ngoài đưa vào, thời gian đầu thì cơ thể có thể chấp nhận nhưng dần dần về sau cơ thể từ chối vì phát hiện vật lạ. Đó là lý do người bệnh nặng chuyển qua tiêm insulin thì thời gian bệnh lại càng nguy kịch hơn. Còn nếu chúng ta hạn chế ăn tinh bột thì cơ thể kiệt sức dần do thiếu chất thiết yếu cho cơ thể. Tây y hiểu lầm rằng tuyến tụy có trách nhiệm xử lý đường (glucose) nên phải hạn chế ăn tinh bột để tuyến tụy đỡ làm việc. Thật ra, thủ phạm làm tuyến tụy suy yếu lại là thịt cá, các gia vị, dầu mỡ, đường, bột ngọt, chứ không phải tinh bột. Khi tụy tạng suy yếu thì chất đạm, chất béo, chất ngọt, vị ngon, làm áp lực lên tuyến tụy mệt nên không tiết ra insulin.
Đó là một số bệnh nan y phát triển ở diện rộng đe dọa đời sống cộng đồng, đời sống của toàn nhân loại.
Nguyên nhân của bệnh theo quan điểm của đạo Phật
Đối với đạo Phật, nguyên nhân của bệnh tật đều do nghiệp. Ở đây, chúng ta cần hiểu cái nhân, cái duyên, cái quả để rõ sự việc. Ví dụ, do gieo nhân đời xưa chúng ta phải chịu quả báo đời nay là gãy bốn cái răng. Nhưng phải đủ duyên quả báo này mới xảy ra. Vậy duyên là gì? Một hôm nào đó đang đi trên đường với bạn, chúng ta thấy có mấy người đang đánh nhau. Chúng ta muốn chứng tỏ mình là người hùng nên xông vào ra tay hành hiệp cứu người, cản cuộc đánh lộn. Người kia lấy cây quơ trúng làm bốn cái răng mình bị gãy. Như vậy, việc chúng ta can thiệp vào, đó là cái duyên, mà gãy bốn cái răng là quả, còn cái nhân là hồi xưa chắc chúng ta cũng đã có lần bẻ răng ai.
Mỗi nghiệp có một loại bệnh khác nhau. Bệnh ung thư do đời trước gây nhân, bây giờ đủ duyên nên bệnh ung thư phát ra. Ví dụ, một lần nào đó, chúng ta ăn trúng thực phẩm ô nhiễm, tế bào phát triển sưng thành bướu. Nguyên nhân y học tìm thấy chỉ là cái duyên, chứ không phải là nguyên nhân thật sự. Nguyên nhân thật sự nằm ở thiện – ác, tội – phước xa xưa của kiếp này hoặc nhiều kiếp trước nữa. Vì vậy, khi hiểu Phật Pháp rồi, chúng ta vừa tập trung lo chữa trị cái duyên, vừa phải chuyển cái nhân. Khi bệnh quá nhiều mà chúng ta chỉ tập trung đổ tiền mua thuốc chạy chữa sẽ vô ích, phải biết chữa luôn cái nhân. Nghĩa là vừa chữa trị bằng thuốc vừa tăng mức độ làm phước. Có nhiều người tin điều này nên họ mua cá, mua tôm để phóng sanh, vậy mà hết bệnh, trừ những trường hợp phải chết nhưng chết cũng yên ả hơn.
Trường hợp có chữa trị và làm phước nhưng vẫn chết, đó là định nghiệp. Thông thường, chúng ta làm phước như bố thí thuốc, giúp người nghèo phóng sinh, đắp đường,... rồi phụ thêm uống thuốc, tự nhiên bệnh cũng giảm bớt. Uống thuốc tưởng là chính nhưng thật ra chỉ là phụ, còn cái chính là làm được việc gì tốt đẹp cho đời. Cũng có người không tin nhân quả nên họ hồ nghi việc này. Chúng ta là Phật tử, tin nhân quả nên thấy có nhiều điều không lý giải được. Ví dụ, cũng trong một môi trường ô nhiễm như nhau mà có người bệnh, có người không bệnh; cùng ăn món giống nhau mà có người bệnh, người không bệnh. Vì thế, chúng ta tin có cái nghiệp riêng bí ẩn nào đó mà sức khỏe và bệnh tật của mỗi người khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta không phủ nhận việc chữa trị bằng y học vì đó là cái phước. Nếu nói vi trùng là cái duyên để thành bệnh thì thuốc cũng là cái duyên để lành bệnh. Có thuốc để uống là có phước. Có người bị bệnh nhưng không có tiền mua thuốc, đó là họ không đủ phước để hết bệnh. Có đủ phương tiện để chữa trị bệnh cũng là do có phước.
