Giữa hai bờ Thiện - Ác, Đúng - Sai, thế giới dường như không bao giờ ở trạng thái cân bằng. Vô số điều sai lầm, lệch lạc đã nảy nở như nấm sau mưa vì được số đông tin tưởng tôn thờ; trong khi điều thiện lành hiếm hoi tựa sao sớm bởi con người hờ hững quay lưng.
Theo nhãn quan của đạo Phật thì thế giới có nhiều điều quá dư, những điều dư đó lại không tốt cho con người. Nhưng có những điều rất tốt, rất cần thiết cho con người mà thế giới lại thiếu. Những điều dư và thiếu của thế giới, chúng ta cần bàn để điều chỉnh, bổ sung và tu tập nhằm hướng tới sự lập lại cân bằng cho một thế giới đang mất quân bình.
THẾ GIỚI THIẾU SỰ TRẦM TĨNH
Con người gồm năm ấm (ngũ uẩn): Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Cái ấm thứ hai là Thọ ấm, là hệ thần kinh cảm xúc của con người.
Mỗi ấm đều cần thức ăn riêng. Ví dụ sắc ấm, là cái thân xác này, nó cần thức ăn, đồ uống và không khí. Còn Thọ ấm là hệ thần kinh cảm xúc, luôn luôn khát khao cảm giác, không có cảm giác nó không chịu được. Những cảm xúc, cảm giác luôn luôn thay đổi, nó thích thay đổi để nó không bị nhàm chán. Nghe một chuyện tình buồn, chúng ta có cảm giác buồn. Nhưng cứ đọc hay nghe chuyện buồn mãi thấy chán nên xem hài kịch cho vui. Giống như chúng ta thích thay đổi món ăn cho lạ miệng vậy.
Cảm xúc là trạng thái luôn luôn có trong mỗi con người, chỉ trừ những người có trí tuệ cũng như có căn lành đời trước, họ tin Phật Pháp, tự nhiên họ ham thích Thiền định và chịu cực, chịu đau chân để ngồi nhiếp từng tâm niệm của mình.
Đến ngày nào đó tâm họ lắng xuống, nhiếp được, vượt ra ngoài cảm xúc, họ có được một hạnh phúc khác. Đó là cảm giác an lạc trong Thiền định. Cảm giác này vượt hết những cảm xúc con người tìm thấy trong trần gian này. Đây là sự an lạc trong đạo.
Tuy nhiên, đa số chúng ta chưa có lý tưởng đối với đạo, không hiểu được sự cao siêu của một nội tâm trầm tĩnh, thanh tịnh là như thế nào, nên chúng ta thường đi tìm cảm giác trong sự xao động: buồn phải khóc, vui phải cười, vui quá phải gào thét cho đời sinh động. Nghĩa là người ta phải tìm cảm giác để lấp đầy những khoảng trống trong tâm hồn. Đáng sợ nhất là cảm giác hưởng thụ ma túy, sự hưởng thụ này hủy hoại cả tâm hồn lẫn thể xác con người.
Vì thế, thế giới này luôn luôn biến động, rắc rối, xáo trộn, luôn luôn thiếu sự trầm tĩnh. Nếu hai phần ba con người trên thế giới làm chủ được cảm xúc, tìm được hạnh phúc trong Thiền định, trong sự an lạc nội tâm thì thế giới sẽ yên ổn, hòa bình rất nhanh.
Trong mỗi con người chúng ta có hai trạng thái tâm lý đối lập nhau: một là xao động, dễ bị kích động; hai là tĩnh lặng, trầm tĩnh. Mỗi trạng thái đều có giá trị trong cuộc sống của con người. Trạng thái nào cũng có hay có dở, chứ không phải hay hoặc dở hoàn toàn. Ví dụ, trước nỗi thống khổ của đồng loại, của chúng sanh, chúng ta thấy thương cảm. Cảm xúc đó là điều tốt, điều thiện trong tâm hồn mình. Hoặc là trước sự kích động hận thù giữa hai bên phe phái mà chúng ta vẫn giữ tâm hồn trầm tĩnh, an lành thì sự trầm tĩnh đó lúc này lại là tốt, là cần thiết. Xao động và trầm tĩnh, đó là hai trạng thái đối lập trong tâm hồn con người. Cả hai đều có giá trị.
Tuy nhiên, theo trí tuệ của loài người, ai cũng thấy rằng sự trầm tĩnh biểu hiện một nội tâm có giá trị hơn. Người thường bị kích động, dễ xao động biểu hiện một nội tâm, một tâm hồn còn non kém, thiếu bản lĩnh, thiếu chín chắn, trí tuệ không sâu, dù đôi lúc cũng có giá trị tốt đẹp, nhưng đa phần chứng tỏ sự non kém của tâm hồn. Tu tập thiền định giúp chúng ta đạt được sự trầm tĩnh tuyệt đối hơn; tâm hồn chín chắn, vững chãi, bản lĩnh và trưởng thành hơn, giúp chúng ta đi vào đời với một trí tuệ sâu sắc hơn.
Nhưng hiện nay con người trên thế giới này đang thiếu sự trầm tĩnh, tức là thế giới đang mất quân bình. Người ta đi tìm sự kích động, xao động, mà không đi tìm sự trầm tĩnh. Thế giới đang nghiêng về, nặng về phía xao động nhiều, không quan tâm đến sự trầm tĩnh. Ví dụ về quảng cáo, chúng ta xem trên báo hay trên truyền hình, nhiều người muốn có ảnh hưởng lên quần chúng, họ đều có cách kích động người xem, lôi cuốn người xem vào mục đích của sự quảng cáo mà người xem không hề hay biết. Qua cách quảng cáo, từ một con người bình thường bỗng nhiên trở nên được hâm mộ cuồng nhiệt, nghĩa là từ một giá trị bình thường bỗng trở thành có giá trị cao, vô giá.
Hoặc người ta tìm cách quảng cáo cho một bộ phim. Để cho bộ phim gây được ấn tượng, người ta phải bỏ ra nhiều tiền, làm mọi cách kích động, lôi cuốn khán giả vốn thụ động bỗng có cảm xúc mạnh mẽ. Như trong phim Titanic, diễn viên chính Léonardo Descapio, dưới sự chỉ đạo của đạo diễn bỗng trở nên nổi tiếng, gây ấn tượng, gây xúc động mạnh trong tâm hồn khán giả, nhất là giới trẻ. Đến nỗi những cô gái Nhật xem phim đã gào thét: “Em sẵn sàng chết vì anh”. Ta thấy rằng tuổi trẻ rất hiếu động, rất dễ bị kích động. Còn người lớn vượt qua lứa tuổi đó rồi, nhìn lại thấy mọi chuyện rất ngờ nghệch, trẻ con.
