Chùa soi bóng quê hương đất nước
Chuông chiều buông trên bước đường xa
Càng yêu Phật Pháp thiết tha
Càng yêu Tổ quốc đậm đà thiêng liêng...
Nếu Phật Pháp là một quê hương về tâm linh đã cho ta ánh sáng, chân lý, lẽ phải, đường đi thì đất nước là một quê hương đã cho ta những người đồng bào, cho ta mảnh đất, bầu trời với bao nhiêu máu thịt của tiền nhân đã đổ xuống. Cả hai đều khiến ta thương yêu biết bao nhiêu trong cuộc đời của mình.
LÒNG YÊU THƯƠNG CHÚNG SANH BAO HÀM TÌNH YÊU ĐẤT NƯỚC QUÊ HƯƠNG
Trong Kinh Từ Bi, Đức Phật nói: “Thương yêu khắp tất cả muôn loài, dù những loài thấy hay loài không thấy vẫn thương”. Trong đạo Phật tình thương yêu lớn như vậy. Ngày nay, khoa học vẫn chưa tìm thấy có sự sống trên hành tinh xa xôi nào trong vũ trụ ngoài trái đất của chúng ta. Nhưng theo lời Phật dạy, chúng ta tin rằng trong vũ trụ mênh mông, chắc chắn có những hành tinh có sự sống, có những con người văn minh. Và hễ có chúng sinh, có con người, có loài hữu tình, là chúng ta có thương yêu dù mình không thấy mặt. Trong bộ phim giả tưởng của Mỹ có tựa đề “Tiếp xúc”(Contact). Các nhà khoa học tìm dấu hiệu của sự sống văn minh bên ngoài vũ trụ. Trong phim có câu nói: “Vũ trụ quá mênh mông, quá lớn. Nếu cả vũ trụ mênh mông như vậy mà chỉ có một hành tinh là trái đất nhỏ hơn hạt bụi có sự sống, còn toàn bộ lại không có sự sống thì thật là một sự phí phạm về không gian”. Không thể nào vũ trụ phí phạm không gian như vậy. Do đó, các nhà khoa học tin tưởng rằng ở những hành tinh khác có sự sống. Sự tin tưởng này rất hợp với quan điểm của đạo Phật.
Tình thương yêu khắp cả muôn loài chúng sinh của chúng ta quá lý tưởng, nhiều khi tưởng như không thực tế, không cụ thể, nên có khi người hàng xóm đau bệnh hay nghèo đói thì chúng ta lại quên. Do vậy, chúng ta cố gắng làm sao giữ tình thương yêu muôn loài mà vận dụng được vào trong cuộc sống để tình thương yêu biến thành hành động cụ thể nào đó.
Một tính chất nữa của tinh thần từ bi trong đạo Phật là vượt ra mọi biên giới của chủng tộc, giai cấp, thành phần, kể cả tôn giáo. Nghĩa là đối với người khác đạo chúng ta vẫn thương yêu, không phân biệt. Cho nên, tinh thần của đạo Phật rất cần thiết cho một thế giới yêu chuộng hòa bình. Ví dụ, bên hàng xóm chúng ta là người Thiên chúa giáo hay Hồi giáo, họ hiền hay dữ, chúng ta vẫn có tình cảm trước, còn độ được hay không chúng ta sẽ tìm cách sau, nhưng phải thương trước đã. Sống trên đời, chúng ta còn người nào để ghét thì chúng ta chưa thật sự là đệ tử Phật. Hãy nhớ điều đó! Phải xét lại trong đời sống của mình, đối với họ hàng, bạn bè, người chung quanh, chúng ta còn ghét ai hay không? Điều này thật khó nhưng phải vượt qua cho được. Còn ghét ai là chúng ta phải nhổ bật gốc “nó”. Vì trong tinh thần đạo Phật, lòng từ bi trải khắp muôn loài, muôn nơi.
Tinh thần không biên giới của đạo Phật còn thể hiện qua việc đạo lý giác ngộ luôn dành cho tất cả mọi loài đủ khả năng nhận thức, không hề có sự phân biệt đối tượng này hay đối tượng kia, thậm chí kể cả loài thú cũng có thể học đạo giác ngộ.
Tương truyền có rất nhiều trường hợp những con thú tu rồi đắc đạo. Ví dụ, có những vị thiền sư tu trong am ở rừng vắng. Tới giờ tụng kinh có con cọp đi tới nghe Kinh, hết tụng Kinh nó đi. Tu tập dần dần tới khi nó có tánh linh rồi chuyển kiếp sau khi bỏ thân. Chúng ta còn nghe nói có thần mộc (những cây lớn có thần), như chùa của Hòa thượng Hư Vân, có cây có thần ở. Vị thần đó hiện thành hình người, xưng tên là Trương đến xin thọ giới với Ngài. Nhưng khi thần đi đâu không mang y bát được nên xếp y bát để lại rồi biến mất. Những loài không phải người nhưng có tánh linh đều vẫn có thể tu được.
Hoặc có những vong linh người đã mất, không có hình hài hiện hữu nhưng trong thế giới vô hình, nếu họ đủ sức nhận được đạo lý giác ngộ thì đạo lý sẵn sàng chờ đón họ tu tập. Lòng Từ Bi trải khắp muôn loài không phân biệt là vậy. Mà đạo lý và lòng từ bi đó cực kỳ lý tưởng khó tìm thấy ở tôn giáo nào khác ngoài đạo Phật. Mặc dù chúng ta không thực hiện được triệt để nhưng nếu có nghĩ đến, có tự nhủ mình, có tu tập theo tinh thần đó thì chúng ta đã hình thành được thiện căn rất lớn cho nhiều kiếp về sau. Dù hàng ngày chúng ta vẫn phải lo sinh kế, nhưng vẫn chịu khó lạy Phật và trải lòng thương yêu chúng sanh không bờ bến.
Chúng ta tu theo đạo Phật là thực hiện lòng từ bi lớn không biên giới. Lý tưởng đó đến với tất cả mọi người, mọi loài mà thực tế nhất là gần gũi, gắn bó, đối diện với cộng đồng như gia đình, họ hàng, bạn bè, cơ quan, trường học và nhất là quê hương đất nước... Tất cả là nơi để chúng ta thể hiện, bày tỏ lòng từ bi, đạo đức và trí tuệ của mình.
Tuy nhiên, chúng ta không làm cho tình thương yêu gia đình, họ hàng, làng xóm trở nên cục bộ mà quên cái bao quát; chỉ biết cái nhỏ mà quên cái lớn; hoặc chỉ nhắm vào cái lớn mà bỏ quên cái nhỏ, đều là sai. Ví dụ, chúng ta tu tập lòng từ bi, hàng ngày nguyện thương yêu tất cả chúng sanh. Nhưng cái nhỏ gần gũi như gia đình, họ hàng, làng xóm, bạn bè thì chúng ta quên không làm được điều gì cụ thể để thể hiện tình thương yêu đó. Chúng ta chỉ thương trong tâm, chỉ tưởng tượng mà không có hành động. Như vậy, nếu chúng ta chỉ nhắm vào cái lớn mà quên cái nhỏ, tình thương đó có vẻ mông lung, trừu tượng. Trái lại, chúng ta chỉ nhắm đến cái nhỏ mà bỏ quên cái lớn, tình thương đó tiềm tàng sự ích kỷ, thiếu sót. Ví dụ, chúng ta sinh ra ở địa phương nào, chúng ta chỉ biết bảo vệ hay là làm lợi ích cho địa phương đó, không quan tâm tới địa phương khác, không nghĩ tới cả đất nước.