Tuy nhiên, là đệ tử Phật chúng ta cần nhìn sâu hơn nữa. Ngoài việc chữa trị (nhưng đừng tập trung chữa trị quá đáng) phải lo làm phước. Có chuyện này nghe hợp lý. Ở chùa đó có Sư Bà bị bệnh; Sư Bà tu lâu năm nên phải ưu tiên thuốc men chăm sóc. Chúng đổ tiền ra để chạy chữa bệnh cho Sư Bà. Có người khuyên Sư Bà là cứ gan dạ ngừng việc chữa trị, lấy tiền đó nuôi Chúng, lo cho Chúng, không tiếp tục tiêu dùng quá nhiều tiền thuốc. Sư Bà tỉnh ngộ. Từ đó, Sư Bà không uống thuốc nữa, lấy tiền đó nuôi Chúng ăn học... Bỗng nhiên Sư Bà bớt bệnh. Đây là một điều lạ. Nếu nói theo phương Tây thì không giải thích được, còn nói theo nhân quả nghiệp báo thì rất hợp lý. Vì vậy, khi chúng ta bệnh, chúng ta phải tin chắc Nhân Quả Nghiệp Báo để tìm cách tạo phước thích hợp, hạn chế bớt tiền chạy thuốc. Đôi lúc như vậy mà bệnh hết hẳn hay nhẹ bớt.
Dưới cái nhìn của đạo Phật, sức khỏe và bệnh tật có nguyên nhân, đó là nhân quả, tội phước và nghiệp.
Một người từ kiếp xưa thường hay dùng sức lực để giúp đỡ người khác, đời này được mạnh mẽ. Chúng ta dùng tay chân để cất nhà, cày ruộng, đắp đường, giúp người, sẽ được sức khỏe; còn nếu chúng ta sợ dùng sức giúp người thì đời sau ốm yếu.
Người hay nuôi nấng, chăm sóc thuốc men cho mọi người, đời sau được sức khỏe, ít bệnh. Khỏe mạnh ít bệnh khác với mạnh mẽ. Hai nhân khác nhau, khiến hai quả khác nhau. Phước không bệnh khác với phước có sức mạnh phi thường. Như Lê Phụng Hiểu ngày xưa có sức mạnh nhổ bật gốc cây lên nhưng vẫn có bệnh.
Người hay phóng sanh được phước thoát nạn một cách kỳ lạ. Ví dụ thấy một con vật sắp bị bắt giết, chúng ta mua rồi thả nó, được cái phước thoát nạn.
Có người kể họ được thoát khỏi lằn tên mũi đạn trong chiến tranh một cách kỳ lạ. Người này đời trước gieo hai nhân: một là ăn chay trường và hai là phóng sanh, cứu người, cứu vật. Hoặc gia đình nọ có một người con đi bộ đội ở Campuchia. Anh này có phước là không bao giờ bị trúng đạn, mặc dù chiến tranh bên Campuchia rất ác liệt. Anh sống lăn lộn trên mảnh đất đó vẫn không sao, nhưng khi anh vừa rời lều đi người khác bước vô là có mìn nổ, hoặc lúc anh đang ở trong hầm thì không sao, khi ra khỏi hầm đi mua thuốc lá thì trái đạn rớt vào hầm. Anh cứ thoát chết trong đường tơ kẽ tóc như vậy. Đó là phước đời trước anh có phóng sanh, cứu người, giúp người.
Chúng ta cũng vậy, không biết mình mắc nghiệp gì, thỉnh thoảng cũng nên trích ra ít tiền mua tôm, cá còn sống đem thả ra bờ sông nước trong lành và chú nguyện cho nó. Nhờ phước đó mà bản thân mình cũng thoát được nhiều tai nạn.
Một nhân có thể cho ra nhiều quả. Có khi chúng ta làm một điều lành nào đó không liên quan gì đến sức khỏe mà cũng được phước sức khỏe. Ví dụ có một người nào đó bị tù oan, chúng ta cố gắng biện minh cho người ta ra khỏi tù. Chuyện đó không liên quan gì đến sức khỏe mà nhiều khi cũng tạo ra phước sức khỏe. Vì sao? Vì ở trong tù không ai còn giữ được sức khỏe, họ bị ốm đau, ra tù họ lại được sức khỏe. Chúng ta gieo nhân cứu người mà được phước sức khỏe. Vậy, chúng ta cứ làm phước không câu nệ. Nhiều khi phước không liên quan gì đến sức khỏe mà không ngờ nó bí mật liên quan khiến chúng ta có sức khỏe, tránh được bệnh tật.
