“Con sông bên lở bên bồi
Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm”.
Trong thiên nhiên thường xuất hiện một hiện tượng vật lý gọi là hiện tượng xâm thực. Khi một dòng chảy như dòng sông, dòng suối chảy quanh co, nó làm cho một bên bờ cứ bị đào khoét thêm dần (bên lở) và bờ còn lại được bồi đắp cho đầy dần (bên bồi). Nhưng rồi đến một khúc nào đó dòng sông bỗng chảy thẳng như ban đầu, bỏ mặc bên lở bên bồi. Nhìn từ trên cao ta sẽ thấy các dòng sông đều như vậy. Đó là hiện tượng vật lý trong thiên nhiên, tuy nhiên đạo lý cũng như vậy, xã hội cũng như vậy, con người cũng như vậy.
SỰ HÌNH THÀNH BÊN LỞ BÊN BỒI TRÊN CUỘC ĐỜI
Trong xã hội, một số người có phước lớn đã chiếm được nhiều ưu thế hơn so với người khác. Họ giàu sang hơn, có thế lực, có quyền hành hơn. Một số khác vì kém phước nên nghèo hơn, ít thế lực, cô thế hơn. Người được ưu thế giống như bên bồi của con sông. Còn kẻ kém ưu thế là bên lở. Và rồi bên bồi cứ bồi mãi, bên lở cứ lở thêm. Tức là người giàu sẽ dùng tiền, dùng quyền của mình để học hành, để kinh doanh làm giàu, và họ tiếp tục giàu hơn nữa. Còn người nghèo không vốn liếng, không nhà cửa thì cứ phải đi làm thuê. Nếu bị người chủ xấu bóc lột họ cũng phải cắn răng chịu đựng, và sẽ tiếp tục nghèo hơn, khổ hơn. “Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm” là vậy.
Lợi dụng ưu thế của mình, nhiều người đã bóc lột kẻ khác. Chẳng hạn khi nắm quyền hành trong tay, người chủ đã bóc lột nhân công. Có những xã hội khi chưa có một tổ chức công đoàn chính thức và đủ mạnh để bênh vực người công nhân thì người công nhân thật là khổ. Trong hợp đồng chỉ quy định 8 tiếng nhưng người chủ bắt làm 9 tiếng, 10 tiếng họ vẫn phải cố làm, vì sợ bị đuổi việc, mà nếu một tháng không có việc là cả gia đình lao đao ngay. Thế là họ cứ phải cắn răng chịu đựng, càng ngày càng mệt mỏi, sức khỏe càng hao mòn hơn, cũng như bên lở cứ lở mãi.
Trước đây trong xã hội luôn luôn có những người chiếm ưu thế, có tiền có quyền, tuy nhiên họ hơi ác. Họ ép kẻ khác phải quy phục, phục vụ mình, có sự bóc lột. Như vậy, hiện tượng bên lở bên bồi được hình thành rất nhanh. Tức là họ giàu lên rất nhanh, còn người bị bóc lột thì nghèo đi, suy sụp rất nhanh. Vậy thời gian mà con sông sẽ chảy thẳng, không còn bên lở hay bên bồi nữa có nhanh đến không? Câu trả lời là cũng rất nhanh. Đó là “ngày tàn của bạo chúa”.
Những người sử dụng ưu thế của mình để khống chế, chèn ép, bóc lột kẻ khác là người ác.
Bây giờ ta nói đến người không ác như vậy. Họ có tiền, có quyền trong tay nhưng làm ăn một cách chân chính, đóng thuế nghiêm túc, đảm bảo đầy đủ mọi quyền lợi của công nhân. Họ không bị phá sản, không gặp phải thời kì kinh tế suy thoái rồi cứ giàu lên, tiền trong xã hội cứ chạy vào túi họ dần. Như vậy, họ cũng tạo nên hiện tượng bên lở bên bồi giống hệt ở trên nhưng tốc độ chậm hơn. Và ngày mà con sông đi thẳng cũng còn rất lâu, tuy nhiên nó vẫn phải tới. Bởi vì cái giàu lên của họ vẫn tạo nên một sự bất công. Thật lạ lùng!
Vì vậy, thật không dễ dàng gì để có thể suy luận về nhân quả. Bình thường chúng ta hiểu rằng gieo nhân nào sẽ gặt quả nấy: kẻ bố thí sẽ giàu sang, kẻ tặng biếu thuốc men sẽ khỏe mạnh, kẻ dạy dỗ chỉ bảo tận tình sẽ thông minh tài giỏi. Tuy nhiên, nhân quả phức tạp hơn như vậy rất nhiều. Chẳng hạn có người vì đời trước thường bố thí cúng dường nên đời này được phú quý thịnh đạt. Và khi họ hưởng cái sang giàu của mình thì cũng là lúc họ bắt đầu mang tội. Vì sao vậy, bởi lúc họ bình thản hưởng phước trong khi bao người khác đang sống đời nghèo khổ - ngay đó, một mầm ác nhỏ đã rơi vào trong tâm họ. Đây vẫn là cái ác ngấm ngầm.
... VÀ LÝ TƯỞNG GIẢI THOÁT TRONG ĐẠO PHẬT
Đó là lý do tại sao Phật giáo luôn ca ngợi lý tưởng cuối cùng vẫn là giải thoát. Đạo Phật không bao giờ kêu gọi chúng sinh cứ làm phước cho đến vô lượng rồi đi đầu thai lại để hưởng mọi lạc thú, vinh quang đến vô tận. Nếu luật Nhân Quả đơn giản như thế thì Đức Phật đã không kêu gọi chúng sinh phải giải thoát làm gì, vì chỉ cần biết làm phước thôi họ sẽ vĩnh viễn sung sướng, không còn đau khổ.
Nhưng sự thật không phải vậy. Khi chúng ta làm phước rồi hưởng cái phước của chính mình, ngay đó mầm mống của sự bất công và ác độc đã xuất hiện. Chính vì phước và tội luôn đan xen qua lại nên cuộc đời luôn có hai mặt đau khổ và hạnh phúc quyện với nhau. Cũng vì lý do đó mà lý tưởng cuối cùng Đức Phật dạy cho chúng ta vẫn là giải thoát. Dù một vị Bồ tát có lòng bi mẫn với chúng sinh đến mức độ nào thì ngày nào đó vẫn phải nhập Niết bàn, nhường sự nghiệp giáo hóa độ sinh lại cho những vị đi sau. Không vị Bồ tát nào chiếm “độc quyền” độ chúng sinh vĩnh viễn. Trong kinh điển có kể về những vị Bồ tát trước khi thành Phật đã tích lũy công đức đến vô tận, đến khi thành Phật rồi hóa độ chúng sinh đến vô lượng, tuy nhiên các Ngài vẫn có ngày nhập Niết bàn. Ví dụ Đức Phật Thích Ca ở cõi người có thọ mạng đến tám mươi tuổi, sau đó Người đã nhập Niết bàn. Ở những thế giới khác, dù tuổi thọ của chúng sinh kéo dài đến mấy chục nghìn năm thì Đức Phật tại đó cũng phải có lúc nhập Niết bàn. Giải thoát vẫn là lý tưởng cuối cùng.
Tuy nhiên, nếu lý tưởng cuối cùng đó được nêu ra quá sớm, người ta rất dễ hiểu lầm và rơi vào ích kỷ thụ động. Như chúng ta đây, cái hạnh của mình chưa đủ, công đức tích lũy chưa nhiều mà nếu được nghe nói về sự giải thoát quá sớm và rồi nghĩ rằng phải buông bỏ tất cả để giải thoát, tự nhiên toàn bộ đạo Phật sẽ bị thụ động tiêu cực, suy yếu dần. Vì vậy, dù hướng đến mục tiêu giải thoát tối thượng nhưng trên con đường đi đến đó, chúng ta phải đi qua giai đoạn sống đời vị tha, hi sinh. Ta nỗ lực làm phước cho đến vô tận để tích lũy công đức cho thật sâu dày. Bằng không, nếu dừng lại để hưởng phước, ta đang rơi vào hiện tượng bên lở bên bồi và ‘ngày tàn của bạo chúa’ chắc chắn sẽ phải đến. Ngày hôm nay có thể ta đang chiếm được ưu thế so với người khác rồi ỷ lại vào đó, ta cứ làm tới để tiếp tục tăng uy thế của mình. Nhưng ngày nào đó dòng chảy của nhân quả sẽ gạt phăng bên lở bên bồi, gạt những kẻ chiếm ưu thế và tham lam qua một bên để thiết lập sự công bình trở lại.
