KHÁI QUÁT VỀ CÁC GIAI ĐOẠN CỦA ĐỜI NGƯỜI
Cuộc đời của mỗi người, từ bé đến lúc trưởng thành có nhiều giai đoạn, nhiều bước ngoặt, nhiều chặng đường đi qua. Ví dụ nhìn lại từng người, có thể thời thơ ấu mình học mẫu giáo ở Cà Mau, rồi lên Thành phố Hồ Chí Minh học tiểu học, trung học; sau đó sang Hoa Kỳ học đại học. Có lúc giàu sang, cũng không ít lần bần hàn khốn khó; có lúc ở nước ngoài, có lúc lại về định cư ở Việt Nam. Cuộc đời mỗi người đi qua có thăng có trầm; có hạnh phúc, có đau khổ; có lúc sức khỏe dồi dào, có lúc đau ốm bệnh tật...
Trên cái chung nhất, có thể chia ba giai đoạn của một đời người.
- Giai đoạn thứ nhất là thời niên thiếu được bảo bọc nuôi dưỡng.
- Giai đoạn thứ hai là bổn phận và trách nhiệm với cuộc đời, nuôi lại người khác, lo cho người khác.
- Giai đoạn thứ ba già yếu được nuôi dưỡng trở lại trước khi qua đời.
Chỉ trừ những trường hợp cá biệt trẻ tuổi mà chết sớm vì tai nạn hay tật bệnh, chỉ có một hay hai giai đoạn. Hoặc người đang trong giai đoạn phải gánh vác bổn phận, trách nhiệm với gia đình, với xã hội mà chết thì người này cũng chỉ có hai giai đoạn. Hầu hết, mỗi người đều phải đi qua ba giai đoạn của cuộc đời. Thú vật cũng giống như vậy.
Tuy nhiên, trong thực tế, ba giai đoạn này có đan xen với nhau chứ không nhất định phải luôn luôn theo đúng trình tự. Có những trường hợp đứa trẻ lẽ ra ở trong giai đoạn được nuôi dưỡng, được đến trường, nhưng trong hoàn cảnh nghèo khổ khó khăn, đứa trẻ phải nghỉ học đi bán vé số, hoặc phải đi buôn bán tảo tần để kiếm tiền phụ nuôi gia đình, phải gánh vác trách nhiệm với gia đình như người lớn. Thời gian sau, khi cha mẹ khấm khá lên một chút chúng mới có thể tiếp tục đến trường. Với các em, thời được nuôi dưỡng và thời phải gánh vác hay đan xen lẫn nhau.
Người trưởng thành cũng vậy, có trường hợp đúng ra là ở giai đoạn phải gánh vác những bổn phận của cuộc đời, nhưng phước từ đâu tới được sung sướng, không phải làm gì. Nhưng qua giai đoạn khác bỗng nhiên phải làm lụng vất vả trở lại. Có những người già lẽ ra phải được nghỉ ngơi có con cháu nuôi dưỡng (hoặc được Nhà nước nuôi dưỡng theo tiền lương hưu trí), thì lại không được nghỉ ngơi mà còn phải làm việc này, việc kia cực nhọc để nuôi sống bản thân, thậm chí còn phải nuôi con cháu.
Ở những giai đoạn đan xen trong cuộc sống như thế, có những trách nhiệm bắt buộc và cũng có những bổn phận rất thiêng liêng đang chờ đợi mỗi người. Sống hết một kiếp người và làm trọn, thậm chí cống hiến vượt hơn bổn phận của mình, con người sẽ tích lũy cho mình nguồn công đức vô tận cho kiếp này và nhiều kiếp về sau.
Ở đây, chúng ta phân tích ba giai đoạn tính theo mốc thời gian tuổi tác của đời người để hiểu bổn phận và trách nhiệm của mình. Chúng ta phải xây dựng những giai đoạn đó như thế nào, phải sống như thế nào cho có ý nghĩa, có lợi ích để tạo công đức cho nhiều đời sau, nhất là biết được bổn phận thiêng liêng đối với Phật Pháp; đồng thời còn phải biết tu trong từng giai đoạn đó như thế nào nữa.
THỜI NIÊN THIẾU
Con người vào thời sơ sinh cũng như thời thơ ấu thường được cha mẹ thương yêu, nuôi dưỡng với niềm hy vọng. Đây như một định luật của thiên nhiên chi phối con người trên cả sinh lý và nghiệp quả. Khi người mẹ, người cha sinh ra được đứa con thì trong não họ xuất hiện những hóa chất để tạo tình thương yêu, khiến cho người mẹ, người cha đó phải thương yêu con của mình (dĩ nhiên cũng có cá biệt). Đây là yếu tố thuộc về sinh lý, thuộc hóa chất. Những hóa chất bí mật trong não mà ngày nay khoa học đã tìm ra.
Các loài vật cũng giống vậy. Tuy nhiên, chúng không có suy nghĩ mà chỉ hoàn toàn sống theo bản năng. Nên đối với loài vật, nếu hóa chất đó nhiều thì chúng thương con nhiều, hóa chất đó ít thì thương con ít. Ví dụ, chó mẹ đẻ con, tự nhiên nó thương con. Tuy không biết suy nghĩ nhưng do hóa chất trong não xuất hiện, buộc nó phải cho con bú và bảo vệ con trước sự nguy hiểm (nó gầm gừ dữ tợn khi có người lạ tới hay muốn bắt con nó). Những hành vi này được quy định bởi một loại nội tiết tố xuất hiện trong não, không phải từ sự suy nghĩ. Hay, sự hung dữ của con chó mẹ đang trong thời kì nuôi con là một bản năng tự nhiên.
Riêng với con người, tình thương con vừa do nội tiết tố, vừa đến từ lý trí. Hầu hết trong thời gian thai sản, người mẹ chịu nhiều biến đổi sinh lý, trong đó những nội tiết tố xuất hiện trong cơ thể khiến tình thương của họ dành cho con rất mạnh. Riêng người cha không trực tiếp mang nặng đẻ đau nên tình cảm không dạt dào đậm sâu bằng, trừ những người có lý trí và lương tâm. Thế nên lác đác trên đời vẫn có những câu chuyện về người cha tận tụy chăm sóc, bảo bọc các con khi mẹ của chúng đã qua đời.
Việc thương yêu con trẻ, trước hết do bản năng tự nhiên (thuộc về sinh lý), trong não của cha mẹ xuất hiện những hóa chất để tạo tình thương yêu. Thứ hai, do nghiệp quả. Đứa trẻ sinh ra được cha mẹ thương nhiều hay thương ít là do nghiệp duyên đời trước với cha mẹ. Nếu nói theo sinh lý thì các con trong một gia đình đều như nhau. Nhưng trong thực tế, do nghiệp quả chi phối nên tình thương của cha mẹ đối với con trẻ không đều, có đứa được thương nhiều, có đứa “khắc khẩu” với cha mẹ nên ít được thương. Ai nặng ân nghĩa với cha mẹ hơn sẽ được ban tặng nhiều tình thương mến hơn. Tuy nhiên, dù ít hay nhiều họ đều được cha mẹ thương, bởi đã có duyên nợ với nhau từ trước. Do nhân quả đời trước nên đời này đứa con đầu thai vào gia đình mình và người làm cha mẹ phải thương yêu nó. Có những trẻ bị dị tật bẩm sinh, sự dị dạng của chúng có thể khiến người lạ xa lánh, không thương nổi nhưng người cha mẹ dứt ruột sinh ra vẫn thương lai láng, da diết. Đây là điều kì diệu của tạo hóa, nhưng thật ra cũng do nghiệp lực đã chi phối. Chắc chắn vào một kiếp xưa nào đó họ đã mang nặng ân nghĩa với đứa con của mình.
Hầu hết cha mẹ thương con đều do nợ.
Như vậy, chúng ta thương yêu nhau đều do nợ quá khứ. Từ quá khứ xa xưa, chúng ta đã đối xử tốt với nhau rồi nên đời này gặp lại tự nhiên thương mến nhau. Giữa cha mẹ và con cái, cái nghiệp này càng sâu nặng hơn vì đã có nợ duyên rất nhiều khi xưa, chứ không phải tự nhiên đầu thai vào gia đình để làm con.
Cha mẹ thương con vì sinh lý (những nội tiết tố đã tạo thành tình thương yêu), vì nghiệp quả (ân nghĩa từ đời trước). Ngoài ra, còn do tâm lý. Trước hết, con cái là sự nối tiếp của chính mình, là sự kéo dài hình ảnh, tên tuổi, dòng họ của mình, khi mình qua đời con cái mang dòng máu mình tồn tại. Con cái là bản ngã thứ hai của chính mình. Đó là biểu hiện của chấp ngã; là lý do sâu kín mà cha mẹ thương con. Còn lý do cạn hơn: Con cái chính là niềm hy vọng của cha mẹ. Cha mẹ hy vọng con mình lớn lên sẽ giỏi giang, sẽ làm vẻ vang cho gia đình, sẽ nuôi dưỡng trở lại mình. Đó là niềm hy vọng tiềm tàng của cha mẹ. Hy vọng tiềm tàng đó làm cha mẹ thương yêu con cái nhiều hơn.