Bệnh tật rất phức tạp và có nhiều nguyên nhân. Sau đây là một số bệnh và một số nguyên nhân dưới cái nhìn của đạo Phật.
Bệnh đau lưng (gai cột sống) do nhân gì? Có nhiều nhân. Như chúng tôi có một đệ tử xuất gia. Mặc dù chú rất mạnh nhưng lại hay bị đau lưng nên chú thường sám hối. Một đêm nằm mơ, chú thấy một kiếp xưa của chú ở trong bộ tộc nào đó, chú mặc cái áo bằng da thú và đi săn. Lúc đó, chú rượt theo một con nai, cầm dao đâm đúng vào cái lưng của nó. Cái nghiệp từ kiếp xa xưa bây giờ chú phải trả là bị đau gai cột sống. Nên vừa chữa bệnh (uống thuốc) vừa làm phước để trả cái nghiệp đã mang vào thân.
Bênh nhức đầu kinh niên do nhân gì? Có nhiều nguyên nhân như đánh vào đầu ai hay cú vào đầu ai hay thường đập đầu cá... Người nội trợ thường đập đầu cá nấu cho gia đình ăn thì sau này bị bệnh nhức đầu và gia đình phải bỏ tiền ra nuôi. Vì con cá làm cho cả gia đình ăn, người nội trợ bị quả báo đau đầu nên cả gia đình cũng nhận quả báo tương quan.
Bệnh thiếu máu, nguyên nhân chúng ta hay làm đổ máu chúng sanh như thường cắt cổ gà cổ vịt; hoặc trên chiến trường buộc phải bắn giết người. Chúng ta may mắn biết đạo sớm nên gia đình không bị nghiệp này.
Bệnh đau bụng do mổ bụng người hay mổ bụng heo, gà, vịt... Bệnh tật có nguyên nhân theo nhân quả. Ví dụ đau bụng, bác sĩ khám phải mổ ruột thừa. Việc con người nằm lên bàn cho bác sĩ mổ cũng giống như ngày xưa chúng ta mổ bụng chúng sanh. Trả quả là vậy, ngày xưa chúng ta có mổ bụng chúng sanh nào đó nhưng đời này biết đạo, làm phước dù có đau bụng nhưng bệnh không phải đem lên bàn mổ; còn chưa biết đạo, không kịp làm phước thì bệnh đau bụng là phải lên bàn mổ.
Căng thẳng đầu óc nguyên nhân ngày xưa chúng ta làm người khác đau khổ. Thời tuổi trẻ chúng ta có làm ai đau khổ thì phải lo sám hối, chứ nếu không, một ngày nào đó tự nhiên chúng ta cũng thấy buồn bã, thương nhớ, tương tư, thất tình...
Bị cảm lạnh thường do chúng ta nuôi mèo, nuôi chó khi nó lạnh, nó không nói được rồi chúng ta không có biện pháp chăm sóc, không tinh ý, không ngờ thành nghiệp. Hay mắc bệnh đau chân, teo chân do cột hai cẳng gà, cẳng vịt hay cẳng heo... Người mua heo bắt trói bốn chân, treo ngược cả một thân hình lủng lẳng, con heo đau lắm. Vì thế, chúng ta hiểu và đối xử với con người, con vật một cách thương yêu thì đỡ tạo nghiệp.
Bệnh tiểu đường do nguyên nhân gì? Theo y học do tụy tạng không cung cấp đủ insulin. Người bệnh tiểu đường phải ăn kiêng, không còn được ăn uống thoải mái nữa. Nhân quả là đây. Ngày xưa, do người này hạn chế ăn uống của người khác; thấy ai ăn nhiều cự nự khó chịu; hoặc ăn uống quá cái phước của mình. Ví dụ, có bốn cái bánh dành cho bốn người, mình bốc ăn hai cái, tức là mình ăn dư cái phước của mình; cứ vậy nhiều lần đến lúc nào đó mình phải nhịn ăn để bù lại. Lúc chúng ta ăn quá dư, bệnh tiểu đường xuất hiện, buộc phải ăn kiêng. Nếu chúng ta cứ vi phạm điều đó thì chuyện gì xảy ra? Do không kiêng cữ trong ăn uống nên bệnh nặng, không sống lâu để ăn được nữa, phải chết sớm. Đó là sự công bằng về ăn uống. Do đó, trong đời sống, vấn đề ăn uống phải thoải mái với mọi người, bản thân mình ăn vừa chừng, không ăn quá cái phước của mình.
