BI – TRÍ – DŨNG
BA ĐỨC TÍNH MÀ NGƯỜI ĐỆ TỬ PHẬT PHẢI TU TẬP
Khi cư sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám sáng lập ra gia đình Phật Hóa Phổ (tiền thân của gia đình Phật tử), ông đã đưa ra ba đức tính của đoàn viên gia đình Phật tử là Bi - Trí - Dũng. Đó cũng là ba đức tính mà những người đệ tử Phật muốn tìm cầu sự giác ngộ giải thoát cần phải có. Trong bài này chúng ta sẽ phân tích về Bi - Trí - Dũng để tìm ra hướng đi đúng trên con đường tu tập cũng như trong vô số Phật sự khác.
Thứ tự Bi - Trí - Dũng là một thứ tự cực kỳ hợp lý mà đầy trí tuệ. Người đưa ra được thứ tự này cũng là người có kinh nghiệm tu hành, có cái nhìn rất sâu sắc. Nghĩa là ở buổi ban đầu khi ta đến với Đạo, lòng từ bi là tâm hạnh đầu tiên được đề cao nhất. Khi có “từ bi” rồi mới nói đến yếu tố thứ hai là “trí tuệ”. C uối cùng là “dũng lực”, tức là sự gan dạ. Thực tế trong đạo Phật có những người chỉ đề cao trí tuệ, đến nỗi xuất hiện câu nói “Duy tuệ thị nghiệp” – chỉ có trí tuệ là sự nghiệp chính. Đây là một quan niệm không chuẩn xác, không hợp lý bằng phương châm Bi - Trí - Dũng.
TỪ BI
Yếu tố “bi” trong Bi - Trí - Dũng
“Bi” là cách nói vắn tắt của lòng từ bi, nghĩa là lòng thương yêu chúng sinh. Ở đây, khi nói về tình thương yêu một cách tổng quát, ta có thể dùng chữ “từ” là được rồi, nhưng tại sao trong Bi- Trí-Dũng ta không dùng “từ” thay cho chữ “bi”?
“Bi” là sự thương xót khi thấy chúng sinh đau khổ, mà sở dĩ lòng thương xót này xuất hiện được bởi vì trước đó chúng ta đã có lòng thương yêu chúng sinh (tâm “từ”). Đây là nguyên tắc. Có “từ” rồi mới có “bi”. Khi thương ai thì ta mới xót xa khi thấy người đó đau khổ, không có tình thương thì cũng không có xót xa.
Thời tại thế, Đức Phật có hỏi một nông dân là trưởng thôn: “Khi thấy người khác chết, ông có đau khổ không?”. Nông dân nói: “Có người chết, con đau khổ. Có người chết, con không đau khổ”. Đức Phật hỏi: “Sao vậy?”- “Người chết là người trong gia đình con, là người con thương yêu thì con đau khổ. Còn người chết trong thôn là người dưng, con không thương họ nên con không đau khổ”.
Vì vậy, có thương yêu (lòng “từ”) thì mới có xót xa (lòng “bi”). Hay “bi” là hệ quả của “từ”. Vì thế trong phương châm Bi - Trí - Dũng, người ta đã dùng “bi” thay vì dùng “từ”, bởi vì “bi” mang ý nghĩa mạnh hơn.
Lòng từ bi là nền tảng của mọi sự tu hành
Khi đến với đạo, ở khởi điểm ban đầu nếu ai chưa có lòng từ bi làm nền tảng thì thật là một sai lầm lớn. Bởi khi đưa ra một đạo lý, khi làm điều gì đó nếu không dựa trên lòng từ bi thì ta rất dễ rơi vào thủ đoạn. Đây là chỗ rất tinh tế. Ngay cả những đạo lý mà ta được học nếu không dựa trên nền tảng từ bi thì hãy xem lại, coi chừng đó là những thủ thuật để sống, không phải là đạo lý để tu.
Ví dụ câu nói: “Tu là giữ tâm thanh tịnh” có phải là đạo lý không? Nghe rất đạo lý. Nhưng không chắc. Vì sao vậy? Bởi vì người tập thôi miên cũng giữ tâm thanh tịnh; những thuật sĩ Ấn Độ bước đi trên than hồng, ngồi trên dao bén, để chịu được cái đau cùng cực của những lưỡi móc câu nhọn móc vào da thịt rồi treo mình lên... cũng đều phải giữ tâm thanh tịnh, nhưng đó không phải là đạo lý. Hoặc người luyện Yoga để có thể ngồi trên tuyết, chịu được cái lạnh cắt da thịt, họ cũng phải giữ tâm thanh tịnh. Tuy nhiên, chưa chắc họ đã có đạo lý giải thoát.
Vì vậy, câu nói: “Người tu phải giữ tâm thanh tịnh” chưa chắc là đạo lý, có khi chỉ là một đường lối, một phương pháp, một cái thuật để sống cho có hiệu quả thôi. Hơn nữa, để giữ cho tâm thanh tịnh, có những người đã quyết định quay lưng với tất cả vì cho rằng lo lắng cho kẻ khác sẽ làm họ động tâm. Ngay đó họ lập tức rơi vào ích kỷ. Cho nên, câu nói: “Tu là giữ tâm thanh tịnh” nghe thấy đạo lý tràn trề nhưng suy luận một lát thì có khi lại không hề có đạo lý. Vì sao? Vì câu nói đó có thể chưa đặt trên nền tảng thương yêu chúng sinh, mà chưa có tâm từ bi làm nền tảng thì chưa phải đạo lý, lạ lùng như vậy.
Nếu sửa lại: “Phải giữ tâm thanh tịnh để dễ khởi lòng từ bi thương yêu chúng sinh hơn” - câu nói này lập tức trở thành đạo lý, vì có yếu tố từ bi gắn vào. Như vậy ta chấp nhận cái tâm thanh tịnh đó. Nghĩa là ta giữ tâm thanh tịnh để có thể thương yêu chúng sinh dễ dàng, tràn đầy hơn. Hoặc nói: “Khi thương yêu chúng sinh, làm lợi ích cho chúng sinh thì tâm ta sẽ được an vui, thanh tịnh” - câu này cũng thành đạo lý vì có nhân quả, có lòng từ bi trong đó.
Trong đạo Phật, nhiều người đã tôn sùng phương châm: “Người tu phải lấy Trí tuệ làm sự nghiệp chính” (Duy tuệ thị nghiệp) và ca ngợi đó là mục đích tối thượng để sống, để tu. Nhưng phương châm này đã thành đạo lý chưa? Chưa, nếu chỉ nói đến trí tuệ là chính mà bỏ qua các yếu tố khác, kể cả lòng từ bi thì thật là sai lầm. Chưa nói đến lòng từ bi thì không có gì thành đạo lý cả, bởi có khi chúng chỉ là những thủ đoạn hoặc một thủ thuật, một phương pháp để sống mà thôi. Nếu sửa lại: “Vì phải thương yêu chúng sinh nên chúng ta phải có trí tuệ, để biết cách mà làm lợi ích cho chúng sinh” – câu này lập tức trở thành đạo lý.
Vì vậy, từ đây mỗi người hãy tự nhìn xem mỗi hành động, mỗi ý nghĩ của chúng ta có lòng từ bi ẩn chứa trong đó hay không. Người tu hành hơn nhau ở điểm này, chỉ vậy thôi mà người đó tương lai sẽ thành Phật, hoặc chỉ là một người tầm thường cứ luân hồi mãi. Không cần biết là người xuất gia hay tại gia, ai cũng phải để ý xem mỗi hành động, mỗi lời nói của mình có xuất phát từ lòng từ bi hay không. Và ta phải đạt được trình độ là từng ý niệm nhỏ khởi lên vẫn chứa đựng lòng từ bi trong đó.
Với người mới biết tu, thường khi có kẻ khổ tìm đến họ mới động lòng thương xót và giúp đỡ. Hoặc khi nghe cơn bão quét qua một vùng làm sập mấy trăm căn nhà, họ thấy xót xa rồi tìm cách vận động cứu trợ. Đó cũng là lòng từ bi, tuy nhiên chỉ thỉnh thoảng mới chớm khởi rồi dễ dàng tắt mất. Đối trước cảnh khổ của chúng sinh mà biết thương xót, biết tìm cách giúp đỡ, người như thế đã tương đối tốt. Nhưng để làm Thánh thì như thế vẫn chưa đủ, để làm Thánh thì phải đạt đến trình độ là mỗi ý niệm nhỏ trong tâm đều phải gắn với lòng từ bi.