Cả hai trường hợp đều sai lầm, đều không đúng với lòng từ bi của đạo Phật. Vì sao vậy? Vì lòng từ bi của đạo Phật là: Chúng ta thương yêu những cộng đồng gần gũi nhất nơi mình mà vẫn không quên thương yêu tất cả chúng sanh trong pháp giới. Nghĩa là hai tình thương này song song tồn tại, không đối lập, trái ngược nhau. Người đệ tử Phật phải giữ gìn cái tinh thần của đạo Phật, là đi đến cộng đồng nào đều làm cho cộng đồng đó được an vui, hạnh phúc. Đó là trách nhiệm, là quan điểm, là sứ mạng của đạo Phật.
Ngày xưa đạo Phật xuất phát từ quê hương Ấn Độ - một đất nước huyền bí, đơn giản và nghèo nàn. Nhưng từ nơi đó đã xuất hiện một vị Thánh nhân bậc nhất của nhân loại. Tinh thần Từ bi giác ngộ của đạo Phật từ từ lan dần khắp thế giới. Đến đất nước nào đạo Phật cũng nhanh chóng hoà nhập vào đất nước đó, thành bản sắc đạo Phật của đất nước đó và làm lợi ích cho con người ở nơi đó luôn. Giống như khi đến với Việt Nam, đạo Phật trở thành đạo Phật của Việt Nam, gần gũi với tinh thần của dân tộc và đem lại không biết bao nhiêu đạo lý tốt đẹp cho quê hương Việt Nam. Tinh thần của đạo Phật là như vậy.
Quan điểm của đạo Phật là từ bi thương yêu tất cả chúng sanh. Tình yêu đó bao hàm tình yêu đất nước quê hương. Tình yêu đất nước quê hương là cái gốc của mọi tình cảm khác, đó là yêu gia đình, yêu hàng xóm, yêu cộng đồng xã hội mình đang sống, vui buồn với thăng trầm của lịch sử dân tộc. Trước hết, biểu hiện tình yêu quê hương đất nước phải là lực lượng Phật tử. Người đệ tử Phật đến đâu, nơi đó sáng lên tình yêu, mọi người được giúp đỡ, được an vui. Vậy, chúng ta vừa là đệ tử Phật, vừa là người dân Việt Nam với lịch sử, văn hóa Việt Nam; chúng ta phải làm cho hai tính chất đó hòa nhập trở thành một thể thống nhất tốt đẹp trong mỗi người.
TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG LÀ TÌNH CẢM THIÊNG LIÊNG
“Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều”.
Quê hương là nơi có sự gắn bó tự nhiên về tình cảm. Quê hương gắn liền với quê cha đất tổ, quê hương rất lâu đời có sự gắn bó tình cảm sâu sắc. Quê hương không phải là quá nhỏ như gia đình, làng xóm, một xã, một tỉnh. Quê hương cũng không quá lớn như cả thế giới có sự sai biệt về chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, địa dư. Như vậy, quê hương cũng chính là đất nước, miền đất đai trong quan hệ với dân tộc làm chủ và sinh sống trên đó. Vì thế, quê hương và đất nước không thể tách rời ra. Tuy hai nhưng là một yếu tố tạo nên tình cảm tự nhiên gắn bó với mỗi người. Chúng ta không ngạc nhiên khi nghe bốn tiếng này luôn luôn đi chung với nhau. Ví dụ nói Việt Nam là quê hương đất nước thân yêu của chúng ta. Hoặc nói một Việt kiều sinh sống ở nước ngoài về thăm quê hương, nói thế không có nghĩa là người đó chỉ về quê của mình ở xã A thuộc huyện B, tỉnh C, mà người đó về thăm đất nước Việt Nam, trong đó có xã A, huyện B, tỉnh C, nghĩa là quê hương của người này ở trong đất nước Việt Nam.
Chúng ta có yêu thế giới này không? Yêu nhân loại không? Yêu. Cả vũ trụ không thấy ai mà chúng ta còn thương, huống chi nhân loại sống trên trái đất này. Nhưng tình thương yêu đó quá lớn, quá lý tưởng. Bên châu Phi đang chết đói; Hàng loạt nông dân Ấn Độ tự tử vì nắng nóng kỷ lục. Theo tinh thần đạo Phật, là đệ tử Phật chúng ta thương cảm, xót xa nhưng chỉ biết đọc báo, xem đài không thể làm gì hơn. Vì sao? Vì miền Tây cũng đang ngập lụt, phải lo cứu trợ trong nước trước. Đó là một thực tế. Quê hương đất nước chúng ta cũng thương, nhân loại cũng thương mà thực tế ai cũng phải lo cho đồng bào mình trước. Chúng ta nói rằng tinh thần từ bi của Phật là không phân biệt biên giới, chủng tộc. Nhưng nếu cứu trợ Ấn Độ trước, cứu trợ miền Tây sau thì thiếu thực tế. Vì vậy, chúng ta thấy quê hương không quá nhỏ và cũng không quá lớn. Quá nhỏ sẽ làm cho chúng ta hẹp hòi; quá lớn sẽ làm cho chúng ta ảo tưởng. Chỉ trừ một số người có phước lớn từ đời trước, đời này họ nhận trách nhiệm đối với thế giới thì phải lo cho cả thế giới.
Ví dụ như ông Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc là người được bầu ra để lo cho rất nhiều chuyện của thế giới, thì sự lo lắng đó là đúng đắn đối với ông. Còn chúng ta là người dân bình thường, là đệ tử Phật, chúng ta tu tập tâm hạnh Từ bi thương yêu tất cả chúng sanh, không phân biệt ngôn ngữ, chủng tộc, văn hóa, tôn giáo. Nhưng cũng phải nói rằng tình thương yêu đó sâu đậm hơn đối với người cùng quê cha đất tổ, cùng quê hương đất nước với chúng ta. Nghĩa là dù không quên tình yêu nhân loại, nhưng trước hết chúng ta phải yêu quê cha đất tổ, yêu quê hương đất nước mình. Đó là căn bản.
Và cái tình quê hương đất nước đó, vẫn luôn là tình cảm thiêng liêng đối với mỗi người. Vì sao vậy?
Trước hết là cùng nói chung một thứ tiếng (ngôn ngữ).
Cùng nói một thứ tiếng, ứng xử với nhau nên dễ đồng cảm, giúp chúng ta dễ gần nhau hơn dù chỉ một câu chào hỏi. Người Việt chúng ta thường hỏi khi gặp nhau: “Anh khoẻ không?”, “Chị khoẻ không?”, “Em khoẻ không?”... đây không chỉ là câu chào hỏi mà còn là sự quan tâm đến người mình hỏi về sức khỏe, về cuộc sống. Từ bé ta đã được dạy phải xưng hô cẩn trọng với mọi người. Tức là ta phải đoán số tuổi của người đối diện rồi so sánh với chính mình, so sánh với ông bà, cha mẹ mình để chọn một cách xưng hô thích hợp, để gọi họ là em hay anh chị, chú hay bác, hay thậm chí ông, bà... Ở các quốc gia khác, ví dụ như tại Anh thì dù già, trẻ, bé, lớn, họ chỉ có một chữ “You” để gọi người kia. Cho nên, đại từ nhân xưng của Việt Nam là đem cả thiên hạ này vào trong họ hàng và trong đại từ nhân xưng này ngay lập tức thiết lập cái kỷ cương trật tự để con người đối xử với nhau có tình có nghĩa có ổn định và không được buông tuồng bừa bãi. Đây là một văn hóa độc đáo, trên thế giới không có, chỉ có ở Việt Nam, là một nét đẹp văn hóa mà ta có thể tự hào để nói điều này với thế giới.