Người yếu ớt, sức khoẻ kém không ăn uống được nhiều, không làm lụng được nhiều do sống thụ động, ít năng nổ giúp đỡ người khác. Sống thụ động quá con người yếu từ từ, sức khỏe kém dần. Vì thế, trong cuộc sống, chúng ta năng nổ giúp người sau này sẽ được phước khỏe mạnh, xốc vác, ăn uống ngon miệng, làm việc hăng hái.
Bệnh về miệng rất nhiều. Như miệng bị hôi, khó chữa do viêm xoang hoặc do giây thần kinh số bảy giật méo hẳn. Nguyên nhân thường là do lời nói sai; hoặc công kích người không có lỗi; hoặc giải thích một đạo lý sai. Do đó, phải lễ Phật sám hối, phải ấn tống những sách nói về Nhân Quả Nghiệp Báo.
Có cô Phật tử từ Canada về, nhìn khuôn mặt cô, chúng tôi không biết cô đã bị bệnh. Cô kể ngày xưa cô đã từng bị méo miệng. Do quen nhiều bác sĩ giỏi khám bệnh nói cô bị hư dây thần kinh số bảy, không chữa được. Từ đó, cô thiết tha lạy Phật sám hối, lạy Phật rất siêng năng, từ từ miệng cô trở lại bình thường, đến nỗi bác sĩ phải ngạc nhiên. Vi diệu như vậy. Hoặc có một ông già bị méo miệng rất nặng, người ta gọi ông là ông méo. Khi nhận định vấn đề gì là ông luôn luôn nói sai sự thật, không nhiều thì ít, nói về đạo Phật là nói méo mó một chút, nói về ai ông nói méo mó một chút, do vậy mà miệng ông bị méo. Đó là do nhân quả. Cho nên, chúng ta cố gắng nói lời chân chính, nếu có bệnh về miệng thì cố gắng lễ Phật sám hối.
Bệnh cùi lở khiến người khác phải sợ hãi, xa lánh, nguyên nhân là do khinh người quá đáng. Ví dụ ở một kiếp xưa nào, người đó giàu sang, nhìn ai cũng với con mắt khinh bỉ; sau này, mọi người khinh bỉ, xa lánh trở lại. Vì vậy, nếu muốn mình đẹp, muốn ai gặp mình cũng hoan hỷ, thích nói chuyện, chúng ta phải thương yêu và kính trọng mọi người từ bây giờ, chúng ta sẽ được cái phước không có bệnh sần sùi, lở loét về da.
Có một vị thầy tu cũng hơi lớn tuổi, ông bị vết lở loét ở gót chân từ nhỏ tới lớn không bao giờ lành, dù vết lở không nặng hơn nhưng chữa thứ gì cũng không lành. Lúc ông mới xuất gia, thầy ông có đạo nhãn biết được là do kiếp trước, trong một cơn nóng giận, ông đã dùng chân đá người vợ đang mang thai bị sẩy thai. Nên kiếp này chân ông bị lở loét không bao giờ hết. Khi nào vết loét lành thì lúc đó ông chết. Vì được thầy báo trước nên ông yên tâm, không cần chữa trị, chỉ chăm sóc sơ sơ. Suốt cả đời ông chịu đựng vết lở vì biết đó là nghiệp.
Chúng ta không đủ đạo nhãn để kiểm chứng nhân quả nhưng nghe vị thầy kể cũng hợp lý và công bằng.
Bệnh tâm thần, điên loạn là do khinh bỉ, công kích bậc Thánh. Tinh thần căng thẳng là dấu hiệu nếu không sám hối kịp thời sẽ bị điên, nguyên nhân do công kích các bậc Thánh. Trong xã hội mà người ta chạy theo văn minh khoa học kỹ thuật, bớt tin Thần Thánh, nhiều khi đã nói những lời xúc phạm, chúng ta sẽ thấy xã hội đó tỉ lệ bệnh tâm thần tăng từ từ. Vì thế, chúng ta phải kính trọng những bậc đáng kính thì tinh thần mình mới được ổn định.
Bệnh ung thư là một bệnh đặc biệt. Ung thư được định nghĩa là sự tăng sinh tế bào vô tổ chức, tiết ra chất làm đau, lấn ép sự sống của chủ thể, cuối cùng khiến cho chủ thể chết trong đau đớn. Thật ra ung thư có nhiều loại, ung thư máu, ung thư các tạng phủ, ung thư xương, ung thư mô... Các loại ung thư có thể di chuyển qua lại, biến thể lẫn lộn, loại này biến thành loại kia, làm phát sinh loại kia. Ung thư phổi có thể thành ung thư gan, ung thư máu có thể thành ung thư xương...