Ví dụ, ăn cơm là việc cá nhân của mỗi người, nhưng có người vẫn gắn từ bi vào đó. Người tu đến mức độ lý tưởng là vậy. Mặc dù nhìn bên ngoài mọi người đều giống nhau, nhưng người bình thường thì ăn cho mình, ăn để mình no, để mình khỏe mạnh; còn người tu bưng bát cơm lên ăn là vì chúng sinh, vì Phật Pháp chứ không phải vì cá nhân của mình. Họ ăn để có sức khỏe mà tu hành và làm lợi ích cho Phật Pháp, cho chúng sinh. Tức là mỗi hành động nhỏ, mỗi ý nghĩ nhỏ đều có từ bi ở trong đó, nên người này ăn mà không có tham. Khi cần ăn nhiều thì vẫn ăn, nhưng khi phải chia sẻ thì biết nhịn bớt để chia sẻ, họ kĩ lưỡng sâu sắc trong từng điều nhỏ nhặt như vậy.
Nên trong đời sống hàng ngày, có những lúc ta phải buông xả để nhiếp tâm thanh tịnh, còn khi đụng chuyện phải khởi lên ý nghĩ thì ta đều đặt trên nền tảng của tình thương yêu chúng sinh. Đó sẽ là người có thể chứng được Thánh quả.
Rồi sau một thời gian tu tập, khi tâm đã nhiếp được trong thanh tịnh, ta có cần phải giữ ý niệm từ bi nữa không? Thường người tu ai cũng chọn một pháp môn để nhiếp tâm. Hoặc ta thường xuyên niệm Phật; hoặc quan sát hơi thở; hoặc quán thân tâm, ngoại cảnh là vô thường hư ảo... Nhưng khi tâm ta đã nhiếp được trong thanh tịnh rồi thì đừng để tâm ở không uổng phí, mà hãy luôn luôn đặt vào đó một ý niệm từ bi nhẹ nhàng và thường xuyên. Cả khi ngả lưng xuống nghỉ, trong lúc đợi giấc ngủ đến ta cũng không ở không, lúc đó vẫn phải an trú trong ý niệm từ bi. Nghĩa là từng giờ, từng phút, dù lúc đi đứng nằm ngồi, dù lúc nhìn thấy vô số người trước mặt, hay dù lúc trong đêm khuya thanh vắng một mình,... lúc nào ta cũng âm thầm giữ tâm thương yêu chúng sinh, không xa lìa ý niệm đó. Phải tu tập quyết liệt như vậy mới xứng đáng là đệ tử Phật.
Ai ít huân tập tâm từ bi, chỉ thương yêu con người một cách hời hợt thì đạo nghiệp, đạo hạnh sẽ không tiến nhiều. Vào những kiếp kế tiếp, họ sẽ trở lại làm con người bình thường, có thể là người Phật tử biết đi chùa, rồi cũng cúng chùa, cũng làm phước một chút nhưng sẽ không bao giờ vượt lên để làm một vị Thánh cao siêu được. Mà đã là Phật tử, ta phải biết gieo nhân ngõ hầu sau này có thể trở thành một bậc Thánh để lo lắng, giúp đỡ, giáo hóa vô số chúng sinh trong cuộc đời. Cho nên, trong việc tu hành chúng ta phải có những bước tiến vượt bậc chứ không được phép tu sơ sài, hời hợt.
Thực tế, trừ một số ít người có chí hướng lớn muốn vượt tiến xa trên con đường đạo, còn lại có rất đông người cũng đến với đạo nhưng đến một cách hời hợt, chỉ tu cho qua ngày, mong tích cho mình được chút phước rồi đời sau kiếm một nơi an ổn sung túc mà đầu thai vào, hoặc người già thì chờ đến ngày chết với mong muốn đi về cõi lành nào đó. Tuy nhiên, suy nghĩ như vậy tầm thường lắm, chúng ta phải có chí hướng, có lý tưởng lớn hơn là làm sao độ cho tất cả chúng sinh đều biết Phật Pháp, đều biết sống cao thượng, đều trở thành bậc Thánh hết. Mà muốn có chí nguyện vượt bậc đó thì lòng từ bi phải thật sâu dày rộng lớn. Nên trong ba đức tính Bi-Trí-Dũng thì khởi điểm ban đầu, tức là tâm “bi” rất quan trọng. Lòng từ bi lớn chừng nào thì công đức và đạo nghiệp về sau cũng sẽ lớn chừng nấy. Đó chính cái nhân để thành Thánh, để ta không làm một người tầm thường cứ trôi lăn trong luân hồi mãi.
TRÍ TUỆ
“Trí” nghĩa là trí tuệ, là khả năng nhận thức, suy nghĩ, phán đoán... của con người. Trong đạo Phật có rất nhiều loại trí tuệ, tuy nhiên trong bài này chúng ta chỉ đề cập đến một số trí tuệ sau đây.
Trí tuệ hiểu đạo lý
Trí tuệ đầu là hiểu đạo lý, không hiểu đạo lý thì sẽ không có trí tuệ. Chúng ta lặn lội tìm đến chùa nghe giảng pháp, hoặc thỉnh kinh sách, băng đĩa về tìm hiểu, hoặc đàm đạo trao đổi giáo lý với nhau... Tất cả nhằm có được khởi điểm ban đầu của trí tuệ, là sự am hiểu đạo lý. Đây là bước ban đầu, tuy nhiên đây không phải là tất cả, phía sau nó còn nhiều bước nữa.
Tuy nhiên, chúng ta hãy lưu ý điểm này. Chỉ khi nào ta thật sự thực hành được lời dạy của Phật thì ta mới có trí tuệ ban đầu. Nhiều người sau khi đã học được đạo lý rồi liền đi ra ngoài nói như là đạo lý của mình, mặc dù đạo lý trong kinh điển là của ai? Của chư Phật. Như vậy họ đã mắc tội gì? Khoe khoang, “vi phạm tác quyền”. Tức là, nếu họ nói lại với thái độ ngông nghênh, kiêu mạn, dương dương tự đắc giống như là của mình thì thật sự tổn phước. Sau này tự nhiên họ gặp nhiều chuyện không may, đánh mất tư cách, tâm dần trở nên loạn động và có khi sẽ đọa mất luôn – chỉ bởi vì đã nói lại lời của Phật với thái độ không khiêm tốn, nói như là trí tuệ của chính mình, mặc dù mình chưa chứng được trí tuệ đó.
Đây là điểm mà chúng ta phải cẩn thận, cả Tăng Ni và Phật tử, bởi trong đạo Phật tình trạng này xảy ra rất nhiều.
Chỉ khi học được đạo lý của chư Phật mà ta biết áp dụng để tu hành, để cư xử với mọi người cho đúng thì dần dần đạo lý đó mới biến thành trí tuệ cho chính ta. Còn nếu ta chưa tu hành, chưa biết đối xử tử tế với con người mà vội vàng “nổ” thì thật là sai lầm. Vì thế, hãy phát nguyện trước Phật mỗi ngày rằng: “Từ nay về sau con không bao giờ khoe khoang cái hiểu của mình nữa, con nguyện chỉ gắng công tu hành từng ngày để trí tuệ Phật dạy biến thành trí tuệ nơi con”.
Ví dụ, Phật dạy về đạo lý không sân hận. Ngay từ bây giờ ta phải thực hành nghiêm túc, cho đến vài năm sau, khi tâm ta bình thản lặng lẽ trước mọi nghịch cảnh, có những lúc bị xúc phạm, bị nói nặng lời mà không một hạt bụi phiền não khởi lên thì lúc đó ta mới được quyền khuyên người khác: “Này bạn, sự nóng nảy dễ làm chúng ta tạo nghiệp vì lúc đó ta sẽ nói những lời để cho mình hả dạ nhưng lại xúc phạm đến người khác. Ngay đó ta lập tức tổn phước. Vì vậy, hãy cố gắng đừng sân. Ngay cả những lúc chưa đụng chuyện, tâm chưa hề nổi sân ta đã phải lo sám hối cái tâm sân của mình, đã phải lạy Phật phát nguyện rằng xin cho con dù gặp chuyện trái ngang, gặp vô số nghịch cảnh thì lòng vẫn không chớm khởi niệm sân...”. Lúc đó lời nói của ta không phải là sự khoe khoang, mà thật sự trở thành lời dạy quý báu có sức mạnh lay chuyển tâm hồn người kia, vì ta đã nói từ sự thực hành sâu thẳm của chính mình.