Hoặc những ngôi sao nhạc Pop Rock gào thét, nhảy như điên cuồng, thân mình xâm hình kỳ dị, họ đứng trên sàn diễn và lố nhố những con người trẻ tuổi đứng phía dưới nhảy theo một cách cuồng loạn. Họ bị kích động mạnh, cảm xúc bị lôi cuốn tột độ. Đó là sự hâm mộ lạ lùng đối với «ngôi sao».
Hoặc như bóng đá, người ta khóc, người ta cười, người ta gào thét theo từng đường bóng lăn. Tiếng “dô, dô” của người xem còn mạnh hơn sức đá của cầu thủ. Ban đầu, bóng đá chỉ như một môn thể thao rèn luyện thân thể khoẻ mạnh, nhưng rồi cái tâm hơn thua quá mạnh, sự ham thích trở nên cuồng nhiệt đến nỗi người ta gọi bóng đá như một tôn giáo, một sự cuồng tín của người hâm mộ.
Còn hiện tượng đua xe là sao? Đua xe là đi tìm một cảm giác mạnh, đùa giỡn với tử thần. Với một tâm trạng trống trải, không có lý tưởng và mục tiêu cao đẹp trong cuộc sống, người ta đi tìm một cảm xúc đầy thử thách với sức khỏe, với tuổi trẻ và thường có kết thúc không được tốt đẹp.
Với những cuộc chiến tranh, những vụ xung đột bắn giết nhau, phía sau những mục tiêu về quyền lực, về tiền bạc thì có bom nổ, có bắn giết nhau. Đây là một sự kích động thỏa mãn cảm giác chiến thắng. Nghĩa là khi đè bẹp người khác, bản năng tăng lên, có cảm giác khoái trá. Tranh nhau hơn thua là một cảm giác kích động rất mạnh, làm cho người ta luôn bận rộn, thiếu trầm tĩnh.
Tất cả những điều đó làm cho thế giới này trở nên nặng nề về cảm xúc, người ta đi tìm cảm xúc sôi động hơn là đi tìm nội tâm thanh tịnh, bởi vì người ta không tìm thấy tâm thanh tịnh có một giá trị gì.
Do vậy, người Phật tử phải có trách nhiệm bổ sung cho thế giới này những cảm giác cao thượng
Tình thương yêu nhân loại, tình thương yêu chúng sanh là những cảm xúc cao thượng. Tuy đó là trạng thái động, nhưng cái động đó rất cao quý! Cái động đó nuôi dưỡng chúng ta tìm được tâm định sau này. Hoặc khi nghe nói lụt lội, động đất vùi dập nhiều người, chúng ta xót xa trước nỗi khổ của tha nhân... Báo Tuổi trẻ có đăng tin một sĩ quan Biên phòng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ chặn bắt thổ phỉ buôn lậu ma túy. Trong quá trình truy bắt, những tên thổ phỉ đã ném lựu đạn vào lực lượng biên phòng. Nghĩ đến đồng đội, anh vội chụp trái lựu đạn đó để anh em không bị nguy hiểm. Trái lựu đạn nổ, chỉ một mình anh hy sinh. Chúng ta xót xa và nể phục về anh. Những cảm xúc cao thượng đó là những “cái động” tốt, nuôi dưỡng tâm hồn, chuẩn bị cho chúng ta vào định.
Trái lại, có những cái động đưa con người đọa lạc trong luân hồi sinh tử ở những kiếp sau. Có những cái động sai lầm, hơn thua hiếu thắng, chạy theo cảm xúc của bản năng. Nhưng cũng có những cái động cao thượng của đạo đức như thương yêu đồng loại, thương yêu chúng sinh,... đưa chúng ta dần dần thành tựu được thiền định trong nội tâm. Chúng ta vui trước thành công, trước hạnh phúc của người khác; thấy nhà hàng xóm đỡ phải chịu cảnh mưa dột, nắng rọi chúng ta cũng vui; chúng ta mừng vì biết con của người bạn thi đỗ... những cảm xúc đó làm cho tâm hồn chúng ta trở nên cao thượng.
Có hai cảm xúc, một bên là cảm xúc bất thiện: hơn thua, hiếu thắng, xao động cuồng nhiệt; một bên là cảm xúc cao thượng: thương yêu, xót xa trước nỗi khổ của đồng loại. Người sống có mục tiêu rõ ràng, không sống chỉ để cho qua kiếp người vô nghĩa thì cảm xúc thiện tăng trưởng dần dần. Có những người quanh năm suốt tháng sống một đời cực nhọc, bận rộn, thương yêu, lo toan cho mọi người, đến lúc cuối đời thanh thản ra đi nhẹ nhàng, có khi biết trước được ngày chết của mình.
Còn người nào sống không có lý tưởng, không bao giờ có cảm xúc thiện, không thương yêu ai, có những điều lẽ ra phải làm trong cuộc sống này, có bao nhiêu trách nhiệm lẽ ra phải chu toàn nhưng không thực hiện; đến lúc chết, chết không được, dường như thế gian này còn kéo lại dù sức đã kiệt, lực đã tàn. Người không có lý tưởng thì có cuộc sống rất cạn cợt, không có hướng đi, không có mục tiêu, cũng chẳng làm việc từ thiện thì rất đáng lo ngại cho ngày nhắm mắt. Do vậy, là người Phật tử, chúng ta hiểu thế nào là cảm xúc thiện và bất thiện, thế nào là cái động tốt và không tốt thì phải tu chỉnh, phải xây dựng cuộc sống có lý tưởng để dành cho cuối đời hay cho kiếp sau.
Tuy nhiên, có khi trong xao động mà vẫn có trầm tĩnh, hiền lành ôn hòa, để chúng ta có thể nhìn sâu vấn đề mà đối phó, hành động cho đúng hướng. Đó là dấu hiệu trưởng thành của con người. Ví dụ, khi thấy một tai nạn chết chóc, đau khổ, vì quá thương tâm nên chúng ta thương xót. Cái động tâm đó là tốt nhưng nếu thương xót thái quá sẽ trở thành cái bệnh của tâm. Nhiều khi tốt mà xao động quá cũng làm cho mình mất sáng suốt, không còn làm được việc gì hết. Còn trường hợp thấy người ta khổ mình thương mà lòng mình rất trầm lắng, tìm cách cứu giúp, tức là trong xao động vẫn trầm tĩnh, ôn hòa. Điều này rất cần thiết cho cuộc sống. Thế giới đã quá dư sự xao động và quá thiếu sự trầm tĩnh. Vì vậy, người đệ tử Phật biết trầm tĩnh là một giá trị cho nhân loại, phải bổ sung giá trị đó cho thế giới. Bổ sung bằng cách chính mỗi người phải luôn giữ sự trầm tĩnh, hiền lành ôn hòa, tinh tấn tu tập Thiền định.