Trên cuộc đời hy vọng thật quan trọng, đến nỗi người ta đã tiêu tốn khá nhiều tiền cho nó. Người ta đặt niềm hy vọng vào nhiều lĩnh vực, nhiều mặt nhưng không phải hy vọng nào cũng thành sự thật. Mua cổ phiếu hy vọng có lời, nhưng rồi kinh tế suy thoái, cổ phiếu bị tụt giá... Ví dụ một công ty phát hành cổ phiếu năm mươi nghìn đồng, nhưng bán lại ngày hôm nay lên tới ba, bốn trăm ngàn đồng, thì giá trị cổ phiếu công ty đó không tới cái giá bốn trăm ngàn đồng. Nhưng người ta mua tới cái giá bốn trăm ngàn đồng là người ta mua cái hy vọng, chớ giá trị thật nó không tới. Ngày nào cái hy vọng đó sụp đổ, giá cổ phiếu rớt xuống còn hai, ba ngàn đồng một cổ phiếu, kêu không ai dám mua.
Cũng vậy, ở đây, tâm lý thương yêu con trẻ của cha mẹ có yếu tố của sự hy vọng trong đó. Nuôi con ăn học hy vọng con đỗ đạt,... cha mẹ thường hy vọng nhất vào những đứa con có những dấu hiệu tốt như thông minh, tài giỏi, đạo đức. Có câu chuyện: Hai vợ chồng có đứa con duy nhất, đứa bé thông minh, đạo đức, ngoan đạo từ nhỏ. Trước bữa ăn, cháu thường niệm Phật cầu nguyện rồi mới ăn dù tại nhà hay trong trường bán trú. Khi các bạn đồng lứa thắc mắc về hành động khó hiểu này, bé đọc lại lời cầu nguyện rồi giải thích cho bạn nghe. Năm bé 6 tuổi, có lần đi trên xe, xe hư máy lạnh, người cha nói: “Hôm nay, xe bị hư máy lạnh, con sẽ thấy khó chịu”. Đứa bé trả lời: “Ba yên tâm. Ba chính là cái máy lạnh của con”. Những đứa trẻ ngoan như vậy rất được cha mẹ thương yêu, là niềm hy vọng lớn lao của cha mẹ, dù phải hi sinh mạng sống cho nó cha mẹ cũng sẵn sàng.
Tình thương vừa chịu sự tác động của nghiệp quả, vừa do tâm lý quy định. Trên tâm lý, cha mẹ đang nuôi dưỡng hy vọng. Vì thế, mỗi người hãy giữ gìn niềm kì vọng, cũng là mang lại niềm vui cho cha mẹ mình bằng lòng hiếu thảo, thái độ cung kính vâng lời, sự đỡ đần chu đáo, hoặc chỉ vài câu nói khéo léo... Được vậy là chúng đã đền bù chút gì đó cho sự vất vả tần tảo của cha mẹ.
Hoàn cảnh sống thời niên thiếu cũng chịu tác động từ nghiệp quá khứ. Thời niên thiếu sướng hay khổ cũng do ảnh hưởng của đời trước. Nếu đứa bé ở đời trước có phước, thời niên thiếu được ấm no, sung sướng. Nếu đứa bé ở đời trước không làm phước nhiều thì thời niên thiếu thường vất vả, cực khổ. Điều này dựa vào nghiệp quả từ quá khứ bảy mươi phần trăm, ba mươi phần trăm dựa vào tính tình của đứa trẻ.
Làm sao đánh giá được một đứa trẻ phước ít hay phước nhiều? Để ước lượng số phước của ai, ta có thể ít nhiều dựa vào tánh tình của họ ở kiếp sống hiện tại.
Chúng ta hãy quan sát những gia đình khá giả, tiện nghi một chút. Tiếp xúc với những đứa trẻ, thấy chúng rộng rãi, tốt bụng với nhiều người, những đứa trẻ này đời trước tính tốt nên nhân quả phù hợp, được sinh vào gia đình cha mẹ khá giả. Quan sát một gia đình khác hơi vất vả, con cái thiếu thốn thì những đứa trẻ này thường có tính ích kỷ. Ví dụ, người lớn bảo nó rửa chén, nó nói không ăn nên không rửa. Đứa trẻ so đo, tính toán, ích kỷ mang từ kiếp trước sang kiếp này, do đó nó sinh vào gia đình vất vả. Dĩ nhiên, không thể dựa vào tính tình để đánh giá hoàn toàn cái phước của con người, tuy nhiên tính tình là yếu tố rất quan trọng.
Thấy được điều đó, chúng ta phải quan tâm dạy trẻ, tập cho trẻ siêng năng làm lụng, hết lòng đỡ đần người khác dù với việc không thuộc bổn phận của chúng. Sự siêng năng này mang lại cái phước, làm cuộc sống của trẻ trong vị lai sẽ đỡ vất vả một chút. Nếu so đo tính toán không chịu giúp ai, chúng sẽ không bao giờ tìm được việc làm ổn định. Đó là Nhân Quả. Ai yêu quý công việc sẽ có được việc làm. Ngược lại, người từ bé đã tị nạnh, lười biếng sẽ phải chịu cảnh thất nghiệp khi đã đến tuổi trưởng thành.
Thật vậy, trong cuộc đời mỗi người, sự êm xuôi thành công hay lận đận thất bại mà họ phải nếm trải đều có nguyên nhân sâu xa từ nghiệp quá khứ. Nghiệp nhân thiện ác kiếp trước đã quy định cho đời sống khổ vui ở kiếp hiện tại. Tuy nhiên, “định mệnh” đó vẫn có thể được xoay chuyển phần nào trong chính kiếp sống này.
Ví dụ, một người đời trước chỉ tạo đủ phước để đời này được làm thư ký trong một công ty nhỏ. Không ngờ kiếp này lúc khoảng 7-8 tuổi người này có duyên gặp Phật Pháp và được dạy dỗ về nhân quả. Thế là đứa bé dù mới 8 tuổi nhưng đã biết kính trọng người lớn, siêng năng làm từng việc phước nhỏ, hiếu kính ông bà cha mẹ, kính trọng thầy cô, tử tế với bạn bè... Cứ như vậy, đến mười mấy năm sau, đứa trẻ lúc này là một người trưởng thành đã tích lũy được nguồn phước tương đối. Đến lúc phải đi làm, tuy vẫn ở vị trí thư ký nhưng không dừng ngang ở đó, nghề nghiệp tự nhiên được phát triển hơn, thăng tiến hơn, cơ hội thành công tốt hơn.
Phước ảnh hưởng thời niên thiếu rất nhiều. Nên thời niên thiếu là thời gian chuẩn bị công đức cho thời trưởng thành. Ví dụ, một người đã qua thời niên thiếu, lớn lên phải đi làm nuôi bản thân, nuôi gia đình và đóng góp công sức xây dựng xã hội. Nếu người có phước thì thành đạt, không phước thì vất vả. Đó là nhân quả công bằng. Vì lý do này mà chúng tôi thường khuyên các bậc cha mẹ phải biết tạo điều kiện cho con làm điều phúc thiện. Đừng để con hưởng thụ mọi điều sung sướng, bởi sự thụ hưởng luôn đốt dần cái phước của chúng. Khi phước hết, đến lúc phải bước ra bươn chải với đời chúng sẽ không có nhiều cơ hội may mắn. Cha mẹ thương con phải thương trong đạo lý, nắm vững đạo lý mới là khôn ngoan.
Nhiều bậc cha mẹ đã cho con mình hưởng thụ quá sớm. Khi đứa trẻ đòi hỏi có được chiếc xe gắn máy phân khối lớn hoặc chiếc áo hàng hiệu mắc tiền, họ sẵn sàng chi tiền ra sắm sửa cho con. Họ không biết rằng qua nhiều lần như vậy, chính mình đang đẩy con vào chỗ hết phước.
Chúng tôi có gặp một người như vậy. Gặp lúc anh đang sửa xe đạp, anh kể chuyện quá khứ: Năm mười chín tuổi, anh đã có xe hơi; nhà anh rất giàu, anh đã từng sống rất sung sướng. Còn hiện giờ làm thợ sửa xe. Từ bé đến lớn, anh đã được cung phụng quá nhiều mà không hề gây tạo thêm phước. Nếu cha mẹ anh biết được nhân quả, thay vì để con thụ hưởng, họ sẽ hướng dẫn con sống đời vị tha và siêng năng phụng sự. Các bậc cha mẹ hãy suy nghĩ rằng nếu mình thất cơ lỡ vận rồi không còn tiền để chu cấp cho con, hoặc ta không may mất sớm, những đứa con cũng đã hưởng cạn cái phước của chúng thì cuộc đời chúng sẽ đi về đâu? Vì thế, việc tìm mọi cơ hội để cho con làm phước là trí tuệ của những bậc cha mẹ.
Cơ hội để làm phước là gì? Ví dụ trước khi cho con số tiền quà sáng trong tháng, một người cha nói với đứa con: “Cha thấy báo chí có đăng những bài viết về các trường hợp neo đơn, mồ côi cần được giúp đỡ, hoặc trường hợp những chiến sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc nhưng gia đình các chú rất khó khăn. Tháng này cha sẽ cho con 300 nghìn đồng, con nghĩ có nên trích bớt tiền để giúp đỡ họ hay không?”. Anh gợi ý để con mình tự phát tâm làm phước bằng số tiền của nó. Suy nghĩ một lát, đứa trẻ đồng ý trích bớt 50 nghìn. Tiếp theo, anh khuyến khích trẻ tự bỏ tiền vào bao thư gửi đến tòa soạn nhờ chuyển tiền đi. Như vậy, cha mẹ sẽ phải vất vả một chút khi giải thích, thuyết phục, bản thân trẻ cũng phải hy sinh nhịn đi chút ít quà vặt nhưng tâm hồn chúng sẽ được dựng xây cho thuần lương hơn.