Hiện nay, bệnh chưa có thuốc nào chữa được. Hóa trị để tiêu diệt ngăn chặn tế bào ung thư là chỉ chữa tạm thời, một thời gian phát sinh chỗ khác. Bệnh ung thư trước sau gì cũng chết mà đụng tới (phẫu thuật) còn chết sớm hơn. Một bác sĩ có kinh nghiệm chữa trị ung thư suốt 25 năm đã nói rằng, nếu vướng bệnh ung thư, ông sẽ về nhà nằm chờ chết chứ không uống thuốc của bệnh viện, mặc dù ông là người kê đơn thuốc cho bệnh nhân ung thư hằng ngày. Lý do ông đưa ra là hầu hết bệnh viện chỉ cấp thuốc giảm đau, mà thuốc giảm đau thì khiến cho bệnh phát triển mạnh hơn. Còn thuốc trị ung thư thì làm hư xương khiến cho ung thư lập tức tràn vào xương thành ung thư xương. Ông cũng bảo rất nhiều người xin ra nước ngoài chữa bệnh, nhưng chẳng nơi nào giỏi hơn nơi nào trong việc chữa bệnh ung thư. Thuốc nào bên Mỹ có thì Việt Nam cũng có cả. Bệnh nhân sang Quảng Đông (Trung Quốc), hoặc sang Singapore rồi cũng chết y hệt như bệnh nhân ở Việt Nam. Ông cũng nói bệnh ung thư là bệnh cực kỳ khó hiểu. Có khi người bệnh đang đi đứng bình thường, bỗng lăn đùng ra chết. Có khi bệnh bỗng nhiên khỏi. Có khi nằm bao nhiêu năm vẫn chưa chết. Thường thì một người bệnh sẽ kéo theo cả nhà rơi vào nguy khốn đói khổ, vì bao nhiêu tiền đổ vào chữa bệnh cũng chẳng ăn thua. Người bệnh càng ham sống thì càng giết chết cả nhà.
Thời đại hôm nay được cho là môi trường bị nhiễm độc nặng nên bệnh ung thư phát sinh rất mạnh. Những thức ăn uống đầy hóa chất (được cho phép trong định mức) đều là thủ phạm gây ung thư. Nguồn không khí ô nhiễm cũng là nguyên nhân ung thư. Dòng sông nhiễm đầy thuốc bảo vệ thực vật cũng gây ung thư. Thực phẩm có nguồn gốc động vật nhiễm đầy độc tố cũng gây ung thư.
Thực phẩm lấy từ thực vật cũng thấm đầy độc tố, và cũng gây ung thư. Phóng xạ cường độ cao cũng gây ung thư...
Bây giờ ta nhìn bệnh ung thư qua nhãn quan tâm linh một chút để thấy thêm một khía cạnh thú vị của loại bệnh hiểm ác này. Nguyên nhân bí mật thuộc về tâm linh. Người nào ăn quá nhiều thịt chúng sinh, những vong linh đó (tôm, cá, cua, heo, gà, vịt...) cứ bám theo người ăn thịt chúng, vì tất cả chúng sinh đều chấp thân mình, đó là nguyên tắc chung.
Ví dụ, con người khi chết hồn lìa khỏi xác, xác được chôn, thế mà hồn vẫn lẩn quẩn nơi ngôi mộ như có sợi dây ràng buộc bí mật. Còn nếu thiêu xác, hốt cốt bỏ vào hũ, cái hũ để đâu hồn lẩn quẩn nơi đó, không siêu thoát, trừ những người có định lực rất cao hoặc có duyên phước đầu thai sớm thì ra đi sớm; còn không thì cứ lẩn quẩn vì quá chấp thân. Bởi khi còn sống chúng ta thấy thân quan trọng, chăm lo nuôi dưỡng tô điểm cho nó, nên khi chết cứ bám theo thân mình mãi.
Thú vật còn chấp thân hơn cả ngàn lần, nên mình ăn xác con vật nào, nó luôn luôn quanh quẩn chung quanh mình. Nhưng do phước mình còn sức khỏe nên nó không làm gì được, chỉ bám theo thôi. Cho đến ngày nào đó đủ nhân duyên, nó sẽ nhập vào một mô cơ thể. Con vật đó không đủ sức nhập vào tâm, vào não được để chi phối tâm lý. Nó chỉ đủ sức để nhập vào một mô nào đó, thì bắt đầu mô đó là một chúng sinh khác chứ không còn là mô của cơ thể nữa. Ví dụ, các bệnh ung thư má, ung thư hàm, ung thư cơ bắp, ung thư phổi... Như ung thư phổi, tâm linh con vật nhập vào một mô, nó biến mô đó là cơ thể của nó, nó sống ký sinh nơi cơ thể của người bệnh, nó lấy thức ăn, lấy mạch máu và phát triển tự do, lần lần nó tàn phá cơ thể làm cho người bệnh đau đớn và chết.