Người đệ tử Phật bổ sung cái trầm tĩnh cho thế giới trước hết bằng chính bản thân phải tu tập để nhiếp tâm vào được trong định; đồng thời chúng ta kêu gọi nhiều người cùng tu tập Thiền định, nói đến sự lợi ích của Thiền định, của nội tâm trầm tĩnh, của sự ôn hòa hiền lành để mọi người biết mà cùng nhau tu tập. Chúng ta bổ sung cho điều mà thế giới này còn thiếu, đó là sự trầm tĩnh. Thiền định của Phật giáo là liều thuốc cực quý cho thế giới cuồng nhiệt này.
THẾ GIỚI THIẾU SỰ ĐIỀU CHỈNH HỐ NGĂN CÁCH GIỮA NGƯỜI GIÀU VÀ NGƯỜI NGHÈO
Hiện nay, trên thế giới theo báo cáo mới đây của Ngân hàng Credit Suisse (Thụy Sĩ) cho biết khoảng cách giàu - nghèo trên thế giới tiếp tục mở rộng với 1% dân số giàu nhất sở hữu tổng tài sản lớn hơn tài sản của 50% dân số trên toàn cầu. Một hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo quá xa! Nghĩa là cùng sống chung trên một hành tinh với nhau mà người thì sống quá sung sướng, quá tiện nghi; người thì kiếm một bữa cơm quá vất vả. Có những con người chỉ quấn cái chăn rách để chịu đựng qua mùa đông, còn người thì ở nơi sang trọng như một lâu đài. Người giàu họ giàu lên bằng tài năng, bằng vốn liếng; họ thành công và giàu lên mãi. Người nghèo có thể do thiếu kiến thức, thiếu vốn liếng, thiếu người giúp đỡ và người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Chúng ta không đành lòng thấy có những người quá sung sướng mà cũng có những con người quá nghèo khổ.
Do vậy, cần điều chỉnh lại. Điều chỉnh bằng cách nào? Không phải bằng cách lấy của người giàu phân chia cho người nghèo. Làm như vậy là bất công vì tài sản là da thịt; sở hữu tài sản như là điều gì thiêng liêng đối với con người. Điều chỉnh ở đây là biết nguyên nhân của giàu và nghèo. Giàu nghèo do phước, nên cần điều chỉnh cái phước. Người nghèo, người thất cơ lỡ vận, người không may mắn, không vốn liếng, không ai giúp đỡ; người không được học hành đàng hoàng, người thiếu kiến thức... họ thiếu đủ thứ, mà nguyên nhân trước hết là do thiếu phước.
Muốn cho họ khá lên phải “cho” họ cái phước trước. Có ai cho phước được không? Không. Tự họ phải tạo phước. Vì thế, muốn điều chỉnh cái hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo thì làm sao giúp người nghèo có điều kiện tạo được phước. Đồng thời, chúng ta cũng kêu gọi người giàu biết chia sẻ cho người nghèo. Và người giàu cũng hiểu rằng cố chấp tài sản, bám giữ tài sản là tích lũy cái ác dần dần trong tâm. Đến một lúc nào đó, một kiếp nào đó, cái nhân xấu sẽ cho quả xấu.
Giúp người nghèo có điều kiện tạo phước bằng cách nào? Khi chúng ta tổ chức đi cứu trợ hay khi giúp đỡ người nghèo, không chỉ cho vật chất mà còn phải “gài” đạo đức vào, nghĩa là khuyên họ biết làm phước: lấp cái ổ gà, lấy cây đinh, cái gai giữa đường để tránh cho người khác khỏi té, khỏi đạp nhầm... Những việc làm đó tuy nhỏ nhặt mà nuôi dưỡng được lòng thương người ở họ. Hoặc chúng ta bố thí pháp. Nhằm lúc gia đình họ đang xào xáo bất an, chúng ta tìm đến cho cuộn băng giáo lý hoặc quyển sách giáo lý. Họ cùng nghe, cùng đọc với nhau, giúp gia đình họ đầm ấm trở lại. Hoặc nói cho người nghèo hiểu và tin nhân quả, như “Ở hiền gặp lành”, “Gieo gió gặt bão” hay “Thương người như thể thương thân”... Khi người ta tin nhân quả, người ta sống hiền lành hơn.
Nhân quả nhìn thấy bình thường nhưng đi sâu vào lý luận thì đường đi của nhân quả rất tinh vi. Ví dụ, nói người nghèo do thiếu phước thì ráng tạo phước. Khi có phước rồi giàu lên thì cho rằng phước của “tôi” nên tôi được quyền hưởng, được quyền sống trong thế giới riêng của mình và dửng dưng trước người nghèo khó. Tuy không hề hại ai, không bóc lột hay giành giật, cướp của ai nhưng chỉ nghĩ tôi không gieo nhân gì để trở thành kẻ nghèo nữa, tôi đã làm giàu thì tôi được hưởng theo phước của tôi... Họ quên rằng xung quanh mình còn nhiều người nghèo cần sự giúp đỡ. Trong sự an hưởng giàu sang đó, cái nhân xấu đã rớt vào tâm mà họ không hay, chuẩn bị một ngày nào đó quả xấu xuất hiện. Đây là trường hợp hiểu không chính xác về nhân quả.
Cũng có trường hợp biết nhân quả mà áp dụng không đúng. Ví dụ, có hai trường hợp cho người ăn xin. Một người thất cơ lỡ vận, họ nghèo và họ đi xin ăn, xin sự giúp đỡ của người khác. Chúng ta bố thí cho họ, giúp họ vượt qua khó khăn tạm thời để họ trở lại cuộc sống bình thường, đàng hoàng. Đây là trường hợp đúng. Còn một người tới giờ đi xin thì mặc áo rách, bó chân đi khập khiễng xin ăn; chiều tối về lấy tiền đánh bài, uống rượu. Tại sao người này cứ đi ăn xin hoài? Vì xin được người ta cho nên biến việc đi xin thành một nghề. Người cho không ngờ mình đã nuôi dưỡng nghề xin ăn. Điều này làm cho bộ mặt xã hội kém văn minh mà hiện nay Nhà nước chưa có biện pháp xử lý, sắp xếp lại. Giống như trường hợp bẫy chim đem bán cũng vậy. Do có người mua chim phóng sanh nên mới có người làm nghề bắt chim. Đó là những việc gọi là làm thiện mà không ngờ phía sau là không thiện.
