CÔ ĐỘC VÀ CÔ ĐƠN KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?
Trong cuộc sống nhiều khi chúng ta cô đơn, chứ không cô độc, cũng có khi chúng ta cô đơn mà nghĩ rằng mình cô độc. Ở đây, chúng ta nói đến cô độc và cô đơn là nói đến mối quan hệ giữa người với người, giữa con người với Phật Pháp. Chúng ta cũng cần phân biệt cho rõ về nghĩa của hai từ này để tránh sự nhầm lẫn.
Trong khi cô độc thiên về vật lý, thể chất thì cô đơn gắn với khía cạnh tinh thần. Cô độc là chỉ có một mình, ít đi lại với ai, không tiếp xúc với ai, tách khỏi mọi liên hệ với chung quanh. Như sống một mình hoặc bị lạc nơi hoang đảo, nơi rừng sâu. Cô độc có hai nghĩa: một là bắt buộc, hai là tự nguyện. Ví dụ, người tu trong đạo Phật khi đến thời kỳ nhập thất sẽ vào thất đóng cửa lại tu hành và không tiếp xúc, nói chuyện với bất kì ai, kể cả người hộ thất (người mang cơm nước đến). Đạo Phật gọi đó là cuộc sống độc cư, tức là sống một mình một cách tự nguyện. Còn lại trong cuộc đời gần như không có khái niệm tự nguyện sống độc cư, chỉ có những người cô độc do hoàn cảnh. Gọi là sống cô độc khi có người vì hoàn cảnh không ai đến với mình hoặc mình không sống được với ai. Trường hợp bị hoàn cảnh bắt buộc như người già không con cái hay con cái ở xa, hàng xóm không thể lui tới được, gọi là sống neo đơn. Xã hội càng văn minh thì tình trạng người già neo đơn không con cái sẽ dần nhiều hơn. Khi những người con đã trưởng thành, họ có hướng đi, có tương lai của riêng mình rồi rời xa gia đình mà lập nghiệp, để lại cha mẹ nơi quê nhà trong cô quạnh. Đây là một thảm trạng không hay của xã hội. Dù do hoàn cảnh bắt buộc hay do con người tự nguyện, cô độc đều liên quan đến thể chất. Riêng cô đơn thì hàm ý về tinh thần.
Cô đơn không hẳn là sống một mình, nhiều khi vẫn tiếp xúc, vẫn giao du mà không có sự đồng cảm, thông cảm, chia sẻ của người khác. Một người có thể sống giữa nhiều người nhưng điều tốt, thiện chí hay tâm tình riêng tư ít ai hiểu, ít ai thông cảm để chia sẻ buồn vui. Cô đơn có hàm ý về tinh thần hơn thể chất. Một nhà văn đã than thở: “Đi giữa rừng người mà như đi trong sa mạc”. Một ca sĩ hát: “Ngoài kia tuyết rơi đầy, có nỗi cô đơn nào không đau, nhớ thương biết bao giờ qua mau...”. Cô đơn là một nỗi đau, nhưng là nỗi đau thú vị, ngọt ngào, êm dịu, không phải là nỗi đau oằn oại, tàn tạ như những nỗi đau khác. Ai đã từng cô đơn thì cảm nhận được nỗi đau êm dịu, ngọt ngào này. Vì thế cô đơn vẫn luôn là đề tài phong phú của nhiều văn nghệ sĩ.
Có những người tự giữ cuộc sống riêng, giữ tâm tình riêng của mình như một ốc đảo, không đi vào cuộc đời ai, cũng không để cho ai đi vào cuộc đời mình; không chia sẻ với ai điều gì, cũng không bày tỏ tâm tình cuộc đời mình với ai. Người này tự nguyện sống cô đơn, người ngoài không hiểu họ như thế nào. Nhưng có những người bị sống cô đơn, tức là họ cũng muốn chia sẻ với người khác về điều tốt, về thiện chí, về tâm tình riêng nhưng không được ai quan tâm, không ai đồng cảm mà có khi còn bị hiểu lầm, bị ganh ghét, đây mới thật sự là nỗi đau. Nỗi cô đơn nào không đau là vậy.
Cô đơn thường hàm ý về những điều tốt, lành mạnh, vẫn trong sáng dù ít ai hiểu, chứ không phải là điều xấu mà không được người khác hiểu. Còn người có cuộc sống hai mặt, có tì vết của quá khứ cần che đậy, có âm mưu đen tối không được ai đồng lòng, hưởng ứng theo thì không được gọi là cô đơn. Thời xưa, Điền Khắc Kim là tên cướp nổi tiếng (sau này bị chết trong tù), khi tổ chức đánh cướp, không bè không đảng, chỉ một mình đi “ăn hàng”. Sự cô độc, cô đơn thật kì lạ như vậy.
Khác với người cô đơn là người có nhiều tri kỷ. Tri là biết, kỷ là mình; tri kỷ là biết, là hiểu được mình. Người nào hiểu được mình, hiểu điều tốt và thông cảm, trân trọng, quý mến điều riêng tư của mình, gọi là người (bạn) tri kỷ. Ví dụ, một sinh viên sức học cũng bình thường nhưng nuôi mộng nghiên cứu đề tài lớn: Tìm phương cách chữa trị bệnh AIDS... Điều này như là không tưởng, vì hiện nay trên thế giới thật sự chưa chữa được bệnh AIDS, hoặc chưa chính thức công bố chữa được bệnh AIDS. Ước mơ này nói ra, người sinh viên sợ bị người ta cười. Người sinh viên vừa học nhưng vẫn vừa âm thầm tìm tài liệu, nghiên cứu, làm thí nghiệm. Có một người bạn đồng cảm với ước mơ đó của người sinh viên, không cho việc làm này là không tưởng, là ảo tưởng mà lại tin tưởng. Sự tin tưởng đó gọi là tri kỷ. Tin tưởng rằng một ngày nào đó, người sinh viên này có những bước tiến đóng góp cho nền y học nhân loại nên người bạn mới động viên, khuyến khích và âm thầm giúp đỡ chi phí. Người bạn như vậy mới thật sự là người tri kỷ.
Một người có tài năng, có chí nguyện lớn mà có được một người tri kỷ thì không gì hạnh phúc bằng. Nói đến tri kỷ là chúng ta nói đến những người có thể biết, hiểu và chia sẻ những ước mơ, những ước nguyện cao đẹp của mình, (chứ chúng ta không nói đến những điều lặt vặt như ước mơ trúng số đề, đánh bài... có người ủng hộ thì không gọi là tri kỷ).