Do đó, mặc dù hiểu đạo lý là trí tuệ ban đầu nhưng hãy cẩn thận. Ta có thể học hết lớp giáo lý này đến lấy bằng cấp kia, tuy nhiên đó chưa phải là trí tuệ, không phải là “Duy tuệ thị nghiệp”. Chỉ chừng nào ta thực hành được, thấm được, thành tựu được lời dạy của Phật thì lúc đó ta mới có cái trí tuệ ban đầu, mới được quyền đem đạo lý đi dạy cho người khác.
Trí tuệ hiểu được cách sống ở đời
Đây là trí tuệ thứ hai. Hiểu đạo lý chỉ là trí tuệ ban đầu, bởi cũng chỉ dừng ngang lý thuyết. Nhưng bắt đầu khi đụng chạm với thực tế cuộc sống, ta phải xử sự như thế nào cho phải lẽ, đó mới là trí tuệ lần nữa.
Ví dụ, trong kinh điển có dạy phải thương yêu chúng sinh và ta hiểu điều đó. Nhưng cái hiểu này chỉ là bước ban đầu của trí tuệ. Khi bước ra cuộc sống thực, ta phải làm sao trải được lòng thương yêu đó đối với vô số người mà mình gặp gỡ, đây mới là bước thứ hai của trí tuệ. Nếu gặp con người mà ta không thương được, có nghĩa là ta chưa có trí tuệ thứ hai này. Mà rất nhiều người tu vướng phải nhược điểm này, học rất nhiều, đọc rất nhiều, nhưng khi bước vào trong đời sống thực tế lại không áp dụng đạo lý vào được.
Một lần có người Phật tử hỏi chúng tôi: “Thưa Thầy, tại sao Thầy không chuyên giảng kinh thôi mà lại giảng về đủ mọi việc trên đời?”. Chúng tôi trả lời: “Đạo là cách để sống ở giữa cuộc đời này”. Hãy nhớ điều đó, chứ đạo không phải là cách để trốn cuộc đời. Thời xưa trong bối cảnh của một Ấn Độ đơn giản, Đức Phật đã giảng như thế, người ta sống và tu như thế, vì đời sống lúc đó tương đối không phức tạp. Nhưng hơn hai ngàn năm trăm năm sau, đến ngày hôm nay thì kỹ thuật đã tiến bộ không ngừng, quan điểm hay tâm tình con người đều đã thay đổi rất nhiều. Vì thế, Phật giáo cần có một sự phát triển mới để đem đạo soi sáng vào cuộc đời một lần nữa, bởi đạo phải là cách để sống.
Hơn nữa, khi biết được cách sống ở đời cho tốt đẹp thì chúng ta mới có cái phước để thoát ra khỏi cuộc đời. Nhiều người lầm tưởng rằng để đi tìm sự giải thoát cao siêu thanh tịnh thì phải lập tức quay lưng với tất cả. Nhưng họ sẽ không bao giờ thoát khỏi cuộc đời. Chỉ ai đã đi qua một quá trình sống rất tử tế với con người thì mới có được sự vượt thoát khỏi thế gian.
Trên đời có vô số tình huống bất ngờ xảy ra ở nhiều hoàn cảnh mà ta không lường trước được, cũng không ai có thể dạy trước. Chỉ tùy từng trường hợp mà ta cư xử cho tốt đẹp, cho đúng đạo lý. Đó cũng là trí tuệ. Ví dụ, việc bố thí cho người nghèo khổ sẽ mang lại cái phước sang giàu trong tương lai. Căn bản là vậy, tuy nhiên không đơn giản như thế. Vì sao? Nếu ai đến xin ta cũng mang tiền ra cho thì coi chừng lại sai với đạo lý, và chính ta cũng không có trí tuệ. Thực tế quả thật lạ lùng!
Trước khi bố thí, chúng ta phải đánh giá: số tiền được cho đi có tổn hại đến gia đình, có làm cho gia đình hao hụt thiếu thốn hay bất hòa tranh cãi hay không. Hoặc ta đánh giá người đến xin có phải người đói khổ, người cần tiền để làm những việc chính đáng không? Hay họ lấy tiền để đi ăn nhậu, hay họ là kẻ lừa đảo chuyên hành nghề xin ăn? Nếu rơi vào những trường hợp này, họ càng nhận tiền càng mang tội. Và hễ lừa ai được một lần rồi họ sẽ lừa mãi. Có người nói: “Thôi kệ, ai làm bậy người đó mang tội, phần mình thì cứ cho”. Đó là câu nói vô trách nhiệm. Thay vì cho tiền, hãy cho người ta một cái nghề nào đó để họ tự nuôi sống mình. Hơn nữa, tình trạng giả mạo hình thức tu sĩ để xin tiền cúng dường xảy ra ở khắp nơi. Một số người còn trình ra cả giấy tờ giả mạo có đóng dấu mộc của ngôi chùa nào đó rồi đi khắp nơi quyên tiền xây chùa. Những trường hợp đó đều là lừa đảo, và nếu biết rõ thì ta nên mời công an đến làm việc với họ. Vì vậy, tùy tình huống, hoàn cảnh mà ta nên bố thí nhiều, bố thí ít, không nên bố thí, hoặc thậm chí phải nhờ đến cảnh sát. Đó mới là trí tuệ. Đừng bao giờ xuề xòa dễ dãi và nghĩ rằng đạo là như thế.
Hoặc trước lỗi lầm của người khác, ta phải phản ứng như thế nào cho thích hợp? Có người cho rằng chỉ cần dạy bảo nhẹ nhàng để họ sửa lỗi, đừng nói nặng, đừng rầy la trách phạt. Tuy nhiên, cách này chỉ dành cho người thượng căn, bởi chỉ cần nhận được lời góp ý nhẹ nhàng, điềm đạm họ lập tức suy nghĩ và sửa sai ngay. Và trên đời thì rất ít người thượng căn, còn đa số phải được nghe góp ý nhiều lần, có khi ta phải trừng mắt, phải nghiêm khắc họ mới sợ. Nên tùy người mà ta có thái độ thích hợp để họ sửa lỗi. Với người căn cơ cao ta chỉ cần phân tích là họ nghe ra ngay. Còn có những người ta phải nghiêm khắc, phải cứng rắn, phải bắt phạt, chứ không ôn tồn nhẹ nhàng được. Thậm chí, ta nhờ đến các lực lượng cảnh sát. Ví dụ, khi gặp một tên trộm leo vào nhà mình, trên tay cầm một con dao, ta có ngồi xuống ôn tồn giảng đạo lý cho hắn nghe được không? Không. Có rầy la, có phạt được không? Không. Vậy ta làm sao? Tùy tình huống, có khi phải chạy thoát thân rồi mới báo cảnh sát. Tóm lại, khi con người tiếp xúc với nhau sẽ có vô số các tình huống xảy ra, và việc áp dụng đạo lý để đối xử như thế nào cho phù hợp được gọi là trí tuệ.
Trí tuệ hiểu về con người
Trí tuệ thứ ba là hiểu về con người. Đây là phần hơi cao, hơi sâu. Nghĩa là dù ta đã sống tốt đẹp rồi nhưng khi gặp gỡ, tiếp xúc với mọi người, ta phải nhận xét, đánh giá được họ. Nhìn vào con người, ta tương đối biết được người tốt, người xấu, người đã hiểu đạo nhiều, người chưa hiểu đạo lắm, người khôn ngoan, người ít khôn ngoan, người tham lam, người không tham... Đây cũng là một trí tuệ quan trọng, bởi nếu không có trí tuệ này ta rất dễ bị lừa gạt.
Thông thường người càng lớn tuổi chừng nào thì khả năng nhận xét con người càng tinh tế, bén nhạy chừng nấy. Vừa gặp gỡ trò chuyện đôi chút là họ đã ít nhiều đánh giá được người đối diện. Còn với những bậc Thánh, sự đánh giá của các vị còn sâu xa vi tế hơn nữa. Với chúng ta, dù chưa đạt đến mức độ trí tuệ của một bậc Thánh nhưng ta ít nhiều vẫn phải biết nhận định về con người, để làm gì? Để đối xử cho thích hợp, hoặc để giáo hóa cho hiệu quả.
Trí tuệ phán đoán tình huống
Nghĩa là trong cuộc sống, dựa vào kinh nghiệm mà chúng ta đoán được sự việc sẽ diễn tiến như thế nào, điều gì sắp xảy ra.
Sáng tạo
Trí tuệ kế tiếp là khả năng sáng tạo, ví dụ như người đặt ra một bài thơ, nghĩ ra một kế hoạch, tìm được một giải pháp, phát minh một sản phẩm mới... đều là người có trí tuệ.