Cho nên, bố thí hay không bố thí là tùy suy nghĩ của mình, miễn sao đừng ích kỷ, vì ích kỷ là có sai ở trong. Ví dụ, nghĩ bố thí có phước sau này sẽ giàu, như vậy không tốt, vì bố thí có cầu phước. Hoặc trường hợp không bố thí, vì nghĩ rằng ai có nghiệp nghèo thì ráng chịu, nếu bố thí là phá nghiệp của người ta, nghĩa là cũng lấy nhân quả ra lý luận để không cho ai đồng nào. Chúng ta điều chỉnh hố ngăn cách giàu – nghèo dựa vào luật Nhân Quả, nhưng luật phải đúng chứ không được lý luận tùy tiện như trên. Tuy nhiên, để gieo duyên, chúng ta cứ mạnh dạn giúp đỡ nhiều người, cho tiền rộng rãi nhiều người càng tốt. Nếu mình có tinh tấn tu tập, biết đi chùa, làm phước thì để họ mắc nợ mình một chút, cũng không sao. Theo nhân quả, mắc nợ người tốt, người biết đạo không sao hết. Có khi kiếp sau lại “rủ” người ta đi tu, họ biết tu cũng tốt hơn (mắc nợ người ác mới khổ).
Việc điều chỉnh hố ngăn giàu-nghèo có nhiều cách: người giàu hết lòng giúp đỡ người nghèo (tài trợ, bố thí...); người nghèo biết tự nỗ lực vươn lên, biết làm phước. Có một cách điều chỉnh, bổ sung tốt đẹp nhất, tích cực nhất là con người cần được giáo dục đạo đức và tin Luật Nhân Quả, để không còn tình trạng những tập đoàn giàu họ cứ giàu tiếp, càng ngày càng thống trị, càng khống chế cả thế giới. Nhiều công ty lớn sáp nhập với nhau, giữa nhiều quốc gia họ sáp nhập lại thành công ty lớn hùng mạnh, từ từ chiếm lĩnh thị trường thế giới; những công ty nhỏ mới nổi lên cạnh tranh không nổi nên bị sập hết. Thế giới không có sự điều chỉnh, nghĩa là không tạo cơ hội công bằng cho con người để cạnh tranh, vì những người có thế lực lớn đã khống chế, chiếm lĩnh hết thị trường. Vì vậy, thế giới cần hiểu sâu sắc và tin rằng luật Nhân Quả bí mật chi phối mọi hành động của con người. Bổ sung những điều trên thì cuộc sống của cộng đồng thế giới hy vọng sẽ tốt đẹp hơn.
THẾ GIỚI THIẾU TÌNH THƯƠNG YÊU MÀ THỪA THÙ HẬN
Hàng ngày, chúng ta xem truyền hình, đọc báo... thấy chiến tranh, xung đột xảy ra khắp nơi trên thế giới. Người ta đưa ra nhiều lý do để chống đối, hận thù nhau; có khi chỉ vì lý do cỏn con bị kích động, người ta không kiềm chế được nên sinh ra chiến tranh, sinh ra hận thù.
Đau lòng nhất, đáng trách nhất là lý do tôn giáo. Tại Indonésia, người ở những vùng Hồi giáo và Thiên Chúa giáo thường bắn giết nhau.
Ngày xưa, ở đây, đa phần người Hoa theo đạo Phật, còn người bản địa có hai tôn giáo: Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Người Hồi giáo nổi lên đốt chùa, đốt những cửa hàng của người Hoa theo đạo Phật, nên người Hoa bỏ chùa, bỏ nhà ra đi. Hồi giáo đánh Thiên chúa giáo, Thiên Chúa giáo không khoan nhượng nên chiến tranh xảy ra. Trong kinh Coran ghi lời của tiên tri Mohamet: “Nếu chúng đánh con, con có quyền giết chúng”. Vì thế, người Hồi giáo coi chuyện giết người là bình thường, và họ cũng coi thường các tôn giáo khác. Họ bắn phá tượng Phật ở Afghanistan. Đây là nỗi đau không chỉ của Phật tử trên toàn thế giới mà còn là nỗi đau của toàn nhân loại. Vì con người hiểu rằng Đức Phật là giáo chủ của một tôn giáo lớn trên thế giới với giáo pháp từ bi, vị tha có biết bao con người tôn thờ. Người Hồi giáo đã dùng súng cối bắn thẳng vào tượng Phật đã có cả nghìn năm trên đất Afghanistan. Hiện nay người Trung Hoa đã phác thảo tượng Phật này về xây dựng ở Trung Quốc.
Người ta chống đối thù hận nhau vì chưa biết tu hạnh nhẫn nhục. Chúng ta phải biết nhẫn nhục, chịu đựng, bỏ qua những điều có thể xảy ra xung đột, hận thù, căm ghét nhau; không tự ái, không để bụng chuyện gì để gây mất lòng nhau. Ví dụ, nhà này lấn nhà kia một hai tấc đất, hoặc vô tình quăng cái giỏ rác rớt qua rào hàng xóm. Đây có thể là lý do để ghét nhau, chống đối nhau mà người chưa biết tu dễ gặp. Chúng ta nhờ đọc kinh, nghe giảng pháp, nhờ tu tập nên tâm lắng xuống, thuần thiện, vượt qua được sự nóng giận. Người đệ tử Phật sống theo lời Phật dạy nhẫn nhục nên tâm trầm tĩnh, lắng xuống để được an lạc, sống vui.
Trong môi trường đạo, cũng do thiếu tu nên vẫn còn ganh ghét, tranh chấp với nhau. Do chưa hiểu sâu sắc đạo lý hiền lành, từ bi nên chúng ta sống chưa đúng với đạo lý Phật dạy. Ở môi trường ngoài đời, sự cạnh tranh nhau về danh tiếng, lợi lộc, kinh tế như là chiến trường: kẻ thắng người thua, kẻ được người mất và hận thù nhau. Có thể nói thế giới này thừa hận thù mà thiếu tình thương yêu. Vì thế, người đệ tử Phật phải bổ sung cái thiếu đó cho nhân loại bằng tình thương yêu. Ở đây, không phải là cân bằng nữa mà tình thương phải lướt thắng hận thù trong thế giới này, trong cuộc đời này, dù chúng ta cũng hiểu rằng tâm từ bi rất khó thành tựu, rất khó xuất hiện.
Biết rằng thế giới thiếu từ bi nhưng thừa thù hận, nên để bổ sung tình thương yêu cho thế giới này, trước hết chúng ta phải tu tập tâm từ bi. Có tâm từ bi mới có thể kêu gọi mọi người thương yêu nhau. Từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ chúng ta biết thương ai; chưa bao giờ ngồi thiền quán tưởng trải lòng từ bi khắp thế gian; chưa bao giờ quỳ trước Phật cầu nguyện Phật gia hộ cho mình lòng thương yêu tất cả chúng sanh trên thế giới này... nếu chưa bao giờ như vậy, thì không bao giờ chúng ta có thể kêu gọi mọi người thương yêu nhau được vì chính mình còn chưa thương ai.