Ngày xưa, có một đôi bạn tri kỷ tiêu biểu trong lịch sử là Bảo Thúc Nha và Quản Trọng. Hai người phò hai vua khác nhau. Sau đó, vua của Bảo Thúc Nha thắng vua của Quản Trọng. Nhưng Bảo Thúc Nha không đủ sức phò vua là Tề Hoàn Công. Tề Hoàn Công muốn tìm người làm Tể tướng, Bảo Thúc Nha tiến cử Quản Trọng (xưa là kẻ thù của vua nhưng vua nghe lời tiến cử). Nhiều người ngạc nhiên hỏi Bảo Thúc Nha: “Người này đánh trận đi đằng sau anh, khi chiến thắng chạy về trước anh, lãnh tiền thưởng chia phần nhiều hơn anh. Con người như vậy không tốt, sao anh lại tiến cử?” Bảo Thúc Nha trả lời: “Không đúng vậy đâu. Anh ta muốn bảo toàn thân mạng vì anh ta còn mẹ già ở nhà. Anh ta đánh trận đi đằng sau vì không muốn chết sớm, không phải vì anh ta sợ chết mà vì còn mẹ già”, có một người hiểu bạn như vậy thật quý, thật hạnh phúc. Khi thắng trận, Quản Trọng lật đật chạy về trước để thăm mẹ, đó là hiếu; khi chia phần thưởng, ông dành phần trước, lật đật đem về cho mẹ chứ không phải do tham. Những biểu hiện dường như là xấu nhưng thực sự động cơ rất tốt. Hiểu được cái tốt tiềm ẩn bên trong của một con người không dễ. Đa phần người ta chỉ thích nghĩ xấu về người khác, dù biểu hiện không xấu nhưng người ta vẫn cho là xấu. Huống chi ở đây, Quản Trọng có biểu hiện xấu mà Bảo Thúc Nha hiểu được cái tốt tiềm ẩn bên trong thì thật là người tri kỷ tuyệt vời nhất trong những người tri kỷ trên thế giới này. Trong cuộc đời mỗi người chúng ta mà có được người tri kỷ như vậy thì dù có chết cũng xứng đáng, cũng hạnh phúc.
Còn trường hợp của Kinh Kha thì không giống như vậy. Thái tử Trịnh muốn giết Tần Thủy Hoàng mới đi tìm một tráng sĩ. Kinh Kha được gọi là tráng sĩ vì có võ công siêu đẳng, thuộc hàng cao thủ. Thái tử tìm mọi cách để lấy lòng Kinh Kha. Người thiếp của Thái tử hầu nước cho Kinh Kha, có bàn tay rất đẹp. Kinh Kha nhìn thấy bàn tay đẹp nên xuýt xoa. Khi Kinh Kha về tới nhà, thái tử cho người mang hộp quà tới tặng. Quà tặng là bàn tay của người hầu thiếp. Thái tử Trịnh hiểu Kinh Kha mà tặng món quà đó là ác chứ không phải tốt. Nhưng Kinh Kha bị lạc lòng, không nhìn ra được cái ác của người này. Kinh Kha cho rằng người này hiểu mình, quý mình nên lên đường tiến hành việc giết Tần Thủy Hoàng để đáp lại lòng người tri kỷ. Kinh Kha thất bại (vì người chủ mưu không có đức). Đây cũng là trường hợp vì tri kỷ mà chết. Thật sự, cái chết của Kinh Kha không xứng đáng.
Nếu cô đơn có nỗi đau, nỗi cay đắng như thế nào, thì ngược lại, có người tri kỷ hạnh phúc, sung sướng như thế đó. Có tri kỷ là có người ủng hộ, tin tưởng, hiểu mình. Người tri kỷ không chỉ biết được ưu điểm mà còn hiểu và thông cảm với khuyết điểm của mình. Vì người tri kỷ biết rằng ưu điểm của người bạn lớn hơn khuyết điểm và còn biết rằng người bạn sẽ vượt qua được khuyết điểm, không chê cười khuyết điểm của bạn. Có một người độ lượng với bạn, hiểu bạn sâu sắc như vậy thì đó là tri kỷ. Trong đời, người ta không dễ gì tìm được người tri kỷ.
Ví dụ, chúng ta có tính kiêu ngạo bị nhiều người ghét. Nhưng có một người biết tính kiêu ngạo đó có lúc sẽ không còn. Người này biết rằng những người có suy nghĩ sâu sắc, thông minh, hiểu đạo lý, hiểu Phật Pháp, sống với thiện tâm và lòng thương người, làm việc từ thiện, đang suy nghĩ tập sống theo lý vô ngã... thì chắc chắn rằng kiêu ngạo đó từ từ sẽ được chiết phục. Nghĩa là có một người hiểu được nhược điểm của chúng ta mà độ lượng, tin tưởng chúng ta sẽ vượt qua được và cũng tin thiện tâm nơi chúng ta lớn hơn nhược điểm, khuyết điểm. Đó là một người tri kỷ. Trong đời của mỗi người “có những niềm riêng làm sao nói hết” mà lại có người tri kỷ hiểu mình là một hạnh phúc lớn lao.
HIỂU QUA VÀI NHÂN VẬT CÔ ĐƠN TRONG LỊCH SỬ
NHÂN LOẠI
Trong lịch sử nhân loại có những người tài năng lớn nhưng do tư tưởng vượt xa thời đại nên ít ai hiểu được họ, đến khi họ chết rồi người ta mới hiểu được chút ít. Đó là những vĩ nhân, là những người thường có cảm giác cô đơn trong cuộc sống.
Trong số này có thể kể đến Van Gogh - một danh họa người Hà Lan. Thuở sinh thời, ông phải sống trong cảnh nghèo túng cùng cực vì những bức tranh của mình không ai mua. Mãi đến sau cái chết của Van Gogh, những tác phẩm hội họa này mới bắt đầu nổi tiếng và có giá. Ông có người bạn là bác sĩ, có lần ông đã gây gổ và lỡ đánh bạn. Sau đó, để thể hiện sự hối hận mà không có gì để tặng bạn, nên ông đã đem tặng bức tranh vẽ chân dung tự họa của mình. Chúng ta phải hiểu rằng: Người họa sĩ mà đem tặng bức chân dung tự họa của mình là một món quà tinh thần rất lớn, rất quý. Trong tranh của Van Gogh, những nét cọ đi thành từng bệt nhưng ghép lại sẽ tạo thành bức tranh rất sáng tạo, rất khó bắt chước.
Sau khi được nhận bức chân dung, vị bác sĩ cũng cảm ơn nhưng nhìn mãi ông vẫn không thấy nó đẹp ở chỗ nào. Trong khi những nét vẽ của người khác rất mềm mại, tinh tế, toàn bức tranh được tô màu chăm chút từ đậm sang nhạt, nhìn mịn màng thì bức vẽ của Van Gogh chỉ là từng bệt khô cứng, mặc dù ghép lại cũng thành bức chân dung giống Van Gogh thật nhưng vị bác sĩ vẫn không thấy cái đẹp nằm ở đâu. Van Gogh vừa quay lưng, bác sĩ đem bức tranh chặn chuồng gà. Ngày nay, người ta tìm được bức tranh đó. Giá hiện nay của bức chân dung tự họa Van Goch khoảng bảy triệu đô-la. Vậy mà hồi đó, người họa sĩ lừng danh đã chết trong nghèo khổ, bệnh tật và cô đơn.
Ở Trung Hoa có một nhà tư tưởng lớn là Vương An Thạch. Ông đưa ra những đường lối cải cách rất giống với thời đại ngày nay, nhưng ông thất bại và bị truất quyền, phe bảo thủ nắm quyền. Đây cũng là trường hợp cô đơn vì có tư tưởng vượt xa thời đại, người đồng thời không hiểu nổi.
Ở Việt Nam có Hồ Quý Ly, một người có cái nhìn sắc bén, nhìn xa trông rộng. Vào thời đó không riêng nhà Trần mà cả đạo Phật cũng đã bắt đầu suy. Chúng ta thường nghe nói đời Lý, Trần đạo Phật Việt Nam rất thịnh. Nhưng thực chất cuối đời Trần Nhân Tông, Trần Minh Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Dụ Tông, đạo Phật đã quá suy đồi do lối tu kỳ lạ, khó hiểu, góp phần làm băng hoại xã hội thời đó. Hồ Quý Ly là con người thông minh, có nhiều cơ hội tiếp cận triều đình và nắm giữ vị trí quan trọng trong triều. Ông đem con, cháu của mình gả cho vua, dần dần thâu tóm quyền lực, ép vua truyền ngôi, rồi soán ngôi. Khi lên làm vua, Hồ Quý Ly dời đô về Thanh Hóa.