Sáng tạo là dấu hiệu cao của trí tuệ. Tuy nhiên, trí tuệ ở trong đạo phải là trí tuệ đúng đạo lý. Còn nếu ta sáng tạo ra những tác phẩm không hợp đạo lý thì quả báo về sau cũng không tốt. Ví dụ, người viết được cuốn tiểu thuyết là có trí tuệ nhưng nếu cuốn tiểu thuyết của họ không có giá trị về đạo lý mà chỉ nói về những tình cảm ủy mị thì lâu ngày lại thành cái tội.
Trí tuệ thấy được lỗi mình
Trong đạo Phật, trí tuệ căn bản và quan trọng nhất là thấy được lỗi mình. Ai thấy lỗi mình càng nhiều thì càng tu khá, bởi vì sao? Bởi vì khi chưa chứng Thánh thì ai cũng còn lỗi, lầm lỗi của ta đến mười kiếp nữa vẫn chưa dứt. Người nào quay qua quay lại, suy nghĩ tới lui, vò đầu bứt tóc rồi mà vẫn không thấy lỗi nào của mình thì thật là không có trí tuệ. Kẻ trí trước tiên phải thấy được lỗi mình.
Có những người đệ tử phạm lỗi dù đã được Thầy mình quở trách nhưng vẫn không chịu nhận lỗi, đó là người vừa không có trí tuệ mà vừa ương bướng. Những vị Thầy dạy đạo đều đánh giá các đệ tử của mình ở chỗ này. Nếu người đệ tử nhanh chóng thấy lỗi và nhận lỗi, đó là người căn cơ lớn, có trí tuệ, sau này sẽ làm được việc đạo. Còn nếu họ ít thấy được lỗi mình, khi được Thầy nhắc vẫn không chịu nhận lỗi thì căn cơ tương đối kém, và trí tuệ cũng không nhiều.
Nên trong cuộc đời tu hành của mình, thay vì chăm chăm để ý lỗi của người, ta hãy lo tìm lỗi của mình. Vậy lầm lỗi của kẻ khác thì để cho ai lo? Để cho những vị có đức độ lo, để cho chư Phật, chư Bồ tát lo. Về phần mình ta phải nghiêm khắc với bản thân mình, thấy lỗi mình trước. Chừng nào cái đức của mình đã lớn thì ta mới được quyền thấy lỗi, chỉ lỗi cho người khác để dạy dỗ họ.
Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng nếu chỉ bằng trí tuệ của mình, ta không bao giờ thấy được những lỗi quá vi tế nằm chìm sâu trong tâm. Nên ngày xưa, Ngài A-Nan đã nói bài kệ này trong Kinh Lăng Nghiêm:
“Đại hùng đại lực đại từ bi
Hi cánh thẩm trừ vi tế hoặc
Linh ngã tảo đăng vô lượng giác
Ư thập phương giới tọa đạo tràng
Thuấn nhã đa tánh khả tiêu vong
Thước ca la tâm vô động chuyển”.
Bài kệ của Ngài thật là hay, nghĩa là dù Ngài đã ngộ được đạo nhưng với những lậu hoặc vi tế thì Ngài không tự sức mình diệt trừ nổi, mà phải có sự gia hộ của chư Phật. Ý này thật là chuẩn xác. Trong sự tu hành, chúng ta chỉ đủ trí tuệ kiểm soát những phần phiền não thô, những lỗi lầm thô dễ thấy. Còn những lỗi lầm vi tế khó thấy thì thường chúng ta phải nhờ sự gia hộ của Tam Bảo.
Ví dụ như Phật tử hay Tăng Ni trên bước đường tu tập ta thấy mình tương đối vững vàng, đối với người khác ta cũng tốt bụng giúp đỡ, không tham lam, không giận hờn, không nói dối, không nói một lời mắng nhiếc ai, ta sống một cuộc sống êm đềm thanh thản... Đó là phần thô dễ thấy, tự ta kiểm soát được. Nhưng trong sâu thẳm nội tâm của ta còn vô số hơn thua, những ích kỷ vi tế, những bực bội giận hờn ngấm ngầm mình cũng không thấy được hết. Đây là chỗ người tu chúng ta phải nhờ Phật gia hộ, để thấy được những lầm lỗi còn ngủ ngầm trong tâm. Mặc dù chúng ta rất nỗ lực, rất cố gắng, nhưng luôn biết khiêm tốn nhờ vào sự gia hộ của chư Phật.
Trí tuệ của bậc Thánh
Trong đạo Phật, nơi một vị Thánh phải hội tụ hai loại trí tuệ. Một là trí tuệ của thần thông: biết được quá khứ vị lai, biết cả từng tâm niệm của chúng sinh. Thứ hai là trí tuệ thấy được đạo lý.
Trước tiên là trí tuệ của thần thông. Chúng ta đã nghe kể về Hòa thượng Hư Vân khi gặp những người đệ tử, Ngài có thể nói trước năm năm sau, mười năm sau cuộc đời của người đó sẽ như thế nào, đạo vận sẽ ra sao. Những bậc Thánh là như vậy, luôn có cái trí tuệ của thần thông. Khi chúng sinh tìm đến, các Ngài đều trải lòng từ bi thương xót bình đẳng, tuy nhiên vẫn biết rõ người xấu người tốt, biết trong quá khứ họ đã làm những hạnh nghiệp gì, tương lai sẽ ra sao... Biết rất rõ ràng.
Trí tuệ thứ hai của bậc Thánh là thấy được đạo lý. Ví dụ như Đức Phật, khi Ngài đã đắc đạo rồi thì từ chỗ như không có gì mà Ngài thuyết thành tam tạng kinh điển. Đó là trí tuệ thấy được đạo lý của bậc Thánh. Rồi những vị đại đệ tử của Đức Phật: ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên hay ngài Phú Lâu Na cũng vậy, các ngài cũng đã nói lên những bài pháp vi diệu, dù dựa trên nền tảng của Đức Phật nhưng vẫn có những sáng tạo riêng. Tuy nhiên, chỉ có Đức Phật là đặc biệt nhất, vì từ chỗ như không có gì mà Ngài đã dựng lên cả một hệ thống đạo lý, cả tam tạng kinh điển.
Trong hai loại trí tuệ của bậc Thánh thì trí tuệ thấy được đạo lý quan trọng hơn, vì cứu được thế giới, cứu được chúng sinh. Còn trí tuệ thần thông thì cũng hay nhưng chỉ là phụ trợ, không phải chánh yếu.
Từ bi là nhân – Trí tuệ là quả
Trí tuệ thường là một nhân quả lớn bắt nguồn từ đời trước. Người thì trí tuệ lớn, tài năng nhiều, kẻ thì cả trí tuệ và tài năng đều bình thường, thậm chí si ám u mê. Tất cả đều do phước mà thành tựu, không phải do luyện tập trong vài ngày vài tháng.
Ví dụ, khi thấy người khác giỏi giắn, ta cố rượt theo để giỏi bằng họ nhưng vẫn không được, bởi vì trí tuệ, sự thông minh thuộc về nhân quả của những kiếp xưa. Vào đời trước người kia đã kiên trì mang cái tài, cái trí của mình ra giúp ích cho đời, còn ta đã lười biếng ít năng nổ giúp người, vì thế kiếp này ta không có trí tuệ, tài năng nổi trội. Tuy nhiên, nếu ta biết điều chỉnh bằng nhân quả thì trí tuệ vẫn có thể dần dần thành tựu được trong kiếp này.
Trước hết hãy lưu ý đến một nhân quả quan trọng: từ bi là nhân - trí tuệ là quả. Những người có lòng thương yêu chúng sinh thì chắc chắn sẽ có trí tuệ. Chúng ta hãy để ý những người có tình thương yêu rộng lớn cũng sẽ thường hay có dấu hiệu của sự sáng tạo, của một trí tuệ đặc biệt. Ngay cả một nghệ sĩ có lòng thương mẹ thôi mà cũng viết được một bài hát hay. Khả năng sáng tác thì thuộc về tài năng, nhưng sự thật nó xuất phát từ chính lòng thương cha mẹ của người nhạc sĩ. Thậm chí có những người bình thường, đời sống của họ cũng không có gì đặc biệt lắm nhưng vì quá thương cha thương mẹ, tự nhiên cũng có lúc họ đặt được một ca khúc hay. Huống hồ những người trong nhiều kiếp đã sống từ bi vị tha, có lòng thương yêu rộng lớn, chắc chắn càng về sau họ sẽ càng thành tựu được trí tuệ cao hơn.
Còn một người đệ tử Phật với lòng thương yêu chúng sinh lớn thì dần dần trí tuệ cũng sáng ra, từng lời nói của họ sâu sắc dần, cách giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống tự nhiên hợp lý thông minh hơn. Từ bi đã sinh ra trí tuệ là vậy. Nên với những bậc Tôn túc, những Hòa thượng đạo cao đức trọng, tức là những vị có lòng từ bi lớn, khi ở gần các vị chúng ta sẽ cảm nhận được một trí tuệ rất sâu sắc.