Sự vị tha này phải được huân tập dần dần. Ban đầu, ta tập cho trẻ nhường cho người anh em mẩu bánh mì, tiếp đến trích bớt 50 nghìn đồng tiền quà sáng dành tặng người nghèo khó neo đơn... thì khi lớn lên chúng mới dám ngắt ra năm, bảy mươi triệu để làm phước. Khi trẻ đã có thói quen san sẻ quyền lợi của mình cho những người khó khăn, ta có thể yên tâm rằng tâm hồn và cả cuộc sống của chúng cũng sẽ tốt lên dần, không chỉ kiếp này mà còn kéo dài qua đến những kiếp sau. Đó là cách dạy con của bậc cha mẹ khôn ngoan. Có lúc họ nghiêm khắc dùng đòn roi, có khi kiên nhẫn gợi ý, thuyết phục để trẻ tự phát tâm hành thiện.
Trong giai đoạn niên thiếu, chúng ta dạy cho trẻ biết được bổn phận của trẻ như làm được một số việc trong gia đình: giúp đỡ, vâng lời và hiếu kính với cha mẹ, ông bà; thương yêu giúp đỡ anh chị em; chăm lo học hành; nếu là Phật tử phải tham gia sinh hoạt các lớp đạo đức dành cho học sinh tại chùa. Chúng ta phải cứng rắn, buộc con cháu tham gia để chúng quen với môi trường đạo từ lúc nhỏ cho đến khi lớn lên. Về phía quý Tăng, Ni và huynh trưởng cũng cố gắng cải cách nội dung sinh hoạt lớp đạo đức, có nội dung giáo lý thích hợp, hình thức vui tươi.
Ta cứng rắn để trẻ quen dần với môi trường trong đạo từ bé. Ví dụ, cha mẹ quy định mỗi sớm đứa con phải tụng bài kinh ngắn phù hợp lứa tuổi (Như bài “Lời cầu nguyện buổi sáng dành cho trẻ”). Nếu trẻ lười biếng giải đãi, cha mẹ có thể la rầy, trách phạt. Hoặc buộc trẻ tập lễ kính Phật, thương yêu loài vật, lễ độ với người lớn, phụ giúp đỡ đần người chung quanh, tập làm những việc từ thiện nho nhỏ... Sự nghiêm khắc dạy dỗ như thế luôn đòi hỏi nhiều công sức, nhưng mười năm sau họ sẽ nhẹ lòng với đứa trẻ đó, bởi ảnh hưởng tốt của đạo đã rơi vào tâm nó. Trẻ vừa ngoan ngoãn, vừa có phước mà tự bước tới. Bằng không, nếu dể duôi thả lỏng, mười năm sau có thể họ sẽ khóc ròng vì đứa con của mình.
Trong giai đoạn này, sự chuyển biến tâm sinh lý nơi trẻ rất phức tạp, trẻ dễ bị ảnh hưởng bạn bè xấu, ảnh hưởng những điều xấu ngoài vòng kiểm soát của cha mẹ. Trẻ tiếp cận với văn hóa phẩm đồi trụy, truy cập những hình ảnh xấu trên Internet, dễ bị lôi cuốn vào con đường tội lỗi... Vì vậy, cha mẹ kiểm soát việc ăn học, đi đứng của con thật kỹ, thật cứng rắn, là biện pháp ngăn chặn cái xấu rớt vào tâm hồn trẻ. Nếu không, tâm hồn những đứa con của họ dễ bị nhuốm đen từ lúc nào mà họ không hay biết. Riêng những Phật tử trẻ tuổi phải mạnh mẽ đem điều thiện chuyển hóa lại các bạn, đừng để bạn bè đem cái xấu ác lại mời gọi lôi kéo mình.
THỜI GÁNH VÁC NHỮNG BỔN PHẬN THIÊNG LIÊNG
Đi qua quãng đời niên thiếu, con người bước vào giai đoạn phải gánh vác. Chúng ta không gọi đây là thời kỳ trưởng thành. Vì sự trưởng thành chỉ có ý nghĩa về tâm sinh lý, tức là so với thời niên thiếu, người này khôn ngoan hơn, sức khỏe tốt hơn, chứ chưa chắc đã biết gánh vác trách nhiệm, đã có ý thức về bổn phận của mình. Bởi vì, có những người dù đã trưởng thành mà vẫn ăn chơi không làm gì cả, do ỷ lại cha mẹ giàu có. Nên ở đây, chúng ta gọi là thời gánh vác những bổn phận, thời phải có trách nhiệm với người khác. Có người mới mười sáu, mười bảy tuổi đã phải gánh vác việc gia đình vì gia đình nghèo; vì cha mẹ mất sớm; vì các em còn nhỏ... Có người được cha mẹ nuôi ăn học cho đến ba mươi tuổi mới bắt đầu đi làm, rồi có vợ con mới gánh vác việc gia đình. Ở đây không nói đến tuổi tác, cũng không nói đến trưởng thành mà tùy duyên đến tuổi nào đó phải gánh vác trách nhiệm, tự biết phải có bổn phận với bản thân, với gia đình, với xã hội.
Đây là giai đoạn vất vả nhất, mà cũng kéo dài nhất của đời người. Trung bình đến hai mươi tuổi người ta bắt đầu có trách nhiệm với cuộc đời cho đến tuổi nghỉ hưu. Suốt ba mươi năm, bốn mươi năm, con người phải gánh vác những bổn phận thiêng liêng, những trách nhiệm đối với đời. Thời gian gánh vác luôn luôn nhiều. Chúng ta sinh vào cõi đời là gánh trên vai nhiều nỗi khổ. Quan điểm của đạo Phật: “Đời là một bể khổ”. Còn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết: “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”, việc người mẹ cho con vào đời không phải là việc vui mà là tin buồn; hoặc nói về thân phận con người: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, rồi một mai tôi trở về làm cát bụi. Ôi cát bụi mệt nhoài...”. Quan điểm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn gần giống với quan điểm của đạo Phật, tuy nhiên hơi buồn, hơi bi quan.
Bổn phận với chính bản thân và gia đình
Đây là giai đoạn chúng ta có nhiều điều phải lo, phải gánh vác, trước hết là bổn phận với chính bản thân mình. Phải lo cho cái thân này sống trước, phải nuôi cho “nó” sống, chứ không để cho “nó” đói. Kế đến là lo cho gia đình. Nếu là người chồng thì phải nuôi vợ, nuôi con. Đến lúc cha mẹ lớn tuổi, phải lo cho cha mẹ. Tính trung bình, một người phải nuôi năm người. Nếu cả hai vợ chồng cùng đi làm, gánh nặng sẽ được chia làm đôi. Hoặc nếu có vài anh chị em phụ nuôi cha mẹ thì sức ép của cơm áo gạo tiền cũng nhẹ đi chút ít. Còn lại, việc cáng đáng trách nhiệm với gia đình thật sự là một gánh nặng rất lớn. Chữ “gia đình” ở đây mang ý nghĩa rộng, tức là phải có kế hoạch để gánh một, hai thế hệ gồm năm, bảy người: cha mẹ già, vợ, con...
Một xã hội mà thu nhập của người dân không đủ nuôi gia đình bốn, năm người là xã hội đó nghèo. Thật ra, một người có thu nhập đủ nuôi bốn, năm người là khá vất vả. Vì ngoài bổn phận với gia đình, người dân còn phải có nghĩa vụ với xã hội, đất nước: đóng thuế, lao động công ích... Một đất nước sẽ giàu mạnh nếu người dân làm tròn nghĩa vụ đóng thuế. Ngược lại, một đất nước sẽ nghèo nếu người dân không đóng thuế được nhiều do thu nhập thấp, hoặc ý thức người dân kém (trốn thuế). Có khi nhà nước không thu được thuế mà còn bị khủng hoảng kinh tế.
Trong thời đại này, bổn phận mỗi người phải gánh vác là vừa lo nuôi bản thân mình vừa nuôi gia đình mình, vừa phụ đóng góp để nuôi đất nước nữa. Vì thế, chúng ta ai cũng phải làm việc. Có nhà xã hội học nói: “Lao động là vinh quang”, nghĩa là làm việc đóng góp cho xã hội là nhiệm vụ cực kỳ gian khó, mà cũng cực kỳ vẻ vang, đó là hiểu theo quan điểm chính trị – xã hội. Là người hiểu đạo, chúng ta hiểu như vậy cũng rất đúng. Giai đoạn chúng ta vất vả để lo cho mọi người chính là giai đoạn hạnh phúc nhất. Vì nếu chúng ta sống từ nhỏ cho đến già, đến chết mà không cần lo cho ai, đó là một cuộc đời nhạt nhẽo không có ý nghĩa. Cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa hay không chính là ở giai đoạn này.