Cuộc đời Hồ Quý Ly có nhiều điều đặc biệt, trong đó ông có viết cuốn sách về sự cải cách hiến pháp. Chính sách cải cách của Hồ Quý Ly giống như những chính sách chính trị xã hội hiện đại trên thế giới ngày nay. Thời đó, người ta còn sử dụng tiền đồng, tiền bạc, tiền vàng mà Hồ Quý Ly đã cho sử dụng tiền giấy. Ông đưa ra chính sách hạn điền, nghĩa là không cho ruộng nhiều; cho ruộng nhiều tạo ra giai cấp địa chủ bóc lột nhân dân. Vương tôn, công tử chỉ được phần ruộng nhất định để lấy ruộng chia cho nhiều người khác dần dần để ai ai cũng có ruộng làm ăn sinh sống. Chính sách Hồ Quý Ly đưa ra, ngày nay người ta thấy hay, thấy hợp lý nhưng thời đó thì đụng chạm đến quyền lợi Hoàng tôn Vương thất và tầng lớp địa chủ nên những tầng lớp đó tập hợp lại chống đối Hồ Quý Ly rất dữ dội.
Sau khi lên ngôi vua, Hồ Quý Ly chuẩn bị tiến hành dùng hiến pháp cải cách xã hội. Nhà Minh kéo sang nước ta lấy danh nghĩa ủng hộ nhà Trần. Ngoại bang lấy chiêu bài “Ủng hộ triều đại trước”, dân mình nhẹ dạ tin theo, biết quân Hồ Quý Ly đóng ở đâu là báo cho quân Minh biết. Thế là đất nước bị chìm trong nô lệ mấy mươi năm cho đến khi Lê Lợi kháng chiến chống Minh trong mười năm gian khổ mới giành được độc lập. Vì thế, chúng ta nhớ muôn đời rằng không có ngoại bang tốt mà phải tự lực tự cường mới thành công.
Hồ Quý Ly cũng là một con người cô đơn, trong suốt mấy trăm năm sau khi ông chết, người ta vẫn nghĩ ông là kẻ xấu. Đợi đến thời đại tiến bộ, lịch sử mới dành cho ông những giá trị xứng đáng.
Thời đó, nhiều người không ủng hộ đạo Phật như Lê Quát, Trương Hán Siêu, Hồ Quý Ly... Vì sao vậy? Bởi đạo đức của những người đệ tử Phật đã đến ngưỡng băng hoại. Khi Phật giáo được nhà Vua tôn sùng, rất nhiều người cư sĩ hay Tăng sĩ đã kiêu ngạo, vì cho rằng mình là một thành phần có vai vế, phải được ưu đãi. Đạo Phật trở thành một tôn giáo chiếm đặc quyền đặc lợi trong xã hội. Chu Văn An cũng chống đạo Phật và xiển dương đạo Nho, một đạo thực tế xây dựng xã hội. Tuy nhiên, chống đạo Phật hay xiển dương đạo Nho thì cả hai đều cực đoan.
Ta đi tìm một đạo Phật như thời Đức Phật, dạy cho con người cách sống tốt đẹp ở đời. Đây là tính chất thứ nhất. Và ta cũng đi tìm một đạo Phật có con đường đưa chúng sinh vượt khỏi luân hồi sinh tử. Đây là tính chất thứ hai. Cả hai tính chất này đều gắn với nhau. Nghĩa là muốn thoát khỏi cuộc đời này, con người phải rất tử tế, đối xử tốt đẹp với cuộc đời. Còn ai cứ nghĩ rằng phải quay lưng với tất cả để giải thoát khỏi luân hồi sinh tử, người đó sẽ vĩnh viễn không bao giờ bước ra khỏi cuộc đời. Đây là nguyên lý cực kì quan trọng.
Vì vậy, một người hiểu đạo Phật chân chính, trước hết phải là một người rất có đạo đức, rất thương người, sống rất tốt với mọi người. Đây là một tiền đề rất quan trọng. Nếu không có tiền đề này thì chúng ta không phải là đệ tử Phật. Ví dụ một người tu tinh tấn tụng kinh, gõ mõ, ngồi thiền nhưng lạnh lùng, thờ ơ, hờ hững với mọi người, người này không phải là đệ tử Phật. Như vậy, có hai tính chất có vẻ ngược nhau hẳn nhưng cùng tụ hội nơi một người đệ tử Phật chân chính: vừa từ ái, vị tha, năng nổ dấn thân; vừa thoát tục, thanh thoát nhẹ nhàng, không vướng bận cuộc đời.
Đây là điều khó thực hiện nhưng đây là đường đi đúng. Còn điều gì thiên lệch một bên đều không đúng. Chúng ta thấy đạo Nho chủ trương dấn thân vào đời rồi... thôi, không biết đến giải thoát. Đó là cực đoan vì chỉ luẩn quẩn trong luân hồi không đi tới đâu, rồi đau khổ mãi, luân hồi vô lượng kiếp, đắng cay và mỏi mệt. Nếu hiểu đạo Phật là phải quay lưng với đời mới tìm được giải thoát. Đó cũng là hiểu sai. Vì thế, chúng ta phải hiểu đạo Phật chuẩn lại, một đạo Phật đúng nghĩa như nói trên.
Ngoài những vĩ nhân cô đơn, còn có trường hợp “bị cô đơn” trong cuộc sống đời thường vì những nguyên nhân sau:
Hoặc do nghiệp đời trước chúng ta chủ quan, kiêu ngạo, ít thông cảm, chia sẻ điều hay, điều đúng với người khác nên kiếp này thường gặp sự chống đối, ít ai thông cảm, chia sẻ điều gì với mình.
Kẻ có trí tuệ đi trước thời đại nhưng không được người đương thời kịp hiểu và ủng hộ thì được gọi là cô đơn. Nhưng ngược lại, khi mọi người không ủng hộ ai, đó không phải luôn là người cô đơn. Đừng nghĩ rằng: “Tôi quá giỏi, đi trước thời đại quá xa nên mọi người không hiểu và tôi bị cô đơn”, mà sự thật là bởi vì chúng ta quá hợm hĩnh, có sai mà không biết mình sai, chủ quan cho mình đúng. Chúng ta đã từng nói với nhau về điều đúng, điều sai trên cuộc đời, trong đó thường ai cũng cho mình là đúng. Nhưng thật sự có những lúc chúng ta đã sai, bởi nếu từ bé đến lớn những điều ta suy nghĩ đều đúng thì ta đã là vĩ nhân, là bậc Thánh. Nhưng tiếc rằng đôi khi mười điều, ta nghĩ sai hết chín điều rưỡi. Khi cuộc đời quay lưng với mình, hãy tự nhìn nhận lại xem mình đã đúng hay sai. Nhưng làm sao con người tự mình biết đúng, biết sai? Việc nhận định đúng sai mang yếu tố may rủi. Một người bỗng nhìn được cái lỗi của mình và sửa lỗi, trí tuệ này đến từ cái may mắn nằm thẳm sâu bên trong tâm hồn, không ai dạy cho ai được, không từ bên ngoài đến được.
