ĐÔI LỜI TÂM SỰ
Khi vừa lớn lên, chúng tôi lấy làm lạ về cuộc đời của mỗi con người. Con người sinh ra, lớn lên, cả một quãng đời đấu tranh để sinh tồn. Cuối cùng nhắm mắt xuôi tay, cô độc “đi về” một nơi nào đó mà người đời gọi là đã xong một kiếp người. Do đó, chúng tôi tự hỏi: “Tại sao con người được sinh ra, có mặt ở cõi đời này rồi lại chết. Thật vô nghĩa?”
Sau khi biết đạo Phật, chúng tôi hiểu ra rằng chết chưa phải đã hết. Con người sẽ tái sinh luân hồi theo nghiệp quả. Và cứ sinh ra rồi chết đi, cứ tái sinh rồi chết... Suy tư về điều đó, chúng tôi thấy đời người không lẽ cứ sống rồi chết đi, chờ tái sinh? Vì sức mạnh của luân hồi, sức mạnh của nghiệp thúc đẩy con người vào cuộc sinh – tử, tử – sinh, không trốn thoát được. Và nếu đã không trốn thoát được cuộc sinh tử luân hồi thì thôi đi tìm một cuộc sống có ý nghĩa, chứ không thể sống một cuộc sống tầm thường.
Mà thế nào là cuộc sống có ý nghĩa? Cuộc sống có ý nghĩa là cuộc sống có hạnh phúc. Nhờ có hạnh phúc nên ta còn giá trị của một con người. Bằng không, nếu phải tranh đấu vất vả để tìm từng miếng ăn thì dù mang thân phận con người nhưng giá trị của chúng ta có thể giảm xuống chỉ còn ngang với loài thú. Làm con người có hạnh phúc mới là con người. Song chúng tôi lại suy nghĩ: “Tìm hạnh phúc cho bản thân mình hay cho mọi người?” Nếu chỉ tìm hạnh phúc cho riêng mình thì lại rơi vào ích kỷ và tham lam. “Thôi thì nguyện đem cuộc đời mình đi tìm hạnh phúc cho mọi người”. Lúc đó, chúng tôi chừng mười bảy tuổi và bắt đầu phát nguyện.
Thật là lúng túng! Vì lúc đó chúng tôi không biết đi tìm hạnh phúc là đi tìm cái gì? Điều gì mang đến hạnh phúc cho con người? Khi chưa hiểu đạo sâu, chúng tôi nghĩ hạnh phúc của con người là có đầy đủ tiện nghi vật chất, được ăn no mặc ấm, đơn giản như vậy. Và chúng tôi luôn luôn suy tư về điều đó cho đến một ngày, chúng tôi gặp được vị Thầy của mình. Hiểu tâm tư của đệ tử, Thầy nói: “Con không bao giờ lấp đầy lòng tham của con người. Không bao giờ!” Ngay câu nói đó chúng tôi bừng tỉnh, thoát ra được suy nghĩ đã theo đuổi từ bao năm. Không bao giờ lấp đầy lòng tham của con người, vì lòng tham là không đáy. Dù có được tặng cho cả quả địa cầu này, họ vẫn sẽ đòi thêm mặt trăng. Với kẻ không nhà cửa, một mái nhà che mưa nắng là ước mơ lớn nhất đời. Nhưng nơi căn nhà mới xây, không ít người lại bắt đầu nhìn sang những nhà chung quanh rồi mơ mộng về những chiếc xe sang trọng. Nếu may mắn có được chiếc xe, họ vẫn sẽ tiếp tục mong cầu vô số thứ khác nữa.
Tham lam là một trong những bệnh căn bản của chúng sinh, ít nhiều ai cũng có. Với người không có đạo lý thì lòng tham thật vô tận. Còn với người biết đạo lý thì họ biết khống chế, diệt trừ để lòng tham càng lúc càng nhỏ đi. Và dĩ nhiên ai cũng biết vì lòng tham mà con người gây nên tội lỗi. Cuối cùng, tội lỗi lại đưa đau khổ tìm đến. Do vậy, chúng tôi nêu lên đề tài THAM LAM để chúng ta cùng tìm ra nguồn gốc của lòng tham và tìm ra phương pháp tu tập để vượt qua khỏi nó, để thoát khổ được vui. Từ đó, chúng ta biết cách sống một cuộc sống có ý nghĩa không những cho mình mà cho cả mọi người.
ĐỊNH NGHĨA
Tham lam là muốn nhiều cho mình, muốn lấy hết về cho mình.
PHÂN LOẠI THAM LAM
Tham lam có bốn loại sau:
- Thứ nhất là tham tài sản. Nghĩa là muốn có nhiều tiền, có xe cộ, nhà cửa, vòng vàng, quần áo v.v... Đây là cái tham căn bản. Con người có thể tham nhiều thứ nhưng thường họ tham tài sản trước, đó là nền tảng của các loại tham lam khác.
Nếu có điều kiện, có cơ hội để chiếm đoạt thì cái mà người ta nghĩ đến đầu tiên là chiếm đoạt tài sản. Ai cũng muốn được giàu có vì cho rằng giàu có là một giá trị. Giàu có sẽ được nể phục, được quyền sai khiến kẻ khác. Chính vì quan niệm giàu có là một giá trị và để đi tìm cái giá trị này, tìm sự nể phục này mà chúng ta phải đi tìm tài sản vật chất nhiều, để trước mắt mọi người, mình là một người có giá trị. Vì thế, suốt đời con người cứ theo đuổi mục tiêu làm giàu một cách vất vả. Chỉ khi đã hiểu đạo lý, khi đã biết đủ thì người ta mới vượt qua những tư tưởng đó, vì họ đã thấm nhuần một trong tám điều Phật dạy là phải biết sống tri túc. Còn những người tuổi còn trẻ có nhiều tham vọng, có chí tiến thủ thì thường quyết tâm làm giàu bằng mọi giá nhưng thật sự phía sau những tham vọng đó là không ít thảm kịch.
- Thứ hai là tham danh. Nghĩa là muốn nổi danh, muốn có tiếng tăm. Loại tham này ít hơn các loại khác. Chỉ người nào có khả năng, có tài sản mới nghĩ đến tiếng tăm, đến danh vọng.
- Thứ ba là tham quyền lực. Người có trí tuệ, có học vị, khôn ngoan thường nghĩ tới quyền lực. Họ tham cái quyền được quyết định việc làm, quyết định cuộc đời của kẻ khác. Quyền lực là nỗi ám ảnh, nỗi khát khao của nhiều người. Hitler, Alexandre, Thành Cát Tư Hãn... là những con người khát khao quyền lực quá sức tưởng tượng. Họ đã làm thay đổi cả diện mạo của thế giới, làm thay đổi biết bao số phận con người. Tuy nhiên, người quá say mê quyền lực mà không chiếm được nó thì dễ trở nên điên loạn. Trong truyện “Lục mạch thần kiếm” của Kim Dung có một nhân vật tên là Cô Tô Mộ Dung thuộc dòng dõi vua chúa của một tiểu quốc. Đến khi tiểu quốc đó bị xóa sổ (trở thành một phần lãnh thổ của Trung Quốc bây giờ), có một người là con cháu của Cô Tô Mộ Dung, ông này mong ước khôi phục tiểu quốc để lên làm vua. Suốt cả cuộc đời đi tìm quyền lực mà không đạt được khiến ông trở nên điên loạn.