Tại sao chúng ta nói ‘kẻ ưu thế và tham lam’? Bởi ưu thế và tham lam rất dễ đi đôi với nhau. Đa phần khi có ưu thế rồi người ta thường lợi dụng nó để lấn lướt kẻ khác, để vượt lên tiếp tục. Ít ai trong cái ưu thế của mình mà biết san sẻ cho tha nhân. Và “ngày tàn của bạo chúa” chắc chắn phải đến.
Nhìn vào lịch sử ta thấy có những bạo chúa tham lam vơ vét rồi cuối cùng bị lật đổ, lưu vong hoặc tù tội. Thời nay ở Đông Nam Á cũng có những tổng thống tham nhũng, hoặc ở châu Phi cũng có những lãnh tụ dù đất nước họ rất nghèo nhưng tài sản họ gửi ở nước ngoài lên đến hàng tỷ dollar. Tiền này ở đâu ra? Tiền của dân. Nhưng khi đang có ưu thế, đang nắm quyền lực thì họ cứ tham lam vơ vét cho đầy. Bên bồi cứ bồi thật nhanh, còn bên lở cứ lở thật nhanh... Đến một lúc nào đó dòng sông sẽ xóa đi tất cả. “Kẻ chiếm ưu thế và tham lam” bị lật đổ, lưu vong, tù tội, số tiền giấu giếm trong ngân hàng sẽ được trả lại cho người dân. Hoặc ngày xưa từng có những đế quốc hùng mạnh xua quân đi xâm lăng khắp nơi nhằm mở rộng ảnh hưởng của đế quốc. Ví dụ như nước Anh đã từng là đế quốc lớn nhất thế giới và còn được gọi là “Đất nước mặt trời không bao giờ lặn”. Hoặc đế quốc Mông Cổ thời kỳ hoàng kim của mình đã tung hoành khắp lục địa Á Âu bao la rộng lớn, giẫm nát không biết bao nhiêu thành quách được coi là “bất khả xâm phạm” của các cường quốc lúc bấy giờ. Đế quốc Mông Cổ huyền thoại ngày nào giờ chỉ còn lại những sa mạc cằn cỗi, buồn tẻ nằm tách biệt giữa lục địa Á Âu bao la và dường như đã bị lãng quên...
Nên ta thấy rằng, khi người ta dùng ưu thế của mình để giành phần hơn, thúc đẩy cho hiện tượng bên lở bên bồi thì ngày sụp đổ của họ cũng không còn xa nữa.
Ưu thế và tham lam hay đi chung với nhau là vậy. Rồi một ngày kia dòng đời với luật Nhân Quả sẽ gạt phăng tất cả, tạo lại sự công bình nhân ái cho xã hội một thời gian – trước khi hiện tượng bên lở bên bồi mới xuất hiện. Đây là chỗ làm ta thấy rõ sự vô thường của cuộc đời: không bao giờ có sự công bằng vĩnh viễn, cũng không bao giờ có sự bất công vĩnh viễn. Ví dụ, khi hiện tượng bên lở bên bồi hình thành, đó là một sự bất công. Sau một thời gian dòng sông chảy thẳng gạt bỏ bên lở bên bồi. Nhưng dòng sông có vĩnh viễn chảy thẳng không? Không bao giờ. Sẽ có lúc một vật thể nào đó, ví dụ một khúc cây trôi dạt vướng vào một bên bờ sông tạo thành bên bồi. Ngày ngày phù sa cứ tấp lại bồi đắp. Bên bồi cứ được bồi thêm mãi và phía đối diện bắt đầu khuyết lở dần. Nhìn một gốc cây trôi nổi ghé vào bờ sông, ta thấy rất bình thường. Nhưng không, hiện tượng bên lở bên bồi đã bắt đầu, sự bất công đã bắt đầu rồi. Cứ như vậy, trong xã hội sự công bình cũng chỉ ngự trị một thời gian rồi bất công lại xuất hiện, rồi có một điều gì đó tốt đẹp nổi lên dẹp đi sự bất công đó, tạo dựng lại sự công bình, rồi lại bất công... Đây là tấn bi hài kịch của cuộc đời.
Vì thế, khi sinh vào cuộc đời này, chúng ta buộc mình phải đối diện với sự công bình hay bất công đó để ta sống có trách nhiệm hơn. Nghĩa là, tại sao ta có mặt trong luân hồi? Vì chúng ta có gì? Nghiệp. Vì còn cưu mang nghiệp quá khứ nên chúng ta bị lôi vào, bị cuốn vào luân hồi – để làm gì? Để trả nghiệp. Đó là điều thứ nhất. Thứ hai, cũng là để chúng ta học được những đạo lý từ dòng luân hồi vô tận này. Nếu không chịu trả nghiệp, cũng không chịu học đạo lý từ cuộc đời thì ta sẽ không bao giờ giải thoát khỏi luân hồi.
Ví dụ, khi rơi vào nghèo túng, đó là lúc ta đang đền trả bất thiện nghiệp từ quá khứ. Ai dù trong cảnh nghèo vẫn sống trong sạch, đó là người biết kiên nhẫn trả nghiệp. Tuy nhiên, vẫn có những người không chịu trả nghiệp, không cần cù nhẫn nại tạo phước để vượt lên mà lại muốn làm một điều xằng bậy để có tiền. Họ phá cái nghèo của mình bằng cách trộm cướp lừa gạt. Vì không chịu trả nghiệp nên người này có ra khỏi luân hồi không? Không bao giờ. Cũng vậy, trong cuộc đời này không phải chỉ có một cái nghèo để chúng ta chịu đựng mà còn vô số nghịch cảnh buộc ràng khác. Hãy bình thản đối diện, chấp nhận và nhẫn nại để trả cho hết ác nghiệp từ quá khứ. Đó là yếu tố đầu tiên giúp chúng ta ra khỏi luân hồi.
Thứ hai là học được đạo lý từ cuộc đời. Ai sống trên đời mà không thấy được đạo lý nào, người đó sẽ bị cuốn xoáy, bị chôn vùi trong luân hồi mãi mãi. Ví dụ, khi thấy cảnh khổ của một người, chúng ta học được điều gì? Nhân quả bày ra trước mặt ta một người đau khổ để chúng ta học bài học về tình thương yêu: ta biết khởi tâm thương xót và giúp đỡ họ nếu có điều kiện. Còn khi chúng ta gặp một người giàu sang, đó là bài học gì? Bài học về sự hoan hỷ. Hoặc nhìn vào một người đến chùa tu học nhiều năm nhưng đạo hạnh không thăng tiến, đạo đức vẫn còn khuyết lở, ta cũng ngẫm được vô số bài học.
Trong cái học về đạo lý đó, khi tiếp xúc với vô số người, chứng kiến vô số thăng trầm đổi thay trên đời, ta biết suy nghiệm về nhân quả. Ví dụ, khi nhìn vào một người nghèo túng, hãy ngẫm xem họ đã gieo nhân gì trong quá khứ? Thường chúng ta cho rằng ai gieo nhân bỏn xẻn sẽ gặt quả báo nghèo khổ. Nhưng có những người rất tốt bụng, dù lúc đang túng thiếu mà hễ có tiền vào tay, họ sẵn sàng san sẻ cho kẻ khác. Họ không hề bỏn xẻn nhưng vẫn nghèo. Vậy lý do tại sao? Có thể trong kiếp xưa họ làm phước rất nhiều rồi ở một kiếp gần đây họ được hưởng quả lành, được sống sung sướng. Ở trong hoàn cảnh đó, họ quên mất đạo lý và bắt đầu phung phí, sử dụng đồng tiền không đúng. Quả báo là đời sau, họ phải nghèo trở lại. Nhân quả rất công bình là vậy. Nên đừng nghĩ rằng đồng tiền rớt vào tay mình là của mình, ta muốn làm gì thì làm. Đồng tiền rơi vào tay ta đúng là cái phước của ta, tuy nhiên đồng tiền đó là của cả xã hội, của đất nước, của thế giới. Nếu ta sử dụng hợp lý để nó thành cái đẹp cho thế giới thì mới không tạo thành tội. Còn nếu ta phung phí, dùng vào việc không đáng dùng, cho người không đáng cho thì sau này đồng tiền sẽ rời khỏi tay ta.