Cũng vậy, có những trường hợp bỗng tìm ra một lẽ phải mà không ai làm lung lay niềm tin được. Sâu thẳm trong tâm họ tự biết mình là đúng, mặc dù họ không hề rơi vào bệnh chủ quan, tự cao. Họ không ngờ rằng âm thầm mình đã được sự gia hộ từ Thần Thánh. Ai có niềm tin Tam Bảo sẽ cảm nhận rõ về sự may mắn này. Có nhiều điều thật sự tự ta không thấy, không biết nổi mà lại đến từ sự gia hộ bí mật của chư Phật.
Người đời không giải thích được sự gia hộ này, mặc dù họ thấy rằng yếu tố may mắn đã chi phối vào cuộc sống của con người. Đã có những người tài giỏi nhưng thất bại; có người không giỏi mà cơ hội đưa đến giúp họ thành công. Nên nói ở đời “hay không bằng hên” là như vậy. Sự may mắn đó có thể đến từ phước đời trước, cũng có thể do Tam Bảo gia hộ. Người đệ tử Phật, vì vậy đừng ai nghĩ mình tài giỏi. Kể cả sau này, quý Phật tử nếu được trở thành giảng sư Phật học cũng đừng cho rằng mình bước lên một nấc thang cao hơn bởi cái tài, cái trí của mình. Hãy thường khiêm tốn cầu nguyện chư Phật gia hộ để những bước chân sắp đến ta bớt phạm sai lầm.
Khi chúng ta có chỗ sai, chư Phật sẽ ngấm ngầm giúp điều chỉnh lại để ta vẫn đi đúng đường, vẫn làm lợi cho mọi người. Tóm lại, chúng ta nên bớt chủ quan khi nhận định về mình.
Trường hợp chúng ta nghĩ tốt và làm điều tốt nhưng lại bị người ta nghĩ xấu, nghi kỵ, chống đối. Đó thật là cô đơn. Nếu không vững tâm, cô đơn làm chúng ta thất vọng và bỏ cuộc, chịu thua. Đây không phải là thái độ của người Phật tử. Nếu tin chắc rằng con đường mình đang đi là đúng, chúng ta phải kiên nhẫn chịu đựng sự chống đối, sự nghi kỵ, sự ganh ghét của người khác, chứ không vì sự ganh ghét, đố kỵ đó mà bỏ cuộc.
Hoặc chư Tăng, Ni tu tốt nhưng bị người ta công kích vì hiểu sai, hiểu nhầm thì người tu phải kiên nhẫn chịu đựng. Kiên nhẫn khác với nhẫn nhục. Trong đạo Phật nhẫn nhục được hiểu là không giận hờn, không oán thù khi bị xúc phạm, bị mưu hại... Còn kiên nhẫn là cố gắng vượt qua khó khăn, trở ngại, thực hiện cho được những dự định tốt đẹp, thánh thiện để làm lợi ích cho nhiều người, dù gặp cản trở, gặp trở ngại, dù trong cô đơn vẫn làm cho bằng được. Kiên nhẫn bao hàm cả nhẫn nhục, ý chí, nghị lực để theo đuổi lâu dài một điều cao cả, thánh thiện.
“Hễ người ta không tin tôi, tôi không thèm làm điều tốt nữa” – suy nghĩ này rất cạn cợt. Với đệ tử Phật, khi biết điều gì có lợi cho cuộc đời, cho Phật Pháp thì dù trong sự cô đơn không ai ủng hộ, tin tưởng, giữa trăm nghìn sự chống đối công kích, ta vẫn phải kiên nhẫn bước tới.
Ví dụ, làm việc từ thiện là tốt, là đúng nhưng bị chống đối, bị nghi kỵ, mà vì lòng thương yêu con người nên chúng ta vẫn phải kiên nhẫn để thực hiện lý tưởng của mình. Nghĩa là chúng ta làm việc từ thiện với động cơ thúc đẩy ở sâu thẳm bên trong luôn luôn là lòng thương yêu con người. Trường hợp chúng ta lập một hội từ thiện, tập trung bạn bè rồi vận động gom góp tiền bạc, của cải để cứu trợ những nơi cần giúp đỡ. Già cả, bệnh tật, neo đơn... chúng ta đều giúp hết mà có người châm biếm: “... Giả bộ làm việc từ thiện để lấy danh tiếng, để lấy lời: xin được mười, cho năm, giấu lại năm, ai mà kiểm tra...”. Nghe như vậy chúng ta bỏ cuộc, hoặc vì tự ái mà “trả thù” bằng cách làm việc rất hiệu quả và thành công (để cho họ phải xấu hổ, phải hối hận vì đã nghĩ xấu người khác). Tức là chúng ta làm từ thiện vì có động cơ bảo vệ danh dự của mình thì cái tâm, cái nhân này cũng sai.
Trong đạo Phật, mọi việc làm chính đáng đều xuất phát từ lòng thương yêu con người. Dù bị chống đối, dù không được ủng hộ nhưng vì lòng thương yêu con người, thương người nghèo khổ, bệnh hoạn, tàn tật, neo đơn... chúng ta vẫn bước tới; chứ không phải bước tới để trả thù người công kích mình. Vì thế, chúng ta phải giữ vững động cơ cao thượng bên trong, đó là vì lòng thương yêu con người, vì Phật Pháp chứ không phải để bảo vệ danh dự, để thỏa mãn tự ái của mình trước sự công kích của người khác.
Điều tế nhị, tinh vi nữa là không chủ tâm mưu cầu sự ủng hộ dù việc làm của chúng ta rất cần sự ủng hộ, rất cần người chia sẻ, hiểu mình, cùng bắt tay làm việc lợi ích cho con người. Phật Pháp cần thái độ của người quân tử không thủ đoạn, không mưu mô (khác với thái độ bất cần, ngang tàng của kẻ tiểu nhân). Chúng ta rất cần sự ủng hộ, rất cần nhiều người chia sẻ, hiểu và tin mình để cùng bắt tay làm việc nhưng không chủ tâm vận động đi tìm sự ủng hộ cho mình.
Không vận động là thái độ mới lạ trong Phật Pháp. Vì sao? Sự ủng hộ tự đến bởi những người chân chính. Nghĩa là khi chúng ta làm việc đúng thì những người tốt có duyên sẽ tự tìm đến ủng hộ. Còn sự ủng hộ do vận động sẽ có người không tốt đến, vì tâm mưu tìm sự ủng hộ dễ lẫn với tâm thủ đoạn mưu mô. Do đó hãy kiên nhẫn đi con đường của mình, vì lòng từ bi thương yêu chúng sinh và để cho những người tốt trong cuộc đời này tự thấy, tự hiểu, tự tìm đến. Ta không vận động cho kẻ chống đối đừng chống đối nữa, cũng không năn nỉ những ai chưa ủng hộ phải đi theo mình. Trong cuộc đời, hãy sống bình thản và đôi khi chấp nhận sự cô đơn.