Có thể chúng ta đang cực nhọc, đôi khi mong cho hết cực sớm. Ví dụ, chúng ta đang vất vả lo cho gia đình, nuôi cha mẹ, phải tần tảo, phải căng thẳng đầu óc, phải tính toán, không biết ngày hôm nay thu nhập có đủ để sống trong ngày không? Không biết số tiền thu có đủ để ngày mai đóng thuế không? Đầu óc phải căng thẳng, phải tính toán, phải bận tâm, phải lo toan rất nhiều... Chúng ta ước gì vượt qua được giai đoạn vất vả này, đến tuổi già được thảnh thơi, có tiền hưu, có tiền đi du lịch, con cái nuôi sống nhàn hạ. Nếu có được điều đó thì hạnh phúc biết bao!
Ví dụ, có một người sống sung sướng, trong một đời họ đi làm lo cho gia đình chỉ có năm năm. Những năm còn lại tự nhiên phước tới không phải đi làm nữa. Họ sống nhàn tới già luôn. Nếu người đó không biết đạo, họ sẽ nghĩ cuộc đời họ may mắn. Nhưng một ngày nào đó, năm sáu mươi lăm tuổi họ biết đạo, họ chống gậy đến chùa nghe giảng, rồi từ từ hiểu nhân quả, hiểu được lòng từ bi, hiểu được đạo lý cao siêu trong Phật Pháp. Bắt đầu họ thấy được cuộc đời họ không có ý nghĩa lắm. Họ buồn vì đã không đóng góp được nhiều mà chỉ có hưởng thụ.
Còn có người vất vả cả đời. Ví dụ, một người đến sáu mươi tuổi về hưu, mà người này bảy mươi tuổi vẫn còn làm được nhiều việc có lợi cho cuộc đời, cho gia đình, cho xã hội, cho xóm giềng, cho Phật Pháp. Người này sẽ vui vì cảm thấy cuộc sống mình có ý nghĩa. Đó là niềm vui tinh thần, chứ chúng ta chưa nói đến phước báu là về già được an vui sung sướng. Nghĩa là khi chúng ta cực khổ, tận tụy lo cho người khác nhiều chừng nào, thì ta có cái tâm lý yên vui, mãn nguyện lúc chúng ta lớn tuổi nhiều chừng nấy. Còn nếu lúc trẻ chỉ hưởng thụ, không làm được gì nhiều cho cuộc đời, lúc già sẽ cảm thấy trống trải vô nghĩa, hụt hẫng, hoang mang, không có hướng đi... Đây là một tâm lý có thật. Cho nên, chúng ta hãy sống xứng đáng trong giai đoạn phải gánh vác trách nhiệm với cuộc đời, gia đình, đất nước và cả đạo pháp, thì lúc già niềm vui tràn ngập. Nếu chúng ta để thời gian gánh vác qua đi mà không làm được gì nhiều thì sau này sẽ thấy hối tiếc.
Nếu nhìn vào nét mặt người già và thấy họ mờ mịt không hướng đi, hụt hẫng, chán chường vì cảm thấy đời trống rỗng vô vị, ta có thể phần nào đoán được rằng người đó lúc trẻ đã thụ hưởng khá nhiều.
Vì thế từ bây giờ chúng ta hãy chấp nhận cực nhọc mà sống xứng đáng trong giai đoạn mình đang cưu mang nhiều trách nhiệm. Hãy gánh vác nhiều hơn điều mà cuộc đời đòi hỏi. Gia đình, xã hội, đất nước, đạo pháp chỉ yêu cầu một nhưng hãy cố gắng tận tâm, tận lực để đóng góp gấp đôi. Được như vậy, mấy chục năm sau, niềm hỷ lạc sẽ ngập tràn tâm hồn và cuộc sống mỗi người.
Trong khi người đời có trách nhiệm với gia đình thì người tu có bổn phận nuôi dạy đệ tử. Lúc còn sức lực, người xuất gia nào cũng phải cố gắng lo cho đệ tử mình đầy đủ mọi phương tiện học tập, tu hành, hoằng hóa... Tùy căn cơ, có đệ tử sẽ vượt lên một cách xuất sắc, cũng có người sẽ chậm tiến hơn. Nhưng bổn phận người làm Thầy vẫn phải dốc hết tâm huyết của mình vì đệ tử.
Bổn phận với người lớn tuổi
Hằng ngày, chúng ta phải căng thẳng tính toán mức thu nhập; phải vất vả làm từng món hàng; phải chăm chú, khéo léo để được lòng khách hàng; phải đóng thuế. Rồi nuôi con ăn học đến nơi, đến chốn. Khuynh hướng hiện nay là sinh từ một đến hai con để những người cha, người mẹ có nhiều thời gian, sức khỏe, tiền bạc nuôi con được tốt hơn. Thế hệ trước sinh năm, bảy con, vì họ quan niệm lúc trẻ nuôi con cực khổ một chút đến khi về già được đền bù lại, không có đứa này lo cũng có đứa kia lo. Nếu được vậy cũng là có phước. Nhưng cũng có những người nghiệp nặng, đông con càng bị con phá của, làm khổ cha mẹ lúc về già. Có những người không hề có gia đình, không hề có con, nhưng cả một đời làm phước, về già vẫn sung sướng, chết êm ả. Như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không có vợ con vẫn chết trong vinh quang.
Vì áp lực dân số, hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều vận động kế hoạch hóa gia đình, mỗi gia đình chỉ sinh một, hai con, sau này người già sẽ nhiều hơn người trẻ. Vì thế, người trẻ phải chuẩn bị tâm tư sau này nuôi người già nhiều hơn; còn người già cũng chuẩn bị tâm tư sau này rất ít người lo cho mình. Chúng ta phải thấy trước viễn cảnh của đất nước và thế giới như vậy.
Xã hội Á Đông rất tôn trọng tình nghĩa. Vì thế, người trẻ phải chuẩn bị tâm tư để năm, mười năm sau phải lo cho cha mẹ, ông bà nhiều hơn. Chuẩn bị ngay từ khi còn trẻ, không sợ cực khổ. Nếu không có sự chuẩn bị, đến lúc cha mẹ về già thấy lo cho cha mẹ cực khổ quá rồi né tránh là mang tội. Bổn phận quan trọng của mỗi người chúng ta là hiếu thảo với cha mẹ, lo cho cha mẹ lúc về già. Đến khi chúng ta trở về già cũng sinh được con cái hiếu thảo nuôi nấng lại.
Tuy nhiên, cũng có nhân quả cá biệt từ xưa.
Có khi chúng ta hiếu thảo với cha mẹ mà chúng ta lại gặp đứa con ngỗ nghịch, bất hiếu. Nhưng yên tâm, chúng ta sẽ được bù đắp ở khía cạnh khác. Dù nhân luôn sinh ra quả, nhưng nhân quả luôn uyển chuyển linh động. Một người trồng dưa nhưng không ăn dưa mà được ăn xoài. Đó vẫn là cái phúc, bởi họ có trồng nên có ăn. Có khi chúng ta hiếu thảo với cha mẹ mà con chúng ta lại không có hiếu với chúng ta, nhưng tự nhiên chúng ta được người khác nuôi dưỡng. Bù đắp luôn luôn là sự công bằng, có đóng góp là có phần thưởng.
Vấn đề nuôi người già là vấn đề lớn của xã hội vì sau này người già sẽ đông hơn người trẻ. Ở Trung Hoa, mỗi gia đình buộc chỉ có một con. Người con lớn lên, nếu là trai phải nuôi bốn người: cha, mẹ, vợ và con. Các xã hội khác, một gia đình có nhiều con thì các con có thể phụ vào nuôi cha mẹ cũng nhẹ nhàng hơn ở Trung Hoa. Khi nhìn những người tóc bạc sức yếu, chúng ta hãy hiểu rằng họ đã đi qua cả một cuộc đời có cả vinh quang lẫn tủi nhục, hạnh phúc lẫn khổ đau, nhưng ít nhiều vẫn đã cống hiến cho cuộc sống này. Bước vào con dốc bên kia cuộc đời, họ không còn tự lo cho mình được nữa. Vì thế, thương yêu người lớn tuổi là một đạo đức. Chúng ta mong họ được sống những năm tháng cuối đời trong yên vui. Ta quý trọng từng chút niềm vui còn lại của tuổi già. Người trẻ chúng ta cũng phải hết sức cẩn thận khi đối xử với người già: phải kính trọng, phải lễ phép, phải khéo léo trong từng lời ăn tiếng nói, không vô ý nói những lời làm người già buồn lòng. Hãy thương yêu người già.
Bổn phận nữa là chúng ta phải lo cho xã hội
Chúng ta phải làm việc, mỗi người một ngành nghề góp phần xây dựng đời sống xã hội. Nếu là cán bộ viên chức, phải hết lòng lo cho dân; không làm khó dễ dân để ăn hối lộ hay tham nhũng. Phần đông người cán bộ Nhà nước rất tốt. Nếu là người cán bộ có đạo Phật thì càng phải hy sinh lo cho dân, cho nước nhiều hơn.
Bổn phận với ngành nghề
Chúng ta cũng phải có bổn phận với ngành nghề của mình. Ví dụ, đời này chúng ta làm nghề kiến trúc, mình cố gắng phát triển và duy trì nghề đó cho đời sau. Có nhiều ngành nghề bị thất truyền rất uổng phí. Như ở phương Đông có môn công phu nội công, đánh chưởng, phi thân đã bị thất truyền. Người phương Tây không tin con người có thể bay lên nóc nhà, có thể đánh ra chưởng. Vì không tin nên họ không bao giờ làm phim đánh chưởng; còn phim Trung Hoa hầu hết là phim đánh chưởng, phi thân, đánh kiếm. Lúc đầu người phương Tây cho rằng người Trung Hoa lãng mạn, tưởng tượng ra, nhưng người Trung Hoa cứ làm hết phim chưởng này đến phim chưởng kia. Đến nay, người phương Tây không còn phê bình nữa, họ tin rằng có những võ sư giỏi đã làm được những điều đó và đem điều hiện thực đó lên màn ảnh. Ngày xưa, những con người đó đã phi thân lên nóc nhà, qua ngọn cây, bay trên không, nghĩa là họ làm cho thân nhẹ đi.