Tóm lại, những điều bày ra trước mắt ta đều là đạo lý mà ta phải chiêm nghiệm. Vì vậy, sống trong luân hồi, không ai được quyền sống thờ ơ, vô tư, hờ hững. Ta phải rất trí tuệ, rất tỉnh giác, rất bình an, rất thanh thản nhưng rất khôn ngoan, biết suy nghiệm đạo lý, suy nghiệm nhân quả trong từng chút của cuộc sống. Nếu ta gặp một người có vẻ quá khôn, khôn nhưng lộ ra quá nhiều thì họ cũng chưa đúng với đạo. Ngược lại, một người vô tư, lơ đãng, không cần quan tâm đến ai, người đó cũng đã sống sai. Cái đúng là sống giữa đời, thứ nhất ta giữ tâm bình an trước nghịch cảnh vì biết rằng mình đang phải trả nghiệp, thứ hai là ta có cái nhìn sâu sắc trong mọi vấn đề của cuộc sống để rút ra một bài học, một đạo lý nào đó.
Tuy nhiên, từ khi được sinh ra đến lúc lớn lên, hầu như không ai có đủ trí tuệ sắc bén để nhìn vào cuộc đời mà thấu rõ mọi điều như một triết gia. Vậy ta phải nhờ vào đâu để có trí tuệ đó? Với người Phật tử, ta nhờ vào Phật Pháp. Ta nghiên cứu kinh điển, nghe những bài pháp... và được một số gợi ý về đạo lý. Sau đó trong cuộc sống, ta phải dùng chính trí tuệ của mình kết hợp với những đạo lý đã học mà soi rọi vào mọi điều, để sống cho đúng hơn. Chỉ như thế ta mới có ngày ra khỏi luân hồi được.
PHƯỚC - YẾU TỐ SÂU XA TẠO THÀNH ƯU THẾ CHO BÊN BỒI
Đa số các quốc gia trên thế giới hiện nay theo chủ nghĩa tư bản. ‘Tư’ là riêng, ‘bản’ là vốn, tức là tài sản riêng là điều thiêng liêng của mỗi người, không ai được xâm phạm. Những người có tài năng, có vốn liếng được quyền xây dựng doanh nghiệp, được quyền làm giàu và tài sản của họ được luật pháp bảo vệ, không ai được xâm phạm đến. Nhưng có những người cho rằng việc luật pháp quá bảo vệ cho tài sản cá nhân là một sự bất công nên họ thường kêu gọi cải cách, phân phối lại tài sản. Họ luôn tìm cách vận động điều này điều kia, với mong muốn xây dựng một xã hội không có hiện tượng bên lở bên bồi, không có những người được ưu thế cứ giàu lên mãi và người kém ưu thế cứ phải nghèo mãi. Đó là suy nghĩ đơn giản của những nhà xã hội học có thiện chí, nhưng đa số người ta thường kết tội, ít ai hiểu và đồng cảm với họ.
Còn nhìn trên phương diện nhân quả, chúng ta thấy rằng do phước của chúng sinh không đồng đều nên trong xã hội luôn luôn tồn tại những người có ưu thế và người kém ưu thế hơn. Luôn luôn như vậy, không thể khác hơn. Và điều bất hạnh xảy ra khi người ta lợi dụng quyền hành, vin vào ưu thế của mình để bức bách bóc lột, chèn ép khống chế kẻ khác. Hoặc dù không ác như vậy, nhưng trong cái ưu thế của mình người ta có thể làm ngơ trước cảnh khổ của kẻ khác. Đó cũng là một cái ác ngấm ngầm.
Theo nhân quả, người chiếm ưu thế nghĩa là đã có phước từ đời trước. Vào đời trước họ đã từng bố thí giúp người, từng hiến đất làm trường học, bệnh viện, chùa chiền; từng lao động công ích cho xóm làng... Đời này, cái phước quá khứ đã mang đến cho họ một ưu thế gì đó. Hoặc họ sinh vào gia đình danh gia vọng tộc rồi được thừa hưởng sự giàu sang từ khi lọt lòng. Hoặc họ được học hành đến nơi đến chốn, hoặc có tài năng vượt bậc, sắc đẹp nổi trội, quyền chức cao vời... Cuối cùng, vì những ưu thế đó mà họ khiến được kẻ khác phải nghe theo lời mình. Đây mới là điểm quan trọng. Ưu thế, hay cái phước có giá trị ở chỗ khiến lời nói của ta làm người khác phải nghe theo. Bởi vậy, ông bà ngày xưa mới có câu than thở:
“Tay mang túi bạc kè kè
Nói bậy nói bạ chúng nghe ào ào”.
Tức là người giàu có luôn khiến nhiều người phải nể sợ vâng lời. Nguyên nhân sâu xa cũng bắt nguồn từ cái phước quá khứ của họ. Có thể nói, nhìn vào những ưu thế như tài năng, sắc vóc, địa vị... của một người, ta biết được chắc chắn họ đã có phước từ quá khứ. Nhưng để đánh giá số phước đó nhiều hay ít thì ta có một cột mốc, một thước đo cuối cùng, đó là lời nói của họ sẽ thuyết phục được bao nhiêu người vâng lời nghe theo. Có những lãnh tụ xuất thân nghèo khó nhưng từ đôi bàn tay trắng, họ vẫn dựng nên được một sự nghiệp vĩ đại, lãnh đạo được cả một dân tộc là do đâu? Cũng là vì lời nói của họ thuyết phục được quá nhiều người nghe theo. Họ có lý tưởng, trí tuệ, nhiệt tình, sức mạnh tâm linh... nhưng buộc phải có yếu tố cuối cùng là sự lôi cuốn đặc biệt, có thể thuyết phục được rất nhiều người thì mới làm lãnh tụ được.
Khi có ưu thế rồi, tự nhiên người ta dễ cạnh tranh, dễ loại trừ các đối thủ. Tuy nhiên, cũng có những người dù chiếm ưu thế nhưng không bao giờ nghĩ đến việc chèn ép, tranh đoạt của ai cả. Vậy mà vẫn tạo thành hiện tượng bên lở bên bồi. Ví dụ, một cán bộ làm việc tận tụy đúng với bổn phận và lương tâm, ông quy hoạch khu công nghiệp này, thành lập trang trại kia để người dân có việc làm. Dù ông không nhận tiền hối lộ nhưng rồi đến ngày lễ, Tết, tự động người ta mang quà đến biếu tặng. Đó vẫn là ưu thế của ông, hay nói sâu xa hơn là do phước đời trước. Chính cái phước đời trước khiến đời này ông có quyền chức, rồi người khác, vì vậy mà cứ thích biếu tặng. Người có chức có quyền thường khiến kẻ khác nể sợ và muốn kết thân để được thuận tiện, dễ dàng trong công việc. Điều này rất tự nhiên. Cho dù ông quan rất thanh liêm, không hề đòi hỏi lợi lộc bất chính nhưng do cái phước của ông, bên bồi vẫn tự nhiên xuất hiện. Cuộc đời là như vậy.
Trách nhiệm của “bên bồi”
Người ở bên lở tức là bị thiếu phước. Họ cứ nghèo mãi, đủ ăn đã là may mắn. Có những người phải đi vay mượn khi nhà có việc hữu sự như cưới hỏi, ma chay. Nếu gặp phải kẻ xấu, không lâu sau họ có thể phải mất luôn căn nhà vì không có cách nào trả lãi nổi. Bên lở cứ lở mãi là thế, khi mất ưu thế rồi, khi đã nghèo rồi người ta rơi luôn vào dòng xoáy của cuộc đời, cứ càng lúc cơ cực túng quẫn khốn khổ hơn, trừ khi có một phép mầu xảy ra. Nên người ở bên lở là người đang ở thế bị động, không chống đỡ được trước dòng xoáy cuồn cuộn của cuộc đời đang ập vào mình, họ biết nhờ vào ai? Nhờ vào bên bồi, vào lòng tốt của bên bồi.