- Thứ tư, tham tình cảm. Nghĩa là muốn mình lúc nào cũng được người khác thương yêu.
Những người này luôn luôn có cách để gây sự chú ý, để chiếm được tình cảm của kẻ khác bằng lời nói, cử chỉ, cách ăn mặc... Như vậy có thành công không? Không thành công vì không đúng với nhân quả. Đừng bao giờ bận tâm chiếm tình cảm của ai mà nên luôn luôn bận tâm xem mình có thực sự thương yêu con người chân tình hay không. Làm được như vậy mới hợp đạo lý.
Thật vậy, khi chúng ta đã biết cách sống hợp với đạo lý thì người xung quanh sẽ thương yêu chúng ta. Mỗi ngày lạy Phật, ngồi Thiền hãy nguyện với Phật: Xin cho con trải lòng thương yêu mọi người, thương yêu muôn loài. Rồi chúng ta trải lòng thương yêu đến khắp mọi chốn, khắp cả chúng sanh. Tuy không ai biết được điều đó nhưng qua nhiều ngày tháng tự nhiên ta dần được mọi người mến thương. Dĩ nhiên, đó không chỉ là những lời cầu nguyện mà còn là cách sống theo đạo lý. Tại sao những “ngôi sao” được quần chúng mến thương, ái mộ? Vì đời trước họ đã thương yêu người, đã làm việc từ thiện. Đó là nhân quả. Ví dụ, một ca sĩ hay diễn viên, về tài năng hay sắc vóc có thể họ chưa đạt theo đúng tiêu chuẩn nhưng vẫn được công chúng ái mộ cuồng nhiệt. Tại sao như vậy? Vì nhân duyên từ đời trước, họ đã đến với quần chúng bằng những việc làm thiện nguyện, bằng tình thương yêu con người, họ đã hy sinh lợi ích của mình để mang lại lợi ích cho tha nhân. Khi đã hiểu đạo, chúng ta không ngạc nhiên về điều đó.
Trong bốn loại tham lam trên thì tham lam tài sản vật chất có sức mạnh ghê gớm. Nếu nhổ được nó, con người có lẽ đã giải thoát được phân nửa. Ngoài ra, còn có loại tham lam thấp hơn, tầm thường hơn như tham sống nhàn rỗi do tính lười biếng, hoặc tham ăn ngon, mặc đẹp. Nói tới tính tham ăn thì hơi kỳ nhưng chúng ta cũng nên biết tham ăn có “cái gốc” từ thuở nhỏ. Lúc còn nhỏ do cơ thể đòi hỏi nên hầu như ai cũng tham ăn. Cái tuổi tham ăn của mỗi người đã lùi xa nên không ai còn nhớ là mình cũng đã từng tham ăn. Ông bà chúng ta nói miếng ăn là miếng nhục. Nghĩa là người nào bộc lộ tính tham ăn thái quá thì thường bị đánh giá thấp về nhân cách.
Đức Phật có kể một câu chuyện với ngụ ý về tính tham của con người bắt nguồn từ tính lười biếng và sợ hãi.
Ngày xưa khi mới tạo thiên lập địa, mặt đất này đẹp và thơm. Suối chảy như nguồn sữa tươi, mùi thơm bốc lên tận những tầng trời đã hấp dẫn các thiên tử. Một nhóm thiên tử bay xuống mặt đất, uống thử nước sữa, ăn thử thức ăn thơm ngon. Vì các thiên tử đã lỡ ăn, lỡ uống các thức ăn, thức uống vật chất nên mất thần thông, không bay được về trời.
Đoạn truyện có ngụ ý về cái tham ban đầu của con người xuất phát từ cái tham nhỏ nhất là tham ăn, tham uống. Đây cũng là khởi điểm về cái tham vật chất của loài người.
Các thiên tử do ăn thức ăn vật chất ở cõi đất này nên trong phút chốc cái thân tâm linh biến thành cái thân xác vật chất, mất đi hạnh phúc của đời sống cõi trời. Bấy giờ, các thiên tử phải sống ở mặt đất nhưng không có gì phải lo lắng vì mặt đất vẫn tràn đầy bánh ngon, sữa ngọt. Họ sống với nhau nhiều ngàn năm an vui như thế.
Đến đây các thiên tử bị đọa thành người. Con người trong thời gian này không lo lắng về cái ăn vì mặt đất vẫn tràn đầy bánh, sữa. Dù không ở cõi trời, con người vẫn sống hạnh phúc, có nhiều thời gian để nghiên cứu, học hỏi, sáng tác v.v... con người chỉ nói chuyện đạo lý với nhau. Xã hội an vui như vậy suốt hàng triệu triệu năm.
Thời gian ở mặt đất, tâm đã bị thoái hóa, bấy giờ các thiên tử cất nhà, múc nước cất sẵn trong nhà để tới giờ ăn không phải đi ra suối.
Đó là dấu hiệu gì? Lười biếng và sợ hãi. Từ lười biếng sinh ra lo lắng, sợ hãi. Lo sợ người khác giành phần của mình nên bắt đầu cất giấu. Rồi ai cũng sợ mình bị mất phần nên bắt chước nhau, thi nhau cất giấu, tích trữ càng nhiều càng tốt. Tham lam xuất hiện, cái xấu, cái bất thiện lan ra, cái phước làm người bị hao tổn, giảm xuống. Đức Phật nói khởi lòng tham là phước giảm xuống.
Cái phước làm người giảm nên mặt đất không còn bánh ngon, sữa ngọt, mặt đất khô cằn. Con người muốn có ăn phải tự trồng trọt, cày cấy... Rồi phải đi tìm đất, phải chăm bón, phải thu hoạch, phải phơi khô, phải cất giấu cho có cái ăn ở những tháng hạn hán, lũ lụt.
Dân gian có câu:
“Ai ơi! Bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”.
Người ta cực khổ, vất vả do nghiệp tham lam. Họ không còn sống với tư cách của thiên tử khi mới xuống trần gian cách đó mấy triệu năm. Con người lúc đó có lẽ cũng giống chúng ta bây giờ. Bắt đầu có tranh giành, có đánh nhau để chiếm đoạt đất đai. Đánh nhau mãi nên cần phải có người đứng ra phân xử, phân chia quyền lợi cho từng người, từng nhóm người để họ tự lo liệu, tự làm mới có ăn. Người phân xử là vua, là chúa, là quan...
Qua câu chuyện trên, Đức Phật ngụ ý cảnh giác con người: chính tính lười biếng, sợ hãi, tham lam đã làm con người mất phước dần dần. Vì thế, chúng ta phải biết sống theo lời Phật dạy là không lười biếng, không sợ hãi, không tham lam để phước không bị tổn giảm. Đây là bài học căn bản cho tất cả chúng ta, những người đệ tử Phật.