Không giống như ngôn ngữ của các nước khác, tiếng Việt biểu hiện những sắc thái tình cảm và tôn ti trật tự khi giao tiếp. Người trẻ nói với người già xưng hô lễ phép; người trên nói với người dưới xưng hô lịch sự, thân mật. Nhiều gia đình người Việt ở nước ngoài vẫn cho các thế hệ con cháu của mình học viết, nói tiếng Việt, thứ tiếng mẹ đẻ để chúng còn có thể hòa nhập với cộng đồng người Việt ở nước ngoài, hoặc trở về quê hương đất nước Việt Nam để sống và hiểu đồng bào mình.
Thứ hai là cùng chung một nền văn hóa.
Nếu đi ra nước ngoài chúng ta sẽ thấy mình khó hòa nhập với xã hội con người ở đó, vì văn hóa khác nhau và cũng vì chúng ta mang đậm dấu ấn quê hương trong người. Ở nước khác chúng ta thấy khó ứng xử. Ví dụ, lối chào của người Việt chỉ nhẹ cúi đầu, còn có nước phải quỳ cúi đầu xuống... Nhiều người ra nước ngoài với lý do đọàn tụ gia đình, do hậu quả chiến tranh, do kinh tế rồi định cư ở đó, nhưng vẫn có nhiều người thích trở về sống ở quê hương lúc về già. Vì văn hóa ở quê hương vẫn là cái gì đó rất gần gũi, quen thuộc, dễ chịu và yêu mến. Còn ở xa quê hương, tuy giàu sang nhưng xa cách, lạnh lẽo, căng thẳng, không thích hợp. Có thể về đây sống nghèo một chút mà vui. Vì vậy mà có bài hát: “Về đây nghe em. Về đây nghe em. Về đây mặc áo the, đi guốc mộc, kể chuyện tình bằng lời ca dao, kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai, kể chuyện tình bằng hạt lúa mới...”.
Ngoài ra, người cùng một quê hương đất nước có những điểm chung về quan điểm chính trị thì dễ kết nối chặt chẽ với nhau hơn. Ngay cả cùng một đất nước nhưng thiết lập những thể chế chính trị khác nhau thì cũng khó kết nối với nhau. Ví dụ, Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) khác nhau về chế độ chính trị cũng là một trở ngại cho người dân Triều Tiên nói chung. Trên tinh thần đạo Phật, chúng ta cố gắng vượt qua những sai biệt về các mặt để thương yêu nhau hơn; yêu quý đồng bào mình hơn; và yêu quý quê hương đất nước mình hơn.
Thứ ba là cùng chung một lịch sử thăng trầm
Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử, tất cả những điều đó chúng ta mang nặng trên đôi vai, trong tâm hồn mình. Chúng ta chịu chung nỗi đau của cha ông khi mất nước. Chúng ta vui chung niềm vinh quang của tổ tiên khi thắng trận giành độc lập. Những vinh quang hay tủi nhục của cha ông, của tổ tiên từ nhiều ngàn năm qua, chúng ta đều cùng chung gánh vác, không tránh được. Và như vậy, đó là điểm chung để chúng ta yêu mến quê hương đất nước này, cùng yêu mến đồng bào của mình hơn.
Trong giai đoạn đầu của thời kỳ dựng nước, lãnh thổ nước Việt ta được cho là rất rộng lớn, gồm rất nhiều dân tộc khác nhau nhưng vì điểm chung nào đó mà họ đều cùng mang một chữ “Việt” và sống rất hòa hiếu với nhau nhiều đời, định cư tại đồng bằng sông Hồng, quyết dựng nước và bảo vệ vững chắc vùng đất này. Dù đã qua nhiều thời kỳ nô lệ nhưng nhờ tài năng và bản lĩnh, cha ông ta đã giữ gìn, dựng xây, mở mang được một đất nước Việt Nam có sức sống mãnh liệt và có nền văn hóa lâu đời. Dân tộc Việt Nam chúng ta như có hồn thiêng sông núi, khí thiêng dân tộc do đạo đức rất cao của nghìn đời cha ông chúng ta kết tụ, cho nên dù gặp phải những thăng trầm của một dân tộc bị nô lệ, dân tộc ta vẫn giành lại được độc lập, vẫn giữ vững được quê hương đất nước mình. Như những lớp trầm tích, qua thời Đât nước quê hương gian, tất cả những điều đó tích tụ lại tạo thành một nền văn hóa, một sức sống rất riêng của Việt Nam.
Chúng ta thử đọc bài thơ phiên âm chữ Hán sau:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
Dịch nghĩa:
“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Sách trời phân định đã rạch ròi
Cớ sao giặc cướp xâm phạm tới
Chúng bây thất bại hãy chờ coi”.
Bài thơ được cho là bài thơ thần, do thần đọc giúp Lê Hoàn chống quân Tống năm 981, và Lý Thường Kiệt chống quân Tống năm 1077. Người ta chưa biết tác giả của bài thơ Hán văn thất ngôn tứ tuyệt này là ai nhưng có nhiều sách ghi là Lý Thường Kiệt.
Có nhiều lời kể về sự ra đời của bài thơ, tương truyền, năm 1077, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược Đại Việt. Lý Thường Kiệt đem quân chặn ở phòng tuyến sông Như Nguyệt (một khúc sông Cầu, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Đang đêm, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát (hai vị tướng giỏi của Triệu Quang Phục được tôn là thần sông Như Nguyệt) giả làm thần đọc vang bài thơ này. Nhờ vậy tinh thần binh sĩ lên rất cao.
Qua đây, cha ông ta muốn khẳng định với giặc dữ rằng đất nước quê hương này đã được “sách trời” định, không ai có thể xâm phạm. Đây là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử và được xem như bản “Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của dân tộc ta. Và những câu chuyện về thần thánh như thần Tản Viên, thần sông Đà hay tổ tiên như vua Lý, vua Trần; hoặc những vị Quốc tổ Hùng Vương hay xa hơn là Quốc tổ Lạc Long Quân, cho chúng ta tin rằng các vị ở trên cao nhưng lúc nào cũng chở che, phù hộ cho quê hương đất nước này. Có cái gì đó gọi là hồn thiêng sông núi, là oai linh của cha ông từ nghìn đời luôn luôn che chở dân tộc ta.
Điều đó có thể chưa rõ lắm nhưng chúng ta tin. Ví dụ, có những tổ chức tội phạm rất nguy hiểm mà chúng ta phải vất vả truy tìm. Trong thế giới vô hình, chính uy linh của tiên tổ đã hướng dẫn khiến linh tính của chúng ta nhạy bén hơn, giúp phán đoán được hướng điều tra chính xác, phát hiện được kẻ phạm tội đang ẩn náu ở đâu để bắt giữ,... phá vỡ âm mưu chống phá của nhiều tổ chức tội phạm, chứ không phải sức người mà làm được. Sự may mắn kỳ bí đó hầu hết là do sự phù hộ của tổ tiên, của khí thiêng sông núi.