Gầy đây, những điều đó được chấp nhận nên có phim phi thân, đánh chưởng ở Trung Hoa được giải Oscar. Trong phim “Ngọa Hổ Tàng Long”, một nhân vật nữ yểu điệu, phi thân, đánh võ rất giỏi. Những người Trung Hoa có những bí thuật như vậy nhưng ngày nay bị thất truyền. Đó là một trong những tinh hoa của nhân loại mà không được phát triển do người ta giấu nghề, không biết giữ gìn, không lo kế thừa. Giấu nghề làm cho nền văn minh nhân loại chậm lại. Người Á Đông và cả người Việt Nam hay giấu nghề, chỉ truyền nghề cho con cái; truyền cho người ngoài sợ bị cạnh tranh kinh tế. Với các kĩ thuật tập luyện nội công cũng vậy, các bậc tiền bối chỉ truyền dạy cho con cháu và rất hạn chế người ngoài. Vô số tinh hoa khác cũng dần biến mất, trong khi chúng đều là một phần trong nền văn minh nhân loại. Vì thế, khi nắm được những kĩ thuật đặc biệt trong bất cứ ngành nghề nào, ta phải hết sức trân trọng và mở lòng mình ra. Ta vừa kế thừa gìn giữ, vừa truyền dạy rộng rãi không để chúng bị mai một uổng phí. Đó cũng là một thiện nghiệp cho cuộc đời mỗi người. Ngày nay, sự phát triển của công nghệ vượt bậc, không biết điều đó có được truyền bá cho cả thế giới hay không? Vì vậy, bổn phận của chúng ta là giữ gìn và phát triển những cái hay của nhân loại.
Làm việc từ thiện
Việc từ thiện không mang tính chất bắt buộc mà đến từ sự tự nguyện. Ở một số quốc gia văn minh giàu có, những nhân viên đăng kí với công ty của mình mỗi tháng sẽ trích bớt một khoản nhất định trong tiền lương để làm việc từ thiện. Đến lúc trả lương, công ty sẽ tự động trừ ra số tiền đó và gửi về các cơ quan từ thiện. Nhờ vậy, tổng số phước của người dân tại những những xứ sở này cứ tăng trưởng mãi.
Bổn phận với người dân tộc thiểu số
Chúng ta, những người Kinh còn có bổn phận với người dân tộc thiểu số. Theo truyền thuyết mẹ Âu Cơ sinh một trăm trứng thì người Kinh và người Thượng đều là anh em. Người Kinh có chút văn minh thì có bổn phận giúp đỡ người anh em dân tộc thiểu số còn nghèo nàn, lạc hậu. Thỉnh thoảng hãy vận động, tổ chức những chuyến đi hỗ trợ lương thực, thuốc men cho đồng bào dân tộc ở vùng xa xôi hẻo lánh. Riêng những người Kinh sống gần đó nên nhiệt tâm mang ánh sáng Phật Pháp đến với họ.
Bổn phận với đạo pháp
Một điều nữa là chúng ta phải lo cho đạo pháp. Nói trên đạo lý là chúng ta giúp đỡ người tu (cúng dường). Hồi giáo có luật mỗi tháng phải đóng góp bao nhiêu tiền vào đền thờ để lo cho đạo, họ lấy tiền đó hỗ trợ đạo ở nhiều nơi khác. Ví dụ, họ đến Việt Nam tặng tiền cho người nghèo để thu hút người đó vào đạo. Riêng với đạo Phật, lo cho đạo (ở đây có nghĩa là cúng dường), là một vấn đề tế nhị mà người Phật tử phải đồng quan điểm. Chúng ta chỉ cúng dường cho những ai xứng đáng, tu hành chân chính. Như vậy, đạo Phật mới hưng thịnh. Nếu người Phật tử cứ thấy ai “đầu tròn áo vuông” là cúng dường, bất kể người đó tu có chân chính hay không (vì nghĩ rằng ai bất chính thì có tội với Phật), như vậy, đạo Phật dễ tàn lụi vì người tu không chân chính vẫn tiếp diễn và người ta dễ dàng “xuất gia” (vô chùa có người cúng dường, ở ngoài đời kiếm ăn cực quá!).
Tại sao cũng là công đức cúng dường mà người có phước, người có tội. Có tội là vì cúng dường người tu giả dối họ góp phần làm cho đạo Phật băng hoại. Cúng dường người tu đàng hoàng, chân chính để đạo Phật chỉ toàn là người tu tốt (người nào tự thấy mình không tu đàng hoàng họ không dám xuất gia). Bởi đạo Phật không có giáo quyền nên không có trừng phạt, sa thải. Chỉ do Phật tử quyết định, Phật tử biết lựa nơi, lựa người cúng dường thì hai mươi năm sau, người không đàng hoàng không dám xuất gia; còn người tự biết mình tu đàng hoàng mới xuất gia. Như vậy, việc cúng dường có chọn lọc, tự nhiên trở thành sự thanh lọc trong đạo Phật, làm cho đạo Phật càng lúc càng hưng thịnh. Cúng dường như vậy là chúng ta biết lo cho đạo. Việc cúng dường là một vấn đề tế nhị nên chúng ta cần suy nghĩ sâu sắc.
Sự bận tâm vô ích
Chúng ta đã kể nhiều việc phải lo của một người ở giai đoạn gánh vác trong cuộc sống này. Trong giai đoạn này, ai cũng mang nặng rất nhiều trách nhiệm. Nhưng thay vì chu toàn các bổn phận, không ít người đã hoài công cho những điều vô nghĩa.
Thay vì phụng dưỡng cha mẹ, họ lao vào những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng. Những nỗi lo “sai địa chỉ” như thế làm chính họ bị động tâm vô ích, sau đó tổn phước rồi mất dần giá trị.
Hoặc có người quanh năm dành dụm tích góp tiền bạc, hễ được một khoản kha khá họ sẽ chi vào những chuyến du lịch. Khuynh hướng này xuất phát từ phương Tây. Thật ra việc thay đổi môi trường sống, thăm thú cảnh đẹp cũng là nhu cầu chính đáng của con người. Tuy nhiên, ta sẽ tổn phước nếu đổ tiền của vào đó một cách quá độ. Người Phật tử không nên làm điều gì chỉ vì thỏa mãn sở thích cá nhân. Trong cuộc đời mình, hãy dành tiền bạc, thời gian, sức lực cho những chuyến đi cần thiết và mang lại lợi lạc cho con người.
Báo Tuổi Trẻ từng đăng một bài viết của tác giả Nguyễn Cung Vệ Binh nói về những nghịch lý của thời đại. Ông cho rằng chúng ta giành giật nhiều hơn nhưng lại có ít hơn; có những tòa nhà đồ sộ hơn nhưng gia đình lại bé nhỏ hơn; sở hữu nhiều hơn nhưng mất mát hơn về nhân cách.
Hoặc con người có nhiều phương tiện giải trí hơn, nhưng niềm vui thật sự thì ít hơn. Những nghịch lý trên đều rất thấm thía.
Hãy đừng dại dột lao vào những cuộc vui vô bổ, rồi cuộc đời mình mất giá trị và kém phước. Những người đàn ông thời trẻ đã ăn chơi quá nhiều, mấy chục năm sau sẽ rơi vào một tuổi già hoang mang, hụt hẫng mất hướng đi. Họ thấy cuộc đời sao trống rỗng và vô vị kỳ lạ. Bản thân họ cũng không còn giá trị, những đứa con, cháu nhìn vào họ tự nhiên thấy không thể tôn trọng. Không còn được ai nể trọng là dấu hiệu của người đã hết phước, bởi bao nhiêu năm sống trên đời họ đã đổ quá nhiều tâm, sức vào những điều phù phiếm vô nghĩa.
Nỗi lo của vĩ nhân
Chúng ta hãy lo cho chính đáng những điều phải lo trong cuộc sống này để tuổi già không hoang mang, hụt hẫng, mất hướng đi, trống rỗng, vô vị. Lo những điều chính đáng thì con cháu chúng ta sẽ kính yêu, trân trọng cuộc sống của chúng ta lúc tuổi già. Chúng ta làm tròn bổn phận, trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, đạo pháp cũng đã cao thượng rồi. Nhưng với bậc vĩ nhân, cái tâm của họ lớn hơn thế rất nhiều lần. Họ ôm ấp cả đất nước này, thậm chí cả nhân loại trong trái tim mình. Thấy đang sống bình thường như mọi người, nhưng trong tâm họ nặng trĩu âu lo. Họ trăn trở về những điều mà người khác chưa hề nghĩ đến. Họ thấy đất nước sẽ đi về đâu. Nhân loại này sẽ đi về đâu. Và họ sẽ phải làm gì để tránh được những tai họa cho thế giới này. Thế giới có nhiều vĩ nhân: những nhà bác học, xã hội học, những nhà bảo vệ môi trường, những lãnh tụ chân chính... Tất cả đều là những con người có trái tim vĩ đại.