Trong cuộc sống có nhiều việc cần thiết cho nhu cầu của mỗi người và của toàn xã hội. Ở gia đình, chúng ta phải nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc con cái ăn học. Ngoài xã hội, chúng ta phải làm việc để phục vụ cho nhu cầu của loài người. Người siêng năng làm việc là người hiểu đạo lý, sống có đạo đức. Họ sống và làm việc siêng năng không chỉ vì lợi ích riêng của bản thân và gia đình mình mà còn vì lợi ích chung của cộng đồng, xã hội. Cuộc sống vì mọi người thì phước cõi trời được phục hồi, phước tăng lên dần dần. Từ đó, chúng ta mới có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
MỨC ĐỘ THAM LAM
Chúng ta còn tham không? Đến khi nào thì mới hết tham? Suốt một thời gian dài chúng ta đến Chùa, nghe pháp, lo tu tập, không còn tìm kiếm lợi danh, lòng tham có mỏng nhạt bớt. Nhưng cái tham vẫn còn nằm sâu ở bên trong, đợi lúc chúng ta tái sinh qua kiếp sau, có sức khỏe, có tình yêu, có khát khao danh lợi... thì nó sẽ lại nổi lên.
Có người chỉ tham ở một chừng mực nào đó. Người này cố gắng làm ăn lương thiện để có tiền, có đời sống tiện nghi, còn với việc gây tổn hại đến người khác thì họ không bao giờ động vào. Họ biết đạo lý, biết nhân quả, sợ bị tổn phước, chỉ sống một cách yên ổn, chừng mực.
Có người tham quá cái phước đang có của mình. Người này dễ rơi vào con đường bất thiện. Chúng ta nêu trường hợp một người ăn cắp (hay ăn trộm) để hiểu thế nào là tham quá phước. Tên cướp giật được chiếc túi (trong đó có mười triệu đồng) và chạy thoát. Như vậy, hắn đã tham quá cái phước của chính mình. Vì sao như vậy? Với số phước ít ỏi, lẽ ra hắn không có được số tiền đó. Nếu không giật cái giỏ, cái phước mỏng nhạt vẫn còn đủ để hắn sống lay lắt qua nhiều kiếp. Đằng này, hắn vét sạch chút phước còn lại để hưởng trong kiếp này, qua vài cuộc cướp giật.
Đó là lý do mà những kẻ trộm cướp thường hết phước rất nhanh. Họ thủ đắc tài sản bằng cách không lương thiện, làm tổn hại người khác nên cũng đang phá tan cái phước làm người của mình, và đời sau không còn hi vọng được làm người nữa mà phải mang thân súc sinh. Ở hiện đời họ có thể bị bắt rồi giam cầm trong tù, tuy nhiên tại nhiều nơi trên thế giới, đời sống phạm nhân ở trong tù cũng không cao hơn thú vật bao nhiêu. Trước hết, họ bị mất quyền công dân. Không ít người bị giam cầm trong phòng giam chật chội đến mức phải chen chúc nhau mà nằm. Rồi tình trạng chia bè nhóm, ma cũ ăn hiếp ma mới, kẻ yếu thế bị hà hiếp, đánh đập cũng không phải hiếm gặp. Cuộc sống như thế gần giống với đời sống của thú vật. Vì vậy, mất phước làm người là thảm cảnh rất đáng sợ.
Nhiều người đã đấu tranh đòi quyền lợi cho tù nhân. Tuy nhiên, với những nước còn nghèo, chính phủ đã phải gồng mình lo cho những người lương thiện bên ngoài, phải đầu tư cho y tế, giáo dục, xây cất các công trình công cộng... Nên hầu như không còn đủ ngân sách để cải thiện đời sống tù nhân. Do đó, nếu nghèo đói mà vẫn sống lương thiện, chúng ta vẫn giữ được cái phước làm người tự do. Qua cơn khốn khó chúng ta vẫn là con người sáng giá, ta tập làm phước rồi từ từ lại đứng lên.
Mặt khác, làm phước (làm việc thiện mang lại lợi ích cho người khác) mà cầu phước cũng là tham lam. Cái tham này rất vi tế. Người làm phước mà cầu phước rất nguy hiểm. Vì sao vậy? Bởi vì, nếu con người thương nhau, làm phước để được nhận hạnh phúc – như vậy con người sẽ làm phước không phải xuất phát từ tâm vị tha thương yêu chúng sanh, mà chỉ vì cuộc sống sung sướng ở mai sau cho chính họ mà thôi. Động cơ của việc làm phước như thế là vị kỷ, là ích kỷ, là tham lam.
Người đời trước làm phước do tâm vị kỷ, kiêu mạn, làm phước nhưng cầu phước thì đời sau họ rất vinh quang, giàu có, quyền lực nhưng chắc chắn là người xấu, tâm bất thiện. Làm phước mà cầu phước nguy hiểm là vậy. Chúng ta phải khéo vượt qua điều đó, nghĩa là tuy biết có quả báo lành nhưng khi giúp người, cứu người phải với lòng thương yêu thật sự. Chúng ta làm phước mà không cầu phước, dù biết rằng hành vi giúp người nào cũng mang đến quả báo lành về sau nhưng đừng bao giờ bận tâm về điều đó. Nếu không hiểu được điều này khi làm phước thì đau khổ sẽ theo ta. Nghĩa là kiếp thứ nhất ta làm phước mà cầu phước. Đến kiếp thứ hai được hưởng phước giàu có, vinh quang. Từ giàu có vinh quang ta lại tạo nghiệp xấu. Đến kiếp thứ ba ta sẽ thọ nhận đau khổ. Ngược lại, nếu kiếp thứ nhất làm phước với tâm vị tha, thương yêu chúng sanh. Đến kiếp thứ hai hưởng phước nhưng không tạo nghiệp xấu mà vẫn tiếp tục làm phước. Để rồi những kiếp tiếp theo cái phước sẽ tăng trưởng cho đến vô lượng. Hiểu rõ điều này, khi làm phước chúng ta phải tự kiểm soát tâm mình chặt chẽ.
Qua đề tài này, chúng ta cũng nên bàn đến tham nhũng, hối lộ, tham ô.
Tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu dân và lấy của.
Tham ô là lợi dụng quyền hạn để ăn cắp của công (của cải của nhân dân).
Hối lộ là đưa tiền của cho người có quyền hành để nhờ làm việc gì đó có lợi cho mình, người có quyền hành làm việc đó bằng hành vi lạm dụng chức vụ hay làm sai pháp luật.
Ví dụ giấy tờ của người dân không có gì sai nhưng người có chức trách không chịu chứng, làm khó dễ, đợi cho đến khi được cho tiền bồi dưỡng thì mới chứng nhận. Đó là tham nhũng. Hoặc các công trình xây dựng bị “rút ruột” sắt, thép, ăn bớt xi măng v.v... nên công trình kém chất lượng, mau xuống cấp. Đó là tham ô. Hoặc ở một công ty, tập đoàn nào đó đang cần một người đứng đầu (giám đốc hay chủ tịch), có người tham quyền đã bí mật lo lót tiền bạc cho người có quyền lựa chọn để được chỉ định vào vị trí trên. Người đưa tiền đã hối lộ và người kia đã nhận hối lộ, cũng gọi là tham nhũng. Hoặc những kẻ buôn lậu bỏ tiền ra mua chuộc quan chức chính quyền để việc buôn bán được trót lọt v.v... Những hành vi này đều gọi là hối lộ, tham ô, tham nhũng.