LÒNG YÊU ĐẤT NƯỚC QUÊ HƯƠNG PHẢI ĐƯỢC GIÁO DỤC
Lòng yêu đất nước quê hương trong lớp trẻ ngày nay không được sâu đậm như thế hệ chúng ta ngày trước. Nếu chúng ta không quan tâm giáo dục tình cảm cao cả thiêng liêng này cho thế hệ trẻ thì tình yêu đất nước, tình yêu quê hương khó mà ngày càng in đậm sâu sắc trong tâm hồn trẻ.
Trẻ phải thương yêu cha mẹ, anh chị em; lớn lên một chút trẻ phải biết thương yêu họ hàng chú, bác, cô, dì, anh chị em họ; và hơn cả là kính yêu ông bà. Tình cảm đó còn được chúng ta dạy dỗ, giáo dục từ từ cho trẻ. Lớn hơn, đứa trẻ hiểu biết hơn, chúng ta dạy chúng biết thương yêu láng giềng vì “bà con xa không bằng láng giềng gần”, “tối lửa tắt đèn có nhau”. Khi hữu sự, có chuyện gì xảy ra, người bà con mình ở xa, lúc gấp rút đó mình nhờ cậy người láng giềng; ngược lại, người láng giềng gặp khó khăn chúng ta cũng sẵn lòng giúp đỡ. Đó là tình láng giềng.
Đối với ông bà xưa, ngoài tình láng giềng còn có tình làng nghĩa xóm. Làng có nhiều xóm, làng này qua làng kia rộng mênh mông phải đi qua mấy cánh đồng. Cái làng lớn như vậy mà ngày xưa ông bà ta vẫn xây dựng được tình thương yêu trong làng quê. Đó là nét văn hóa đặc biệt của người Việt Nam mà thế hệ trẻ cần được hướng dẫn giáo dục, vì đây là nền tảng của tình yêu quê hương đất nước. Và cũng từ đây lòng yêu nước tăng cao.
Lòng yêu đất nước quê hương phải được giáo dục kỹ từ nhà trường đến gia đình. Nếu cha mẹ không có tình yêu đất nước quê hương thì con cái làm sao có! Thế hệ trẻ gần đây ít nghe nhắc tới tình yêu đất nước quê hương là do lỗi ở người lớn, ở nhà trường vì cha mẹ không nói tới; thầy cô giáo cũng nhắc không kỹ. Tình yêu nước phải được dạy mới có, chứ không dễ. Chúng ta thử đọc một đoạn văn dạy về tình yêu đất nước quê hương: “Tôi đã sống nơi mảnh đất mà tổ tiên tôi đã sống. Tôi đã thở không khí mà tổ tiên tôi đã thở. Bao nhiêu xương máu mà tiền nhân tôi đã ngã xuống, đất nước này đã thắm máu đào của những anh hùng để cho ngày hôm nay tôi được làm dân Việt và ngẩng mặt nhìn loài người”. Tác giả đã khơi ở lòng chúng ta niềm xúc động lớn lao về đất nước quê hương. Và chính điều đó đã khắc sâu tình cảm thiêng liêng trong tâm hồn chúng ta đối với quê hương đất nước. Tình cảm thiêng liêng đó cần phải được vun đắp, giáo dục cho từng thế hệ sau này.
Có nhiều cách thể hiện tình cảm này, trong đó văn, thơ, nhạc có tác dụng giáo dục rất lớn. Chúng ta nghe nhà thơ Đỗ Trung Quân viết về quê hương (đã chuyển thành nhạc) với những chất liệu trữ tình, sâu lắng: “Quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày. Quê hương là đường đi học... Quê hương là cầu tre nhỏ, mẹ về nón lá nghiêng che. Quê hương là đêm trăng tỏ...”, hình ảnh quê hương thật đẹp. Hoặc có bài hát: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời. Mẹ hiền ru những câu xa vời... Đất nước tôi những mẹ quê chỉ biết cần lao»... Những bài thơ, bài nhạc như thế làm cho chúng ta thương yêu quê hương đất nước mình biết bao. Tuy nhiên, những hình ảnh trong bài thơ, bài nhạc đó vẫn còn nhỏ bé quá, mà tình cảm nhỏ thì không đủ đánh động, xây dựng tình yêu đất nước lớn lao. Còn trong bài “Tình ca” của Phạm Duy, ông đặt ra những vấn đề lớn nên đã đánh động ý thức của chúng ta mạnh mẽ hơn và rõ hơn về tình yêu quê hương đất nước: “Yêu biết bao người Lý, Lê, Trần và còn ai nữa. Những anh hùng thời xa xưa, những anh hùng của ngày hôm nay...”. Ở đây, khi được giáo dục, khi được ý thức đủ về lòng yêu nước thì chúng ta có thể biểu lộ thành hành động cụ thể để làm một người công dân đúng nghĩa trong một đất nước.
Nhắc lại lịch sử của dân tộc ta, những đời vua
Lý, Trần đều là Phật tử, rất mộ đạo, nhất là Vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn). Ông xuất thân từ chùa, đạo đức ông sáng ngời vì ông được dạy dỗ theo tinh thần đạo Phật. Có tài và đức lớn nên ông được quan dân đưa lên làm vua mở ra một triều đại cực thịnh của lịch sử Việt Nam. Ngày nay vẫn còn đền thờ tám vị vua đời nhà Lý. Tương truyền trước khi Bác Hồ mở chiến dịch Đông Khê, Bác có tới đền thờ tám vị vua đời Lý cầu nguyện. Gần đây, vào ngày giỗ các vua Lý người ta có chụp được tám cụm mây (tượng trưng tám vị vua đời nhà Lý) tụ xuống đỉnh đền Đô, nên chúng ta vẫn tin rằng ở đâu đó trên trời, các vị vua vẫn dõi theo vận mệnh của đất nước mà cứu dân, giúp nước.
Nhà Trần cũng có những vị vua tài đức. Các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông và vị tướng tài Trần Hưng Đạo đều là những người mộ đạo Phật, có tu tập Thiền định. Ngoài những lúc chiến tranh phải chiến đấu quyết liệt, các ông vẫn dành phần lớn thời gian để tu tập. Đặc biệt vua Trần Nhân Tông sau khi truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông rồi đi tu. Ngài tu mười năm ở núi Yên Tử. Sau đó, Ngài lập hệ phái Thiền tông Việt Nam, tức là phái Trúc Lâm Yên Tử, và trở thành Sơ tổ Trúc Lâm. Chúng ta thấy các vị vua nhà Trần đều là những người có đức có tài, đã giữ vững được giang sơn gấm vóc trước sức mạnh như vũ bão của quân Nguyên Mông sang đánh chiếm nước ta nhiều lần. Lòng từ bi khiến cho các vị vua kiên quyết chống giặc để cứu dân, cứu nước. Đó là do tinh thần đạo Phật đã được vận dụng vào đời: yêu chúng sanh, yêu đất nước, ra sức bảo vệ đất nước.
Trường hợp khác, việc nước này mang quân sang đánh nước kia là một sai lầm lớn. Sự sai lầm đó cần phải được ngăn chặn.