Ý NGHĨA ĐỘC CƯ TRONG ĐẠO PHẬT
Sống một mình là sống cô độc. Trong đạo Phật, đời sống cô độc tự nguyện gọi là sống độc cư. Đa phần người tu tinh tấn, hiểu đạo nhiều thường thích sự cô độc. Vì họ cho rằng sự tiếp xúc với đông đảo con người thường làm cho mình bận tâm. Bận tâm thì không thể nhiếp tâm được trong thanh tịnh, trong công phu tu tập. Ví dụ, chúng ta tu theo pháp môn niệm Phật, cố gắng niệm Phật tinh tấn mà có người tới nói chuyện sẽ bị gián đoạn câu niệm Phật trong tâm. Hoặc chúng ta tu thiền, lúc nào cũng giữ tỉnh giác kiểm soát tâm thanh tịnh để không khởi vọng tưởng mà có người tới hỏi, nói chuyện này chuyện kia rồi phải đối đáp, tâm bị bận, chúng ta không kiểm soát được tâm sẽ phá mất công phu. Vì thế, người đến với đạo Phật ở mức độ hơi sâu thường thích đời sống cô độc, ít tiếp xúc.
Các tu sĩ trong đạo Phật thường có những kỳ nhập thất. Tu nhập thất là một lối rèn luyện đặc biệt. Người nhập thất vào trong thất, đóng cửa lại, không tiếp xúc, không nói chuyện với ai, chỉ có một người hộ thất. Người hộ thất tới giờ mang cơm nước đến rồi đi ra. Nếu không ở trong thất thì nơi ở có một hàng rào, người sống độc cư không ra khỏi hàng rào và cũng không ai bước vào; chỉ có người hộ thất mang cơm nước ra vào và không nói chuyện. Người nào tâm được định và có quyết tâm cao mới chịu nổi kỳ nhập thất từ ba tháng đến năm tháng hay một, hai năm. Còn bình thường tu sĩ hay bị “bể thất”, hoặc ‘’nứt thất’’. Nghĩa là độc cư một thời gian rồi hết chịu nổi nên bỏ ra luôn, hoặc thấy có người là hỏi chuyện trên trời dưới đất... cho có nói qua nói lại. Như vậy, chúng ta mới thấy bản năng và nhu cầu giao tiếp ở con người rất mạnh.
Ngày xưa, bên Tây Tạng có một vị Thánh sư được người ta luôn luôn ca ngợi là Milarepa (Sách “Milarepa, con người siêu việt”). Ông lên núi Tuyết ở Hy Mã Lạp Sơn lặng lẽ tu một mình. Con người cô độc khủng khiếp, mười một năm ông không tiếp xúc với ai. Chỉ một lần em gái và hôn thê đến thăm và ông từ chối không trở về cuộc sống trần gian nữa. Ông trốn đi chỗ khác trong núi Tuyết để tu. Ông vượt bậc hơn những vị sư huynh của mình vì ông được Thầy truyền thụ một phương pháp khí công đặc biệt để tăng tiềm lực của thân thể và hỗ trợ sức định. Nhờ vậy, ở núi Tuyết mà ông vẫn chịu được, còn những vị sư huynh của ông không chịu nổi. Tuyết lạnh đến nỗi có những con thú ở trong hang không chịu đựng nổi cái lạnh đã vụt chạy ra ngoài. Vừa ra khỏi hang, chúng liền biến thành khối nước đá rồi rơi xuống chết ngay.
Milarepa nhìn thấy xa xa ở bên kia có làng xóm, có con người, khi tuyết rơi trắng xóa, ông cũng làm những khúc hát về tuyết rơi. Có những lúc cô đơn quá, ông đi về làng tìm con người để nói chuyện. Trên đường xuống làng, ông chợt nhớ lời Thầy dạy: “Chừng nào ở trên đầu không còn hư không nữa, không còn không khí nữa thì lúc đó mới hết chúng sanh cho con độ. Hãy tu cho xong”. Đi được nửa đường, ông nhớ văng vẳng lời dạy đó và quyết định quay trở lại, trở về hang của mình. Đó là những bậc tu có định sâu vậy mà bản năng giao tiếp còn thúc đẩy, huống chi người bình thường như chúng ta thì khó chịu đựng được sự cô độc.
CON NGƯỜI KHÔNG THỂ SỐNG CÔ ĐỘC
Con người có nhiều bản năng, trong đó có bản năng hợp quần, bản năng tiếp xúc. Chính bản năng đó thúc đẩy con người hợp quần lại thành xã hội. Bản năng tự nhiên đó do tạo hóa “cài đặt” trong con người nên hầu hết chúng ta không thể sống một mình. Chúng ta luôn luôn có nhu cầu phải tiếp xúc với người khác. Đó là nhu cầu rất mạnh mẽ. Nếu một người nào đó sống mà không tiếp xúc, không được tiếp xúc thì con người đó sẽ bị hụt hẫng, đi đến tuyệt vọng. Sống cô độc bao hàm nỗi cô đơn. Một người không có ai để nói chuyện, để trao đổi tiếp xúc, để thương yêu, để được thương yêu thì nỗi cô đơn làm cho buồn chán, đau khổ, tuyệt vọng, có thể tự tử. Đây là điều có thật. Còn người tự giam mình phải là những vị Thánh đã đắc định rất sâu. Họ không tiếp xúc với loài người nhưng họ tiếp xúc với chư thiên, thần thánh.
Ngay cả loài vật cũng có nhu cầu tiếp xúc với đồng loại. Có lần ở trên núi chúng tôi bắt được một con khỉ, không đành cột nó mà thả ra nó cũng không chịu đi. Cuối cùng, chúng tôi phải đem xuống chân núi cho bác giữ xe nuôi. Nó sống một mình, chỉ có con người cho nó ăn. Có mấy con gà, mấy con chó gặp nó liền bỏ chạy. Một bữa nọ, nó lừa bắt được con chó con. Ai cũng tưởng nó cắn xé con chó, không ngờ nó ôm con chó, âu yếm như ôm con mình. Con khỉ cần thương yêu, con chó thì sợ hãi đâu thương nổi con khỉ. Khi con chó được thả ra vụt chạy, con khỉ đã với tay chụp lại liền.
Quan sát chúng ta mới hiểu từ con người tới con vật, thương yêu và được thương yêu là nhu cầu cần thiết. Không có ai để thương yêu, hay không ai thương yêu mình là nỗi đau khủng khiếp, nỗi đau của sự cô đơn, cô độc. Chỉ có những người có lý tưởng, có tinh thần mạnh mới chịu đựng được sự cô độc. Như họ tự giam mình trong căn phòng để nghiên cứu một công trình lớn nào đó cần tập trung và cần nhiều thời gian, nên tự buộc mình phải đơn độc làm việc mới có hiệu quả.
Tuy nhiên, giao tiếp cũng là con dao hai lưỡi giống như sống cô độc. Sự giao tiếp hay sống cô độc, không chắc là hay mà cũng không chắc là dở.
Vậy thì, sống một mình tốt hay sống với đông người tốt? Đó là tùy trường hợp, tùy mỗi người. Ví dụ, suốt ngày chúng ta không tiếp xúc với ai, không nói chuyện với ai thì trong thời gian đó chúng ta nghĩ gì? Độc thoại, nói chuyện một mình trong tâm. Cứ suy nghĩ về mình, vọng tưởng mạnh dần lên, vì chính lúc chỉ sống với mình, sống cho mình thì cái ngã tăng lên. Trừ người biết tu thiền, sống một mình, do nhiếp tâm vào Thiền định nên cái ngã giảm xuống, họ đang hóa giải bản ngã. Còn người không biết tu thiền, không biết hóa giải bản ngã mà sống một mình thì bản ngã tăng lên. Đây là điều rất lạ.