Đôi khi người ta còn dùng tiền để “mua” hay thay đổi luật pháp. “Bố già” là tiểu thuyết của tác giả Mario Puzo, kể về thế giới tội ác của thành phố New York nằm dưới sự quản lý của những tay trùm mafia hay còn gọi là bố già. Một người đến gặp bố già và nói: “Chúng tôi là những người nhập cư không có giấy tờ, xin ông giúp cho chúng tôi có được giấy tờ hợp pháp”. Tay này lập tức nghĩ ra cách làm ăn mới. Hắn lệnh cho đàn em rà tìm những người nhập cư lậu trong nước Mỹ và thuyết phục họ đưa tiền cho tổ chức mafia. Sau khi có tiền, mafia đã vận động quốc hội Mỹ biểu quyết để ban hành đạo luật cho phép những người nhập cư trái phép trong giai đoạn đó được nhập cư hợp pháp vào Mỹ. Trong cuốn tiểu thuyết, tác giả đã dựng lên câu chuyện về những kẻ trong thế giới ngầm đã dám chi phối luật pháp, mua cả quốc hội để ban hành một đạo luật như thế. Thật là đáng sợ.
Khi tham nhũng, ăn hối lộ thì người ta đang hưởng quá cái phước của mình, họ vừa nhận quả mà cũng vừa gây nhân bất thiện. Người có chức quyền mới ăn hối lộ, tham nhũng. Tham nhũng, ăn hối lộ có dây mơ rễ má, người này bao che người kia, người kia bao che người nọ, cái nọ hỗ trợ cái kia,... nên rất khó diệt trừ. Đây là hiện trạng phổ biến khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các nước Đông Nam Á. Vì nạn tham nhũng mà đất nước chậm tiến. Vì đất nước nghèo, chậm tiến nên viên chức nhà nước lại tham nhũng... Vòng luẩn quẩn này gọi là vòng tuần hoàn ác tính. Thật là một bài toán khó giải quyết, khó vượt qua.
Các nước cũng có một số kinh nghiệm chống tham nhũng nhưng cũng không thành công lắm. Dùng luật pháp trừng trị hay thỉnh thoảng đánh một đòn, hiệu quả không triệt để. Muốn diệt tận gốc tham nhũng phải bắt đầu từ đâu? Phải bắt đầu từ giáo dục đạo đức cho con người. Tuy nhiên, tại sao các nước trên thế giới vẫn lúng túng trong việc giáo dục đạo đức hoặc có giáo dục cũng không mang lại hiệu quả cao? Bởi người ta đã bỏ qua yếu tố nhân quả. Chừng nào luật Nhân quả Nghiệp báo được biên soạn thành giáo trình bài bản, được đưa vào nhà trường để dạy cho học sinh từ bé đến lớn thì khi đó công trình giáo dục đạo đức của loài người mới thật sự vững chắc. Đã tin nhân quả thì dù chưa được luật pháp kiểm soát, dù chưa biết có đấng thần linh nào theo dõi trên cao hay không, con người vẫn tự biết cân nhắc từng hành vi, lời nói, kể cả ý nghĩ của mình sao cho không tạo thành ác nghiệp. Lúc đó cả hành tinh này thật sự trở thành thiên đường. Bằng không, nếu xem thường nhân quả thì bất cứ việc gì dù xấu, ác đến đâu người ta cũng có thể làm.
Phật tử chúng ta phải cầu nguyện cho ngày mà luật Nhân quả Nghiệp báo được đưa vào trường học như một môn học quan trọng. Khi đó, tất cả các học sinh sinh viên, tức là những người chủ tương lai của một đất nước, của thế giới sẽ được dạy dỗ về đạo đức một cách kỹ lưỡng, sâu sắc. Rồi nếu trở thành viên chức, họ sẽ không tham nhũng, chỉ một lòng yêu nước thương dân, biết nỗ lực mang lại lợi ích an vui cho cộng đồng, xã hội, thế giới.
NGUỒN GỐC CỦA THAM LAM
Tất cả mọi căn bệnh, mọi bất thiện pháp trong tâm chúng sinh đều có khởi điểm từ vô minh. Do vô minh, ta đã có những ý nghĩ sai lầm rồi tạo tác nhiều ác nghiệp. Vô minh là gì? Chỉ có những bậc A la hán hay Đức Phật đến giờ phút chứng đạo mới hoàn toàn thấu suốt. Và ngay đó vô minh cũng tự tan vỡ, các vị lập tức vượt qua vô minh, trở thành đấng Giác ngộ trong vũ trụ.
Người hiểu đạo một chút thì bớt vô minh đi một chút. Nhưng thật sự vô minh có gốc rễ sâu kín nên chỉ trừ bậc chứng đạo, còn lại không ai trong chúng ta thấy rõ về vô minh. Ta chỉ tạm nói với nhau rằng: vô minh là lớp si mê sâu xa nhất, từ đó mà sinh ra chấp ngã (thấy cái “ta” là quan trọng). Từ chấp ngã sinh ra ích kỷ và kiêu mạn (chỉ nghĩ về mình và muốn hơn người khác). Ích kỷ và kiêu mạn hợp lại sinh ra tham lam và vô số tâm bất thiện khác, làm cho con người quay cuồng trong tội lỗi.
Trong chuyện cổ tích “Ăn khế trả vàng” kể rằng:
Có hai anh em nhà kia sau khi cha mẹ qua đời, người anh vì lòng tham đã vơ vét hết gia tài về mình, chỉ chừa lại cho người em một cây khế ngọt. Quạ đến ăn khế và trả vàng, thế là người em lúc này trở nên giàu có. Thấy em giàu có, người anh động lòng tham một lần nữa nên chiếm luôn cây khế để có nhiều vàng... Lòng tham của người anh xuất phát từ tâm kiêu mạn và ích kỷ. Từ cái nhân xấu này, người anh nhận lại hậu quả xấu. Con quạ không thể chở nổi người và số vàng quá nặng nên người anh đã bị rơi xuống, chấm dứt cuộc đời ở đáy biển sâu.
ĐỂ THẮNG LÒNG THAM
Có ý kiến cho rằng tham nhũng còn xuất phát từ nguyên nhân khách quan: chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng. Khi đồng lương của viên chức còn thấp, vì phải nuôi sống gia đình, họ buộc phải kiếm thêm những khoản tiền khác ngoài tiền lương. Tuy nhiên, thực tế nếu nâng cao mức lương lên thì ngân sách nhà nước không đủ đáp ứng. Đây là bài toán không hề đơn giản với tất cả các quốc gia. Chúng ta rất thông cảm, và ta cũng đề xuất một hướng giải quyết theo tinh thần của đạo Phật. Hãy nhớ lại câu chuyện Đức Phật đã kể về các Thiên tử bị đọa thành người. Ban đầu do lười biếng và sợ hãi cuộc sống thiếu thốn nên những thiên tử (bấy giờ đã là người) đã khởi lòng tham. Khi tham lam, họ làm những việc ích kỷ sai lầm và càng mất phước nhanh chóng. Càng tham càng mau mất phước – đó là lời Phật dạy. Muốn thắng được lòng tham, chúng ta có thể theo những hướng sau đây:
Vượt qua thử thách
Ai cũng biết tham lam là xấu, nhưng tâm lý ai cũng muốn sở hữu nhiều tài sản. Lòng tham tiềm tàng bên trong mỗi con người. Đến với Phật Pháp, chúng ta có đạo lý và lẽ phải để sống tốt. Đạo lý và lòng tham đấu tranh không ngừng trong từng phút, từng giây ở mỗi con người. Nếu lòng tham thắng đạo lý, chúng ta sẽ tạo ác nghiệp để rồi thọ lãnh đau khổ. Vì thế, vượt qua được lòng tham thật không dễ dàng.