Còn nếu từ lúc nhỏ, chúng ta đã tích lũy được lòng thương yêu con người, thương yêu vạn vật, cỏ cây hoa lá hàng giờ hàng ngày. Rồi khi biết đạo, mỗi ngày chúng ta quỳ trước Phật cầu nguyện đem tình thương yêu đó phủ trùm cả thế giới này. Rồi hàng ngày, chúng ta ngồi thiền quán tưởng từ bi trải khắp thế giới này. Khi chúng ta kêu gọi mọi người hãy thương yêu nhau, thì lời nói chân thật xuất phát từ trái tim có sức mạnh lay động được tâm hồn con người, làm cho con người phải thức tỉnh trước sự khô cằn tình thương của họ.
Ví dụ, có những người sống trên đời chưa bao giờ biết thương ai; thậm chí đến khi lập gia đình cũng không thương người chồng hay người vợ thật tình, mà đó chỉ là những cảm xúc bồng bột nhất thời của thanh niên lớn lên là phải lấy vợ, lấy chồng, vậy thôi, ít bữa lại nhàm chán. Hoặc ở mức độ thấp hơn, người ta có lúc ghét người này, thương người kia, đó không phải là tình thương cao thượng, chan hòa. Với người có thiện căn, khi nghe lời kêu gọi hãy thương yêu chúng sanh là bị lay động, xúc động liền. Nếu lời kêu gọi đó lại xuất phát từ một con người có lòng từ bi được huân tập từ nhiều năm nhiều tháng thì có sức chuyển hóa tâm người khác rất mạnh.
Cũng vậy, để bù vào khoảng trống mà thế giới đang thiếu, người đệ tử Phật phải là những sứ giả mang tình thương yêu, mang đạo lý từ bi của Đức Phật đến với nhân loại trên thế giới này. Bằng cách là hàng ngày, hàng giờ chúng ta phải tu tập tâm từ bi, lúc nào cũng tự nhủ lòng thương yêu mọi người. Mỗi ngày, chúng ta lạy Phật phát nguyện trải lòng từ bi với tất cả chúng sanh. Đến khi tiếp xúc với mọi người chúng ta mới thật sự thương yêu họ. Nhiều năm, nhiều tháng như vậy, trong tâm chúng ta chan chứa từ bi, rồi khi gặp những vấn đề phải giải quyết, chúng ta kêu gọi lòng thương yêu lẫn nhau giữa người với người, vấn đề sẽ dễ thành tựu.
THẾ GIỚI CÒN THIẾU KỶ LUẬT TRẬT TỰ
Thế giới còn thiếu kỷ luật trật tự mà đang thừa tự do, nghĩa là thế giới đang có tự do thái quá. Nguyên nhân của tự do thái quá là do con người bị cực đoan. Ngược về thời đại phong kiến, đất nước là của vua. Vua nắm hết quyền hành trong tay, muốn làm gì cũng được, toàn quyền đối xử với con người. Người dân lúc đó bị áp bức, không có tự do. Đó là một cực đoan. Những nhà chính trị học mới đề xướng một chủ nghĩa ngược lại là dân chủ thay vì quân chủ, người dân lại có quyền tự do tối đa. Đây cũng là một cực đoan. Con người đi từ cực đoan này sang cực đoan khác.
Trải qua một thời gian dài người ta vẫn cho rằng sự tự do dân chủ là chân lý. Nhưng ngày nay, chỉ một số ít nhà chính trị còn giữ thái độ cực đoan, còn thế giới hầu hết đã thức tỉnh trước sự tự do thái quá của xã hội phương Tây. Ví dụ, quy định luật dùng súng. Người ta cho rằng dùng súng để tự vệ khi bị tấn công là hợp lý. Lý luận cũng logic. Nhưng nếu ai cũng có quyền được dùng súng thì tên cướp của giết người cũng có súng. Súng để tự vệ mà cũng để tấn công! Như vậy, chúng ta thấy “tự do” đó gây nguy hiểm cho con người hơn là tạo nên an ninh trật tự. Nếu cản bớt tự do dùng súng, tên cướp muốn giết người cũng gặp khó khăn hơn, xã hội bớt nguy hiểm hơn.
Nhìn khách quan và công bằng, chúng ta thấy thế giới này quá thừa tự do mà thiếu đạo đức, thiếu kỷ luật, trật tự. Chúng ta cùng hiểu với nhau rằng tự do và đạo đức phải luôn luôn cân xứng. Người có đạo đức có nhiều tự do hơn. Người có đạo đức tột độ được tự do trọn vẹn, vì họ không bao giờ làm điều gì sai quấy. Ví dụ, một người có đạo đức như Thánh, họ muốn lên núi, muốn xuống biển, muốn ra nước ngoài cứ cho họ tự do, vì không bao giờ họ làm điều gì sai. Nhưng người không có đạo đức thì phải đề phòng, vì có thể họ đi buôn ma túy. Phải có luật lệ, luật pháp để ràng buộc người thiếu đạo đức. Cho nên, để công bằng thì tự do và đạo đức phải cân đối nhau.
Có ba hạng người. Một hạng người sống theo bản năng, nghĩa là ích kỷ tột độ, nóng giận, căm thù, thương yêu cuồng nhiệt. Người sống theo bản năng bị quả báo là đọa địa ngục, súc sinh (loài thú là loài sống theo bản năng). Một hạng người nữa là bậc Thánh, nghĩa là người có lý trí cao, luôn luôn biết kiềm chế bản năng, làm bất cứ điều gì cũng cân nhắc nhân quả, cân nhắc tội phước. Người có lý trí cao quả báo là họ đi về cõi Thánh (người chứng Thánh là đã thắng được bản năng). Và một hạng người trung dung là loài người chúng ta. Đôi khi chúng ta thắng bản năng vì có lý trí, nhưng đôi khi chúng ta cũng chịu thua bản năng vì lý trí bị thấp một chút, nghĩa là chúng ta không hoàn toàn lướt thắng được bản năng nhưng cũng không quá tệ để hoàn toàn sống theo bản năng. Nói rõ hơn là chúng ta không hoàn toàn sống theo bản năng để trở thành loài thú mà chúng ta cũng không đủ lý trí để trở thành bậc Thánh.