Thông thường thì không phải một u bướu ung thư chỉ có một vong, mà thật sự là nhiều vong bám theo nhung nhúc như đám dòi bọ vậy. Ta dùng hóa trị hoặc xạ trị để diệt tế bào ung thư nhưng không đuổi được các vong đó ra khỏi cơ thể, chúng lập tức chuyển qua mô khác để chiếm lấy sự sống của con người, và ta gọi là Di Căn. Một số nhà ngoại cảm có khả năng nhìn thấy hình thù các vong của các loài chúng sinh đó bám dính vào khối u, nhầy nhụa lúc nhúc ghê gớm.
Bệnh ung thư rất đau đớn để trả cái nghiệp giết hại, ăn thịt chúng sanh và không thuốc nào chữa được vì nó thuộc về tâm linh.
Biết nguyên nhân của bệnh ung thư rồi thì chữa bằng cách nào cho nó đừng “quậy” nữa. Khi biết bướu đó là con vật có thần thức nằm bí mật ở trong cơ thể và biết ngày xưa chúng ta ăn nó quá nhiều, bây giờ nằm một cục trong cơ thể thì chúng ta phải sám hối, niệm Phật cầu siêu cho nó. Chúng ta hướng về cục bướu, biết đó là chúng sinh đang sống ký sinh trong cơ thể của mình, chúng ta chú nguyện, niệm Phật, xin lỗi và cầu siêu cho nó biết Phật Pháp, được thoát khỏi thân phận súc sanh... có thể bướu sẽ xẹp.
Chuyện này đã có xảy ra. Chúng tôi nghe một Phật tử là một sĩ quan cao cấp kể lại rằng ông có người đồng đội, bác sĩ khám phát hiện thấy cục bướu trong gan, xét nghiệm cho kết quả là bướu độc. Người này may mắn là gia đình có tin Phật. Suốt đêm ông niệm Phật trong bệnh viện. Ngày hôm sau đúng ra ông phải mổ, bác sĩ khựng lại, nghi ngờ và yêu cầu “sinh thiết” lần hai. Lần này không mổ, mọi người ngạc nhiên. Bác sĩ xem mẩu “sinh thiết” lần một là bướu độc, lần hai là bướu lành. Người ta không hiểu được là người này đã bí mật niệm Phật suốt đêm và vong linh bám vào gan ông đã siêu thoát. Khi nó được cảm hóa, nó không phá nữa. Nó thoát ra khỏi cục bướu đó nên bướu đó lành. Từ đây chúng ta có thể giải thích cặn kẽ nguyên nhân cho những người bệnh bướu, khuyên họ ăn chay, làm phước, phóng sanh, niệm Phật chú nguyện nơi cục bướu để hóa giải oan trái. Khi đã hiểu đạo, để tránh sát sanh chúng ta nên ăn chay hơn ăn mặn.
Việc vong linh nhập vào cơ thể con người để sống ký sinh tạo thành ung thư phá hoại cơ thể chủ, giống như câu chuyện trong Thủy Sám, chuyện Ngộ Đạt Quốc Sư. Khi còn phước, Ngài làm Quốc sư thì vong hồn Triệu Thố không phá được, cho đến lúc Ngài khởi tâm tự hào thì vong hồn Triệu Thố nhập vào đầu gối, biến thành mụn ghẻ mặt người sống ký sinh ở đó và ăn thì dòi từ bên ngoài đưa vào làm đau đớn cùng cực. Ở Ngài Ngộ Đạt Quốc Sư, cục bướu là mụn ghẻ có hình mặt người nên giải thích được nguyên nhân. Còn đa phần bệnh ung thư không giải thích được nguyên nhân thật sự nên chạy chữa thuốc Tây, thuốc Nam, thuốc Bắc, xạ trị, hóa trị vẫn không bớt được vì nó là oan trái.