Có những tình huống giúp chúng ta biết được mình có thắng lòng tham hay không. Ví dụ, có ai hỏi đi đường lượm được gói tiền hay gói vàng, chúng ta có đem giao nộp, nhờ công an trả lại người bị mất hay không. Chúng ta khẳng định: có giao nộp. Đây là một thử thách. Thử thách này không làm chúng ta bị bất ngờ nên dễ dàng vượt qua. Nhưng trường hợp trên con đường vắng vẻ, chỉ một mình với gói vàng lượm được... thì sao? Nộp công an ư? Có ai biết chuyện này đâu? Lúc đó sẽ có một sự đấu tranh nội tâm dữ dội và không chắc đạo lý thắng hay lòng tham thắng?
Khi lòng tham bị kích động, con người thường tự biện hộ cho mình. Ví dụ, một người nào đó tìm đến gặp riêng, đưa ra một trăm cây vàng hay một va- li tiền và đề nghị chúng ta chuyển gói ma túy đến một địa điểm nào đó. Nếu hai chục cây vàng chúng ta không nhận làm; nhưng lên tới một trăm cây vàng chúng ta bắt đầu do dự và biện hộ: viện mồ côi đang cần tiền nuôi các cháu; cụ già bên kia đang cần ngôi nhà tình thương... Có được một trăm cây vàng này mình sẽ đem cho viện mồ côi, đem xây nhà tình thương... Chúng ta đưa ra lời biện hộ mạnh mẽ để yên tâm nhận số vàng đó. Nhưng thật sự gốc rễ là ở lòng tham. Sau khi nhận vàng, toàn bộ số tiền có được chuyển đến cho viện mồ côi và xây nhà tình thương hay không? Không bao giờ. Lòng tham bị khuấy động lên đã lừa gạt chúng ta. Vì vậy, hãy cảnh giác, đừng biện hộ cho mục đích làm phước mà nhận bất cứ món tiền nào hay quyền lợi nào để rồi làm việc xấu, việc ác, việc bất thiện.
Hãy nhìn lại, so sánh hai con người của triều đại nhà Trần là Trần Bình Trọng và Trần Ích Tắc để thấy sự lừa gạt của lòng tham là như thế nào. Lúc đó quân Nguyên sang đánh nước ta với lực lượng hùng mạnh. Nhận thấy thế giặc quá mạnh, Trần Hưng Đạo bàn với triều đình cho dân di tản, cất giấu hết lương thực. Quân Nguyên đánh nhanh, đánh mạnh, đánh tới đâu lấy lương thực nuôi quân rồi đánh tiếp. Nhưng do ta cất giấu lương thực nên chúng bị đói và suy yếu lực lượng. Đó là chiến thuật rất độc đáo. Từ đó quân ta đánh bại quân Nguyên. Đến trận thứ ba, do kinh nghiệm chiến đấu, quân ta đánh những trận lớn, mặt đối mặt. Còn hai trận đầu chúng ta đánh bằng kế lấy nhu thắng cương.
Có lẽ vì đức độ của tổ tiên nhà Trần quá lớn nên trong dòng dõi đó xuất hiện rất nhiều người tài giỏi.
Trần Bình Trọng và Trần Ích Tắc đều là hoàng thân của nhà Trần. Nhưng hai người đã lựa chọn hai con đường trái ngược nhau. Khi quân Nguyên bắt được Trần Bình Trọng, chúng lập tức hứa hẹn cho ông làm Vương cai trị đất An Nam nhưng với điều kiện phải để cho chúng sai khiến, phải chỉ đường đi nước bước, kế hoạch của nhà Trần. Trần Bình Trọng từ chối bằng câu nói khẳng khái mà đến ngày nay chúng ta vẫn còn ca ngợi: “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm Vương đất Bắc”. Trước khí phách của Trần Bình Trọng, quân Nguyên vô cùng nể phục nhưng rồi chúng cũng phải giết ông. Như vậy, Trần Bình Trọng đã không bị lòng tham lừa gạt. Đó là một con người có đạo đức. Nơi Trần Bình Trọng, đạo đức của lòng yêu nước đã thắng lướt được lòng tham danh, tham lợi.
Con người thứ hai là Trần Ích Tắc. Ông có người học trò Nguyễn Văn Long làm cố vấn. Trần Ích Tắc có thể không phải là người xấu, nhưng Nguyễn
Văn Long là kẻ vô cùng nham hiểm. Chính Nguyễn Văn Long đã thuyết phục thầy mình: quân Nguyên đã chiếm trọn cả vùng Trung Á rộng lớn, huống hồ là một nước Đại Việt nhỏ bé, nếu triều đình cứ cố phản kháng chống cự sẽ chỉ mang lại cảnh máu đổ đầu rơi cho vô số thường dân vô tội. Đưa ra chiêu bài vì dân vì nước, quả nhiên Nguyễn Văn Long đã thuyết phục được Trần Ích Tắc đầu hàng. Nhưng thực tâm của Nguyễn Văn Long là gì? Nếu đầu hàng, nhà Nguyên cho Trần Ích Tắc lên làm Vương thì Nguyễn Văn Long được làm Tể Tướng. Đây là cái ích kỷ, tham vọng cá nhân của Nguyễn Văn Long nhưng Trần Ích Tắc đã bị lừa gạt, sau đó ông dẫn ba trăm ngàn quân đầu hàng quân Nguyên... Vừa biết tin, Trần Quang Khải lập tức trở về Thanh Hóa để cất giấu kho tàng, di dời cả triều đình, hậu cung. Vào thời đó, sự bội phản của Trần Ích Tắc đã làm triều đình lúng túng một thời gian.
Sự thật, trong mục đích là đầu hàng để cứu dân của Trần Ích Tắc vẫn lẫn với tham vọng mong làm An Nam quốc vương do Mông Cổ truy phong. Đó chính là sự phỉnh gạt của lòng tham. Cho nên khi lòng tham đã bị kích động lên rồi thì ta rất khó vượt qua. Thế nên, chiến thắng lòng tham là một kỳ công không hề nhỏ, bởi trước đó ta phải thắng được muôn trùng thử thách, cám dỗ.
Quán thân vô thường
Để chiến thắng lòng tham, tâm hồn chúng ta phải được chuẩn bị trước để đến khi gặp danh lợi, tiền tài mời gọi thì ta vẫn không dao động. Pháp tu này là quán thân vô thường. Ta suy nghiệm rằng thân xác này chết đi sẽ mục nát rồi rã tan thành tro bụi. Khi chết đi, không ai mang theo được bất cứ thứ gì, chỉ đem theo tội và phước. Mỗi ngày ta suy nghĩ như vậy, dần dần lòng tham sẽ mỏng nhạt.