Vì vậy, nơi thế giới loài người này, chúng ta cần có kỷ luật, trật tự; cần sự cấm đoán để không nảy sinh những điều tệ hại do tự do quá đáng. Ngày xưa, trong những gia đình Nho giáo nhờ có nề nếp kỷ cương nên sản sinh và rèn luyện được những con người đàng hoàng, nghiêm túc. Ngày nay, vẫn có nhiều người mơ ước nhập cư sang các nước phương Tây, vì họ nghĩ rằng đó là những xứ sở văn minh, giàu có, sung túc, cuộc sống sung sướng, hạnh phúc. Nhưng nhiều Phật tử Việt kiều cho rằng mặt trái của nó thật khủng khiếp. Sự ràng buộc giữa cha mẹ và con cái rất lỏng lẻo. Trẻ con khó dạy, cha mẹ không được quyền đánh con vì có “Quyền trẻ em” bảo vệ (đánh nó, nó gọi điện thoại cảnh sát đến bắt ngay). Hoặc một cô giáo người Việt dạy học tại Mỹ nói rằng học sinh vô lớp học, ngồi vắt chân lên bàn, giáo viên cũng không được quyền nhắc nhở.
Có một số giáo sĩ Hồi giáo tổ chức cuộc biểu tình gồm một ngàn gia đình, họ kêu gọi xã hội phương Tây tạo cơ cấu gia đình vững chắc hơn. Ở các nước phương Tây tổ chức gia đình quá lỏng lẻo. Con đến tuổi mười tám, không thích ở với cha mẹ, ra ở riêng; chính phủ sẽ cấp nhà, cấp phòng cho ở, nuôi ăn học, sau này đi làm đóng thuế trả lại. Lúc đó cha mẹ không còn quyền gì đối với con nữa. Đó là loại tự do cực đoan. Một loại tự do phá hoại thế giới, không phải loại tự do xây dựng thế giới, làm cho thế giới mất trật tự, kỷ luật.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới tiếp tục đua nhau phát triển kinh tế mà không chú trọng phát triển về đạo đức. Vấn đề giáo dục đạo đức ít được nói đến trong hiến pháp, luật pháp của các quốc gia. Những luật về kinh tế, về doanh nghiệp, giáo dục, tôn giáo... có đủ, nhưng đường lối phát triển đạo đức đưa thành luật không có, hay có mà rất ít... Ngay cả trong chương trình giáo dục của quốc gia, môn đạo đức cũng không được chú trọng, thời gian dạy rất ít. Bản năng và lý trí cứ
“đánh nhau” trong tâm con người, vì không được sự hướng dẫn! Chúng ta tin rằng một ngày nào đó hiến pháp các quốc gia sẽ sửa đổi lại: Phải phát triển đạo đức là chủ yếu; phải cân đối giữa đạo đức và tự do con người. Điều mà con người cần hiện nay là một thế giới có đạo đức, có trật tự, an ninh chứ không phải là một thế giới quá tự do.
THẾ GIỚI CÒN THIẾU CHI PHÍ GIÁO DỤC
Thống kê sau đây làm chúng ta ngạc nhiên. Chi phí cho quân sự trên khắp thế giới một năm là ba ngàn tỷ đô la, chi phí để các cô mua sắm mỹ phẩm là mười hai tỷ đô la, trong khi đó chỉ cần năm tỷ đô la là người ta tạo nên giáo dục toàn cầu hoàn chỉnh mà không có. Những nước nghèo ở châu Phi, châu Á rất cần chi phí giáo dục mà không đủ.
Bản thân mỗi chúng ta cũng cần xét lại việc sử dụng đồng tiền. Chúng ta có thể thoải mái bỏ ra số tiền năm trăm ngàn hay một triệu đồng để mua một bộ quần áo hoặc thứ gì đó mà không ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Có khi nào chúng ta nghĩ đến những giáo viên dạy ở vùng sâu, vùng xa trong những lớp học bằng tre; họ ngồi chấm bài bên ngọn đèn khuya và bụng đói vì hết gạo. Chúng ta không nhìn thấy những cảnh đó mà đồng cảm, bớt xài phí một chút để có thể lập quỹ giáo dục, quỹ từ thiện dành cho giáo dục, làm tăng chi phí giáo dục hơn. Giúp đỡ đời sống giáo viên, giúp đỡ học sinh nghèo có cơ hội tiến thân cũng tạo được phước lớn.
Cũng như chính bản thân chúng ta thấy xài phí cho mình thì dễ nhưng nghĩ đến việc chia bớt đồng tiền, san sẻ giúp đỡ một trường học nào đó thì chúng ta thấy khó. Và đó cũng là tâm lý chung của cả thế giới này. Ba ngàn tỷ đô-la cho vũ khí, mười hai tỷ đô-la cho mỹ phẩm và chưa đầy năm tỷ đô-la cho giáo dục. Vì thế, nhiều người vẫn còn thất học, nhiều trẻ em vẫn còn đi kiếm miếng ăn mà không được đến trường khắp các nơi trên hành tinh này. Một điều bất hợp lý trên thế giới đến bao giờ mới đi đến công bằng?
Cho nên, những nhà lãnh đạo các quốc gia phải suy nghĩ lại, phải thay đổi tư duy về giáo dục, dành tiền nhiều hơn cho giáo dục. Giáo dục tốt mang lại hiệu quả gì? - Đào tạo được nhiều công dân có đạo đức tốt, có năng lực phục vụ nhiều cho xã hội, trong đó ưu tiên giáo dục đạo đức thì thật là một diễm phúc cho nhân loại, cho mỗi quốc gia. Do vậy, thế giới cần điều chỉnh chi phí giáo dục, trước hết là điều chỉnh nơi tâm của mình, nơi cuộc sống của mình, bớt xài phí để hỗ trợ thêm cho giáo dục.
THẾ GIỚI THIẾU MỘT LẼ PHẢI CHUNG
Thật ra chân lý chỉ có một. Nhưng con người đặt ra quá nhiều lý thuyết và ai cũng cho rằng mình đúng. Sự thật chân lý chỉ có một. Một đó chỉ bằng dấu chấm cây viết chì, trật ra khỏi dấu chấm cây bút chì chỉ nửa ly thôi cũng sai với chân lý (ý trong tác phẩm «Góp nhặt cát đá», Nhật Bản). Cái mức độ chuẩn xác của chân lý là như vậy. Chân lý của cả thế giới này chỉ nằm trong đầu chấm cây bút chì! Nếu tất cả loài người giác ngộ, có trí tuệ thấy được chân lý đó thì nhân loại sẽ thành đồng nhất, đại đồng.