Nên những ai đang ở bên bồi, đang có ưu thế, có quyền, có tiền... tức là có sự chủ động thì hãy cưu mang chia sẻ cho người ở bên lở. Bằng không, nếu ta cứ chấp giữ tài sản thì hiện tượng bên lở bên bồi lập tức xuất hiện. Mà nếu hiện tượng này diễn ra quá nhiều, quá nhanh thì chính bên bồi của ta cũng không yên được, ngày nào đó công lý sẽ xuất hiện gạt phăng tất cả. Còn nếu ta biết bố thí thì cũng giống như bên bồi của dòng sông bị gạt bớt, gạt bớt, phù sa không tấp vào thêm nữa, không làm cho bờ bên kia khuyết dần, vì vậy mà cũng tránh được ngày dòng sông gạt phăng tất cả.
Ngoài ra, người ở địa vị cao cũng đừng quên tôn trọng người khác. Ngày xưa chúng tôi đã từng gặp một giảng viên nổi tiếng toàn quốc. Thường chúng ta nghĩ rằng người nổi tiếng sẽ hơi kiêu kỳ một chút, giọng nói có vẻ bề trên một chút. Không ngờ khi chúng tôi vô tình gặp ông ngoài hành lang rồi đứng lại nói chuyện, ông nói chuyện rất lễ độ, dạ thưa từ đầu đến cuối, trong khi ông bằng tuổi bố của chúng tôi và không hề biết chúng tôi là ai, chỉ biết trước mặt mình là một sinh viên nghèo bình thường. Từ đó chúng tôi cứ suy nghĩ về ông, một người ở địa vị cao nhưng lại biết cúi mình xuống, thật là đặc biệt. Đó là bài học mà chúng tôi nhớ suốt đời. Và với sự khiêm tốn rất mực như thế, người ta mới không tạo ra hiện tượng bên lở bên bồi.
Hoặc người giỏi phải biết chỉ vẽ cho người kém, dở hơn để họ giỏi dần lên. Trừ những việc quá quan trọng, còn lại việc gì có thể hướng dẫn hoặc giao lại được ta nên cố gắng tạo điều kiện cho họ làm. Nếu ta ngại không giao việc, hoặc cậy vào cái tài của mình rồi giành làm hết mọi việc thì những người đã kém sẽ càng kém hơn nữa, vì họ không tích lũy được kinh nghiệm làm việc. Hoặc nếu ta là một người thành công, hãy giúp cho những người thất bại vượt lên, hay hỗ trợ cho những người đi sau mình tiếp nối thành công đó.
Và, là người Phật tử biết đạo lý, tin hiểu nhân quả, có đạo đức, ta biết rằng nếu ta đang ở bên bồi thì để giữ cho cuộc đời mình bình yên, tránh những biến động lớn thì phải có trách nhiệm hơn, biết dìu dắt người khác, hạn chế sự chênh lệch ngăn cách, những bất công giữa cuộc đời này. Đạo lý là như vậy, lẽ phải là như vậy.
Thái độ sống của “bên lở”
Còn nếu ta đang ở bên lở thì sao? Trong cái khó khăn của mình, hãy cố gắng làm phước từng chút. Có những người đến gặp Đức Phật thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, con quá nghèo, không thể nào bố thí được”. Đức Phật nói: “Không ai nghèo đến nỗi không có hạt cơm cho con kiến ăn”. Đức Phật nói một câu xác đáng làm chúng ta phải giật mình. Đừng nghĩ rằng ta phải làm những điều lớn lao. Hãy bắt đầu từ những việc thiện nho nhỏ trong tầm tay của mình, chắt chiu từng chút. Chính cái phước đó sẽ mang may mắn đến, khiến sau này ta sẽ tự đứng lên trên đôi chân của mình chứ không mãi trông chờ vào sự giúp đỡ của bên bồi mãi, bởi con người ai cũng cần giữ phẩm giá của mình.
Có những Phật tử thường vận động quyên góp để đi về những vùng xa xôi tặng cho đồng bào nghèo. Một lần có người Phật tử đến nói với chúng tôi rằng: “Thưa thầy, đến vùng đó mãi rồi con thấy người dân chỉ trông chờ hàng cứu trợ chứ họ không còn biết phấn đấu nỗ lực nữa”.
Thực tế này làm chúng ta phải suy nghĩ. Đúng là việc gì trên đời cũng vậy, một cái hay thì luôn có cái dở kèm theo. Hành vi bố thí là tốt nhưng lại gây ra một điều không tốt, đó là sự lệ thuộc trông chờ của người được giúp đỡ. Nên khi đến tặng biếu họ, hãy tặng kèm cả đạo lý nhân quả bằng hình thức nào đó, để những khi không có phẩm vật đến người dân vẫn biết sống tốt, biết san sẻ với nhau, biết tạo phước từng ngày... Dần dần, cái phước được tích lũy sẽ giúp họ tự đứng lên bằng đôi chân của mình, cái phước cũng khiến họ là con người có phẩm giá. Hãy nhớ rằng, người phước nhiều tự nhiên có giá trị nhiều, kẻ kém phước thì giá trị cũng ít hơn. Cuộc sống là vậy. Ta không thể đòi hỏi cuộc đời phải tôn trọng mình như bao người khác được khi cái phước của mình còn quá thấp. Nên khi thấy mình chưa được nhiều người tôn trọng lắm, ta phải biết chấp nhận, hiểu ngay rằng mình còn thiếu phước và cố gắng tạo phước thêm.
“BÊN LỞ BÊN BỒI” TRONG SỰ TU HÀNH
Trong sự tu hành cũng nảy sinh những vấn đề tương tự như hiện tượng bên lở bên bồi. Một số người tu có khiếu, có sở trường ở mặt này và kém dở ở mặt khác. Nếu cứ chăm chăm phát triển một bên và bỏ quên một bên, như vậy họ đang vun đắp thêm cho bên bồi và khoét sâu dần bên lở. Ngày nào đó sự tu hành của họ sẽ sụp đổ khi dòng sông đi thẳng, gạt phăng hết mọi sở trường sở đoản.
Chẳng hạn có người được cho là trí tuệ nhưng thiếu từ bi. Họ cố học, nghiên cứu rồi đi thuyết giảng, đào sâu về lý luận... mà không huân tập lòng từ quảng đại. Một thời gian sau cuộc đời tu hành cũng đổ gãy, bởi bên lở bên bồi đã xuất hiện. Ngược lại, có người chỉ chú ý đến lòng từ bi mà không xem trọng trí tuệ, rồi đời tu cũng gãy ngang. Nghe rất lạ nhưng chúng tôi đã gặp những trường hợp như vậy. Có một vị tu sĩ nổi tiếng về lòng từ. Người Phật tử đến chùa vô cùng cảm mến sự hiền lành của ông. Ông thương cây thương cỏ, thương người thương vật, thương rất dữ dội... Mười năm sau chúng tôi nghe lại thì ông đã ra đời. Nguyên do là khi thấy mình có ưu điểm về lòng từ bi, được nhiều người ca ngợi, ông chỉ còn biết có tâm hạnh này mà xem nhẹ việc tăng trưởng trí tuệ, không tinh chuyên tọa thiền, quả nhiên cuộc đời tu hành của ông không kéo dài được. Bởi khi không có trí tuệ soi sáng, khi không có định lực âm thầm hỗ trợ phía sau thì lòng “từ” bị lẫn với cái “ái” lúc nào mà ta không hay, thật đáng sợ. Nên trong vấn đề tu hành ta phải hoàn thiện nhiều mặt, đừng thiên lệch một mặt nào.