Tuy nhiên, tâm con người thì rối rắm, thường đưa ra lời biện hộ, thường “lừa gạt” chúng ta, nên ngoài quán thân vô thường, chúng ta phải hóa giải lòng tham bằng lời phát nguyện. Mỗi ngày hãy nguyện trước Phật: Con nguyện không còn tham danh, tham lợi, xin cho con được sống không ích kỷ. Cả đời con nguyện thương yêu giúp đỡ mọi người. Những lời nguyện trước Phật rất quan trọng, như sự nhắc nhở chúng ta hằng ngày phải nhớ, phải làm cho bằng được. Thông thường, trong lúc nhất thời chúng ta có thể khởi lên quyết tâm mạnh mẽ sẽ không tham lam. Dù vậy, nó vẫn không giúp chúng ta có được sức mạnh nội tâm dứt khoát, nhẹ nhàng và bền bỉ bằng lời phát nguyện trước Phật, ta nguyện quyết sống đời trong sạch không mong cầu tham đắm điều gì. Nếu được tích lũy mỗi ngày, dần dần lời nguyện này sẽ trở thành phẩm chất vững chắc như sắt như đá trong tâm hồn mà không gì lay chuyển nổi. Phẩm chất đó có thể tồn tại trong tâm ta đến vài trăm kiếp.
Công đức lạy Phật
Có người Phật tử đứng tuổi mang vẻ đạo mạo. Rồi một ngày người ta bàng hoàng phát hiện ra ông đã phạm một lỗi rất nặng liên quan đến sắc dục. Những người chung quanh chê bai ông dữ dội. Khi nghe về việc của ông, một vị Thầy đã rất xót xa, tuy nhiên Thầy cũng biết rõ nguyên nhân vì sao nhân cách ông tuột dốc trầm trọng. Trong một thời gian dài, vì lý do gì đó mà ông không kiềm lại được tâm kiêu mạn trong lòng, đồng thời dần xem thường việc lễ lạy Phật mà mình đã từng duy trì trước kia. Không có công đức lạy Phật hỗ trợ, nhân cách của ông dần dần đi xuống cho đến ngày ông làm một việc vi phạm đạo đức trầm trọng.
Với chúng ta, dù mỗi ngày ta vẫn lạy Phật nhưng nếu lạy với tâm hời hợt thì theo tháng năm, chúng ta không đạt được công đức vi diệu từ việc lễ lạy đó. Có tôn kính Phật, lạy Phật, chúng ta mới dần dần thành tựu được những tính chất của Phật nơi tâm. “Kính thầy mới được làm thầy” - khi tôn kính một bậc Thánh, tôn kính một bậc Thầy thì dần dần chúng ta mới đạt được phần nào đức tính của các vị đó.
Có thể trước đây chúng ta còn nóng nảy vụt chạc, nhìn vấn đề còn hời hợt, không sâu sắc. Nhưng sau một thời gian thành kính lễ lạy Phật ta dần chững chạc, điềm đạm và khiêm nhu hơn, nghĩa là nhân cách đã tăng lên. Rồi ta giữ được tâm hồn mình trước những điều đã từng làm ta động tâm sa ngã. Ví dụ người từng tham lam tài sản, tham ăn nhậu, tham sắc dục... Sau một thời gian lạy Phật, những cái tham đó tự nhiên dần biến mất. Vì vậy, như mặt trời xua tan sương mờ, công đức từ việc lễ lạy Phật làm cho lòng tham của chúng sinh ngày càng mỏng nhạt. Đó là kết quả tự nhiên do công đức mang lại, không phải từ sự cố gắng dằn ép. Do đó, những lúc lặng lẽ cúi đầu trước Phật đài dâng lên Người niềm kính ngưỡng sâu xa cũng là lúc ta đang vun bồi công đức nền vững chắc cho suốt cuộc đời mình.
Đối diện với cái bất thiện
Khởi điểm của Thiền là thanh lọc tâm cho thuần thiện. Và tập đối diện với cái bất thiện là một phương pháp Thiền quán. Ví dụ chúng ta tập nhìn vàng bạc một cách bình thản. Nếu ham thích nữ trang, vàng bạc, hãy vào tiệm vàng nhìn cho “đã mắt”, chúng ta nhìn thẳng vào nó để thấy cái tham nổi lên như thế nào, nó vô hình, vô tướng nhưng nó đang có mặt... ta đối diện với nó và từ từ buông nó ra. Nghĩa là nhìn vàng, nhìn tài sản mà không phải nhìn nó mà là nhìn thẳng vào tâm mình, thấy cái tham lam, ích kỷ đang khởi lên như thế nào... Ta tập nhìn vàng, nhìn tài sản một cách bình thản. Lâu dần, đến một lúc nào đó dù đối trước một núi tiền mà lòng ta vẫn bất động thì xem như sự tu tập thiền quán đã có kết quả.
Đối diện với cái bất thiện là một trong những phương cách để chiến thắng lòng tham.
Tập sống đời đơn giản
Có hai trường hợp sống đơn giản. Một là người thiếu phước. Số phước ít ỏi không mang đến cho họ sự sung túc giàu sang như ý nên họ chỉ còn cách sống thật đơn giản. Hai là người đủ phước để sống một cách thoải mái, dư dả nhưng vẫn tự nguyện lựa chọn đời sống giản đơn.
Sống đơn giản là một cách để diệt trừ lòng tham, bởi một đời sống quá xa hoa dễ làm cho tham lam tăng trưởng. Nên với người thiếu phước, hãy sống an ổn thanh bần trong số phước của mình, không mong cầu hơn. Đó cũng là đạo đức. Còn với người phước tràn đầy nhưng vẫn không lựa chọn lối sống xa hoa, họ sẽ ngày càng đạo đức hơn và lòng tham cũng sẽ nhỏ hơn.
Khi còn trẻ tuổi người ta thường mãi đi tìm hạnh phúc bằng con đường danh lợi, tiền tài, tuy nhiên đi được hơn nửa đời người rồi mới thấm thía rằng hạnh phúc không phải là danh lợi, bạc tiền. Hạnh phúc thật sự là một tâm hồn thanh thản. Mà sự thanh thản an vui đó chỉ có được khi lòng tham đã vắng bóng. Ta không mong cầu, không tham muốn nên không phải mưu tính nhiều, vì thế dễ có được sự bình yên trong tâm hồn.
Khi không tham lam thì người ta cũng không tranh giành, chỉ sống an vui trong cái phước của mình và nhiều khi còn nhường cả cái phước cho người khác. Ngược lại, kẻ tham lam thường lấn sang cái phước của tha nhân, nghĩa là xâm phạm vào quyền lợi, vào đời sống của người khác: Họ sẽ trộm cắp, sẽ mưu toan, sẽ chiếm đoạt, sẽ tranh giành, sẽ lừa lọc... Tức là đang tạo nghiệp rất nhiều.
Việc tranh giành nhau gia tài cũng là một thảm kịch của gia đình.