Sống với đông người cũng vậy. Một người chưa biết tu mà sống một mình cái ngã tăng lên. Vì thế họ cần phải có người tiếp xúc, nói chuyện, san sẻ thương yêu mới bớt chấp ngã. Ví dụ, chúng ta đang ngồi một mình suy nghĩ mông lung hay độc thoại, có người nào đó tới, chúng ta trở về với thực tại, tỉnh táo hơn và hỏi chuyện nhau. “Anh từ đâu tới?”. “Chị có khỏe mạnh không?”, “Em ăn cơm chưa?” v.v... Có sự quan tâm tới người khác, tức là vị tha. Vị tha xuất hiện làm cho bản ngã giảm xuống. Chính điều đó làm cho chúng ta bớt ray rứt, trăn trở, bớt tuyệt vọng. Khi tiếp xúc với người khác, khi quan tâm tới người khác là chúng ta san sẻ tình cảm, hóa giải cô đơn. Không có sự tiếp xúc đó, chúng ta không chịu nổi, buồn chán, tuyệt vọng. Vì vậy, nhu cầu tiếp xúc với nhau rất quan trọng.
Rất may mắn là chúng ta có Phật Pháp. Nếu lúc nào đó chúng ta không còn duyên để tiếp xúc với ai mà phải sống cô độc, thì phải tu tập hóa giải bản ngã bằng thiền định và niệm Phật. Hoặc một lúc nào đó, chúng ta có duyên phải tiếp xúc với nhiều người thì cần phải ứng dụng đạo lý vị tha, từ ái. Như vậy, trong hoàn cảnh nào chúng ta cũng có phương tiện để xử lý, để thấy cô độc là thuận cảnh mà tiếp xúc cũng là thuận cảnh. Trái lại, nếu chúng ta không có đạo lý trong tâm thì cô độc hay tiếp xúc cũng đều làm cho bản ngã tăng trưởng.
Tiếp xúc lành mạnh thì bản ngã được hóa giải, còn tiếp xúc không lành mạnh là tạo nghiệp khổ đau và làm tăng trưởng bản ngã. Tiếp xúc lành mạnh là khi gặp nhau chỉ nói về đạo lý, khuyến khích nhau tu tập, cùng nhau làm việc từ thiện, quan tâm quý trọng nhau, thương yêu nhau, sống với nhau càng đông càng vui... Ngược lại, tiếp xúc không lành mạnh là gặp nhau bày những trò vui chơi vô bổ như kéo nhau vào vũ trường, rủ nhau sử dụng ma túy, cùng nhau tới những điểm cà phê bia ôm, gặp nhau càng đông càng “quậy” là tạo nghiệp. Vì thế, chúng ta phải hiểu, phải nhớ rằng tiếp xúc là để rèn luyện cuộc sống vị tha. Còn sống cô độc, độc cư là để thiền định đưa đến vô ngã. Chúng ta cần cân đối hai hoàn cảnh này.
Chúng ta tu theo đạo Phật để hóa giải bản ngã đi đến vô ngã. Khi ngã nhẹ bớt, chúng ta thương yêu con người hơn, khiêm tốn hơn, quý trọng mọi người hơn. Vô ngã là tuyệt vời và bản ngã là đáng ghét. Người phương Tây nói: “Cái tôi là cái đáng ghét”. Bản ngã khởi lên mạnh thì con người sẽ loạn động, sẽ phiền não đau khổ. Thường thường, tính xấu đi trước dẫn đến đau khổ theo sau. Người ích kỷ sẽ đau khổ. Người tham lam sẽ đau khổ. Người nóng nảy sẽ đau khổ. Người kiêu mạn sẽ đau khổ. Tất cả những cái phi đạo đức đều do ngã chấp tăng mạnh, kéo theo sau đau khổ.
Dù trong hoàn cảnh cô độc hay hoàn cảnh tiếp xúc chúng ta vẫn có thể tu tập để hóa giải bản ngã. Ví dụ, trong ngày có khoảng vài giờ không tiếp xúc với ai, chúng ta tu tập thiền định, tĩnh lặng, không vọng tưởng, bản ngã giảm xuống... Hoặc lúc tiếp xúc với con người, trong thời gian đó chúng ta thể hiện sự tôn trọng, giúp đỡ, thương yêu, tức là chúng ta đang sống vị tha. Vị tha và vô ngã là hai mặt của sự giác ngộ, không trái ngược nhau. Vô ngã chính là vị tha, vị tha chính là vô ngã. Hai điều đó luôn luôn hỗ trợ cho nhau.
ĐỂ TRÁNH CÔ ĐƠN
Cô độc là một mình, sống một mình. Cô độc hàm chứa cô đơn, còn cô đơn là có tiếp xúc, nhưng trong khi tiếp xúc quen biết nhau không có sự đồng cảm, không chia sẻ, không tin cậy nhau. Cô đơn là như vậy. Có khi ở chốn đông người mà vẫn cảm thấy cô đơn. Để tránh cô đơn, con người cần có sự đồng cảm, chia sẻ về nội tâm, về đời sống tinh thần, có người hiểu mình về những điều không ai có thể hiểu...
Ví dụ, trong một buổi lễ đông đảo ở chùa cũng là tạo nên sự tiếp xúc và cũng giúp cho con người bớt cô độc. Khi chúng ta đến chùa thấy mình không cô độc vì chung quanh có nhiều người. Nếu lỡ chạm nhau mình có câu “xin lỗi”, cũng là nói lời thân ái với nhau, làm cho mình cảm thấy thân mến nhau, cũng làm cho cuộc đời vui hơn. Có mặt trong buổi lễ hội đông đảo ở chùa chúng ta không còn cô độc, đồng thời chính cái đạo lý trong chùa lan tỏa khắp mọi người và lan tỏa trong mỗi người làm cho chúng ta có cảm giác bớt cô đơn. (Nếu ở một nơi đông đảo nào khác thì chúng ta bớt cô độc nhưng chưa chắc bớt cô đơn vì không có đạo lý). Đạo lý trong chùa luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải thương nhau: thương người ngồi bên cạnh, thương người trước mặt, sau lưng mình... tâm và tâm hòa vui với nhau; mắt nhìn nhau ưu ái, thông cảm, chia sẻ, có tình đạo, có tình người trong mỗi đôi mắt nhìn nhau. Một lúc nào đó, chúng ta sẽ cảm thấy đi đâu cũng không vui, chỉ đến chùa là vui nhất, tốt nhất. Đến chùa có cái hay là như vậy.
Hoặc cùng nhau làm việc từ thiện, cùng hướng về điều thiện nên dễ dàng thông cảm với nhau. Ví dụ, chúng ta gồm năm, bảy người rủ nhau đi một chuyến từ thiện giúp người nghèo ở vùng sâu, vùng xa nào đó. Lúc đầu, chưa hiểu nhau nhiều nhưng trong tâm mỗi người đều có cùng ý hướng muốn giúp đỡ người nghèo. Tự nhiên, tâm và tâm thông cảm nhau, thương quý nhau. Sự quý mến và tin cậy lẫn nhau làm người ta bớt cô đơn. Chính điều thiện đã gắn bó con người với nhau. Không tin cậy, không thông cảm, không chia sẻ thường là cái bất thiện. Đạo lý thiện pháp, làm điều thiện hóa giải được cô đơn của con người.