Ví dụ, niệm Phật có tốt không? Rất tốt. Niệm Phật nghĩa là gì? Nghĩa là tưởng nhớ đến Phật và tôn kính Phật. Người thường niệm Phật thầm trong lòng là đang vun bồi công hạnh tưởng nhớ, tôn kính Phật. Tuy nhiên, tu hành không phải chỉ gồm một việc đó mà còn vô số việc khác nữa. Chúng ta cần những giờ phút an trú tâm trong định, không còn một niệm nào khởi lên, kể cả câu niệm Phật cũng phải tắt. Chúng ta cũng cần làm phước, mang đạo lý đến với cuộc đời. Chúng ta cũng cần sự trì giới cẩn mật, cần những công hạnh nhẫn nhục, độ lượng, buông xả... Nếu chỉ chấp nhận, chỉ giữ chặt một mặt nào đó rồi cho là mình đang đi một đường cho mau đến, chắc chắn ta đang rơi vào hiện tượng bên lở bên bồi, sẽ có ngày sụp đổ tất cả.
Nên có những người chỉ dạy một pháp tu, hoặc họ khuyến khích Phật tử chỉ ôm một câu niệm Phật, sống chết cũng chỉ một câu đó để được đắc đạo hoặc vãng sanh, hoặc họ dạy rằng phải ôm một câu thoại đầu: “Trước khi cha mẹ sinh ta ra, ta là ai?”, sống chết chỉ một câu đó thôi và tin rằng sẽ đắc đạo. Thật là sai lầm. Lối tu như thế rơi đúng vào hiện tượng bên lở bên bồi. Hoặc có người quan niệm tu là đóng thất lại, suốt đời không còn tiếp xúc với ai, dù có chết cũng phải chôn mình trong thất giữ một pháp môn hơi thở, không còn tu thêm gì khác. Bảo đảm rằng người đó sẽ chết trong thất và không đắc được gì cả, bởi vì cũng lạc vào bên lở bên bồi.
Việc tu hành giống viên kim cương có nhiều mặt, mỗi mặt đều phải hoàn mĩ như nhau. Cũng vậy, đạo hạnh của ta là sự tô điểm bồi đắp của nhiều công hạnh khác nhau, mỗi công hạnh đều tròn đầy thì dần dần trí tuệ, đạo quả mới phát ra được. Nếu chúng ta chỉ chấp vào một công hạnh, hễ giỏi mặt nào thì cố gắng đào sâu mặt đó, ta sẽ không tránh khỏi thất bại. Người chỉ giỏi một mặt rất khó thành công.
Bill Gate là người giàu nhất thế giới. Đầu tiên ông rất giỏi về tin học. Sau đó ông bỏ học đại học, bắt đầu lập nghiệp. Khi đó, ngoài chuyên môn nghề nghiệp, ông còn phải có thêm đầu óc kinh doanh: biết phải đưa ra sản phẩm nào, phải cạnh tranh ra sao để thế giới phải tiêu thụ sản phẩm của mình. Nếu ở gần ông, có thể chúng ta sẽ còn biết rất nhiều điểm mạnh khác của ông: nói chuyện rất có duyên, có tài ngoại giao, khéo lấy lòng người... Hoặc đối với người diễn viên, họ cũng không phải chỉ có diễn xuất thôi. Để nổi tiếng, họ còn phải có rất nhiều ưu điểm khác. Hoặc một tu sĩ có phải chỉ cần giỏi tụng kinh gõ mõ không? Không phải. Người tu sĩ phải giỏi nhiều mặt, phải đa tài thì mới thu hút đông đảo đồ chúng. Như vậy, người chỉ giỏi một mặt thì không thành công trên cuộc đời được.
Cũng vậy, người tu nếu quá thiên về lý trí khô khan sẽ dễ khiến chúng sinh cảm thấy xa cách, không thương mến. Người này phải quán từ bi để bổ sung. Còn người thiên về tình cảm thì thường xử lý vấn đề không hợp lý, cũng không tạo thành công đức, không đem lại lợi ích cho cuộc đời. Người này phải phát triển thêm trí tuệ.
Hoặc có người chấp vào kinh điển cũ, bài bác mọi sự cải cách đổi mới. Hoặc có người thuận theo thời đại, phát triển những điều mới lạ mà không dựa vào kinh điển cũ. Cả hai quan niệm trên đều sai, rơi vào bên lở bên bồi. Cái trung dung là chúng ta phải dựa vào kinh điển cũ để có được đạo lý chuẩn xác của Đức Phật, đồng thời biết linh hoạt có những đổi mới phù hợp với thời hiện đại để tu, để giáo hóa chúng sinh.
Hoặc có người thấy mình học giỏi cứ đi học mãi, hết lấy bằng này đến lấy bằng kia mà không chịu dừng lại để tu, người này đời tu cũng không tiến được. Nhưng cũng có người khi tu tập thấy nội tâm có yên lắng nên đã không thèm học, chỉ chuyên tu. Người đó cũng không làm lợi ích cho chúng sinh, đạo hạnh sẽ không vuông tròn được. Ta phải vừa tu vừa học, ngoài ra còn bổ sung thêm yếu tố làm phước, hay là công quả. Công quả là môi trường của cả tu và học. Trong công việc, chúng ta sẽ học được nhiều điều hay. Trong công việc, chúng ta cũng sẽ tu hành, kiểm soát tâm mình. Ví dụ, trong ngày lễ khi được phân công làm trong các ban phục vụ, ta có đụng chạm với huynh đệ không? Có. Đó chính là lúc để tu, vì ta phải kiềm cái bản ngã của mình lại mà tùy thuận, nhẫn nhục nhu hòa với huynh đệ. Trong công việc cũng là lúc ta tu, học rất nhiều. Tu, học, công quả phải đi cùng nhau là như vậy. Đừng bao giờ chấp một bên.
Hoặc có người thích lễ hội đông và sợ sự cô độc một mình, cho rằng chùa luôn phải có cúng bái, lễ lộc thì mới vui. Người như vậy có tu được không? Không. Hoặc có người nói: “Đến thăm thầy mà có đông người là con không thích. Con thích lên hôm vắng người để thầy trò ngồi trò chuyện”. Đó là cái tâm ích kỷ. Hơn nữa, đến tham dự buổi lễ đông người ta lại có phước. Vì sao? Vì ta góp phần vào sự long trọng của buổi lễ. Sự long trọng đó tốt cho ai? Tốt cho đạo, mà cũng bày tỏ tấm lòng tôn kính Đức Phật. Ví dụ, khi chùa tổ chức buổi lễ Thành Đạo, Vu Lan hay lễ Phật đản nhưng vì Phật tử sợ đông người nên ở nhà hết, chỉ còn vài ba người thì buổi lễ còn long trọng không? Không. Vì vậy, khi đi dự lễ hội, ta đã góp phần làm cho buổi lễ long trọng và cũng là bày tỏ sự tôn kính đối với Đức Phật nên cũng rất có phước.
Nhưng, người đệ tử Phật vẫn phải có những lúc giấu mình trong cô tịch lặng lẽ để tu hành. Ở nơi không ai biết, chúng ta bắt chân lên ngồi Thiền, theo dõi hơi thở, âm thầm quán từ bi thương yêu chúng sinh... Người thích đông không thể tu một mình được. Hoặc người chỉ thích ở một mình thì đụng lúc đông người không có xoay xở sắp xếp được, do đó cũng không tạo phước được. Ta phải làm sao ở nơi vắng vẻ ta cũng tu được, mà ở chốn đông người ta cũng có mặt được. Ở hai môi trường ta đều thích nghi, đều tu hành ngay trong đó được hết.
Hoặc có những người rất thích làm phước nhưng không muốn ngồi thiền. Cực khổ, tốn kém bao nhiêu họ cũng chấp nhận để làm được việc thiện, nhưng nói đến ngồi thiền thì họ trốn mất, lặn sâu hơn những thợ lặn giỏi nhất của thế giới. Ngược lại, có những người chỉ thích thiền mà không chịu tạo phước. Thật ra, thiếu cái phước hoặc thiếu công phu tu hành thì đời tu đều không tiến xa được. Cái phước và công phu thiền định phải đi song song với nhau. Người tu phải vừa siêng năng gây tạo phước lành, vừa tinh tấn tọa thiền. Đến khi công đức đã đủ, nội tâm ta sẽ được yên lắng trong thiền định. Lúc đó chúng ta sẽ thấy đạo là nơi đó, hạnh phúc là nơi đó.