Có một cô Phật tử kể về chuyện tranh giành gia tài mà từ đó cô đã rút ra được bài học. Sau khi cha mẹ chồng cô chết, anh em bên chồng cô xào xáo, vì tranh giành gia tài mà thiếu điều muốn chém giết nhau. Từ đó cô quyết định khi nằm xuống sẽ không để lại cho con tiền bạc gì cả. Cô chỉ muốn để lại cái phước cho các con cô thôi. Làm ra được bao nhiêu tiền, cô mang đi làm việc từ thiện, chỉ để lại một ít đủ cho cuộc sống của gia đình. Mới đầu khi cô quyết định như vậy thì chồng con cô buồn, lo sợ vì thấy cô có chút tiền bạc, vốn liếng mà không lo cho ngày mai của vợ chồng cô, không lo cho tương lai của con cái. Tuy nhiên sau này các con cô đi tới đâu gặp may mắn tới đó, làm việc gì cũng thành công. Lúc đó chúng mới hiểu rằng chính việc làm phước của người mẹ đã đem lại may mắn cho mình. Từ đó, chúng bắt đầu tin vào nhân quả và tin việc làm phước của mẹ mình là đúng. Đây là kinh nghiệm mà chúng ta có thể san sẻ với mọi người: nên để lại cái phước cho con hơn là để lại gia tài.
Tóm lại, dù dư phước để sống xa hoa nhưng chúng ta lập nguyện sống đơn giản, vì sống đơn giản, đạm bạc là một cuộc sống đạo đức.
Khi nào chúng ta mới hết tham?
Chúng ta có thể tự xem xét, đánh giá mình có còn tham hay không. Có thể ta không tranh giành thứ gì của ai, nhưng nếu bị mất tài sản, của cải mà vẫn còn tiếc rẻ thì ta vẫn còn tham. Ví dụ, khi làm mất chiếc nhẫn hoặc bị mất trộm chiếc xe, chúng ta tiếc đến độ ăn không ngon, ngủ không yên là còn tham. Trái lại, khi mất của mà chúng ta không buồn khổ tiếc nuối quá đáng, có thì vui mà không có thì cũng được, bởi không ai giữ được cái gì lâu dài, vĩnh viễn. Nghĩ được như vậy là lòng tham đang biến mất từ từ trong tâm chúng ta.
Để thắng lòng tham, chúng ta phải vượt qua thử thách, phải biết pháp tu tập quán thân vô thường, lạy Phật hàng ngày, đối diện với cái bất thiện, sống đời đơn giản... Người thắng được lòng tham là đã phá được tâm vị kỷ, chứng quả Tu Đà Hoàn. Người chứng quả Tu Đà Hoàn sống rất vị tha mà cũng còn “tham”. Cái tham của người này vi tế, bị sự vị tha chuyển hóa. Ví dụ người này khi chưa chứng quả Tu Đà Hoàn thích giàu. Sau khi đã chứng quả Tu Đà Hoàn cũng thích giàu. Nhưng cái tâm thích giàu trước và sau khác nhau như thế nào? Lúc trước người này thích giàu để được vinh quang, được người ta ngợi khen. Lúc sau thích giàu để làm việc từ thiện. Có một tỷ bạc, họ mừng lắm, cất tiền đó nhưng không dùng cho mình. Họ “rình” xem ai nghèo, ai cần giúp đỡ, đem cho. Đó là cái hay của người chứng quả Tu Đà Hoàn. Khi chúng ta nhìn vào tâm mình, thấy thích tiền chưa hẳn là tham, là có lỗi. Nếu chúng ta dùng tiền làm việc từ thiện thì chúng ta đã chứng quả Tu Đà Hoàn rồi. Khác với người chứng quả Tu Đà Hoàn, người chứng quả A Na Hàm chất một tỷ bạc trước mặt vẫn không động tâm, nhìn tiền bạc như nhìn cát bụi.
Vào thời Đức Phật có nhiều cư sĩ chứng quả Tu Đà Hoàn. Họ vẫn sống đời sống gia đình, có vợ chồng con cái bình thường, chỉ có Đức Phật mới biết họ chứng quả Tu Đà Hoàn. Trong các vị cư sĩ chứng quả Tu Đà Hoàn có tín nữ Visakha. Năm đó, Đức Phật khoảng trên năm mươi tuổi, tín nữ Visakha còn là một cô gái nhỏ, khi gặp Đức Phật và nghe Ngài thuyết giảng, tín nữ liền chứng quả Tu Đà Hoàn. Sau đó, bà vẫn có chồng con nhưng luôn luôn hộ trì Tăng đoàn chu đáo. Đức Phật rất ngợi khen. Mỗi lần Đức Phật đi du hóa gần nơi gia đình tín nữ ở, Ngài luôn luôn đến thăm gia đình bà.
Vào thời Phật còn tại thế, trước uy đức vời vợi của Ngài, khó ai có thể kiềm được niềm tôn kính mãnh liệt. Lòng kính ngưỡng tuyệt đối đó là một cái nhân mạnh mẽ làm cho họ chứng Thánh quả rất nhanh. Mà khi đã chứng Thánh quả thì lòng vị kỷ cũng lập tức tan biến.
Ngày nay chúng ta không còn may mắn như người xưa vì Phật đã nhập Niết Bàn, còn những bậc Thánh phi thường để ta tôn kính tột độ trên cuộc đời này lại quá hiếm hoi. Hơn nữa, lòng người rất dễ thay đổi. Dù đang quy ngưỡng một vị Thầy nhưng nếu nghe được vài lời thị phi, gièm pha về vị đó, dù đúng sai chưa biết nhưng ta lập tức lung lay nghi ngờ Thầy mình ngay. Lòng kính ngưỡng cũng ít nhiều mất đi. Vì vậy, hãy bù đắp cho sự thiệt thòi của mình bằng cách thường xuyên lạy Phật với lòng tôn kính. Kiếp này tuy chúng ta không có phước trực tiếp chiêm ngưỡng Đức Phật nhưng Phật là tất cả, Phật ngự trị khắp nơi.
Phật mênh mông như đất trời vô tận
Nhưng lại gần như một trận mưa xuân
Phật cao xa như một đóa bạch vân
Nhưng thân thiết như đôi bàn tay mẹ”...
Các pho tượng ở trên bàn kia cũng là Phật. Vì lúc vẽ, hay tạc tượng Phật, người thợ đã nghĩ đây là Phật thì thần lực Phật đã ứng vào đó rồi. Cho rằng tượng Phật chưa an vị mà vứt bỏ bừa bãi thì mang tội! Trước tượng Phật, chúng ta tôn kính như Phật đang hiện diện thì được phước lớn.
Tóm lại, chúng ta phải chọn một pháp tu nào đó và tinh tấn tu hành cho đến khi nào phá trừ dần tâm vị kỷ, biết sống vị tha thì lòng tham cũng dần biến mất một cách tự nhiên.
Nhắn nhủ
Trở lại câu chuyện ngụ ngôn mà Đức Phật kể người cõi trời đọa thành loài người ở cõi trần. Ban đầu do làm biếng và sợ hãi, rồi do sợ hãi mà tham lam khởi lên, tham lam khởi lên thì càng mất phước... Thì cũng vậy, nếu chúng ta không sợ hãi điều gì, cứ sống hy sinh vị tha thì tự nhiên mình được cái phước ở cõi trời.