Do đó, để tránh những nỗi đau của cô đơn, nhất là cô độc, chúng ta phải đến với điều thiện, chắc chắn chúng ta sẽ gặp được những người đồng quan điểm, đồng tâm tình để có thể tin cậy lẫn nhau. Vì vậy, xin đừng bỏ phí thời gian ở nhà vò võ một mình. Ở nhà vò võ một mình trong cô đơn chưa chắc chúng ta có đủ sức định để tu tập hóa giải được bản ngã mà cần có những cuộc tiếp xúc lành mạnh, nhất là đến với những người có đạo tâm, đến những nơi có đạo lý, có những người cùng chí hướng về những việc làm từ thiện, cuộc đời chúng ta được san sẻ niềm vui nhiều hơn.
Cô đơn là một nỗi khổ tâm của bất kỳ ai. Nếu biết người khác khổ thì chúng ta sẽ làm gì? Theo tinh thần đạo Phật, chúng ta sẽ xoa dịu nỗi đau của người và giúp người vượt qua đau khổ. Người Phật tử phải hiểu rằng trong cuộc đời mỗi người có nhiều nỗi khổ, trong đó có nỗi đau cô đơn. Người cô đơn là người có thể có những điều tốt, có nội tâm sâu sắc mà ít ai thấu hiểu để chia sẻ, tin cậy. Vì vậy, người đệ tử Phật luôn luôn đem niềm vui, hạnh phúc đến cho cuộc đời này; trong đó có việc giúp cho con người bớt cô đơn. Đây cũng là một nhiệm vụ của người Phật tử.
Giúp cho nhau bớt cô đơn tức là chúng ta luôn rộng lòng biết lắng nghe, biết thông cảm, chia sẻ nỗi niềm của người khác. Đầu tiên chúng ta phải mở lòng mình ra trước, đừng để tâm nghi kỵ xâm chiếm tâm hồn. Chúng ta được quyền cảnh giác nhưng không vì thế mà để tâm nghi kỵ khiến người khác phải cô đơn. Chúng ta sẵn sàng thông cảm và tin cậy nếu biết người ta đáng tin cậy, hoặc nếu thấy người ta có khuyết điểm thì phải nhìn cho ra ưu điểm của họ để lướt thắng khuyết điểm. Biết thông cảm, tin cậy điều tốt của người khác đã là tri kỷ, còn thông cảm được khuyết điểm của người khác mới thật sự là tri kỷ vĩ đại.
Người Phật tử phải nguyện với lòng sẽ là tri kỷ của tất cả chúng sinh, là người tri kỷ vĩ đại của chúng sinh. Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Bồ tát Phổ Hiền có câu: “Vị chúng sanh tác vô thỉnh hữu”, nghĩa là bậc đại Bồ tát vì chúng sanh mà làm người bạn không mời cũng đến. Một vị Bồ tát biết chúng sanh khổ mà chúng sanh không biết ai để nhờ cậy, thì Bồ tát đã đến. Người Phật tử phải có hành vi của bậc Bồ tát, nghĩa là biết ai khổ, chưa cần người ta nhờ cậy mình đã chủ động đến để giúp đỡ, để thương yêu, để chia sẻ với mọi người. Chúng ta phải học hạnh của bậc đại Bồ tát, đó là vị chúng sanh tác vô thỉnh hữu, vì tất cả chúng sanh mà làm người tri kỷ của mọi người, lắng nghe và hiểu nỗi khổ, nỗi cô đơn, cô độc của mọi người để tìm tới, không cần đợi mời, không cần đợi năn nỉ, nhờ vả. Từ đây, tấm lòng của chúng ta luôn luôn rộng mở, là người bạn tri kỷ đối với tất cả chúng sanh.
Có những người khi đã mất niềm tin một lần, họ mất luôn niềm tin đối với tất cả mọi người trong cuộc sống. Chúng ta không được như vậy. Dù có những điều xấu, điều ác nhưng chúng ta tin rằng cuộc sống vẫn còn có nhiều điều tốt đẹp, vẫn còn có tình người với người.
Có một người nước ngoài phát tâm tặng những vật dụng từ thiện. Ông Nguyễn Vĩnh Nghiệp (trước đây là Chủ tịch UBND TP.HCM) cũng làm việc từ thiện, là chủ tịch “Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo’’. Hai người được nối kết với nhau để một người cho, một người nhận xúc tiến việc làm từ thiện. Ông Nghiệp nói: “Làm việc từ thiện đừng đợi có tiền. Đừng đợi khi có một triệu đô-la mới bắt đầu làm việc từ thiện. Có năm trăm, năm ngàn hay năm mươi ngàn đồng là làm từ thiện được rồi. Khi làm việc từ thiện, tự nhiên tiền tới từ từ...”. Ông không chỉ xin những người giàu có, mà có khi ông còn vào chợ đến những sạp bán lẻ để vận động xin tiền cho bệnh nhân nghèo...
Thật là một tấm lòng hiếm có! Chỉ cần lòng kiên nhẫn và sự khéo léo; không cần thể diện mà cần có lòng thương yêu người nghèo khổ mới có thể làm được điều đó. Cả những người nước ngoài về hợp tác làm việc từ thiện với ông Nghiệp, họ hy sinh cả đời mình cũng chỉ để làm việc từ thiện thôi. Những con người này như những vị Bồ tát, thật hay! Chính nhờ những con người như vậy mới tạo được niềm tin: Trong cuộc đời này cũng còn có rất nhiều người tốt.
Khi tấm lòng rộng mở với mọi người chúng ta dễ tin cậy, quý trọng và thông cảm nhau hơn. Có thể chúng ta bị lừa gạt một vài lần nhưng vẫn còn có những người tốt để mình gặp gỡ, làm bạn tri kỷ và không còn cô đơn. Cuộc đời như vậy sẽ đẹp hơn và điều thiện tăng trưởng. Khi thiện và thiện gặp nhau, hợp tác với nhau, điều thiện sẽ phát triển lan ra từ từ. Nếu chúng ta cứ nghi kỵ nhau mãi, cứ đóng khung mãi, ngăn cách nhau mãi thì dù mình có lòng tốt cũng không có dịp gặp gỡ với người khác để chia sẻ, để hợp tác mà phát triển điều thiện mạnh hơn.
Tuy nhiên, trong sự thông cảm cũng cần có nhận xét, có điều chỉnh, góp ý cho nhau. Ví dụ, khi nghe người bạn muốn làm việc từ thiện, chúng ta tin cậy, thông cảm nhưng cũng cần nhận xét việc làm đó có phù hợp không, cách thức tổ chức ra sao vì người bạn không phải lúc nào cũng đúng hết. Giúp cho bạn tốt hơn lên, đó là tri kỷ thật sự. Nếu bạn nói hoặc làm gì mà chúng ta cũng khen thì chẳng khác nào hại bạn. Đồng thời chúng ta cũng phải cẩn thận trước một người mà bất cứ lúc nào họ cũng khen mình.
CHÚNG TA NÊN ẨN ÁC DƯƠNG THIỆN
Trong đời sống cộng đồng, những điều thuộc về riêng tư của mỗi người đều được tôn trọng và bảo vệ. Điều này thuộc về phép lịch sự trong quan hệ giữa người với người; đồng thời cũng được luật pháp bảo vệ. Ví dụ, chúng ta không lén đọc thư, không nghe trộm điện thoại, không nói về đời tư của người khác hay phổ biến trên thông tin đại chúng... Mỗi người có ý thức tự giác thực hiện tốt vấn đề này hơn là bắt buộc.