Ví dụ, có lần vua A Xà Thế tính đem quân đi đánh xứ Bạt Kỳ (Vazi). Ông cho người đến hỏi Đức Phật, ông đánh thắng hay không. Xứ Bạt Kỳ là một tiểu quốc nhưng không thần phục một nước lớn như Ma Kiệt Đà nên A Xà Thế muốn đánh chiếm luôn. Đức Phật gọi ngài A Nan và hỏi: “Này A Nan! Xứ đó sinh hoạt thế nào? Người dân xứ đó có đồng lòng hay không?”- “Bạch Thế Tôn! Xứ Bạt Kỳ người dân trên dưới đồng lòng; người lớn nói người nhỏ nghe; người nhỏ góp ý người lớn nghe, xứ đó có đồng lòng”. “Họ có đều đặn gặp nhau để trao đổi không?” - “Bạch Thế Tôn! Xứ đó họ thường gặp nhau để trao đổi những vấn đề của quốc gia, tinh thần yêu nước của họ rất cao ”. “Xứ đó họ có tôn trọng những truyền thống tốt đẹp không?” -“Bạch Thế Tôn! Xứ đó họ tôn trọng những truyền thống tốt đẹp, những điều gì tốt đẹp mà người xưa để lại, họ tuân thủ giữ gìn, bảo vệ kỹ, không để mất”. Sau khi hỏi xong, Phật nói với Ngài A Nan: “Đó là một tiểu quốc không thể đánh bại ”. Sứ giả nghe Phật trả lời về báo lại cho Vua A Xà Thế, vua không dám đem quân đi đánh...
Đoạn Kinh trên như một bài học: Khi một đất nước mà trên dưới đồng lòng thì đó là một sức mạnh tổng hợp không ai có thể đánh chiếm, không lực lượng nào có thể xâm lấn được.
Do vậy, thái độ của người đệ tử Phật là vừa thương yêu vừa bảo vệ chúng sanh và bảo vệ đất nước quê hương, bảo vệ thế giới không bị tổn hại, đau thương. Đó là hai mặt của một vấn đề, hai loại tình thương mà chúng ta cần phải có. Tình thương yêu đó phải được chúng ta biểu hiện bằng những hành động cụ thể, trước hết là phải quan tâm đến việc giáo dục con cái tình cảm thiêng liêng nhất, đó là tình yêu đất nước quê hương.
BIỂU HIỆN CỦA LÒNG YÊU ĐẤT NƯỚC QUÊ HƯƠNG
Tình thương yêu nào cũng xuất phát từ lòng Từ Bi Hỷ Xả. Từ là thương yêu; Bi là xót thương khi thấy chúng sanh đau khổ muốn cứu; Hỷ là vui mừng khi thấy chúng sanh hạnh phúc (thấy người khác hạnh phúc mà mình ganh tị, đau khổ; thấy người ta mất của mà mình vui thì phải xem lại lòng mình, phải tu sửa); Xả là tha thứ (tha thứ khác với chiều chuộng. Chiều con quá thì con hư; con có lỗi mà biết sửa lỗi thì được tha thứ). Hễ có từ là có bi, có hỷ là có xả.
Lòng từ, bi, hỷ, xả mới chỉ là suy nghĩ, là tâm lý.
Thương yêu ai, thấy người đó đau khổ, chúng ta cũng đau khổ, biết người đó hạnh phúc chúng ta cũng hạnh phúc. Người đệ tử Phật có lòng từ bi thì trong tâm luôn luôn được thúc đẩy phải làm điều gì đó cho chúng sanh được hạnh phúc, làm điều gì đó cho thế giới an vui. Đó là sự thúc đẩy tự nhiên trong một người có lòng từ bi; đó là biến tình thương yêu thành hành động. Cũng vậy, người đệ tử Phật có lòng từ bi thì cũng có lòng thương yêu đất nước quê hương, muốn làm một điều gì đó cho đất nước được an vui, hạnh phúc và giàu mạnh. Chúng ta thường hay nói tới hạnh phúc mà ít nói tới giàu mạnh, vì sao vậy? Vì hạnh phúc là mục đích con người nhắm tới; còn giàu mạnh chỉ là một phương tiện đi tới hạnh phúc. Có khi người ta giàu mà không thấy có hạnh phúc. Có nhiều người tưởng giàu là hạnh phúc nên suốt cuộc đời họ đi tìm tiền bạc, tìm cách làm giàu, đến khi giàu có rồi cũng còn đau khổ, không có niềm vui.
Bhutan là một quốc gia nhỏ bé bị kẹp giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Toàn bộ đất nước Bhutan đều là đồi núi ngoại trừ một dải đồng bằng cận nhiệt đới nhỏ ở vùng viễn nam bị phân cắt bởi các thung lũng được gọi là Duars. Nền kinh tế được xếp vào loại chậm phát triển nhất trên thế giới nhưng người dân Bhutan lại có cuộc sống hạnh phúc nhất thế giới. Bhutan có rất nhiều chương trình hành động quốc gia như cung cấp điện miễn phí cho khu vực nông thôn, để người nông dân không phải dùng củi để đun/sưởi. Tại đất nước Bhutan, người dân được đi học và sử dụng dịch vụ y tế miễn phí. Để bảo vệ sức khỏe của người dân, Bhutan cấm buôn bán và sử dụng thuốc lá, đến cả túi nilon cũng bị cấm sử dụng. Chính phủ Bhutan cấm nhập khẩu tất cả phân bón hóa học. Tất cả các sản phẩm sản xuất trong nước phải thực sự thân thiện với môi trường. Điều đáng ngưỡng mộ nhất ở đất nước Bhutan, không có các tệ nạn xã hội như trộm cướp, giết người, ma túy, mại dâm hay bạo lực xảy ra. Nhà có cửa nhưng hầu như người Bhutan không bấm ổ khóa mỗi khi đi làm việc. Tại Bhutan, người với người sống chan hòa, yêu thương lẫn nhau – mặc dù vật chất của họ không đáng kể.
Bài phỏng vấn quốc vương nước Bhutan, một triết gia theo đạo Phật. Người ta hỏi ông: “Tổng sản phẩm quốc dân nước ông là bao nhiêu?”. Ông trả lời: “Chúng tôi không có tổng sản phẩm quốc dân mà chỉ có tổng hạnh phúc quốc dân”, nghĩa là ông không lấy con số chỉ tiêu kinh tế, vật chất để đánh giá mà ông lấy theo thái độ sống của người dân. Có thể đất nước ông còn nghèo nhưng người dân sống thương yêu nhau, đoàn kết với nhau theo tinh thần đạo Phật: Giữ giới, hiếu hòa, sống an lạc và hạnh phúc. Như vậy là đủ rồi. Câu trả lời của ông thật độc đáo, đi đúng vào cốt lõi của vấn đề.
Những nhà kinh tế, chính trị thường nhắm tới việc xây dựng một đất nước giàu mạnh. Người đệ tử Phật bước thêm một bước nữa là nhắm luôn tới hạnh phúc. Nghĩa là thương yêu đất nước này, thương yêu đồng bào, thì chúng ta không chỉ mang lại hạnh phúc; không chỉ mang lại sự giàu mạnh đơn thuần vật chất mà còn mang lại cả đời sống tinh thần cho cộng đồng xã hội. Đó là tình yêu nước, là bổn phận, trách nhiệm của công dân Việt Nam, trong đó có hàng ngũ người đệ tử Phật. Khi đạo Phật xuất hiện ở cộng đồng nào thì chúng ta làm cho cộng đồng đó được an vui, hạnh phúc. Ví dụ, người giáo viên có tâm nghĩ rằng mình đang dạy dỗ, đào tạo từng thế hệ học trò trở thành những nhân tài cho đất nước. Thì đó là người thầy, cô giáo có lòng yêu đất nước quê hương. Cái tâm đó truyền cho học trò, chắc chắn học trò cũng yêu nước. Vì theo ngày tháng, tinh thần yêu nước của người thầy được biểu hiện dần dần thấm vào tâm người học trò. Trái lại, người thầy, cô giáo không yêu nước sâu sắc thì khó có tình yêu nước ở người học trò. Cho nên, đây là trách nhiệm quan trọng của người lớn.