Mà phước cõi trời là gì? Nghĩa là chúng ta sống với tâm vị tha, không phải lo lắng, sợ hãi bị thiếu hụt nhưng cuộc sống vẫn luôn ấm no, đầy đủ. Ví dụ có một Phật tử là bác sĩ, đồng lương không nhiều, không mở phòng mạch tư, chỉ làm ở bệnh viện thôi mà cuộc sống vẫn thoải mái, an vui. Người bác sĩ này chăm sóc bệnh nhân rất tận tình, chu đáo và có lòng thương yêu các bệnh nhân như nhau không phân biệt giàu hay nghèo. Biết bệnh nhân nghèo thì cho thuốc, cần thiết thì tặng biếu luôn cả tiền. Trong số bệnh nhân của bác sĩ có một người rất giàu (bác sĩ không biết người này giàu) cảm động trước sự chăm sóc tận tình của bác sĩ, nên khi bớt bệnh, người này bảo các con tìm đến nhà bác sĩ, mang theo bao thư tiền tặng để đền ơn. Người bác sĩ đã nhận số tiền và tiếp tục đem giúp những bệnh nhân nghèo như đã từng giúp trước đó. Ông được cái phước cõi trời như thế bởi vì không sợ hãi. Nếu ông lo sợ sẽ không đủ sống với mức lương eo hẹp rồi tìm cách kiếm tiền từ bệnh nhân một cách không chân chính, sự tham lam đó sẽ khiến ông tổn phước và sẽ có ngày nào đó cuộc sống sẽ chật vật trở lại.
Ngay cả những người tu sĩ (Tăng, Ni) cũng vậy, nếu cứ lo sợ không đủ sống rồi cứ tìm cách xoay xở kiếm ra tiền, chắc chắn càng lúc sẽ càng thiếu phước và cứ phải lo đi làm kinh tế. Vì thế, người xuất gia phải can đảm, không sợ hãi, dù trong cảnh bần hàn vẫn chỉ lo tu hành, lo cho chúng sanh, lo cho đạo, lo cho Phật tử thì cái phước cõi trời sẽ tự nhiên xuất hiện. Điều này nhiều người cũng đã chứng nghiệm. Nhiều chùa còn thiếu thốn, số tiền dự trữ không còn bao nhiêu nhưng khi người nghèo đến, vị trụ trì cũng xuất tiền ra tặng. Không sợ hãi, cứ như vậy mà thầy trò cũng sống được. Rồi tự nhiên có những Phật tử đến chùa giúp đỡ đúng lúc. Chư thiên, Hộ pháp đã cho người tới giúp chúng ta như vậy. Đó là phước cõi trời, tức là không lo sợ bị đói, bị thiếu hụt, mà vẫn no đủ.
Qua câu chuyện người bác sĩ ở trên, chúng ta cũng kêu gọi những viên chức có gốc là đạo Phật phải gan dạ, tuy đồng lương còn thấp, nhưng đừng sợ hãi, hãy hy sinh, hãy cống hiến, hãy phụng sự, hãy sống vị tha lo cho dân, cho nước. Đừng lo sợ lương thấp quá không đủ nuôi gia đình mà tham nhũng, tham ô. Hãy sống vị tha, thương yêu con người, nhất là người nghèo, người cô thế, càng giúp đỡ họ tận tình. Ta cống hiến cho dân cho nước bằng công sức và trái tim nhiệt tình. Rồi nhân quả sẽ đền bù cho ta phần thưởng xứng đáng. Khi phước cõi trời xuất hiện, tự nhiên có những người giúp đỡ ta bằng những đồng tiền rất trong sạch.
Có một Phật tử kể rằng cô được một người bạn thân ở Lào mời cô đi du lịch, người bạn này giàu có nhờ nghề buôn bán gỗ. Cô Phật tử từ chối vì sợ mang tội, cô nghĩ rằng nếu đi, cô cũng hưởng đồng tiền do phá rừng, đốn gỗ mà có. Đây cũng là một tấm gương rất hay cho chúng ta: không hưởng đồng tiền xuất phát từ tội lỗi, từ việc làm bất chính. Do không tham, chúng ta sẽ bình tĩnh đánh giá được đồng tiền do làm ăn lương thiện hay đồng tiền “bẩn” do những việc làm bất chính mà có, để mình quyết định hưởng hay không hưởng. Hãy nhớ rằng những đồng tiền “bẩn” sẽ phá nát gia đình. Gia đình nào nuôi con bằng đồng tiền “bẩn” thì con cái rất dễ hư hỏng, có khi đó lại là những đứa con phá tan mọi tài sản mà cha mẹ đã tích lũy.
Sách giáo khoa ngày xưa từng có câu chuyện “Cái cân thủy ngân”. Có hai vợ chồng đã dùng cái cân có đòn cân rỗng ruột, trong đòn cân có đổ thủy ngân để khi cân buôn bán dễ ăn gian. Nhờ vậy, họ giàu lên rất nhanh rồi sau đó họ sinh được hai đứa con trai. Đã thỏa mãn về tài sản và con cái, bấy giờ họ mới bắt đầu “tu thân tích đức”. Họ phá cái cân, thấy có hai hòn máu trong đòn cân. Một thời gian sau, hai đứa con trai đều chết. Hai vợ chồng khóc than và được báo mộng: hai đứa con đó là quỷ sứ đầu thai vào nhà họ để phá gia đình, phá tài sản. Nhưng nhờ họ đã biết “tu” nên Diêm Vương kêu quỷ sứ bắt về.
Do đó, chúng ta thấy rằng nhân quả rất phức tạp. Có những người làm việc thiện nhưng lại gặp phải điều bất hạnh. Nếu nhìn bằng con mắt thường, chúng ta thường không thấy được căn nguyên, bản chất của sự việc và dễ kết luận không có sự công bằng trên đời. Chỉ bằng con mắt tâm linh ta mới thấu suốt rằng luật Nghiệp báo khách quan thật sự đã chi phối mọi việc trong vũ trụ một cách vô cùng công bằng hợp lý. Cái bất hạnh của con người hôm nay có khi bắt nguồn từ những ác nghiệp sâu xa bí mật mà họ đã gieo trồng trong quá khứ.
Trên đời chúng ta đã chứng kiến rất nhiều trường hợp mà cha mẹ có đạo đức rồi con cái dễ được thành công, vinh hiển. Điều này cũng không ra ngoài nhân quả. Vì đức của cha mẹ quá lớn nên khiến cho những người đầu thai vào làm con là người có phước lớn, người sẽ được vinh hiển trong vị lai. Khi đó, cha mẹ, cả dòng họ cũng được tiếng thơm cho xứng với cái đức của họ.
Có hai nguyên nhân làm cho một người hay ăn cắp vặt. Một là đạo đức của họ quá kém. Hai là do khẩu nghiệp. Đời trước họ hay khinh chê, mắng chửi kẻ cắp một cách thậm tệ nên phải chịu quả báo mắc tật ăn cắp vặt. Hoặc vì họ đã buông lời phỉ báng một bậc Thánh với những Thánh tính cao cả nên kiếp này họ phải mang một nhân cách đê hèn.
Nếu con trẻ có tật ăn cắp vặt, cha mẹ phải cương quyết, cứng rắn dạy dỗ. Bằng không, khi đứa trẻ đã lớn thì thói quen ăn cắp vặt sẽ phát triển thành lòng tham cố định và đứa trẻ vì thế sẽ làm nhiều điều bất thiện.
Những lời nhắn nhủ chân thành, xuất phát từ trái tim của một đệ tử Phật, mong chúng ta vui vẻ đón nhận!