Trước kia Hòa thượng Thiện Hòa là người nổi tiếng có lòng từ đặc biệt. Dù trong lúc Hòa thượng im lặng không nói gì thì ánh mắt người vẫn phảng phất lòng từ mênh mông, làm cho ai vừa nhìn thấy cũng phải mềm lòng, cảm động ngay, chỉ muốn quỳ lạy dưới chân người. Hòa thượng có trí tuệ sắc bén và ý chí rất đặc biệt. Một lần Hòa thượng đi lên núi thăm người đệ tử là học trò của mình. Khi giã từ xuống núi, vì chưa có xe nên Hòa thượng phải đứng chờ xe dưới trời nắng. Lúc đó vị Thượng tọa là học trò mới thỉnh Hòa thượng trở lên chùa lại để chờ xe. Hòa thượng nói: “Không, đã từ giã rồi thì không nên quay lại, cứ chịu khó đứng chờ xe đến”. Cái ý chí, lập trường thật kỳ lạ. Các vị rất hiền lành, rất thương yêu con người nhưng với bản thân mình thì cứng rắn và nghiêm khắc, không dễ dãi. Nhiều bậc tôn túc lớn đều như vậy, đều có lòng thương yêu lớn và có cái trí tuệ cũng lớn như thế.
Trong cuộc sống chúng ta cũng vậy, khi chúng ta thương yêu con người thì dần dần trí tuệ sẽ phát sinh, vì từ bi là “nhân” mà trí tuệ là “quả”. Có những người không hiểu điều này nên khi thấy nhiều người giỏi hơn mình họ cũng muốn giỏi theo, nhưng rồi không bao giờ được. Vì sao vậy? Vì không đúng nhân quả. Đi đúng nhân quả, trước hết họ phải tu tập lòng từ bi cho vững chắc, rồi tự nhiên năm năm sau, mười năm sau, thậm chí phải đến hai mươi năm sau, họ thấy mình thông minh hơn trước. Rồi qua những kiếp sau nếu vẫn duy trì lòng từ, họ sẽ dần đạt được đỉnh cao của trí tuệ. Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng “Từ bi là nhân – trí tuệ là quả”, đây là nhân về lâu dài, chứ không phải một sớm một chiều mà có được.
Bây giờ ta nói đến nhân quả gần. Trong cuộc sống, người có lòng thương yêu thì thường hay tìm cách làm lợi ích cho kẻ khác. Ví dụ, khi thấy ai đó nghèo nhưng họ không đủ sức giúp, họ ưu tư rồi vận động, bàn bạc với mọi người để tìm cách giúp đỡ. Việc suy nghĩ tìm cách giúp người - đó chính là cái nhân để tạo thành Trí tuệ. Nên sống trên đời, nếu không bao giờ tìm cách giúp ai thì ta sẽ không bao giờ có trí tuệ được, và cũng sẽ không có phước.
Muốn làm phước thật không hề dễ dàng, vì không phải lúc nào ta cũng có sẵn tiền để làm một cách thoải mái như người giàu có. Mong muốn giúp người thì nhiều, mà tiền trong túi thì ít, đó là nỗi khổ tâm của nhiều người. Nhưng nếu ta không giúp thì không có gì xảy ra nữa, mưa cứ rơi và nắng cứ rọi, cuộc đời cứ trôi qua và ta sẽ không tạo được phước. Vì vậy, dù trong hoàn cảnh eo hẹp của mình, ta vẫn tìm cách tạo công ăn việc làm cho người này, hoặc giới thiệu mối làm ăn cho người kia, hay vận động mọi người cùng chung nhau giúp đỡ người nọ... Ta suy nghĩ tìm rất nhiều cách để giúp người, đó chính là cái nhân để chính ta sẽ đạt được trí tuệ.
Hơn nữa, vì người giàu sang đã sẵn tiền bạc nên khi cần giúp người họ không bận tâm suy nghĩ lắm, không cần vất vả tìm cách lắm, nên phước của họ cũng sẽ không lớn. Còn người không dư dả thì phải tìm nhiều cách mới giúp được người khác, chính việc loay hoay, vắt tâm kiệt óc để tìm cách đó làm cho họ dần tích lũy được phước lớn. Về sau họ chắc chắn sẽ thành tựu cái phước về trí tuệ. Nên trong cuộc sống chúng ta thấy có những người vừa giàu vừa khôn là cũng bởi vì vậy, vì đời trước họ dù nghèo nhưng vẫn cố gắng tìm cách làm phước. Kiếp sau, quả báo trổ ra là họ vừa giàu vừa khôn ngoan. Còn người giàu nhưng không khôn ngoan lắm, không có trí tuệ lắm là vì sao? Vì đời trước họ làm phước quá dễ, chỉ cần móc tiền túi ra cho, không cần phải tìm cách. Nhờ cái phước bố thí, đời sau họ sẽ rất giàu, tuy nhiên “không cần phải khôn” lắm.
Tóm lại, có hai cách gieo nhân để gặt được quả báo trí tuệ. Thứ nhất là thường trải lòng từ bi thương yêu chúng sinh. Thứ hai là thường xuyên ưu tư tìm cách giúp đỡ làm lợi ích cho con người.
DŨNG LỰC
«Dũng» là sự gan dạ, dám đối đầu với hiểm nguy để làm theo đạo lý. Thường chúng ta đã nghe nói nhiều về từ bi, về trí tuệ, nhưng đối với sự gan dạ để tu hành, để sống chết với đạo thì ta ít được nghe nhắc đến, và cũng hiếm khi để tâm đến. Nên đa phần người Phật tử ít có dũng lực. Đó cũng là nguyên do khiến đạo Phật dễ suy yếu. Ngược lại, nếu những người Phật tử chiêm nghiệm sâu về ba đức tính Bi - Trí - Dũng, mà nhất là yếu tố «dũng», chắc chắn Phật giáo sẽ phát triển mạnh mẽ hơn.
Ta phân tích yếu tố “dũng” theo ba ý nghĩa sau.
- Ý chí vô tận để theo đuổi sự tu hành đến cùng
- Sự gan dạ dám đương đầu với hiểm nguy để làm điều thiện, bảo vệ điều thiện
- Đôi khi dám chấp nhận cái tội nhỏ nhằm tác thành công đức lớn lao
Ý chí vô tận nhằm theo đuổi sự tu hành
Cái dũng đầu tiên là ý chí tu hành đến vô tận. Ý chí này gắn liền với lý tưởng tu hành. Nếu lý tưởng của ta đối với Phật Pháp là tuyệt đối thì ý chí cũng sẽ là vô tận. Còn nếu lý tưởng đối với Phật Pháp không tuyệt đối, chưa có quyết tâm đi hết con đường đạo thì ý chí cũng chỉ là tương đối, lưng chừng, tạm bợ, không vững chắc. Ý chí vô tận là như thế nào?
Trước tiên là không tính kể thời gian, không bao giờ ngừng lại sự tu tập. Qua bao nhiêu năm tháng, hết kiếp này sang kiếp kia, kiếp này tu chưa chứng đạo thì kiếp sau tu nữa, không có dừng lại. Hãy nhớ rằng, khi tu hành đừng bao giờ đặt thời gian, vì sự tu hành là con đường trong vô lượng kiếp. Đừng nói rằng: “Tôi tu năm năm, mười năm là phải đắc đạo”, bởi hễ có kỳ hạn thời gian là sai. Thật ra, việc tu hành là gian nan, lâu dài và phải được diễn ra liên tục, thường xuyên trong nhiều kiếp, chứ không phải trong một chốc, một lát là có thể chứng đắc, mà quá trình tu hành đòi hỏi rất nhiều điều buộc chúng ta phải tuân thủ một cách nghiêm túc, vì Luật Nhân Quả rất khắt khe.
Đừng ai nghĩ tu hành trong một kiếp, hay trong 3 đến 10 kiếp được kết quả, mà tâm mình phải chuẩn bị cho một ngàn kiếp... cái tâm thế như vậy mới là một tâm thế lớn, vậy mà có khi chứng đạo lúc nào chẳng hay. Còn người mới bắt đầu học đạo, đã ấn định cho mình một khoảng thời gian ngắn để có thể thành tựu được đạo nghiệp giải thoát, người này tưởng hay nhưng sự thật tâm thế nhỏ hẹp, tầm thường và kết quả thì ngược lại. Hiểu điều này, chúng ta không chủ quan, không kiêu mạn, mà kiên định như những bậc Thánh, dù thân này có nát, có hoại, vẫn một lòng đi trên con đường chánh Pháp để tìm sự giác ngộ giải thoát.