Hoặc bình thường người công dân làm việc là để kiếm sống. Nhưng nếu có lòng yêu nước thì người công dân làm việc tận tụy hơn, năng suất tăng lên, làm lợi thêm cho xã hội. Hoặc những cán bộ viên chức Nhà Nước (nhất là những người có vai trò quan trọng đối với đất nước), nếu thật sự yêu nước thì họ sẽ làm được nhiều điều lợi ích cho nước, cho dân. Chỉ sợ rằng họ không đủ lòng yêu nước mà nhiều khi còn tham ô, tham những thì họ chính là những người phá hoại đất nước. Tham ô, tham nhũng hiện nay đang là nỗi đau của nhiều nước. Cả thế giới đang đấu tranh quyết liệt với tệ nạn này.
Tham nhũng có tâm lý của người tham nhũng. Nhân đây chúng ta thử bàn về đạo lý Phù Đổng Thiên Vương. Có truyền thuyết rằng ngày xưa khi giặc Ân sang xâm lấn nước ta, vua Hùng Vương kêu gọi nhân tài cứu nước. Có đứa bé lên ba tuổi không biết nói. Nhưng khi sứ giả đi qua, đứa bé chợt kêu mẹ nấu cơm ăn, nói với sứ giả nhận lời đánh giặc và chỉ yêu cầu sắm cho một con ngựa sắt, một bộ giáp sắt, một cái nón sắt và một cái roi sắt. Dân làng nghe chuyện lạ, nấu cơm cho cậu bé ăn. Cậu bé vươn vai thành một dũng sĩ, mặc giáp sắt, đội nón sắt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt đi đánh giặc. Thắng giặc xong, dũng sĩ cưỡi ngựa lên đỉnh núi Sóc Sơn và bay về trời. Nhân dân nhớ ơn phong là Phù Đổng Thiên Vương. Đây là truyền thuyết nhưng cái đạo lý nằm trong câu chuyện này là gì? Đối với tinh thần người Việt Nam, đây là “Công thành thân thoái”. Khi đóng góp được cho quê hương đất nước rồi thì quên mình, không kể công nữa, không có tư tưởng công thần. Đó là đạo lý.
Người có tư tưởng dựa vào công lao đóng góp của mình mà sinh ra kiêu ngạo và đòi hỏi đãi ngộ quá đáng. Đó là bệnh công thần. Tư tưởng đó đi ngược lại với đạo lý Phù Đổng Thiên Vương là “Công thành thân thoái”. Làm được gì cho đất nước nhưng quên công của mình đi thì người đó vẫn tiếp tục cống hiến. Khi một người có công mà nghĩ đến công, kể công, họ sẽ không còn tiếp tục cống hiến nữa mà có khi bắt đầu làm việc xấu. Việc xấu đó có thể là tham ô, tham nhũng (để bù vào công của mình?). Ngay cả quý Tăng, Ni, Phật tử cũng chú ý điều này. Ví dụ chúng ta làm được một việc gì đó như giảng pháp được khen hay, viết được sách, độ được một số người, cứu trợ bão lụt... rồi sau đó kể công. Tâm lý, tư tưởng kể công sẽ phá hoại chính bản thân chúng ta và lợi ích chung.
Người yêu đất nước quê hương ở vị trí nhỏ đóng góp theo phạm vi nhỏ; người ở vị trí lớn đóng góp theo phạm vi lớn (nhất là những nhà khoa học với những công trình nghiên cứu của họ đóng góp rất lớn cho đất nước, quê hương, cho nhân loại). Một hành vi xấu dù nhỏ cũng thể hiện lòng yêu nước chưa nhiều. Một biểu hiện tốt dù nhỏ cũng nói lên lòng yêu đất nước quê hương. Vì thế, chúng ta làm bất cứ điều gì tốt đẹp để thể hiện lòng yêu đất nước quê hương, có thể đóng góp vật chất giúp đỡ người nghèo; nếu không có điều kiện vật chất thì giúp đỡ về tinh thần, đem đến niềm vui, sự đoàn kết thương yêu nhau.
KHÔNG ĐOÀN KẾT THÌ KHÔNG CÓ TÌNH THƯƠNG
Không đoàn kết do ganh tị, hẹp hòi
Những người có lòng yêu quê hương đất nước, có thiện chí xây dựng đất nước nhiều khi phải vượt qua rào cản của những người có tâm ganh tị, hẹp hòi. Ví dụ, một kỹ sư nghiên cứu một công trình thủy điện. Đó là một công trình có ý nghĩa thiết thực, nếu khả thi sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đất nước. Nhưng có một số người có suy nghĩ hẹp hòi, ganh tị tiếng tăm của người kỹ sư, tìm mọi cách ngăn chặn, muốn phá hoại công việc đó. Vì thế, ngoài công sức bỏ ra nghiên cứu, người kỹ sư phải tìm phương cách chống đỡ sự phá hoại. Cho nên để làm được việc lớn, người ta luôn vất vả vì phải đề phòng, đối phó với rất nhiều người, bởi luôn có nhiều người không nghĩ đến lợi ích chung mà chỉ nghĩ đến cá nhân. Chỉ vì một chút ganh tị, đố kỵ, quyền lợi cá nhân, họ sẵn sàng triệt hạ lẫn nhau. Và khi làm những việc đó, có thể bên ngoài hình thức được che đậy một cách kỹ càng, trau chuốt nhưng trong tâm họ sự tham lam, đố kỵ luôn ngự trị. Những người như vậy không hề nghĩ đến quyền lợi đất nước, không hề có lòng yêu nước. Chính óc hẹp hòi, ganh tị làm cho người ta đi vào con đường sai lầm, chia rẽ.
Không đoàn kết do kỳ thị tôn giáo
Trong một quốc gia có nhiều tôn giáo, mỗi tôn giáo cũng có sự chống nhau giữa tăng tín đồ tạo thành sự chia rẽ ngấm ngầm hay công khai. Ví dụ, các tôn giáo ở Indonesia công khai chống nhau, bắn nhau. Ở Việt Nam không có sự chống đối tôn giáo. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam biểu trưng cho sự hòa hợp dân tộc, tôn giáo. Các nước trên thế giới khen Việt Nam có một Giáo hội Phật giáo đoàn kết được các hệ phái lớn nhỏ như: Nam Tông, Bắc Tông, Khất sĩ, Thiền Tịnh đạo tràng, Cổ sơn môn, Lục hòa tăng, Thiên thai giáo... gọi chung là Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Mặc dù vậy, khuynh hướng chia rẽ trong con người luôn luôn tiềm tàng và dễ bị những khuynh hướng ngoại đạo ngấm ngầm chi phối.