Nhưng rất tiếc, cái chấm của chân lý đã chệch một tấc, một thước, hai thước. Chẳng những thế mà người ta còn chấm chỗ khác, một “chân lý” khác ngược hẳn lại để tôn sùng. Ví dụ, con người sống trên đời đối xử tốt với nhau, thương nhau, nhẫn nhục chịu đựng nhau; hiền lành, không hận thù... là chân lý chung. Tôn giáo nào cũng cố đề cao chân lý đó, nhưng nó quá rộng, rộng như cả vòng tròn chứ chưa gom lại được bằng cái đầu chấm. Điểm chuẩn xác vẫn là hiền lành như thế nào, thương yêu như thế nào, nhẫn nhục như thế nào, con người phân tích cho rõ, gom lại thành một điểm, đó mới thật sự là chân lý chung của nhân loại. Nhưng người ta còn “bận tâm” đi tìm cái gì khác ngoài cái điểm chung chân lý. Vì còn có những điều đi ngược với lẽ phải nên loài người vẫn mãi phân hóa, chia rẽ nhau.
Mỗi thời đại, mỗi quỗc gia thường có những triết gia về cuộc sống. Vào sáu trăm năm trước Công nguyên, Đức Phật xuất hiện bên Ấn Độ, từ đó có đạo Phật. Song song với đạo Phật có Jina giáo xuất hiện, cũng có nhiều tín đồ nhiệt liệt cổ vũ cho Jina giáo. Và đồng thời ở Trung Hoa có hai nhà đại tư tưởng xuất hiện là Lão Tử và Khổng Tử. Khổng Tử dạy con người sống có kỷ cương, xã hội có nề nếp trật tự. Lão Tử dạy con người sống phóng khoáng, thênh thang, vô tư, hư vô. Lão và Khổng sống cùng thời, trong cùng một quốc gia mà hai tư tưởng khác biệt nhau.
Tuy nhiên, sau này các nhà nho đã phối hợp hai tư tưởng trên thành đạo Nho. Những nhà Nho khi xuất, khi xử hợp thời hợp lý. Khi xuất tức là khi bước ra ngoài xã hội làm việc, họ ứng dụng đạo Khổng đâu ra đó, nề nếp trật tự, đạo đức, lễ giáo rõ ràng. Khi xử, tức là lúc lui về ở ẩn, họ sống theo tinh thần đạo Lão: phóng khoáng, vô vi, hư vô. Khi đạo Phật phát triển đến Trung Hoa, những nhà Nho lại kết hợp thêm tư tưởng siêu thoát của đạo Phật. Tư tưởng đạo Phật mang tính toàn diện: vừa chặt chẽ nề nếp của luật Nhân Quả, vừa tôn ti trật tự mà lại vừa siêu thoát, vượt khỏi thế gian, vượt khỏi luân hồi. Ba tư tưởng Phật, Lão, Khổng không chống trái nhau mà bổ sung tạo thành một triết lý sống cho con người tương đối hài hòa. Có thời gian các vị cũng chống nhau. Lão giáo chống Phật giáo, Khổng giáo cũng chống Phật giáo. Nhưng rồi cũng có những vị Thánh vượt lên, kết hợp được ba tôn giáo lại gọi là Tam giáo đồng nguyên, nghĩa là ba tôn giáo cùng một nguồn, cùng một trí tuệ giác ngộ. Vì thế mà phần lớn mọi người đã đoàn kết, đã hòa hợp, đã có tiếng nói chung.
Còn rất nhiều nơi trên thế giới chưa tìm được tiếng nói chung do con người phân hóa nhiều tư tưởng khác nhau. Trong thời đại ngày nay, có một tiếng nói chung mà không ai có thể phủ nhận.
Những thành tựu khoa học luôn luôn là tiếng nói chung thuyết phục nhất. Ví dụ, những định lý về toán học, những thí nghiệm về vật lý học... một khi đã được chứng minh chặt chẽ thì dù ở châu Phi, ở Ai Cập, ở Mỹ, ở Việt Nam... đều có kết quả giống nhau. Cho nên, phát hiện của khoa học là tiếng nói chung của nhân loại thuyết phục nhất, không ai phủ nhận được. Nhưng tiếc rằng khoa học chỉ là một khía cạnh của cuộc sống loài người chứ không là tất cả. Khoa học chỉ đưa đến phương tiện mà chưa đưa đến đạo lý cho cuộc sống.
Mỗi người sử dụng khoa học theo một quan điểm riêng. Có người dùng thành tựu của khoa học mang lại lợi ích, tiện nghi cho con người. Cũng có người lợi dụng khoa học kỹ thuật cho mục đích riêng, làm tổn hại lợi ích chung như vũ khí giết người hàng loạt... Dù khoa học là tiếng nói chung nhưng vẫn chưa thật sự đem lại cái chung cao đẹp nhất cho loài người. Đạo lý sống chung nhất của con người là điều mà thế giới còn thiếu.
Vì vậy, thế giới cần một nền đạo lý chung, nói cách khác, thế giới này cần một tôn giáo chung. Nói đến tôn giáo là nói đến khía cạnh tâm linh, siêu hình. Những vấn đề mắt thấy tai nghe như xã hội, chính trị, luật pháp, kinh tế, đời sống... đã có những nhà xã hội, chính trị, nhà luật pháp, nhà khoa học, bác sĩ, kỹ sư quan tâm. Còn những vấn đề về tâm linh, siêu hình thuộc về phạm vi tôn giáo. Nhưng chúng ta thấy chưa có chân lý chung cho các tôn giáo. Mỗi tôn giáo đưa ra một chân lý. Giữa muôn ngàn tôn giáo khác nhau, chắc chắn có những tôn giáo đúng, có tôn giáo sai. Vì chân lý chỉ có một. Ví dụ, nói vũ trụ này có luật Nhân quả Nghiệp báo bí mật chi phối cuộc sống của con người. Người gieo nhân lành được quả lành, người gây nhân xấu chịu quả xấu. Nếu điều đó là chân lý thì điều ngược lại là phi lý. Nếu luật Nhân quả Nghiệp báo là chân lý thì ai nói rằng không có luật nhân quả nghiệp báo tồn tại trong thế giới này là người đó nói sai.
Hoặc một số tôn giáo nói rằng vũ trụ, trái đất này do Thượng đế tạo ra, khoa học không chấp nhận. Khoa học cứ đi tìm nguồn gốc tạo ra các tinh thể, các thiên thể, các hành tinh. Thậm chí khoa học còn tìm ra giây phút ban đầu vũ trụ được tạo ra như thế nào. Như vậy, giữa tôn giáo và khoa học phải có một bên đúng, một bên sai. Nếu tôn giáo nói thế giới này do một Thượng đế tạo ra thì khoa học sai. Còn nếu khoa học đúng, nghĩa là không có Thượng đế nào tạo ra thế giới này, mà do nhiều điều kiện của vật chất biến thiên tạo thành thì tôn giáo đó sai. Chỉ chọn một không thể chọn cả hai.