Hoặc trong đạo Phật, bởi vì chúng ta thiên vị tông phái của mình, thiên vị pháp môn của mình, chùa của mình, thầy mình... nên vô tình đã gây ra sự chia rẽ. Sự thiên vị này cũng giống như hiện tượng bên lở bên bồi. Từ nay, những người đệ tử Phật, dù Tăng Ni hay Phật tử cũng hãy nhìn toàn bộ Phật Pháp như một mái nhà chung, đừng quá thiên vị những cái riêng của mình, đặc biệt là tông phái. Hãy nhớ rằng ngày xưa thời Đức Phật hoàn toàn không có tông phái. Cũng vậy, khi quy y với một vị Thầy, ta rất thương kính Thầy nhưng đừng vì vậy mà thiên vị quá đáng, vì trên thế giới còn rất nhiều vị thầy khác cũng đáng để ta đặt vào đó lòng kính trọng của mình.
“BÊN LỞ BÊN BỒI” TRONG XÃ HỘI
Đạo đức và Khoa học
Thời đại ngày nay được gọi là thời đại của khoa học. Khoa học giải thích được hầu hết mọi điều, đánh tan mọi lối giải thích mơ hồ đã tồn tại trong bao nhiêu nghìn năm, cho rằng thần linh tạo ra tất cả. Khoa học cũng giải quyết được mọi vấn đề phát sinh trong đời sống: chiếc bóng đèn thắp sáng, micro khuếch đại âm thanh, những tòa nhà tân kỳ tiện nghi... Rồi những cuộc chiến tranh chính trị, kinh tế trên thế giới đều dựa vào khoa học. Nước nào có nền khoa học tiến bộ nhất sẽ chiếm ưu thế, sẽ trở thành cường quốc. Đó là đặc điểm của thế kỷ này. Cũng vì lẽ đó mà nhiều nhà chính trị - xã hội cho rằng để đất nước tiến bộ, buộc phải ưu tiên phát triển khoa học kĩ thuật.
Quan niệm này rơi đúng vào hiện tượng bên lở bên bồi. Vì sao vậy? Vì nếu khoa học tiến bộ ào ạt mà không có đạo đức thì sao? Thì người ta sẽ dùng trí thông minh, dùng tài năng của mình để phá hoại. Chẳng hạn những tay hacker chế tạo ra những con virus máy tính, để lại hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế thế giới, thiệt hại không biết bao nhiêu tỷ dollar. Như vậy, nếu khoa học kỹ thuật phát triển ào ạt mà lương tâm, đạo đức loài người chưa lớn mạnh theo kịp thì sẽ chỉ mang lại sự phá hoại khủng khiếp. Vì lẽ đó, nếu thế giới cứ ưu tiên phát triển khoa học kỹ thuật cho mạnh mà không quan tâm đến việc nâng đạo đức của nhân loại lên cho cân bằng, ngày nào đó công lý sẽ xuất hiện. Đó là ngày mà thế giới sẽ sụp đổ, tận thế.
Giáo dục và Pháp luật
Có những nhà chính trị chủ trương thiên về pháp luật, chúng ta hay nghe cụm từ “Nhà nước pháp quyền” là vậy. Người ta cho rằng để cai trị đất nước phải căn cứ trên luật pháp chứ không được dựa vào cảm tính. Mọi việc đều chiếu theo điều mấy, khoản mấy... mà hành xử, ai làm không đúng sẽ bị chế tài hoặc phạt tù. Nhưng trong cuộc sống này, nếu trường hợp nào ta cũng nhất nhất tuân theo nguyên tắc, vô số điều bất hợp lý và bất công lập tức phát sinh. Có bộ phim tên “Ticket” (Chiếc vé). Một người sống ở Mỹ nhưng không có giấy tờ tùy thân, phải buôn bán vé chợ đen để sống qua ngày. Một lần khi anh đến đăng kí gì đó về an sinh xã hội, người làm thủ tục nói:
- Giấy tờ của anh đâu?
- Nào giờ tôi không có giấy tờ.
- Không có giấy tờ làm sao tôi biết có anh?
- Thì tôi đang có mặt ở đây mà.
- Tôi không cần biết có anh, tôi chỉ cần giấy tờ tùy thân của anh để biết là anh đang có mặt trên cuộc đời này...
Đoạn phim không dài nhưng làm chúng ta phải trăn trở. Khi mọi việc căn cứ trên giấy tờ thì con người không quan trọng bằng mảnh giấy. Cô gái không xem người đang đứng trước mặt mình là có giá trị, cô chỉ cần giấy tờ để chứng minh người đó có tồn tại trên cuộc đời này. Vì sự bất hợp lý đó mà ông bà ta ngày xưa đã dạy tình lý đi đôi là vậy, có những vấn đề mà ngoài cái “lý” ra, ta còn phải có thêm cái “tình” vào để giải quyết cho hợp lý.
Ví dụ: Một người móc túi ở bến xe bị công an bắt được, mà nếu căn cứ theo luật pháp thì phải bị bỏ tù vài tháng. Người công an thấy gương mặt “kẻ móc túi” đó cũng hiền lành nên hỏi lý do vì sao lại ăn cắp? Người kia thật thà khai rằng: phải về quê thăm người cha bị bệnh nhưng chẳng may hết tiền mua vé nên đành móc túi, nhưng chỉ chủ định lấy vừa đủ tiền để mua vé xe thôi. Do không phải dân móc túi chuyên nghiệp, nên dễ dàng bị phát hiện. Người công an ngồi trầm ngâm suy nghĩ rồi quyết định không dùng đến luật pháp nữa. Ông lặng lẽ xóa hồ sơ, hủy luôn biên bản. Ít lâu sau ông được gia đình người kia gửi thư cảm ơn, vì đúng là anh ta không phải kẻ bất lương. Người công an đã dùng tình cảm để xử sự nhưng lại rất đẹp. Đặt trường hợp nếu ông cứng nhắc dùng luật pháp thì có khi ông đã vô tình làm hỏng cuộc đời của một con người, chỉ vì họ bị lâm vào đường cùng. Như vậy, một xã hội quá thiên về luật pháp thì cũng như một con sông có bên lở, bên bồi. Đó là lý do mà người lãnh đạo phải nhìn vào đôi ba mặt, đừng vội vã dùng luật pháp để kết tội, bởi có những việc lý là vậy nhưng tình lại khác.
Hoặc có người thiên về giáo dục lại cho rằng chỉ cần dạy cho con người điều hay lẽ phải để họ sống tốt là được, không cần luật pháp. Điều này hợp lý không? Không có luật pháp, không có nhân viên công lực, xã hội chắc chắn sẽ hỗn loạn. Lão Tử ngày xưa đã chủ trương như vậy. Theo ông, nhà cầm quyền không cần làm gì, cứ sống cho tốt là dân tự nhiên sống tốt theo. Từ xưa đến nay không một nhà chính trị nào dám liều lĩnh nghe theo lời Lão Tử. Thường người ta theo Tuân Tử, ông chủ trương thiết lập luật pháp cho nghiêm minh để trị dân. Nhưng thật sự việc gì cũng cứng nhắc theo luật pháp thì cũng không hay.
Nhìn vào xã hội ta thấy lớp trẻ cứ đua xe, lạm dụng ma túy, cướp bóc... Người thiên về luật pháp chủ trương phải bổ sung người vào lực lượng an ninh để răn đe, bắt sạch đám tội phạm. Thực tế, có những nơi mà càng căng thẳng như vậy thì lại càng loạn hơn. Nhưng nếu chúng ta biết kết hợp giữa luật pháp và giáo dục trong gia đình và học đường thì sẽ hiệu quả hơn rất nhiều.