Thông thường, những vĩ nhân ít có đời sống gia đình thật sự hạnh phúc. Vì trong tâm họ không có thời gian cho cá nhân. Tình yêu của họ, cái lo của họ lớn lao hơn đã choán hết tâm trí họ. Có nhiều vĩ nhân không lập gia đình vì vận mệnh quê hương đất nước, vận mệnh nhân loại quan trọng hơn một gia đình đối với họ. Ví dụ, có người phụ nữ nào đó thương yêu họ mà họ không thể nào dồn tình thương yêu cho ai vì những việc lớn đã chiếm đầy khối óc và trái tim họ. Cũng có những vĩ nhân có gia đình, vợ con thì những người vợ của vĩ nhân phải hiểu, không đòi hỏi nhiều ở người chồng về tình cảm. Những người phụ nữ này phải có đức tính hy sinh cho chồng. Người ta thường nói phía sau sự thành công của người đàn ông có sự đóng góp của người phụ nữ (là vợ hoặc là mẹ).
Bổn phận của người tu
Chúng ta nói thêm về bổn phận của người tu. Ngoài việc tu hành chân chính, làm thầy phải nuôi dạy đệ tử được giỏi giắn, đầy đủ về mọi phương diện. Cũng tùy căn cơ, có những đệ tử chậm tiến mà cũng có những đệ tử vượt lên một cách xuất sắc. Dù như thế nào, bổn phận làm thầy là phải lo nuôi dạy đệ tử hết lòng. Ở ngoài đời, chúng ta phải nuôi cha mẹ. Xuất gia, người tu phải nuôi dạy đệ tử, đồng thời phải nuôi thầy Tổ đã già, không còn làm được việc gì nữa.
Trong đạo Phật, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc người xuất gia không lập gia đình. Trước tiên là yếu tố giới luật. Họ không đắm nhiễm ái dục để giữ gìn sự trong sạch, phạm hạnh cho đời tu của mình. Nhưng trong đó còn có một nguyên nhân rất lớn thuộc về đạo đức. Lý tưởng của người xuất gia thôi thúc họ phải dốc lòng lo cho tất cả chúng sinh. Nếu bị ràng buộc bởi bổn phận với một gia đình nhỏ bé, không ai còn đủ thời gian, tâm trí, sức lực để trọn lòng vì đạo.
Từng có một thời gian những hàng giáo phẩm của Thiên Chúa giáo tranh luận với nhau về vấn đề có nên cho Linh mục lấy vợ hay không. Tại một số quốc gia, các Linh mục đã cùng ký vào đơn đề đạt lên trên tòa Thánh bày tỏ nguyện vọng được lập gia đình. Họ cho rằng các Mục sư của Tin Lành tuy có vợ nhưng vẫn làm việc trong đạo rất tốt, hết lòng phục vụ giáo dân. Việc này gặp phải sự phản đối từ các Cha lớn. Theo họ, nếu có gia đình rồi người tu sĩ sẽ không còn trọn lòng với Chúa nữa. Cuộc tranh luận này vẫn chưa ngã ngũ.
Trong đạo Phật, giới luật ngăn cấm người tu sĩ lập gia đình ngay từ ban đầu. Tuy nhiên, tại Nhật Bản có hệ phái tân Tăng đã phá bỏ giới luật này. Bước vào một chùa Nhật Bản, người ta sẽ ngạc nhiên khi thấy một người đàn ông có thể cạo tóc, mặc trang phục truyền thống hoặc vest nhưng được gọi là Sư trụ trì của một ngôi chùa rất lớn. Phía sau có gia đình bao gồm vợ và các con của ông đang sinh sống. Chỉ có những người con của vị trụ trì mới được kế thừa ngôi đại tự đó.
Những Việt kiều sinh sống tại Nhật đã kể lại câu chuyện này. Theo họ, tại Nhật Bản rất khó để được làm người xuất gia. Muốn tu hành, người ta hoặc phải rất giàu mới cất nổi một đại tự, hoặc phải may mắn là con của vị trụ trì để được quyền thừa kế một ngôi chùa.
Người Việt Nam có câu tục ngữ:
“ Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa lại quét lá đa”.
Không biết từ thời nào sư sãi trong chùa lại có con để đi quét lá đa. Đó cũng là một sự biến thái trong đạo Phật. Tuy nhiên, về sau những tu sĩ Phật giáo có khuynh hướng trở lại con đường giống như thời Đức Phật, tức là sống đời sống xuất gia thanh tịnh (từ bỏ gia đình).
Những vĩ nhân không còn thời gian cho những điều riêng tư vụn vặt. Với người bình thường, chúng ta vẫn còn bao nhiêu trách nhiệm ràng buộc, tuy nhiên đừng đổ thời gian, công sức vào những điều phù phiếm vô nghĩa. Bởi ngoài những bổn phận bắt buộc, ta còn có bổn phận về tâm linh, nghĩa là phải dành thời gian cho sự tu tập tinh chuyên trong đạo lý. Có đạo lý soi sáng tâm hồn, con người mới vừa tận tâm chu toàn những bổn phận chính đáng, vừa mở lòng mình lo lắng cho những điều cao thượng lớn lao hơn. Công đức từ cuộc sống vị tha như thế sẽ mang lại niềm an vui, hạnh phúc cho họ vào lúc tuổi già và cả những kiếp về sau.
GIAI ĐOẠN VỀ GIÀ
Chúng ta thử đưa ra hai ví dụ như thế này:
Ví dụ, có một người trong giai đoạn phải gánh vác, họ chỉ làm việc có năm, bảy năm để nuôi gia đình. Phần đời còn lại, phước đâu tới, người đó không làm gì nữa, sống sung sướng tới tuổi già. Người không biết đạo sẽ cho rằng cuộc đời như vậy là may mắn. Nhưng đến một lúc nào đó, sáu mươi lăm... bắt đầu biết đạo, nghe giảng Pháp, hiểu nhân quả, hiểu đạo lý từ bi thì mới biết rằng cuộc đời mình không có ý nghĩa nhiều, không có đóng góp gì nhiều, chỉ hưởng nhiều và thấy buồn.
Ví dụ khác, một người suốt cả một đời gánh vác những bổn phận, trách nhiệm vất vả, đến tuổi nghỉ hưu vẫn tiếp tục làm được nhiều việc có lợi cho gia đình, làng xóm, xã hội cho đến khi không thể làm gì được nữa. Lúc đó, người này có thể chống gậy thong thả đi dạo trong xóm, nhìn trẻ con nô đùa. Trẻ con cung kính khoanh tay chào ông (chào bà). Người này cảm thấy an vui vì cuộc đời mình có ý nghĩa. Sự cực khổ suốt đời đó đã đem lại niềm vui tinh thần, chưa nói tới phước báu về già được an vui, sung sướng, cái chết được êm ả, và kiếp sau được giàu có, hạnh phúc.
Nói trên tâm lý đơn thuần, khi chúng ta cực khổ lo cho người khác nhiều chừng nào thì khi về già lại an vui, hài lòng nhiều chừng ấy. Trái lại lúc trẻ, chúng ta chỉ lo hưởng thụ không làm được gì nhiều, lúc về già sẽ cảm thấy trống trải, vô nghĩa. Cái cảm giác cuộc đời mình trống trải, vô nghĩa làm cho chúng ta hụt hẫng, hoang mang lúc tuổi càng cao. Vì thế, khi chúng ta còn trẻ phải cố gắng làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình với cuộc đời để vượt qua tâm lý trên, đến tuổi già sẽ cảm thấy an vui, hài lòng, mãn nguyện.
Người Phật tử ở giai đoạn tuổi về già đến chùa nghe đạo, lòng thanh thản, an vui, hầu hết đã trải qua tuổi trẻ cực khổ, tận tụy lo cho gia đình, hoặc đã đóng góp nhiều cho xã hội rồi. Còn những người già cảm thấy cuộc đời trống rỗng, vô vị, mất hướng đi là vì lúc trẻ hưởng thụ nhiều. Đó mới là đau khổ. Vì thế, để được tâm lý tuổi già an vui thì chúng ta sống xứng đáng giai đoạn gánh trách nhiệm với đời, vất vả nhiều hơn là cuộc đời đòi hỏi nơi mình. Nếu cuộc đời, gia đình, xã hội, đất nước và cả đạo pháp đòi hỏi nơi chúng ta chỉ một thì chúng ta làm gấp đôi, lúc về già niềm vui tràn ngập. Có những người như vậy. Trên giấy tờ họ đã nghỉ hưu nhưng ở tuổi bảy mươi, bảy mươi lăm vẫn còn làm việc, tự nghiên cứu cho ra đời những công trình lớn, hoặc lặng lẽ viết những bài báo rất hay. Đó là những người vẫn tiếp tục đóng góp cho Đạo Phật và Xã Hội
đời khi họ vẫn còn sức khỏe.
Với người hiểu đạo, họ chắt chiu mọi sức lực để làm từng việc phước nho nhỏ.
Một ông lão đang hì hụi trồng cây. Có người đi ngang qua nói:
- Năm nay cụ bao nhiêu tuổi rồi ạ?
- Tôi 75 tuổi.
- Năm năm, mười năm nữa cây cam này mới có trái. Cụ nghĩ mình có sống đến lúc đó mà ăn trái hay không?