Tuy nhiên, con người cần phải thức tỉnh, có những điều chúng ta đã tin, những điều mà trước khi chúng ta có mặt, hằng bao nhiêu thế kỷ nay ông cha chúng ta đã tin, nhưng nếu ngày nay, những điều đó được chứng minh là sai thì chúng ta phải như thế nào? Phải mạnh dạn từ bỏ, nếu chúng ta là con người khao khát đi tìm chân lý. Chúng ta không tự ái, vì có những người tự ái, biết sai mà vẫn giữ cái sai. Tự ái, ôm giữ tà kiến là bất lợi cho chúng ta, sẽ đưa chúng ta đến đau khổ. Chúng ta không tôn thờ điều không phải là chân lý dù điều đó đã được tin mấy nghìn năm qua. Ngày nay, nếu điều đó được chứng minh là sai, chúng ta phải nhanh chóng khước từ để tìm đến với chân lý, với lẽ phải.
Trong tôn giáo, lý tính ít, cảm tính nhiều. Trong khoa học ngược lại, lý tính là tột độ, không chấp nhận một góc độ nhỏ của cảm tính; chúng ta không được quyền thương hay ghét khi nó hiển nhiên là sự thật. Ví dụ, nước sôi ở một trăm độ (100oC), dù anh có thích hay không, nước vẫn sôi ở một trăm độ. Trong khoa học, không có chỗ đứng cho cảm tính. Nhưng trong tôn giáo, chỗ đứng của cảm tính rất nhiều. Đó là lý do trong tôn giáo có những điều dù biết sai người ta vẫn quyết bảo vệ. Đọc qua giáo lý các tôn giáo, chúng ta thấy tôn giáo nào cũng có đức tin. Người nào chống tôn giáo thì gọi đó là kẻ thiếu đức tin. “Các con phải tin và nuôi dưỡng đức tin”, hầu hết các tôn giáo đều có niềm tin như thế, trừ Phật giáo. Người đệ tử Phật không vội tin vào bất cứ điều gì khi chưa xem xét cẩn thận điều đó.
Do cảm tính cao trong tôn giáo, do tự ái, nên đôi khi người ta bảo vệ tôn giáo bằng thủ đoạn, bằng bạo lực. Vì vậy, đến hôm nay, chúng ta vẫn chưa có một tôn giáo chung, một đạo lý chung, một lẽ phải chung. Nếu một ngày nào đó, các tôn giáo biết thức tỉnh, biết tăng lý tính (lý trí) trong đạo của mình, nghĩa là sẵn sàng từ bỏ giáo điều nào sai. Giữ lại giáo điều đúng, loại bỏ giáo điều sai, dần dần các tôn giáo sẽ gặp nhau ở một điểm chung là lẽ phải. Ví dụ, có ai đó chứng tỏ được luật Nhân Quả là sai thì người đệ tử Phật cũng không tự ái và chấp nhận gạt bỏ điều đó ngay. Nhưng không ai chứng minh được luật Nhân Quả sai thì người đệ tử Phật chấp nhận, vì đó là chân lý tuyệt đối. Nói câu này cũng hơi có cảm tính, nhưng sự thật là vậy! Hy vọng một ngày nào đó khoa học tiến bộ sẽ chứng minh được luật nhân quả nghiệp báo là chân lý. Chân lý này là nền tảng đạo đức sẽ không thể thiếu trong bất kỳ xã hội nào.
Kêu gọi đạo đức cho con người mà không đặt trên nền tảng nhân quả nghiệp báo thì rất khó, rất khó tạo thành nền tảng đạo đức sâu dày trong tâm hồn con người. Tâm lý chung của con người là khi làm được điều gì tốt cho ai thường muốn nhận được phần thưởng. Ví dụ, người trẻ tuổi đầy nhiệt huyết, họ nhiệt tình hy sinh sức lực, năng lực đóng góp cho xã hội. Đến lúc bốn mươi lăm, năm mươi tuổi nhìn lại sự đóng góp cho xã hội của mình họ muốn có phần thưởng xứng đáng. Họ tìm phần thưởng bằng cách nào? Nếu có quyền chức, họ tham nhũng, nếu không có quyền chức, họ luồn lách làm ăn để giàu có hơn so với cái họ đã đóng góp. Họ tìm phần thưởng bằng cách tham nhũng hay luồn lách làm ăn cũng đạt được do họ đã có phước (từ sự đóng góp cho xã hội). Đây là cách tìm phần thưởng của người không tin nhân quả, họ dễ bị mang tội và nhận quả báo xấu.
Còn người tin nhân quả, không tự tìm phần thưởng mà để phần thưởng tự đến bởi quả báo, đến một cách nhẹ nhàng, may mắn, tự nhiên. Gượng gạo đi tìm phần thưởng cho mình bằng những việc làm bất chính thì cũng sẽ được hưởng, sẽ thành công nhưng rồi cũng sẽ mang tội. Chúng ta thấy người ở giai đoạn đầu cuộc đời nỗ lực, hy sinh, dấn thân. Tới giai đoạn trung niên tự tìm tư lợi cho mình thì không có đạo đức sâu. Ở đây, chúng ta kêu gọi đạo đức con người phải đặt trên nền tảng nhân quả nghiệp báo. Luật Nhân quả Nghiệp báo phải được giáo dục trong nhà trường để mọi người hiểu, tin và hành xử theo đạo lý nhân quả. Nếu thế giới làm được điều đó thì các tôn giáo sẽ gặp nhau ở điểm chung này.
***
Chúng ta vừa bàn đến những điều thế giới còn thiếu, như thế giới thiếu sự trầm tĩnh; thiếu sự điều chỉnh hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo; thiếu tình thương yêu; thiếu kỷ luật trật tự (mà thừa hận thù, thừa tự do); thiếu chi phí cho giáo dục; thiếu một lẽ phải chung. Những điều thế giới còn thiếu phải được bổ sung, điều chỉnh. Trước hết là bổ sung luật Nhân quả Nghiệp báo công bằng; thứ hai là lòng từ bi yêu thương chúng sanh; thứ ba là trí tuệ Vô ngã và thứ tư là phương pháp tĩnh tâm Thiền định. Bốn điều này có thể làm đạo lý chung cho các tôn giáo trên thế giới. Được như thế, con người sẽ dễ dàng nhích lại gần nhau hơn.
Người đệ tử Phật chúng ta phải bổ sung bằng chính sự tu tập, bằng lòng từ bi, bằng sự kêu gọi nhắc nhở lẫn nhau để cùng đem đến sự quân bình, tốt đẹp cho thế giới. Chuyện thế giới bao la nhưng sự điều chỉnh, bổ sung lại đặt trách nhiệm nơi từng người sống trên hành tinh này.