Hoặc có trường hợp nhiều cặp vợ chồng vì yêu quá nên lấy nhau, lấy nhau rồi hoàn toàn không biết sẽ dạy con làm sao. Rồi khi đứa trẻ bước vào trường học thì vấn đề học lực luôn được đề cao. Còn đạo đức thì sao? Nhà trường nói để gia đình lo, gia đình nói để trường lo, cuối cùng để công an lo. Vì vậy, chúng ta phải cân đối nhiều mặt vừa dùng luật pháp mà vừa giáo dục nhân cách từ gia đình, học đường. Nói đến Giáo dục nhân cách từ gia đình là một nỗi đau của dân tộc ta. Có lẽ vì đất nước đã trải qua nhiều thế kỷ chiến tranh loạn lạc, bị ngoại thuộc cho nên truyền thống giáo dục từ gia đình dần mất đi. Rất ít có gia đình nào mà cha mẹ trong từng bữa ăn, trong từng điều nhỏ nhặt của cuộc sống biết tinh tế dạy con từng chút, biết nghiêm khắc buộc con mình phải làm những điều tốt đẹp. Chúng ta cho con đi học, cho con vui chơi, nhưng rất ít khi nhắc nhở con về đạo đức. Nên có lẽ sau này Nhà nước nên bổ sung thêm vào luật hôn nhân, trong đó quy định để kết hôn, người ta phải có chứng chỉ về nuôi dạy con.
Hiện tượng “ngôi sao”
Hiện nay trong lĩnh vực âm nhạc cũng hình thành hiện tượng bên lở bên bồi rất khủng khiếp. Khi những ngôi sao trở nên quá nổi tiếng, một chương trình âm nhạc nếu không có họ thì khó thu hút được lớp khán giả trẻ. Đó là lý do mà dần dần, giá cát-sê trong một buổi diễn của họ được đẩy lên quá cao, gấp hàng chục lần so với các ca sĩ khác, lấn hết của những ca sĩ khác. Rõ ràng đó là hiện tượng bên lở bên bồi. Nếu những ngôi sao chấp nhận hiện tượng bên lở bên bồi này, kiêu ngạo và ung dung hưởng cái phước của mình thì ngày nào đó dòng sông sẽ chảy thẳng, sẽ san bằng tất cả, đó là ngày mà một biến cố nào đó xảy ra rồi họ không còn được hát nữa. Nhưng hiện tượng bên lở bên bồi này cũng đến từ phía quần chúng. Rất nhiều người đã hâm mộ ‘ngôi sao’ vì chạy theo phong trào, chứ hoàn toàn không nhận định được cái hay cái dở nơi giọng hát của người ca sĩ. Thực tế, có những giọng hát nhờ vào công nghệ lăng-xê và nhờ nhiều người ái mộ, nhiều người hùa theo mà trở thành “sao”. Những người có ‘tai nghe nhạc’, đặc biệt là lớp người lớn tuổi thì đánh giá được giọng hát của họ, không bốc đồng chạy theo như giới trẻ. Do đó, sự hâm mộ cuồng nhiệt những ngôi sao ca nhạc thể hiện trình độ nhận thức về nghệ thuật của giới trẻ đang xuống thấp.
Xu thế toàn cầu hóa
Ngày nay phương tiện thông tin liên lạc đã tràn ngập, việc di chuyển từ nước này sang nước kia cũng dễ dàng hơn thời xưa rất nhiều. Hệ quả là nền kinh tế của một đất nước không còn là của riêng nước đó nữa, mà phải lệ thuộc vào nhiều quốc gia khác. Công ty nước này sang nước kia đầu tư, vốn từ nước này chạy sang nước kia, nước này chờ nguồn tiền từ nước kia đổ về... Thế giới ngày nay đan xen, nối kết gắn bó với nhau chặt chẽ. Nhưng không chỉ riêng kinh tế mà kể cả chính trị cũng vậy, các quốc gia đều phải lệ thuộc lẫn nhau, không có quốc gia nào hoàn toàn độc lập. Và trước xu thế mạnh mẽ đó, các nhà lãnh đạo những cường quốc đã họp bàn, nhằm thúc đẩy cho toàn cầu hóa, nhắm đến mục tiêu sao cho thế giới này sớm trở thành một quốc gia chung. Trong quốc gia này hoàn toàn không còn biên giới, thị trường được mở tung cửa, hàng hóa từ nước này có thể tự do đổ sang nước nọ, không còn thuế quan. Và khi những hội nghị bàn về toàn cầu hóa diễn ra, những nhà hoạt động tự do kéo nhau đến biểu tình rầm rộ. Tại sao họ phản đối kịch liệt như thế? Vì họ là những người có trí tuệ, có lương tâm. Họ biết rằng khi toàn cầu hóa đến quá nhanh, khi biên giới sụp đổ thì hiện tượng bên lở bên bồi lập tức xuất hiện ồ ạt, trong đó các nước nghèo là bên lở sẽ không trụ nổi.
Khi mọi hàng rào thuế quan được dỡ bỏ thì hàng hóa nước nào sẽ được bán chạy nhất? Nước giàu, nơi mà khoa học cho phép họ làm ra những món hàng tinh xảo, kĩ thuật cao, chất lượng tốt. Còn những nước nghèo thì không có sản phẩm nào đặc biệt, chỉ dựa vào nông nghiệp. Nếu toàn cầu hóa diễn ra, họ buộc phải mua những sản phẩm tinh vi của nước ngoài, trong khi hàng nông sản bán ra không mang lại nhiều lợi nhuận lắm. Đó là những quốc gia nghèo và sẽ càng nghèo hơn. Còn những nước chế tạo được sản phẩm kĩ thuật cao và bán ra với giá thành cao thì càng ngày càng giàu. “Bên lở lở mãi, bên bồi bồi thêm”, và những quốc gia nghèo sẽ không trụ nổi. Những người biểu tình, dù sống ở nước giàu nhưng họ không nỡ thấy thảm kịch này xảy ra. Nếu đợi cho đến một ngày công lý mới xuất hiện gạt phăng tất cả thì sao? Ngày đó sẽ lâu tới, và đến lúc đó các nước nghèo cũng đã xác xơ. Nên người ta quyết tâm ngăn chặn là vậy.
SỰ XUẤT HIỆN CỦA CÁC VĨ NHÂN
Thỉnh thoảng trong lòng nhân loại lại xuất hiện những thiên tài đặc biệt hay những danh nhân vĩ đại, đây có phải hiện tượng bên lở bên bồi không? Rất giống, nhưng không phải, bởi họ đã thúc đẩy cho đất nước họ, hoặc cho cả nhân loại tiến một bước dài. Ví dụ, nhà bác học Einstein, Pasteur hay Newton, Copernic, Galillé... đều là những con người đã thay đổi suy nghĩ của thế giới. Với Einstein, đến ngày nay người ta vẫn khâm phục trí tuệ của ông. Ông không nhìn vũ trụ bằng con mắt bình thường mà nhìn bằng trí tuệ, làm thay đổi cả hệ thống lý luận của nhân loại về vũ trụ. Dĩ nhiên, lý luận đó chưa phải là hoàn hảo, tuy nhiên cũng rất đáng cho chúng ta khâm phục.
Hoặc là trong thời phong kiến - thời đại mà đất nước được xem như là của vua thì tại nước Pháp bỗng xuất hiện một Jean Jacques Rousseau
- người dám đưa ra khái niệm dân làm chủ thay vì vua làm chủ. Tư tưởng của ông đã đảo lộn hết quan điểm thời bấy giờ, và giúp nhân loại bước sang một nền văn minh mới. Có những triết gia cũng đã làm thay đổi suy nghĩ của con người như Khổng Tử, Lão Tử, hay Kant của nước Đức. Hoặc đặc biệt hơn, như Đức Phật của chúng ta là một Thánh nhân, sự xuất hiện của Người mở ra nguồn đạo lý vô tận tuyệt đối cho nhân loại. Nhưng đến ngày hôm nay thế giới chưa thay đổi nhiều bởi chính vì những người đệ tử Phật, chúng ta đã không truyền bá mạnh mẽ được đạo lý Phật dạy.
Những con người lỗi lạc như các nhà bác học, các anh hùng dân tộc, các văn nhân ưu tú, lãnh tụ kiệt xuất, các Thánh nhân, triết gia lớn,... khi đến với thế giới, họ đã không tạo nên hiện tượng bên lở bên bồi.