Bệnh tự kỷ Autism của trẻ em. Trẻ bị bệnh tự kỷ không nói, hoặc nói rất ít. Trẻ khép mình trong thế giới riêng của mình, không để ý mọi người bên ngoài. Đôi khi trẻ được gán cho là thiên tài vì có thể làm những bài toán khó hoặc biết nhiều chuyện lạ lùng. Nguyên nhân bệnh tự kỷ là do khi trẻ còn nằm nôi, chưa biết nói, vùng não ngôn ngữ chưa kịp phát triển do chưa đủ thời gian tiếp xúc với con người, trẻ đã bị vài vong linh tiếp cận trước. Các vong này xâm nhập rất sâu vào nội tâm của trẻ, chơi đùa với trẻ, tiếp xúc với trẻ bằng ngôn ngữ tâm linh trực tiếp, không qua ngôn từ. Trẻ bị dẫn dụ bởi sự tiếp xúc này, tiếp nhận loại ngôn ngữ này, não chỉ đón nhận loại ngôn ngữ tâm linh này, rồi bộ não của trẻ không còn phát triển vùng ngôn ngữ của con người được nữa. Đến khi tuổi lớn lên một chút, não hết thời gian để phát triển, và vĩnh viễn vùng ngôn ngữ bị tê liệt. Trẻ sẽ tiếp tục sống mà không nói gì vì không hiểu người chung quanh nói gì, vì có muốn nói cũng không biết nói. Trẻ có thể tiếp tục bị các vong bao vây chơi đùa, nên nhìn vào đứa trẻ ta thấy cứ như nó chơi đùa một mình, nhưng thật ra là đang chơi với các vong. Nếu đó là các vong giỏi, vong sẽ cho trẻ biết nhiều chuyện mà trẻ không thể biết, người chung quanh khó thể biết. Trẻ đưa ra kết quả do vong mách, mọi người hết sức khâm phục và gán cho trẻ là thiên tài. Nếu vong rời bỏ ra đi, đứa trẻ ở lại sẽ ngớ ngẩn cả đời vì không còn ai để tiếp xúc, và cũng không hiểu những người đang sống bên cạnh mình. Nếu vong bỏ đi sớm, trẻ còn thời gian để phát triển vùng não ngôn ngữ thì trẻ sẽ nói được bập bẹ sau một thời gian bắt đầu quay sang tiếp xúc với người sống. Nếu vong bám theo riết thì trẻ hoàn toàn im lặng cách biệt với thế giới loài người. Vì vậy, khi trẻ vừa chào đời, cha mẹ phải hết sức bảo vệ không cho các vong đến gần trẻ, xâm nhập vào nội tâm của trẻ. Cha mẹ mà buông lỏng, ít kề cận bảo vệ, không cầu nguyện thần thánh gia hộ, trẻ sẽ dễ bị vong quấy phá hoặc xâm nhập nội tâm gây bệnh tự kỷ. Khi con trẻ vừa sinh ra, cha mẹ phải đem đến chùa xin cầu phúc cho trẻ, nhờ Bồ tát thủ hộ giữ gìn cho trẻ để các vong đừng gây tác hại cho trẻ. Lâu lâu lại phải mang trẻ đến cầu nguyện trở lại. Nếu tại nhà có bàn thờ Phật thì mỗi ngày phải lễ Phật tụng kinh cầu nguyện bình an cho trẻ. Bệnh tự kỷ Autism có yếu tố tâm linh khó hiểu là như thế.
Bệnh AIDS đang đe dọa tất cả chúng ta. Có nhiều người đang sống lành mạnh đến khi thử máu thì có HIV/AIDS. Đây là nỗi đe dọa toàn cầu vì nó đang âm thầm truyền từ người này sang người khác mà chúng ta không kiểm soát được. Có khi, chích hay châm cứu nhằm cây kim đã bị nhiễm sẵn; có khi một lần sinh nở, một lần sinh hoạt tình dục; có khi cạo râu nhằm lưỡi có vi rút HIV... HIV thông minh, có thể biến hóa để đối phó với thuốc chống lại chúng, hóa giải thuốc trở nên vô hiệu... Nhưng HIV từ đâu tới? Người ta nói từ ngoài vũ trụ đưa tới. Không phải, mà từ lối sống trụy lạc của con người đưa tới. Người ta phát hiện bệnh AIDS từ thập niên tám mươi của thế kỷ trước. Ở phương Tây có cuộc cách mạng tình dục vào thập niên năm mươi, sáu mươi, nghĩa là bệnh AIDS bắt đầu phát triển từ sau cuộc cách mạng tình dục ở phương Tây.