Người Phật tử có cái hay là tâm hồn đơn giản chỉ nhìn thấy cái chung: Ai thờ Phật là chung một nhà. Chúng ta ca ngợi tinh thần của người Phật tử không hệ phái, giáo hội chỉ một lòng thờ Phật. Thờ Phật và cung kính, tôn trọng, cúng dường, học hỏi những tu sĩ chân chính, có đạo đức. Đó cũng là tinh thần quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Khi Phật tử quy y vị thầy nào thì vị thầy đó là Bổn sư của mình. Nhưng không phải chỉ biết có bổn sư mình mà bất cứ nơi nào có Tăng, Ni tu hành chân chính thì Phật tử phải tới lui học hỏi, cúng dường, thừa sự, tôn trọng. Như vậy, chúng ta sẽ tránh được sự phân biệt, chia rẽ. Chư Tăng, Ni phải chú ý điều đó. Bởi vì, đôi khi những vị Thánh Tăng A la hán còn không hoàn toàn thống nhất với nhau về sự giáo hóa. Vì vậy, bổn phận của chúng ta là xây dựng cái gì chưa tốt trở thành tốt, chứ không phải xóa bỏ, chống đối. Từ đó mới tạo được sự đoàn kết.
Một điều nữa là Đức Phật có nói mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, mỗi chúng sanh là Phật sẽ thành. Chân lý, đạo lý giống như ánh trăng trên trời cao. Lời dạy của Phật như ngón tay chỉ mặt trăng, không phải là mặt trăng. Chúng sanh nương theo lời Ngài dạy để tìm thấy trăng. Như vậy, Kinh điển là phương tiện, là ngón tay; Giáo hội cũng là phương tiện, là ngón tay. Còn mặt trăng là gì? Chính là sự tu hành nơi tâm của mỗi người. Chúng ta nương theo Kinh điển, nương theo Chư Tăng, nương theo Giáo hội và sau cùng là sự tu hành ở tâm mình. Còn nếu chúng ta cứ chấp chữ nghĩa, chấp Tăng đoàn, chấp Giáo hội thì có nghĩa như chúng ta chấp ngón tay và quên mặt trăng, quên sự tu hành trong tâm mình. Vì vậy, nói đến yêu đất nước quê hương, nói đến cái tình trong đạo, Phật tử chúng ta phải vượt qua được cố chấp, vượt qua được sự chia rẽ nếu có. Lời dạy của Phật là ngón tay, là cái bè giúp chúng ta qua sông. Qua sông rồi phải bỏ bè đi.
Không đoàn kết do ý thức chính trị
Giáo lý và chính trị có liên quan nhau không? Vì tất cả pháp đều là Phật Pháp nên chính trị cũng có mối quan hệ nhất định đối với Phật Pháp. Khi không có Phật Pháp, không có đạo lý, chúng ta nhìn đâu cũng thấy sai. Nếu có đạo lý rồi chúng ta soi đến đâu, ở đó đều biến thành Phật Pháp. Nghĩa là khi có đạo lý, có Phật Pháp chúng ta tới chỗ nào, chỗ đó biến thành Phật Pháp, nhìn đâu cũng thấy Phật Pháp ở đó; còn nếu không có, chúng ta nhìn đâu cũng thấy đen tối, hơn thua, phân biệt, đấu tranh và lỗi lầm.
Chính trị là vấn đề hết sức nhạy cảm. Ví dụ, thời trước, người Pháp muốn xâm chiếm Việt Nam, họ phải đem tinh thần của Kytô giáo vào trước để chia rẽ tinh thần dân tộc Việt Nam. Vì dân tộc Việt Nam thống nhất trên tinh thần Tam giáo đồng nguyên là đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão. Người Pháp đem Kytô giáo vào làm lòng người ly tán. Sau đó họ cắt ba miền Bắc, Trung, Nam riêng biệt, mỗi vùng trực thuộc Pháp. Nghĩa là họ cố tình chia rẽ đất nước mới dễ xâm lược. Ví dụ ngày nay, một đất nước nào đó muốn xâm lược Việt Nam, họ phải làm gì? Trước hết, họ phải phá cho nền kinh tế yếu đi bởi kinh tế quyết định mọi mặt, kinh tế yếu đi thì quốc phòng sẽ yếu... Tiếp nữa là cho lòng người ly tán, chia rẽ; người dân ghét chế độ, chính quyền và chính quyền thì không thương dân. Đó là những âm mưu để thực hiện việc xâm lược.
Thế lực bên ngoài gây tâm lý chống chế độ, chống chính quyền nơi người dân. Ví dụ thời Hồ Quý Ly soán ngôi nhà Trần để thành lập nhà Hồ. Hồ Quý Ly là người rất giỏi. Ngày nay sử sách nghiên cứu cho rằng cùng thời đại với Hồ Quý Ly trên thế giới không người nào giỏi bằng ông, không vị vua nào giỏi bằng ông. Nhưng vì sao triều đại nhà Hồ thất bại? Vì khi quân Minh mang quân sang đánh nhà Hồ đưa ra chiêu bài: Hồ Quý Ly đã chiếm đoạt ngôi nhà Trần, họ đánh nhà Hồ để cứu nhà Trần. Do vậy, dân theo nhà Minh và chỉ trong thời gian rất ngắn đánh tan nhà Hồ.
Nhưng có phải họ thật lòng muốn cứu nhà
Trần? Đó chỉ là âm mưu xâm lược. Cho nên khi lòng dân không thuận, lòng dân với chính quyền không gắn bó thì đất nước yếu đi. Ví dụ thời nhà Thanh bên Trung Hoa. Khi người Mãn Thanh đem quân đánh nhà Minh chiếm hết đất Trung Hoa lập nên triều đại nhà Thanh. Người dân vẫn còn luyến tiếc triều đại nhà Minh nên thành lập những tổ chức chống lại nhà Thanh cho tới lúc nhà Thanh không còn tồn tại. Họ chống đến mấy trăm năm; họ chống từ thời đại này đến thời đại kia, từ vua này đến vua kia, chống cho tới khi chế độ phong kiến không còn nữa; cho tới khi Tôn Dật Tiên thành lập chế độ cộng hòa. Nhưng ngày nay nhìn lại lịch sử, người ta đánh giá triều đại nhà Thanh là triều đại có công lớn đối với đất nước Trung Hoa. Những đời vua như Khang Hy, Càn Long làm cho đất nước Trung Hoa cực kỳ hùng mạnh và có một nền văn hóa rực rỡ. Vì vậy, chúng ta phải hiểu rằng tâm lý chống chế độ là tâm lý nguy hiểm, dễ kích động và thường tồn tại.
Qua mấy nghìn năm, đất nước này đã bị xâu xé qua rất nhiều cuộc chiến tranh nên lòng người đã ly tán quá nhiều. Nhìn lại quá khứ ta thấy lúc thì nhà Trần soán ngôi nhà Lý, tạo thành một đất nước hùng mạnh; khi thì nhà Hồ soán ngôi nhà Trần, vì lòng dân không thuận nên ta đã bị mất nước trong tay nhà Minh... Và còn rất nhiều sự biến chuyển, thay đổi điêu linh khác mà dân tộc ta đã phải trải qua nữa. Tuy nhiên phải hiểu rằng có những sự thay đổi chế độ theo những cơ duyên của trời đất, của số phận dân tộc, nhưng hầu hết những vị lãnh tụ đều có lòng thương dân, thương nước. Dĩ nhiên không có chế độ nào hoàn toàn, nhưng cái phần không hoàn toàn, phần khiếm khuyết đó là phần còn lại mà mọi người phải bổ sung, phải xây dựng. Một đất nước muốn hùng mạnh thì điều quan trọng là trên dưới một lòng đoàn kết với nhau.
Một điều cần lưu ý nữa là chúng ta đừng đòi hỏi tự do một cách tuyệt đối.