Tuy nhiên, nếu ai vi phạm có tòa án xem xét, xử lý; đó là “tòa án lương tâm” và tòa án quốc gia. “Tòa án lương tâm” khiến cho người đó thấy được lỗi của mình và ăn năn, hối lỗi; tòa án quốc gia xử phạt bằng mọi hình thức. Việc giáo dục đức tính này là trách nhiệm của ngành giáo dục, của thầy cô giáo, của cha mẹ đối với học sinh và con cái của mình. Vấn đề này được thực hiện tốt hay không nói lên văn hóa văn minh của cộng đồng xã hội đó ở mức cao hay thấp.
Đối với vấn đề thuộc về riêng tư cá nhân trong đạo lý phải hiểu như thế nào? Đó là chúng ta không nên nói một cách phổ biến lỗi của người khác, chỉ nói những điều hay của họ để tăng thêm niềm tin cho cuộc đời. Điều đó trong đạo Phật gọi là “ẩn ác dương thiện”. “Ẩn ác” nghĩa là giấu cái xấu, cái ác; “dương thiện” nghĩa là đưa ra cái tốt, cái thiện của người khác.
Theo đạo lý của đạo Phật, chúng ta không nên nói điều lỗi của người khác, chỉ nên nói điều hay của người khác thôi! Vì sao? Vì điều hay được nói ra, được lan ra làm cho con người tin cậy nhau hơn, tin tưởng nhau hơn và tin yêu cuộc đời hơn. Còn nếu cứ nói chuyện xấu ra, nhiều người nghe chuyện xấu sẽ bớt tin yêu cuộc đời, bớt tin cậy nhau; người ta sẽ từ từ khép lòng mình lại và tri kỷ không còn. Có những điều riêng tư bí mật được giấu nhưng cũng có những điều riêng tư rất tốt cần được nói ra để người khác hiểu. Đạo lý “Ẩn ác dương thiện” là vậy.
Trong luật của ngành Y, có những bệnh không được nói ra cho người khác biết, trừ bác sĩ chữa trị. Hồ sơ bệnh án không phải ai cũng được đọc. Bệnh tật cũng thuộc về cái gì riêng tư của mỗi người nên nói ra là vi phạm đời tư của người khác, làm đau lòng người khác, xúc phạm đến người khác.
Tuy nhiên, những vị Thánh có thần thông họ biết nhiều điều thầm kín của con người. Bậc Thánh biết nhược điểm, ưu điểm của con người mà không nói ra; biết để sửa nhược điểm và khen ưu điểm. Bậc Thánh nào cũng giấu thần thông và làm như không biết gì.
Ở cuộc sống thế gian, chúng ta được quyền giữ đời sống riêng tư của mình. Nhưng trong đạo Phật, giai đoạn đầu của người xuất gia sống trong đại chúng là phải phơi bày cuộc sống của mình trước huynh đệ, không giấu điều gì riêng tư hết; không được giấu điều xấu, có điều xấu phải buông bỏ. Cho nên, người xuất gia sống đời sống tập thể ở trong chùa là một cách rèn luyện đạo đức. Người xuất gia nào sống trong đại chúng quá ít là một thiệt thòi, người đó sẽ còn nhiều nhược điểm, bản ngã còn lớn. Do vậy, người xuất gia phải tập sống đời sống đại chúng trước.
Chư Thiên ở cõi trời biết rõ tâm nhau nên sự riêng tư không còn. Họ sống bằng tâm thần thông, người này nghĩ gì thì người kia cũng biết, tâm và tâm hòa hợp, không có điều xấu, ác giữ riêng. Họ sống rất lâu và rất thiện vì điều xấu, điều ác không có. Những người trên cõi trời đầu thai xuống cõi người, họ mới bắt đầu quen với cuộc sống riêng tư, tâm không biết tâm. Đa số những người đó rất thiện (cái thiện luôn luôn tồn tại khi họ còn ở trên cõi Trời), nay làm người, điều thiện vẫn còn trong người họ.
Trong truyện “Cô gái Đồ Long” tác giả Kim Dung kể rằng có một trận đánh giữa một người là Trương Vô Kỵ với ba nhà sư Thiếu Lâm. Ba nhà sư này thường luyện trong thất vắng một môn võ đặc biệt. Họ ngồi nhìn nhau suốt mười năm. Họ vừa luyện võ vừa nhìn nhau như vậy để ba người biến thành một người. Trong sức định họ nhìn nhau suốt mười năm, tự nhiên họ biến thành nhau, tâm với tâm là một. Khi đánh, người này tính đánh thế gì là người kia biết. Người này chuẩn bị đánh phía trên thì người kia chuẩn bị đánh phía dưới làm cho đối thủ không còn đường đỡ. Một môn võ mà phối hợp cả ba người, mức phối hợp chặt chẽ đến nỗi ba người là một, giống như một người có ba đầu, sáu tay, sáu chân. Không ai đánh lại môn võ đó. Không biết sự thật có ba nhà sư Thiếu Lâm nào như vậy, hay chỉ do ông Kim Dung nghĩ ra môn võ đặc biệt đó.
Khi tâm và tâm tương ứng, hiểu nhau dần dần đi đến hợp nhất (chúng ta chỉ hiểu sơ cảnh giới này thôi chứ không đào sâu). Theo đạo lý, không phải điều gì cũng phơi bày ra. Khi cần, chúng ta phải sống độc cư để tu tập Thiền định. Sự tu tập, nếu phơi bày ra, chúng ta sẽ không tu được. Công đức làm được mà đem khoe về sau không còn làm được nữa. Khoe tài năng, sau này chúng ta không có tài năng nữa, vì tài năng dùng để giúp đời chứ không khoe khoang. Cho nên có những cái phải giấu, không khoe. Đó là sự khiêm tốn, sự kín đáo.
Hoặc có những vấn đề cá nhân mà bản thân người đó không muốn phơi bày, không muốn cho ai biết. Hoặc những kế hoạch quan trọng nếu người khác biết, họ sẽ phá rồi không thành công. Nghĩa là có những điều không phải lúc nào cũng san sẻ với người khác được. Chúng ta dự định kế hoạch làm việc từ thiện lớn, nếu người khác biết sớm có thể họ phá hỏng kế hoạch. Do đó, đôi khi chúng ta phải sống cô độc, phải cô đơn, phải lặng lẽ... Đó cũng là khôn ngoan.
Khi hiểu cô đơn là nỗi đau của kiếp người thì chúng ta cố gắng thông cảm nhau hơn là trách móc, ganh ghét, hất hủi nhau. Chúng ta nguyện thực hành hạnh của một vị Bồ tát là “vị chúng sanh tác vô thỉnh hữu”, nguyện mình sẽ là tri kỷ vĩ đại của tất cả chúng sanh.
“Ta nhìn thấy gì trong mắt nhau
Biển đời đầy ắp những khổ đau
Thương nhau cùng bước qua gian khó
Bỏ lại sau lưng những nỗi sầu.
Ta đặt tâm mình vào tâm nhau
Để niềm thông cảm rất đậm sâu
Ai cũng cần nhau điều tử tế
Đường đời chưa biết sẽ về đâu.
Còn phút giây nào trông thấy nhau
Duyên lành xin giữ đến nghìn sau
Mái chùa cõi Phật cùng nương tựa
Mơ ước một ngày thoát khổ đau”.