Thật ra, cái quả làm Phật, làm Thánh, cái quả giác ngộ giải thoát là cái quả phi thường thì cái nhân tích lũy cũng phải rất lớn (tức cái nghiệp, cái phúc phải rất cao tột). Còn cái gì mau, ít cực khổ thì làm sao có được kết quả phi thường. Do đó, ta phải tu ít nhất 30 kiếp thì mới thấy cái quả đã gieo. Người nào nghe nói tu 30 kiếp mới bắt đầu thấy kết quả mà vẫn vui vẻ chấp nhận thì đó là người có trí tuệ trong đạo. Còn người nông cạn, trí tuệ ít, chỉ đòi thấy cái trước mắt thì không vượt qua được cõi luân hồi sống chết.
Vì thế, nếu có ai hứa hẹn: “Con tu theo thầy một kiếp này là con đắc đạo” thì ta hiểu ngay đó là lời nói khoác. Tu không được kì hạn thời gian, vì nhân quả tự nó sẽ vận hành. Ta chỉ quyết tâm, chỉ đi đúng đường thôi, còn quả Thánh lúc nào trổ ra là tùy nhân quả. Chúng ta biết rằng từ phàm phu bước lên Thánh vị là khoảng cách rất xa, rất vất vả, nên chúng ta phải kiên trì từng giờ từng phút, mỗi lời nói, hành động đều phải cực kỳ chuẩn xác. Nếu làm được những điều đó, trong “Thiên thu” (vài nghìn năm) mới mong làm Thánh. Nên đừng bao giờ tin người nói rằng “Tu theo ta là mau đắc mau chứng”. Đây là điểm cần phải nhận định kỹ, không để bị lầm lẫn, bị gạt khiến rơi vào đường tà. Còn người nào mà nói tu là lâu, bền, kiên trì thì đó đúng là những lời dạy chân chính, chúng ta nên có lòng tin đi theo. Ta quyết tâm tu mãi mãi hết kiếp này sang kiếp kia không bao giờ dừng. Chân lý không phải là cái gì vội vàng, ngắn ngủi, tạm bợ mà là cái rất lâu dài, là vĩnh cửu. Và để đạt được cái đạo quả vĩnh cửu đó thì cái nhân ta gây tạo phải là vô hạn. Đó là yếu tố thứ nhất của ý chí vô tận.
Con không nguyện về nơi sung sướng
Mà chỉ mong đúng hướng chân tu
Dẫu qua nghìn vạn xuân thu
Quyết lòng mong thoát ngục tù vô minh.
Hoặc khi trên con đường đạo, có khi ta vấp ngã, có khi phạm lỗi lầm nhưng vẫn cố gắng đứng lên đi tiếp, không bao giờ vấp ngã rồi bỏ đạo, bỏ tu luôn. Rồi những khi gặp hoàn cảnh khó khăn trở ngại, gặp người chống đối ta không nản chí lui bước, còn hơi thở nào thì ta vẫn đi tới, vẫn giữ vững sự tu hành. Hay đôi khi mệt mỏi thì ta nghỉ lấy sức rồi tu tiếp, chứ không nghỉ để bỏ cuộc. Ví dụ như khi ngồi Thiền lâu và cái đau chân làm ta quá mệt mỏi, lúc đó ta có thể xả Thiền để lúc khác ngồi tiếp, chứ không phải vì quá sợ đau mà xả để bỏ Thiền luôn.
Đồng thời trong tâm ta luôn có sẵn một khuynh hướng là chán nản. Cho nên, điều ta phải chiến đấu là sự chán nản trong lòng mình khi làm cái gì lâu quá mà chưa có kết quả. Cái gì mà tốn nhiều thời gian, công sức thì sẽ làm cho ta nản chí muốn bỏ cuộc, nhưng tu thì cả nghìn kiếp, dù cực khổ vẫn cứ đi mãi... đi mãi, không được nản chí, không quay lại, không bỏ gánh nặng tu tập xuống. Gánh nặng đó là sự tinh tấn, công đức mà ta phải tạo, công phu mà ta tu hành hàng ngày. Chúng ta phải chuẩn bị tâm hồn của mình quyết liệt như vậy.
Vì thế, chúng ta hãy xét lại mình, nếu đã có những tính chất trên thì ta đã có ý chí vô tận, mà cũng tức là lý tưởng với đạo đã tuyệt đối. Và chắc chắn sẽ có ngày đắc đạo.
Sự gan dạ, dám đương đầu với hiểm nguy để làm điều thiện
“Dũng” còn là sự gan dạ. Trên bước đường tu tập, làm Phật sự có khi chúng ta sẽ gặp phải sự chống đối, đe dọa hay mưu hại, dĩ nhiên ta không cần liều lĩnh một cách không cần thiết, có những lúc tránh được sự nguy hiểm thì phải tránh, nhưng tránh chứ không bỏ cuộc. Còn có những lúc phải đối diện với những sự nguy hiểm lớn hơn thì ta không sợ bị tổn hương, không sợ bị hãm hại, không sợ chết. Đó là gan dạ, cũng là cái dũng của người đệ tử Phật.
Nếu ai vì bị gièm pha xúc siểm quá nhiều mà bỏ tu, đó là người không có cái dũng. Hoặc vì sợ bị đánh, bị giết rồi ta bỏ luôn việc giáo hóa độ sinh, đó cũng là không có cái dũng. Cũng vì lẽ đó mà đạo Phật suy yếu. Để đạo Phật mạnh lên, người đệ tử Phật phải có cái dũng, dám đương đầu với nguy hiểm. Nếu tránh được thì tốt, còn nếu cần thì phải đương đầu rồi vượt qua, dập tắt những mối đe dọa đó để bước tới và làm việc đạo. Hoặc nếu cần phải chết vì đạo thì ta dám chấp nhận cái chết. Đó là yếu tố dũng trong Bi - Trí - Dũng.
Chúng ta sẽ nói về nhân quả một chút. Ai cũng phải chết, hoặc do già yếu, hoặc do bệnh tật, tai nạn. Trong trường hợp cái chết do tự ta tạo ra thì có hai loại. Một là tự tử mà chết, hai là hy sinh vì điều thiện mà chết. Hai cái chết này mang đến hai quả báo khác nhau. Người vì quá đau khổ rồi tự tử thì sau khi chết đi họ có hết khổ không? Không. Khi linh hồn, thần thức ra khỏi cái thân xác rồi tưởng sẽ hết khổ, không ngờ vẫn khổ giống như lúc sống, và còn khổ nhiều hơn nữa.
Ví dụ có người làm ăn thất bại, nợ nần chồng chất không thể trả nổi nên tự tử chết. Họ nghĩ như vậy là được yên phận, nhưng không ngờ trong cõi vô hình họ thấy những đứa con nheo nhóc, thấy người vợ bị bắt giam, đồng thời chính họ cũng bị trừng phạt trong cõi này. Lúc đó mới hối hận phải chi mình đừng tự tử, phải chi mình chấp nhận chịu khổ một chút rồi từ từ cũng qua đi, còn bây giờ tự tử rồi còn khổ hơn lúc sống nữa. Hoặc có cô gái đã yêu ai tha thiết, đậm đà, nồng nàn, da diết quá rồi bị phụ bạc. Vì quá tuyệt vọng cô uống thuốc tự tử chết, tưởng là sẽ hết khổ. Không ngờ trong cõi âm, cô thấy sự việc rõ ràng hơn. Lúc sống cô biết người yêu mình có tình nhân nhưng chỉ biết mơ hồ một chút thôi, còn khi chết rồi cô thấy họ thương yêu nhau ra sao, hạnh phúc ở bên nhau ra sao, và cô thấy mình chết đi nhưng họ vẫn tỉnh bơ, vẫn tiếp tục xây dựng hạnh phúc cùng nhau. Lúc đó có đau khổ không? Khổ nhiều hơn. Và lúc đó mới hối hận tại sao mình lại bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ gia đình, bỏ cuộc sống, bỏ tương lai, bỏ những điều mà mình đã ấp ủ để về cõi chết – nơi mà mình bị trừng phạt rất nặng, nặng hơn.