Tuy nhiên, trong một xã hội mà con người còn cái tâm đố kỵ quá nặng nề thì nhân tài không phát huy hết được năng lực của họ. Đó cũng là lý do khiến xã hội đó, hay cả đất nước chậm tiến. Nhìn vào nước mình, chúng ta hãy xem nếu số người có tâm ganh tỵ quá nhiều, chắc chắn nước ta còn lạc hậu dài dài. Ngược lại, nếu số người đó không nhiều bằng người độ lượng khoan dung thì ta biết rằng đất nước mình sắp sửa tiến nhanh.
Ta nói ‘đếm’ nhưng cũng có nghĩa là mỗi người hãy tự nhìn lại lòng mình xem còn cái tâm tỵ hiềm nhỏ nhen hay không, có còn khó chịu trước tài năng, thành công, hạnh phúc của người khác hay không. Nếu vẫn còn, chính ta là một nhân tố khiến đất nước chậm tiến. Ngược lại, nếu lòng ta có sự vui mừng hoan hỷ, ta đang góp phần vào sự tiến bộ của đất nước. Chúng ta nhìn lại lòng mình và nhắc nhở lẫn nhau, hễ thấy ai có cái tâm đố kỵ, hãy tìm cách giúp họ vượt qua để mỗi người đều là một viên gạch đắp xây vào sự phát triển chung của đất nước.
Ngoài các Thánh nhân, những lãnh tụ kiệt xuất, những nhà bác học... trên đời cũng còn rất nhiều người tài đức khác. Và đó là những người để ta thừa sự, hỗ trợ, đồng thời ta luôn kêu gọi họ mang cái tài ra mà làm lợi cho cuộc đời, chứ đừng đem tài năng ra chỉ để làm lợi cho bản thân. Và với bản thân mỗi người cũng vậy, nếu có tài, hãy mang cái tài đó mà đắp xây cho đời. Nhiều sinh viên khi sắp bước vào cổng trường đại học, khi đang học, khi chuẩn bị ra trường đều mơ ước tìm chỗ làm có thu nhập cao để có hộ khẩu thành phố, có xe, có nhà, có một gia đình êm ấm sung túc... Nếu chỉ mong muốn chừng đó, mơ ước của họ chỉ là hiện thân của vị kỷ. Trên con đường đời, nếu chiếm được ưu thế, họ rất dễ gây nên hiện tượng bên lở bên bồi. Nên ở đây chúng ta hy vọng lớp trẻ, nhất là những người đệ tử Phật nếu bước vào được giảng đường đại học, hãy mơ ước ngày nào đó khi tốt nghiệp ta sẽ mang tài năng của mình mà làm lợi ích cho cuộc đời. Ta vẫn cần đồng lương để sống, và hãy xem đó là vấn đề phụ.
TẬN THẾ
Với địa cầu này, tận thế là hệ quả cuối cùng của bên lở bên bồi. Tận thế có hai nguyên nhân. Thứ nhất là tiếng nói của các bậc Thánh nhân không còn được ai lắng nghe nữa, con người cứ sống theo bản năng ích kỷ tham lam thù hận, tội lỗi tràn đầy khắp nơi... Tức là khi cái ác đã chiếm ưu thế tuyệt đối rồi, tự nhiên sẽ có một tai họa ập đến phá hủy hết trái đất này, tiêu diệt hết con người để tạo thành những giống loài mới. Muốn tránh ngày tận thế đến với trái đất, chúng ta phải tự đấu tranh với cái ác trong lòng mình cũng như với cái ác ở bên ngoài để đánh bạt điều ác đi, bảo vệ điều thiện. Có giữ gìn điều thiện trong lòng mình, trong lòng mọi người thì chúng ta mới đẩy ngày tận thế lùi xa được.
Vì vậy, riêng với vấn đề thiện ác thì ta không được nói rằng điều thiện nhiều quá nên phải để điều ác phát triển một chút cho cân bằng. Vì sao vậy, bởi vì trong cuộc đời này cái ác luôn có khuynh hướng chiếm ưu thế. Chỉ cần chúng ta lơi lỏng là nó lập tức chiếm ưu thế tuyệt đối, lập tức khuynh đảo xã hội. Còn nếu chúng ta quyết tâm tiêu diệt điều ác, giúp điều thiện phát triển tối đa thì cái ác có chấm dứt không? Chưa chấm dứt nhưng sẽ phải giảm thiểu đáng kể. Nếu tất cả từ chính quyền đến nhân dân, từ nhà trường đến gia đình ai cũng nỗ lực diệt điều ác, ai cũng ra sức giáo dục, nghiêm chỉnh tuân thủ luật pháp... thì với quyết tâm của cả một dân tộc như thế, điều ác vẫn tồn tại khoảng hai mươi, ba mươi phần trăm. Còn nếu một dân tộc không quyết tâm thì điều ác lập tức tăng lên năm mươi, sáu mươi, bảy mươi phần trăm. Đặt trường hợp nếu có sự đồng lõa giữa chính quyền và tội phạm, điều ác lập tức khống chế trên dưới chín mươi phần trăm và đất nước sẽ biến thành địa ngục ngay, khủng khiếp như vậy.
Cho nên đối với hai bờ thiện – ác, mỗi chúng ta phải quyết tâm tiêu diệt cái ác. Làm được hay không thì chưa biết, nhưng trong tim mỗi người đều phải có cái thiết tha, phải có quyết tâm đó. Quyết như vậy nhưng trong tâm ta vẫn sẽ còn mấy chục phần trăm ‘đất sống’ cho điều ác, chứ không phải đơn giản mà dứt trừ được.
Ngoài ra, ngày tận thế cũng mau đến vì mất cân bằng sinh thái. Một trong những nguyên nhân lớn dẫn đến mất cân bằng sinh thái là phá rừng. Giữa thực vật và động vật phải cân đối, ví dụ có bao nhiêu con người, bao nhiêu con cọp, bao nhiêu con voi... thì tương ứng phải có bấy nhiêu rừng, hệ sinh thái khi ấy mới cân bằng. Nhưng thời đại ngày nay người thì đông lên, rừng thì mất đi nhanh chóng, hệ sinh thái bị hủy hoại đảo lộn. Ngày nào đó, loài người sẽ đối diện với một tai họa từ đâu ập đến tiêu diệt tất cả.
Hãy nhớ lại xưa kia, khủng long là loài phá hoại sinh thái rất khủng khiếp. Loài khủng long ăn thịt thì tàn sát những loài vật khác, còn loài khủng long ăn cây cỏ cũng phá hoại thảm thực vật trái đất dữ dội. Khủng long đi đến đâu, rừng rú bị phá tan đến đó. Và sự trừng phạt đã đến. Theo các nhà khoa học, đã có một thiên thạch rất lớn va đập vào địa cầu tại vùng Mexico ngày nay, tạo nên một lớp bụi bao bọc hết trái đất và làm cho trái đất rơi vào một mùa đông lạnh lẽo. Các sinh vật đều chết, đương nhiên khủng long cũng không thể sống sót vì không còn thực phẩm nữa. Bây giờ con người chúng ta đang làm công việc rất giống khủng long. Chúng ta cũng tàn bạo như vậy, cũng xuống biển lùa bắt tất cả cá, lên rừng săn cho hết thú vật, vào rừng chặt sạch cây. Chúng ta đang thúc đẩy cho hiện tượng bên lở bên bồi đến rất nhanh. Ngày nào đó sẽ có công lý xuất hiện gạt phăng tất cả, đó là ngày mà thế giới đi đến chỗ tận thế.
Trong xã hội, trong sự tu hành luôn có hiện tượng bên lở bên bồi, mà nếu chúng ta mặc nhiên chấp nhận và để yên cho hiện tượng đó diễn ra thì một ngày nào đó dòng sông nhân quả sẽ chảy thẳng, gạt phăng cả bên lở hay bên bồi, thiết lập lại sự công bằng mới. Đó là ngày tàn của bạo chúa, của kẻ “ưu thế và tham lam”, hoặc ngày sụp đổ mọi công phu tu hành mà chúng ta dày công vun đắp. Vì vậy hãy cẩn thận đừng để xuất hiện bên lở - bên bồi trong cuộc đời, trong sự tu hành.
Chúng ta nhắc lại câu thơ:
“Con sông bên lở bên bồi
Bên lở lở mãi bên bồi bồi thêm”.