- Nếu biết ngày mai tôi chết, hôm nay tôi vẫn trồng cây cam này.
Câu nói của cụ già bảy mươi lăm tuổi: “Nếu biết ngày mai tôi chết, hôm nay tôi vẫn trồng cây cam này” như một triết lý về cuộc sống: Cho đi mà không cần nhận lại. Một sự hy sinh không đòi hỏi bù đắp. Gieo nhân lành mà không cần nhận quả.
Qua câu chuyện này cho chúng ta tâm niệm rằng: Dù đã già mà còn sức khỏe cứ ráng làm từng việc phước nho nhỏ, không nghỉ ngơi.
Những người lớn tuổi hãy thấy trước rằng sau này sẽ không có nhiều người lo cho mình và có sự chuẩn bị ngay từ bây giờ. Cụ thể nhất là sức khỏe. Theo năm tháng, cơ thể ai cũng dần suy hao, bệnh yếu. Nếu gia đình có người bệnh tật liên miên, chúng ta sẽ cảm nhận rất rõ sự mệt mỏi của những người thân. Với các cụ ông, cụ bà nằm liệt bao nhiêu năm, họ ăn uống, bài tiết một chỗ, những vết lở loét lan khắp cơ thể, nỗi nhọc nhằn của con cháu càng tăng lên bội phần. Ngược lại, những ai về già ít bệnh, khỏe mạnh, hơn nữa lại có cái chết êm thắm, đó thật sự là diễm phúc cho cả gia đình. Vì thế, người lớn tuổi phải có cách tập luyện để ngăn ngừa những cơn bệnh của tuổi già, cũng là bớt đi một gánh nặng cho con cháu.
Trước tiên hãy tập khí công. Những động tác khí công tuy nhẹ nhàng nhưng giúp cơ thể ta dần dẻo dai, có nội lực hơn. Bên cạnh đó hãy mày mò bấm huyệt nơi bàn chân, bàn tay để giảm thiểu bệnh tật. Hoặc ta sử dụng những dụng cụ dành cho người già như xe lăn, gậy chống để vừa tập luyện, vừa đỡ đần con cháu.
Ở một khía cạnh khác, người hiểu đạo biết tận dụng thời gian và sức khỏe để làm phước, làm lợi ích cho người khác thì khi “ra đi” rất thanh thản. Cái chết êm ả, thanh thản có nhiều nguyên nhân: ít tạo nghiệp ở đời trước và đời này; lúc sống họ đã làm trọn vẹn bổn phận của mình. Còn người chết không êm ả, chết khó cũng do nhiều nguyên nhân: hoặc đời trước tạo nghiệp, đời này còn tạo nghiệp hoặc không làm hết bổn phận của mình. Ví dụ, một người lấy vợ sinh con rồi thiếu trách nhiệm với vợ con, không nuôi dạy con mà giao trách nhiệm cho người khác. Người này sẽ nhắm mắt không yên vì không làm hết bổn phận của mình.
Ở nhiều quốc gia, nhất là các nước Âu Mỹ, người ta đưa người già vào viện dưỡng lão. Vì con cái lớn lên không thiết tha đến cha mẹ, họ thấy cha mẹ là gánh nặng. Họ nói thẳng với cha mẹ: “Con đi làm, vợ con đi làm, không ai lo nổi cho cha mẹ, cha mẹ chịu khó vào viện dưỡng lão”. Cha mẹ cũng đành khóc mà vào viện dưỡng lão. Ở đó chỉ toàn người già, không có tình ruột thịt, rất buồn... đành phải chịu. Do hoàn cảnh, người trẻ không lo được cho người già, và cũng do tập tục của dân tộc, của xã hội nên viện dưỡng lão cũng cần thiết cho người già neo đơn, cô quạnh. Nếu còn con cháu mà người già phải sống thiếu tình ruột thịt thì thật đau lòng!
Gần đây, Quốc hội Hà Lan thông qua luật cho phép bệnh nhân chọn cái chết. Nghĩa là những người có bệnh không chữa được, để tránh sự đau đớn kéo dài mà người bệnh không còn sức chịu đựng, họ yêu cầu bác sĩ cho họ được chết. Sau khi họ ký giấy, bác sĩ sẽ chích thuốc cho họ chết. Có nhiều nơi phản đối với lý do làm như vậy không khác gì giết người, mà giết người là tội ác. Quan điểm về vấn đề này có khác nhau và còn đang tranh cãi. Thật ra, ai có đau bệnh mới biết kéo dài cuộc sống chỉ là vô nghĩa. Sống có ý nghĩa, sống hạnh phúc mới đáng sống. Nếu nói chọn cái chết cho người bệnh không chạy chữa được là tội ác, là chỉ nói một chiều. Khi một người sống thánh thiện, sống an vui hạnh phúc mà ta giết họ mới là tội ác. Còn một người đang sống, bị đày đọa bởi bệnh tật, không còn lối thoát, chọn cái chết là hợp lý. Giải pháp chấp nhận chọn cái chết êm ả là sự tiến bộ trong suy nghĩ của loài người ở thế kỷ này mà bao nhiêu thế kỷ trước không nghĩ ra.
Các Thiền sư cũng tự chọn cái chết cho mình. Các vị Thiền sư có thể tự chọn cái chết: ngồi kiết già, ngồi chết, đứng chết, nằm chết tự ý. Đây là hình thức chọn cái chết bằng định lực, không bị lên án mà thấy là đạo đức, là thánh thiện. Còn vì sao những người không thể tiếp tục sống nữa lại không cho họ được chết? Nếu họ chọn cái chết thì bị lên án là tự sát hay lên án bác sĩ giết người. Suy nghĩ đó hẹp hòi. Hy vọng rằng quan điểm này được thế giới chấp nhận rộng rãi. Đến lúc nào đó cảm thấy sống là một gánh nặng, là nỗi khổ của người khác, chúng ta chấp nhận ra đi. Vì ở cõi khác chúng ta vẫn tiếp tục tu được. Đời này, lúc còn sống chúng ta biết Phật Pháp, làm được nhiều công đức thì không sợ gì chết. Còn tiếc nuối cuộc sống để làm khổ con cháu là ích kỷ. Chúng ta hãy nhớ điều đó.
Tâm hồn quảng đại đưa đến địa vị cao sang
Khi thương ai ta sẽ lo lắng người đó. Vì thương con nên cha mẹ chăm lo từng chút cho đứa con của mình. Nếu ai yêu cả đất nước này, họ sẽ nghĩ về vận mệnh của đất nước. Họ mong rằng đất nước mình sẽ văn minh, đạo đức hơn. Người dân có ý thức, là những con người biết dừng đúng vị trí tại đèn đỏ, không ngồi trên xe quăng rác xuống đường phố, cống rãnh. Hoặc họ thấy lòng không yên khi những khu rừng đã bị tàn phá trơ trọi, tình trạng tham nhũng gây ra bao nhiêu bất an chia rẽ cho xã hội, hệ thống giáo dục vẫn kém hiệu quả...
Tâm hồn càng lớn, người ta càng lo lắng về nhiều điều mà kẻ khác chưa bận tâm đến. Sự trăn trở của họ khác với tham vọng – là tâm mong cầu về tiếng tăm, quyền lực, địa vị. Với người có trái tim bao la, trong lòng họ chỉ tràn ngập tình thương chân thành, sáng trong dành cho cuộc đời. Có thể họ vẫn chưa làm được điều gì đáng kể. Tuy nhiên, tâm hồn quảng đại chính là cái nhân đưa họ đến một địa vị cao vào đời sau. Nghề nghiệp là quả, cái tâm là nhân. Những ai đời trước luôn lo nghĩ cho đất nước, đời sau sẽ được làm người có quyền chức. Ngược lại, ai dù đang ở địa vị cao nhưng tâm hồn toan tính hẹp hòi, đời sau sẽ tuột xuống một vị trí thấp hơn.
Ví dụ, khi làm giám đốc ngân hàng, một người chỉ lo thu vén làm giàu cho gia đình mình, tức là lúc đang giữ quyền chức lớn ông đã lo cho những chuyện rất nhỏ, rất hạn hẹp. Quả báo trở lại, kiếp sau ông sẽ tuột xuống một vị trí thấp hơn. Vì lòng tham quá lớn và nhân cách quá thấp, ông sẽ bị đọa vào một chủng loài thấp kém, không còn xứng đáng để làm một con người nữa.
Còn người bình thường nhưng hay lo nghĩ cho những điều lớn lao của đất nước hay cả nhân loại, theo luật Nhân Quả, một địa vị xứng đáng đã chờ đợi người đó trong vị lai.
BỔN PHẬN THIÊNG LIÊNG NHẤT LÀ BẢO VỆ VÀ GIỮ GÌN PHẬT PHÁP CHO MUÔN ĐỜI SAU
Ngoài những bổn phận đã nêu trên, việc bảo vệ và giữ gìn Phật Pháp là điều rất quan trọng. Bảo vệ Phật Pháp cho muôn đời sau là bổn phận của chúng ta dù ở lứa tuổi nào. Vì nếu thiếu Phật Pháp, thiếu đạo lý từ bi, không hiểu nhân quả thì bóng tối và tội ác sẽ trùm phủ lên thế giới này.
Ngược lại, nếu con người còn biết tu tập từ bi, tin nhân quả thì thế giới này còn ánh sáng của đạo đức ngự trị; nghĩa là chúng ta còn niềm tin để sống, còn tình thương yêu để đối xử nhau. Cho nên, việc bảo vệ Phật Pháp là bổn phận thiêng liêng của đời người.