Cho nên, người chết bằng cách tự tử sẽ khổ hơn lúc sống. Ngược lại, ai vì quê hương, vì đạo pháp mà chết thì được phước cực kì lớn, cái phước đó gấp triệu triệu lần phước của người đem tài sản bố thí. Vì họ đã bố thí cả cuộc sống mình, cúng dường cả thân mạng mình cho đạo, mà có gì quý hơn cuộc sống đâu. Do đó họ được phước rất lớn, mà người thân ở lại cũng được hưởng phước lây. Trong khi người tự tử làm những người thân ở lại cực kì đau khổ thì với người vì quê hương, vì nghĩa lớn, vì đạo pháp mà chết, cái phước của họ sẽ tràn qua cho gia đình mình, người ở lại sẽ từ từ được phước rất lớn. Nhân quả là vậy.
Một biểu hiện của “dũng” nữa là biết góp ý sửa sai cho mọi người và biết ngăn chặn điều xấu ác trên đời. Ví dụ như trong xóm, khi gặp những người bài bạc, người chửi thề, người thích mặc quần áo hở hang, hoặc gặp những nơi treo hình ảnh lõa lồ... ta dám đến góp ý với họ. Đó là cái dũng. Hoặc quý Tăng Ni khi thấy Phật tử sai cũng phải mạnh dạn góp ý, đừng sợ mích lòng, đừng sợ Phật tử bỏ chùa. Nhiều người sợ Phật tử tự ái bỏ chùa rồi chùa quạnh quẽ. Ở đây, ta chấp nhận chùa hiu quạnh, không ai tới lui nhưng người nào đến thì phải là người đúng. Ngược lại cũng vậy, Phật tử khi thấy Tăng Ni chia rẽ nhau, vị này nói xấu vị kia, chùa này nói xấu chùa kia thì cũng phải góp ý ngay, đừng sợ mích lòng. Sự gan dạ này cũng là cái dũng.
Chúng ta đã từng nói về ba bước tiến tu của người đệ tử Phật. Bước thứ nhất là am hiểu đạo lý. Bước thứ hai là sống đời vị tha, hay làm việc từ thiện (hiểu đạo lý rồi tự nhiên người ta luôn ưa thích làm việc thiện). Và bước thứ ba ngăn chặn cái xấu, cái ác trên cuộc đời này.
Đa phần ta chỉ tu hai bước, tức là khi hiểu giáo lý rồi ta chỉ thích làm việc từ thiện, mà thiếu đi bước cuối cùng là sửa lỗi cho người khác, ngăn chặn cái xấu ác trên đời. Nếu chỉ dừng lại ở bước thứ hai, tức là chỉ giúp người thoát khổ, chỉ đem niềm vui đến cho người thì ta chỉ được một phần nhỏ công đức mà thôi. Còn nếu tiến đến bước thứ ba, ta sửa lỗi lầm cho họ, ngăn chặn cái xấu cái ác của họ, ta mới thật sự thành tựu được công đức lớn lao.
Nhưng thường khi chưa có đức thì ta ít dám góp ý với ai, vì biết họ sẽ giận dữ, sẽ mắng lại. Ngược lại, khi đã có đức, tự nhiên ta rất mạnh dạn góp ý và người khác cũng không dám phản ứng mạnh lại, họ sẽ nghe lời và sợ ngay. Đó là sự khác nhau giữa người có đức và không có đức. Vì vậy, chính bản thân ta thứ nhất phải trải qua quá trình tu tập, thứ hai phải làm phước rất nhiều. Đủ hai yếu tố này ta mới thành tựu được cái đức độ, thành tựu được uy lực để góp ý sửa lỗi cho người khác, để ngăn chặn điều xấu ác trên đời.
Yên lặng để nhẫn nhục thì rất tốt. Nhưng im lặng để cho cái sai tồn tại là một tội ác. Nhiều người tu theo đạo Phật đã chủ trương im lặng, mặc cho ai làm gì thì làm. Đó là quan điểm sai. Hãy nhớ rằng cái dũng khác với sự thô bạo, cũng vậy, nhẫn nhục khác với nhu nhược. Vì vậy, có khi chúng ta nhẫn nhục nhu hòa như nước, nhưng đôi khi chúng ta phải quyết liệt như sấm như sét. Đó là trí tuệ. Ngược lại, có những lúc phải nhẫn nhục nhưng ta lại phản ứng mạnh, ngay đó ta rơi vào sự cuồng nộ, hung bạo. Hoặc có những lúc phải phản ứng mạnh để giúp người khác hay bảo vệ Phật Pháp nhưng ta lại im lặng, ngay đó ta rơi vào lỗi nhu nhược. Chúng ta phải biết chọn thái độ cho thích hợp, không phải lúc nào im lặng cũng là đúng, cũng không phải lúc nào phản ứng cũng là đúng.
Đức Phật đã dạy rằng hãy im lặng khi bị công kích, và chính Đức Phật cũng vậy, khi nhận những lời nhục mạ chửi mắng Ngài cũng chỉ im lặng. Tuy nhiên, một lần khi ngài Xá Lợi Phất bị nói xấu về đức hạnh, Đức Phật đã gọi Ngài ra trước đại chúng và buộc Ngài phải lên tiếng đính chính cho chính mình, không được im lặng. Câu chuyện được ghi lại trong bài kinh Sariputta. Đức Phật đã không cho phép ngài Xá Lợi Phất được yên lặng. Lúc đó ngài Xá Lợi Phất phải cất lên tiếng rống của con sư tử để biện hộ cho chính mình. Nên không phải lúc nào yên lặng cũng là đúng. Có lúc ta phải gan dạ cất lên tiếng rống của con sư tử để bênh vực cho Phật Pháp. Và người làm được như vậy có công đức rất lớn. Còn nếu trong lúc phải nói mà ta lại im lặng thì ta lại mang tội rất nặng, vì ta đã vô trách nhiệm với đạo.
Vài tôn giáo cực đoan chỉ có sức mạnh từ lưỡi gươm thôi mà truyền đạo rất hiệu quả. Còn đạo Phật của chúng ta, dù giáo lý rất cao siêu nhưng vì quá thiếu cái “dũng” nên đã rất yếu ớt, rời rạc. Lắm khi ta không dám nói một lời để bảo vệ chư Tăng, bảo vệ Phật Pháp. Từ đây chúng ta tránh việc im lặng đến mức nhu nhược như vậy, bởi đây chính là nguyên nhân làm cho đạo Phật yếu đi. Có những lúc ta nhẫn nhục nhu hòa như đất, nhưng có những lúc ta phải lên tiếng, phải quyết liệt như sấm như sét để bảo vệ điều thiện, bảo vệ Phật Pháp.
Dám chấp nhận cái tội nhỏ để tác thành công đức lớn lao
Một yếu tố của “dũng” nữa là dám chấp nhận một cái tội nhỏ để tạo thành công đức lớn hơn. Ví dụ, người công an cứng rắn với tội phạm, trấn áp tội phạm bằng bạo lực (đây là cái tội nhỏ) để bảo vệ sự bình yên cho xã hội, cho đất nước (cái phước lớn). Từng ngày từng giờ, có những chiến công thầm lặng của họ mà ta không bao giờ biết được. Nếu không có họ, xã hội sẽ lập tức loạn lên. Đó là những người chấp nhận cái tội nhỏ để làm được những công đức lớn hơn. Hoặc ta buộc những đứa trẻ phải biết hiếu kính với cha mẹ, tôn kính Tam Bảo từ bé. Nếu đứa trẻ ương bướng không vâng lời, đôi khi ta phải dùng đến đòn roi. Sự cứng rắn như thế cũng là cái tội nhỏ nhưng cứu vớt được cuộc đời, được tương lai của đứa trẻ, đây lại là một công đức lớn hơn rất nhiều.
NGƯỜI ĐỆ TỬ PHẬT KHÔNG THỂ THIẾU YẾU TỐ NÀO TRONG BI – TRÍ – DŨNG
Hãy nhớ rằng thiếu một trong ba đức tính Bi - Trí - Dũng thì chúng ta đều chưa xứng đáng là đệ tử Phật. Hơn nữa, ta sẽ không tạo được nhiều công đức, và cũng không thể nào đắc được Thánh quả trong tương lai.
Có người thiếu yếu tố “dũng”. Ví dụ, ta có yếu tố “bi”, tức là có lòng thương yêu nhưng đã không dám vào cứu một người đang bị thương nằm trong căn nhà hàng xóm, vì nghe người khác nói rằng ai vào sẽ bị trúng hơi độc, bị cướp, hay bị vu oan là đã giết người gặp nạn... Ta đứng ngoài hít hà “Tội nghiệp thật” mà không dám leo vào cứu người, để người kia chết dần trong căn nhà. Như vậy, ta đã nhút nhát, không có yếu tố dũng. Đó là lý do khiến chúng ta không bao giờ tạo được phước.