Ví dụ một thành phố chợt bị khủng bố đe dọa đánh bom, thế là chính quyền buộc phải ra lệnh giới nghiêm quy định đến quá 11 giờ đêm không ai được ra đường. Người dân thành phố đó có đồng ý và tuân thủ lệnh giới nghiêm đó không? Buộc phải đồng ý. Vì sao? Vì đang lúc tình hình đang có biến loạn, lệnh cấm đó liên quan đến sự an toàn của chính bản thân mình và sự an ninh của toàn thành phố, nên phải chấp nhận sự hạn chế tự do. Cho nên việc hạn chế tự do ở những thời điểm nào đó, trong một lúc nào đó là điều hợp lý đối với một đất nước.
Vì thế sự đòi hỏi tự do một cách tuyệt đối là không bao giờ đúng. Nên từ trong đạo ra đến ngoài đời, nếu ai luôn đòi hỏi một xã hội với sự tự do tuyệt đối thì ta nên suy xét lại quan điểm đó.
Hoặc ta sẽ lấy một ví dụ khác về tự do, đó là tự do ngôn luận. Có rất nhiều cuộc vận động quyết liệt để kêu gọi quyền tự do ngôn luận. Chúng ta thấy rằng việc trình bày quan điểm, tư tưởng của mình là một trong các quyền của con người; tuy nhiên, tự do ngôn luận không bao giờ là tuyệt đối đúng. Tại sao vậy? Vì có những người sẽ nói lên những điều chính đáng, mang tính xây dựng nhưng cũng sẽ có những người nói lên những điều không tốt, thậm chí bậy bạ, gieo rắc tà kiến và tội lỗi trên cuộc đời này mà đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là trẻ em. Những điều bậy bạ khi được phổ biến một cách không giới hạn sẽ tạo thành những khuynh hướng sai lầm trong suốt cuộc sống tương lai của trẻ, bởi lứa tuổi các em chưa đủ sự chín chắn cần thiết và sự đề kháng tâm hồn vững chắc để đánh giá, chọn lọc những điều mình được tiếp nhận. Do đó không phải luôn luôn tự do ngôn luận là tốt.
HỒN THIÊNG CỦA ĐẤT NƯỚC – OAI LINH CỦA TỔ TIÊN SẼ GIÚP CHÚNG TA
Chúng ta tin rằng hồn thiêng của đất nước, oai linh của tổ tiên sẽ luôn luôn giúp đất nước quê hương chúng ta có những thành tựu tốt, đưa đất nước qua từng giai đoạn khó khăn, gian khổ. Đây là niềm tin đối với tổ tiên của chúng ta. Biết bao triều đại có những nhân tài, những hiền tài giúp nước, cứu nước thì những khí thiêng đó không mất mà còn tích tụ trong từng cọng cây ngọn cỏ, từng ngọn núi dòng sông quê hương để bảo vệ, che chở chúng ta, đất nước chúng ta đi lên. Vì vậy, nói tới tình yêu nước là phải nói tới sự gắn bó giữa Nhà nước và người dân. Sự gắn bó ấy có trong lịch sử, thuộc về quá khứ đã qua. Sự gắn bó ấy sẽ phải có ở tương lai sắp tới, chúng ta cũng sẽ bắt tay để chăm lo xây dựng đất nước quê hương có hạnh phúc, an vui và có đạo lý.
Như vậy, trong quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, chúng ta có thể đặt ra hai bổn phận và trách nhiệm:
Một là người dân ủng hộ chính quyền Nhà nước, đó là biểu hiện của lòng yêu đất nước quê hương.
Hai là người dân yêu cầu chính quyền Nhà nước phải có trách nhiệm với người dân ở những mặt sau:
Chăm lo cho tốt đời sống của dân và tăng cường đạo lý, vì đạo đức không bao giờ đủ. (Nhiều khi đi ngang qua các rạp chiếu phim, chúng ta nhìn thấy cảnh hai diễn viên nam nữ thân mật với nhau, ảnh phơi ngoài đường, trẻ em qua lại nhìn hàng ngày; hoặc những ảnh dung tục treo trong các quán cà phê, hình ảnh đó không nên để trẻ em nhìn thấy. Chúng ta không thể nói đó là tự do mà là sự lỏng lẻo của ngành văn hóa thông tin. Và đây là trách nhiệm của Nhà nước). Nhà nước cần phải tăng cường đạo đức, đạo lý trong nhân dân vì đạo đức, đạo lý là truyền thống từ ngàn xưa cha ông để lại, không thể để mất.
Trong nhà trường, học sinh phải được học Đạo đức kỹ hơn, được xem quan trọng cũng như học Toán, có hệ số cao hơn để khuyến khích học sinh. Vì học toán giỏi mà đạo đức không được quan tâm là sai lầm. Theo đạo lý của ông cha chúng ta là “ở hiền gặp lành”, hay “gieo gió gặt bão”. Đạo lý nhân quả này trong đạo Phật rất chuyên sâu, rất chú trọng. Nhà nước cần phát huy đạo đức về nhân quả trong nhà trường cho học sinh để xây dựng lại đạo đức, tăng cường đạo đức, đạo lý cho dân tộc. Điều đó rất quan trọng, làm nền tảng cho đất nước bền vững.
Những trại giam, những nhà tù, phạm nhân phải được học về đạo lý chứ không phải chỉ giam giữ đơn thuần. Phạm nhân phải được nghe các tu sĩ thuyết pháp (theo tín ngưỡng của họ). Các nước làm điều đó rất tốt. Tù nhân còn được cho tu Thiền để cải tạo tâm hồn.
Các nước Mỹ, Anh, Ấn Độ, Thái Lan đã áp dụng cho học sinh tập yoga xem đó là vệ sinh tinh thần, còn việc tập thể dục là vệ sinh thể chất. Việt Nam là một đất nước có truyền thống đạo lý, tâm linh thì tu tập điều đó thật là quan trọng và hữu dụng.
Yêu và bảo vệ đất nước quê hương là tình cảm, là trách nhiệm của dân; bảo vệ và xây dựng đạo đức là trách nhiệm của Nhà nước, của chính quyền. Giữa nhân dân và Nhà nước đều có những trách nhiệm, bổn phận cao đẹp tạo thành sự gắn bó với nhau để đưa đất nước quê hương tiến bộ, phát triển tràn ngập tình thương và lòng từ bi.
Có bao giờ em ước mơ đến thế
Khi quê hương ngập ánh sáng tình thương
Cõi nhân gian đã hiện bóng thiên đường
Vì đạo đức giăng đầy trên mọi lối.
Đời nhân thế sẽ không còn bóng tối
Khi đường đi của nhân quả nghiệp duyên
Được tuyên dương thắp sáng khắp mọi miền
Trong em bé, trong cụ già, trong tất cả.
Và để tình yêu quê hương đất nước được tốt đẹp, được bền vững, chúng ta hãy nhắc nhở với nhau rằng:
Thứ nhất là chúng ta yêu nước trong tình thương yêu chúng sanh, vì tình yêu đó được trích ra từ lòng thương yêu chúng sanh.
Thứ hai là chúng ta đóng góp sức mình cho lợi ích của dân tộc tùy theo khả năng và vị trí của mình.
Thứ ba là chúng ta tạo tình đoàn kết thương yêu khắp nơi, tránh chia rẽ.
Thứ tư là chúng ta xóa bỏ quá khứ chiến tranh, Nhà nước và người dân một lòng hướng về phía trước.
Và điều cuối cùng là phải tăng thêm đạo đức, đạo lý trong nhà trường, trong trại giam để cho đất nước này thành một đất nước đạo đức, thánh thiện, hạnh phúc, an vui.