Cách mạng tình dục là gì? Nghĩa là những thay đổi trong quan niệm xã hội liên quan đến tình dục, người ta có thể quan hệ tình dục với bất cứ ai, người ta có quyền tự do sống trụy lạc, không cần giữ phẩm hạnh, người ta sống để thỏa mãn nhu cầu vật chất, tình dục. Hậu quả của cuộc cách mạng tình dục là gì? Những đứa trẻ ở xã hội phương Tây mới mười ba, mười bốn tuổi đã có kinh nghiệm về sinh hoạt tình dục, vợ chồng ít giữ được thủy chung, những cuộc chơi trác táng, chỉ có xác thịt... Sau ba, bốn thập niên của cuộc cách mạng tình dục thì bệnh AIDS xuất hiện, Thiên chúa giáo cho rằng đó là lời cảnh báo của Thượng đế. Theo đạo Phật, đó là hậu quả của một lối sống trác táng bừa bãi, không tình nghĩa. Cho nên AIDS xuất hiện cho người ta biết sợ mà giữ mình, giữ lại lối sống đạo đức, lấy giá trị tinh thần làm niềm vui, lấy giá trị tâm hồn làm lẽ sống, không chạy theo những khoái cảm xác thịt. Đó là lời cảnh báo của thiên nhiên.
Và để đối phó với bệnh AIDS chúng ta làm gì? Phải nói rằng để đối phó với bệnh AIDS, chúng ta phải lấy đạo đức, lấy giới hạnh bảo vệ, chống lại AIDS. Chúng ta phải truyền bá Phật Pháp, truyền bá đạo đức cho con người, để cho con người sống một đời lành mạnh, không buông thả, không trụy lạc, đó là vũ khí chống lại AIDS, chứ không phải là dùng thuốc hay phương tiện nào khác. Một ngày nào đó trên trái đất này, người ta phải hiểu mọi bệnh tật có nguyên nhân từ vi phạm đạo đức. Nếu chúng ta chỉnh đốn lại đạo đức của mình thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp.
LUYỆN TẬP THEO NGUYÊN LÝ ÂM DƯƠNG
Theo nguyên lý Âm Dương thì cái gốc của sức khỏe nằm ở phía dưới của thân, không nằm ở phía trên. Như vậy, khi luyện tập cơ thể nên luyện tập đôi chân trước, vì hai chân là gốc của sức mạnh. Trong võ thuật, các võ sư có nói: “Kình căn tại cước”. “Kình căn” nghĩa là cái gốc của tiềm lực, “Tại cước” nghĩa là ở dưới chân. Cái gốc của sức mạnh là ở dưới chân, chân mạnh thì sức khỏe mạnh. Mỗi ngày, chúng ta tập chạy bộ hay đi bộ; không chạy hay đi nổi thì mua loại máy vừa nằm vừa đạp để đôi chân luôn luôn được khỏe.
Vì vậy, tập thể dục chúng ta chú ý tập chân nhiều. Thở, nên thở sâu lắng xuống bụng dưới, nhẹ nhàng làm cho máu được điều hòa, không bị tăng – xông (đừng thở căng ngực theo quan niệm phương Tây, tạo thành ngoại lực cạn cợt, sau này dễ gây tim mạch). Tập thở bụng, sức mạnh luôn luôn nằm ở dưới, cái đầu phải giữ cho trống. Khi chúng ta tập đánh võ hay tập thể dục trước tấm gương, nhìn gương mặt trong gương có bị căng thẳng không. Nếu mặt căng thẳng là cái đầu đang căng, sau này nguy hiểm cho sức khoẻ; còn nhìn thấy gương mặt thư giãn, nhẹ nhàng, cái đầu đang thanh thản là chúng ta luyện tập đúng. Cái chân phải mạnh, cái đầu phải trống. Đó là nguyên lý Âm Dương về sức khỏe.
Và dù có luyện tập cho cái thân này khỏe mạnh, chúng ta cũng phải nhớ cái thân này là vô thường, nó chỉ là phương tiện tạm thời, chứ đừng tập cho nó quá “đô”, cho nó đẹp quá để rồi vô tình chấp thân trở lại.
Hãy luôn nhớ, thân này là chiếc bè, nếu chúng ta đang nằm bệnh (không luyện tập được) phải niệm Phật sám hối, trải lòng từ bi, yêu thương chúng sanh. Đó là cái gốc của sức khỏe và giải được nghiệp. Chúng ta phải biết tận dụng (chứ không phải đày đọa) cái thân này để làm điều tốt cho chúng sanh, cho đời mới được sống lâu. Thọ hay yểu có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân sống mà không làm gì được cho ai thì sẽ chết sớm. Sống có ích cho mọi người cũng tự nhiên tăng thêm tuổi thọ, mặc dù tuổi thọ
Sức khỏe và bệnh tật còn do nhiều nguyên nhân khác nữa.
Thân từ cát bụi đến
Cát bụi sẽ gọi về
Chỉ tấm lòng thương mến
Gởi lại khắp sơn khê.