Hoặc để làm được việc phước, nếu không có yếu tố “trí”, tức là nếu thiếu sự khôn ngoan thì ta cũng sẽ không làm được. Ví dụ, khi ta mang đĩa giảng đến cho một gia đình, người chồng thì thích nghe nhưng người vợ thì quyết không nghe và cản trở đến cùng, vì sợ người chồng mình sẽ đi xuất gia khi quá mộ đạo. Nếu lúc đó ta chỉ lắc đầu thở dài, chắc chắn việc phước sẽ mãi dở dang. Ngược lại, nếu ta khôn ngoan một chút, khi tiếp xúc với người vợ, ta biết kể cho bà nghe về những người đàn ông khi hiểu đạo rồi đã thay đổi tánh tình, đã biết sống có trách nhiệm hơn, thương yêu gia đình hơn... Có khi bà sẽ thay đổi không ngăn cản chồng mình nghe băng giảng nữa. Hoặc khi ta rủ những người bạn đi tham dự các khóa tu mà người nhà của họ cấm cản, ta cũng phải tìm được những cách nói khéo léo như vậy. Nghĩa là ta có sự khôn ngoan, luôn nghĩ ra giải pháp để đem đạo lý đến cho người, như vậy mới tạo thành cái phước. Nếu thiếu sự khôn khéo, tức là thiếu trí tuệ để làm phước thì ta sẽ không bao giờ tác thành công đức được.
Nên trong ba yếu tố Bi - Trí - Dũng, nếu thiếu đi một yếu tố thì trước mắt ta không làm được những công đức lớn lao, còn về lâu dài ta không đắc được quả Thánh. Bởi vì có bậc Thánh nào trơ lì không thương ai không? Không. Có bậc Thánh nào ngu ngơ thiếu trí tuệ không? Không. Từ bi của bậc Thánh là vô hạn. Trí tuệ của bậc Thánh là vô hạn. Với cái trí của bậc Thánh, có khi các vị chỉ nói một câu lơ lửng thôi mà ta suy nghĩ đến ba năm sau mới hiểu hết ý nghĩa.
Một người đến gặp một vị Thầy và nói:
“Thưa Thầy, con không biết là con có tu hành được hay không?”. Vị thầy nói bâng quơ: “Đến khi nào con mở cửa mà thấy hoa mai thì mới có thể vào được đạo”. Người kia suy nghĩ: cánh cửa chắc tượng trưng cho tâm hồn mình, cành hoa mai tượng trưng cho Phật tánh hay điều gì đó cao xa, “Mở cửa mà thấy cành hoa mai” có lẽ tượng trưng cho việc nếu mình mở cửa tâm hồn, mình sẽ ngộ được điều gì đó. Người này mơ hồ hiểu theo nghĩa Thiền nhưng cũng không biết đã đúng chưa. Họ ưu tư mãi, không ngờ mấy năm sau, trong một lần khi vừa mở cửa ra thì bỗng cành hoa mai đã được ai để trước cửa. Thoát nhiên người đó ngộ đạo ngay. Tức là vị Thầy đã nói nghĩa đen, còn người nghe lại hiểu nghĩa bóng nên suy nghĩ mấy năm vẫn chưa ra.
Nên những vị Thánh có trí tuệ thấy trước mọi việc nhưng họ cứ nói xa nói gần chứ không nói ngay vì sợ chúng sinh kiêu mạn. Ví dụ, khi thấy một người căn cơ cao, khi tu tập sẽ được tiến bộ rất nhanh thì các ngài cũng không khen, chỉ nói bóng gió để cho người đó nỗ lực tinh tấn hơn. Bởi nếu các ngài khen: “À, ngươi đến đây, ngươi thật là đại căn đại trí”, thì người kia lập tức kiêu mạn rồi mất phước, rơi xuống trở lại ngay.
Trong sử ba mươi ba vị Tổ có một câu chuyện chúng ta không biết thực hư thế nào, nhưng nói rất đúng về nhân quả này. Khi một vị Thầy nhìn thấy người đệ tử có khả năng chứng đạo, ông mới khen rằng: “Ngươi sắp sửa chứng được Thánh quả Tu Đà Hoàn”. Không ngờ một tháng sau gặp lại vị Thầy nhìn thấy người đệ tử đó đã không còn có cái phước để chứng quả nữa. Vì sao vậy? Vì trong một lần đi vào ngôi chùa có tượng Phật tạc trên bức tường, người này đã sơ ý để cây gậy đè lên phần mặt của hình Phật rồi mới đi vào trong chánh điện. Không ngờ vì một chút xúc phạm tượng Phật mà mất luôn phước chứng quả Thánh.
Vì vậy, một bậc Thánh biết rất rõ về con người, biết quá khứ vị lai, biết cái đạo hạnh như thế nào, đạo vận sẽ ra sao... Đó là trí tuệ của bậc Thánh. Tóm lại, bậc Thánh nào cũng có lòng thương yêu, bậc Thánh nào cũng có trí tuệ, và bậc Thánh nào cũng dũng cảm, đại hùng, đại lực, đó là tiêu chuẩn. Do đó, để đắc được Thánh quả thì chúng ta buộc phải thành tựu đủ ba tính chất Bi - Trí - Dũng, thiếu một trong ba đều không được.
SỰ HỖ TƯƠNG GIỮA BI – TRÍ – DŨNG
Người có lòng từ bi và có trí tuệ thì sẽ có dũng lực. Có thương chúng sinh thì ta mới tìm cách để làm lợi ích cho chúng sinh (“bi” sanh “trí”). Có thương mới có gan dạ dũng cảm, vượt qua khó khăn để làm lợi ích chúng sinh (“bi” sanh “dũng”). Đó là nguyên tắc: bi sinh ra trí, bi sinh ra dũng, bi và trí cộng lại cũng sinh ra dũng.
Nhưng hãy nhớ rằng cái “dũng” phải được soi sáng bởi từ bi và trí tuệ, bằng không cái “dũng” rất dễ thành sự cẩu thả, sự liều lĩnh, thậm chí là cuồng nộ hung bạo. Khi thấy ai có tính cách mạnh mẽ, thường phản ứng mạnh thì hãy khoan cho họ là “dũng”. Chừng nào ta cảm nhận họ có từ bi thì ta mới đánh giá rằng tính cách mạnh mẽ của họ có thể là cái “dũng” trong Bi - Trí – Dũng.
Thêm một điều nữa, trong ba tính chất Bi - Trí - Dũng thì tính chất nào cũng cần thiền định để tinh lọc lại. Ví dụ, với lòng từ bi, nếu ta không có công phu thiền định, tâm không thanh tịnh được thì tình thương với chúng sinh thường lẫn với cái ái luyến, không phải lòng từ bi thật sự. Còn khi có thiền định làm cho tâm thanh tịnh rồi thì khi ta khởi lòng từ lên, đó đúng là lòng từ bi bình đẳng và thuần khiết.
Trí tuệ cũng vậy. Khi tâm thanh tịnh trong thiền định rồi thì trí tuệ của ta có được rất thuần khiết, đúng là trí tuệ thật sự chứ không bị lẫn với thành kiến, với vọng tưởng.
Hoặc với dũng lực, khi tâm đã thanh tịnh rồi, nếu gặp lúc ta cần phản ứng mạnh để đương đầu với thử thách hiểm nguy, đó thật sự là dũng lực trong Phật Pháp. Còn nếu tâm chưa thanh tịnh trong thiền định thì hãy luôn đề phòng, bởi cái dũng của ta khởi lên rất dễ lẫn với cái cuồng bạo.
Vì vậy mà việc tu tập Bi - Trí - Dũng phải có nền tảng của thiền định, phải có sự tinh lọc của thiền định. Mỗi ngày chúng ta phải biết bắt chân ngồi kiết già, để nhiếp tâm dần dần. Rồi trên nền tảng của cái tâm thanh tịnh đó, khi chúng ta khởi lên lòng từ bi thương yêu chúng sinh, khởi lên cái trí tuệ, khởi lên cái dũng lực thì đó đúng là Bi - Trí - Dũng của đạo Phật. Bằng không, nếu tâm ta còn lao xao động loạn thì “bi” thường dễ lẫn với ái luyến, “trí” sẽ lẫn với mưu mô xảo quyệt, “dũng” sẽ lẫn với cuồng nộ hung bạo. Bi - Trí - Dũng phải có thiền định đi kèm là như vậy.
Mong rằng quý Phật tử dần huân tập, thành tựu ba đức tính Bi - Trí - Dũng để trước mắt ta là người đệ tử Phật chân chính, còn về lâu về dài ta mới có ngày đắc được Thánh quả cao siêu.