Có bốn việc phải làm để bảo vệ Phật Pháp. Một là học, hai là hành, ba là hoằng pháp, bốn là hộ pháp. Bốn điều này: Học, hành, hoằng, hộ, vẫn chưa được chúng ta thực hiện đầy đủ. Có người chỉ học mà không tu, không truyền bá, không bảo vệ. Có nhiều Tăng, Ni học hết trường này đến trường kia, học mà không tu. Vì không tu nên khả năng truyền bá rất ít và không bận tâm đến việc bảo vệ Phật Pháp. Người chỉ biết có học là người yếu nhất trong Phật Pháp. Kế đến là người có học và có tu. Thực hành được Phật Pháp, tâm từ từ sáng lên, đã là tốt rồi. Đánh giá điểm này có thể ví như một cái ly, rót nước vào ly từ từ ly đầy nước, tiếp tục rót nữa ly tràn nước. Nước đầy rồi sẽ tràn, nếu nước không tràn là ly chưa đầy nước, đó là quy luật.
Còn người đến với Phật Pháp cũng vậy. Một người đến với đạo, mà chỉ đi nghe giảng, tu tập nhưng không bao giờ người đó san sẻ đạo lý với ai, nghĩa là đạo lý trong tâm chưa đầy nên họ chỉ quanh quẩn với chính mình. Còn có người đến với đạo; đi nghe giảng, đọc giáo lý, nghiên cứu kinh sách rồi thực hành, nói chuyện đạo lý với người xung quanh, đem Phật Pháp đến với người xung quanh vì trong tâm họ đạo lý đã đầy tràn. Điều này chúng ta có thể tự đánh giá để biết đạo lý trong tâm chúng ta đầy hay chưa đầy.
Vì vậy, mỗi người chúng ta cứ ráng học, ráng tu. Đến một lúc nào đó, chúng ta như được thúc đẩy phải san sẻ Phật Pháp với người khác. Đó là lúc đạo lý nơi chúng ta đã đi đúng hướng, đạo lý đang đầy, đang tràn nơi tâm hồn mình. Đầy chừng nào tràn chừng nấy. Đầy ít thì tràn ít, tự nhiên chúng ta muốn san sẻ Phật Pháp, muốn nói đạo lý với một số người. Đầy nhiều thì tràn nhiều, lúc này chúng ta muốn san sẻ điều này, điều kia với nhiều người, dù thân hay chưa thân, bà con xa gần... ai ai mình cũng muốn họ được hiểu Phật Pháp, cũng thấm nhuần đạo lý trong tâm như chúng ta.
Mỗi người con Phật hãy nhìn lại mình để tự biết đạo lý trong tâm tràn hay chưa tràn. Có những người tinh tấn tu, ngồi lặng lẽ trên gác, trên thất tu hoài. Họ tinh tấn tu như sắp thành Phật, họ bỏ công lao tu tập rất nhiều, vậy mà không bao giờ thấy Phật Pháp từ người đó lan ra cho ai, thì biết người đó tu nhiều, học nhiều nhưng đạo lý trong tâm vẫn chưa đầy. Nhưng cũng có người mới tới chùa chỉ sáu, bảy tháng, người này bắt đầu sống đời sống vị tha, biết đem Phật Pháp đến cho người khác. Dù người này đến với đạo thời gian ngắn mà đạo lý đã tràn đầy trong tâm.
Điều quan trọng nhất là nếu chúng ta tu, học và truyền bá Phật Pháp mà không bảo vệ thì
Phật Pháp có thể bị phá vỡ, không còn chỗ cho chúng ta và con cháu chúng ta sau này nương tựa. Vì vậy, chúng ta phải bảo vệ Phật Pháp. Bảo vệ bằng cách nào? Có nhiều cách bảo vệ. Có hai cách chính là bảo vệ giáo lý và bảo vệ Phật Pháp trước bạo lực.
Chúng ta không để kinh sách bị đốt, băng đĩa giảng pháp bị phá hủy; không để ai hiểu sai, bóp méo đạo Phật; không để ai xâm phạm giáo lý đạo Phật. Đạo lý căn bản của đạo Phật là luật Nhân Quả. Tuy nhiên, chúng sinh thường hiểu sai luật Nhân Quả. Có người lý luận rằng đừng xen vào cảnh khổ của kẻ khác, bởi đó là cái nghiệp mà họ phải chịu. Tuy vin vào nhân quả nhưng câu nói này đã sai với nhân quả. Cảnh khổ xuất hiện trước mắt ai là cái duyên, cũng là một bài toán thử thách lòng từ bi của người đó. Thờ ơ với kẻ gặp khổ nạn, ta chẳng những đã đánh mất lòng từ mà còn sẽ chịu quả báo bị ruồng rẫy bỏ mặc ở những kiếp sau. Đầy rẫy trên cuộc đời, những cách hiểu sai lầm vẫn đang làm cho chúng sinh si mê rồi tạo thêm nghiệp. Vì thế bảo vệ giáo lý là quyết tâm ngăn chặn những tà kiến gieo rắc lan tràn. Bằng không, Phật giáo sẽ dần suy thoái, biến chất rồi diệt vong. Đó là bảo vệ giáo lý.
Ngoài ra, chúng ta còn phải bảo vệ Phật Pháp trước sự tấn công của bạo lực. Người ta dùng bạo lực phá chùa, giết hại Tăng, Ni chúng ta phải bảo vệ tới cùng.
Ngày xưa vào thế kỷ XIII tại Ấn Độ, lưỡi gươm của ngoại đạo đã xóa sạch đạo Phật. Vào thời đó, Phật giáo thiếu những Phật tử dũng cảm hộ đạo. Nếu những người đệ tử Phật biết bảo vệ đạo Phật trên hai phương diện giáo lý và vũ lực thì đạo Phật đã không vắng bóng ở những vùng rộng lớn như Ấn Độ, Trung Á,...
Ngày hôm nay Phật tử không thể cầm vũ khí vì luật pháp không cho phép và ta cũng không quen với việc này. Do đó, Phật giáo cần một chính quyền để ủng hộ, giữ gìn và bảo vệ. Bởi nếu chính quyền lỏng lẻo, bài học lịch sử chắc chắn sẽ lặp lại: Phật giáo một lần nữa lại bị tận diệt bởi bạo lực từ những tôn giáo đầy tham vọng mưu mô. Tuy nhiên, chúng ta may mắn là có một chính quyền ủng hộ đạo Phật, giữ gìn, bảo vệ đạo Phật. Một chính quyền mạnh mẽ là điều may cho xã hội trước các thế lực khủng bố của tôn giáo khác. Chuyện vũ lực, an ninh đã có chính quyền lo, Phật tử chúng ta không phải lo điều đó.
Hơn nữa, ta còn phải bảo vệ Phật Pháp trước những âm mưu gây bè phái, chia rẽ, chỉ trích, hạ nhục nhau làm đạo Phật yếu đi. Với những người không đồng quan điểm về giáo lý với ta nhưng họ vẫn làm tốt việc đạo, được nhiều người quy ngưỡng hướng về, chúng ta đều phải hoan hỷ tán thán. Đó là một sự đóng góp âm thầm cho Phật Pháp. Ngược lại, người gièm pha, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau chính là những kẻ phá đạo.
Từ xưa đến nay, Phật giáo luôn bị phá hoại bởi những thế lực đầy dã tâm. Theo sự phát triển của thời đại, các mưu sâu kế hiểm được giăng ra ngày càng tinh vi hơn. Nhưng không ít đệ tử Phật đã không thấy những mối đe dọa này, họ chỉ chăm chăm nói xấu, chỉ trích lẫn nhau bởi vì sự khác biệt nào đó, rồi làm Phật Pháp thêm suy yếu. Trước những người như thế, chúng ta không được im lặng mà phải nghiêm khắc, quở trách những ai chỉ trích, nói xấu, gây chia rẽ lẫn nhau.
Việc bảo vệ Phật Pháp là bổn phận thiêng liêng của tất cả chúng ta. Thiếu vắng Phật Pháp, bóng tối và sự ác độc sẽ lập tức trùm phủ thế giới này. Chỉ khi nào đạo lý đẹp ngời còn được thắp sáng, luật Nhân Quả Công Bằng còn được tôn vinh thì con người mới còn niềm tin bước tới tu hành và nhìn nhau thương yêu. Với người đệ tử Phật, giữ gìn Phật Pháp cho muôn đời sau là bổn phận thiêng liêng nhất.
Chúng ta đã nói về bổn phận của con người trong từng giai đoạn cuộc đời. Thời gian gánh vác là giai đoạn cực khổ nhất nhưng cũng có ý nghĩa nhất. Người hiểu đạo lý sẽ vừa chu toàn những trách nhiệm bắt buộc, nhưng cũng vừa hết lòng tận tụy cho những bổn phận thiêng liêng hơn. Sống một đời như thế, họ sẽ tích lũy được nguồn phước dồi dào để dành cho tuổi già, mà dấu hiệu hiện ra là một cái chết yên lành. Công đức từ cuộc sống đó còn theo họ nhiều đời sau nữa. Nếu có thêm công phu tu tập Thiền định, công đức lại càng viên mãn khiến ngày nào đó họ có thể chứng thành Thánh quả giải thoát.


