Sau khi quy y Tam Bảo rồi, người Phật tử tại gia phải thọ nhận và sống đúng theo 5 giới mà Đức Phật đã chế ra, để tiến bước trên đường Đạo. Người phát tâm quy y Tam Bảo là đã bước chân lên nấc thang giải thoát, nhưng nếu không giữ năm giới là chỉ mới bước một nấc đầu rồi dừng lại, không thể tiến đến giải thoát thật sự được.
Năm giới này không những đưa người mạnh tiến trên đường giải thoát, mà còn đem lại trật tự, an vui, hòa bình cho gia đình, quốc gia, xã hội nữa, Ngũ Giới chính là giềng mối chắc thật tạo hạnh phúc cho cá nhân và đoàn thể, chính là ông thầy ngăn ngừa chúng ta làm điều sai lầm.
Trong Phật giáo, giới là nguyên tắc sống đẹp và hướng thượng, không chỉ dành cho người Phật tử mà có thể cho tất cả mọi người nếu muốn đảm bảo đời sống hạnh phúc cho chính mình và gia đình, cộng đồng xã hội. Năm giới của Phật giáo đã được UNESCO chính thức công bố và đưa vào làm nguyên tắc sống của con người trong thiên niên kỷ mới.
Khi làm lễ quy y Tam Bảo, người Phật tử phát nguyện giữ gìn năm giới cấm, trong đó giới thứ năm ngăn cấm việc sử dụng các chất gây say hoặc gây nghiện như bia rượu, thuốc lá, ma túy.
Thời Đức Phật chưa xuất hiện bia, thuốc lá hay ma túy mà chỉ có rượu là loại thức uống được lên men từ tinh bột, uống vào thấy cay nồng, rồi thấy say lâng lâng. Từ đó, loài người biết dùng rượu. Không chỉ loài người mà cả loài vật cũng thích uống rượu. Nghiên cứu về tập tính của loài voi, người ta phát hiện rằng lúc tìm thấy những vũng nước có trái cây ngọt rụng xuống rồi lên men tạo thành một thứ thức uống giống rượu, chúng đã thích thú uống rất nhiều. Có lẽ vì loại nước này cũng đã mang lại cho chúng cảm giác say. Cả loài người, loài vật đều có lúc thích cái đầu lâng lâng, xiểng liểng... Từ xa xưa, con người đã như vậy rồi. Đến nỗi vào những thập niên cuối thế kỷ trước, nước Mỹ cấm uống rượu, cấm bán rượu. Bởi vì từ thời lập quốc, nước Mỹ có nhiều quán rượu, người ta uống rượu, bán rượu tự do. Từ lục địa già cỗi châu Âu, người ta tìm được lục địa mới là châu Mỹ, khai phá và mở ra nhiều quán rượu. Luật lúc đó là luật rừng, ai bắn nhanh và chính xác là người đó còn sống. Rượu và súng gây nhiều phiền toái cho xã hội Mỹ một thời gian dài. Vì thế, quốc hội Mỹ thông qua luật cấm bán rượu và uống rượu. Điều luật đó được toàn liên bang thi hành. Chúng ta biết nước Mỹ thi hành luật pháp nghiêm chỉnh, vậy mà kiểm soát không nổi, sức ghiền rượu của con người “bẻ” luôn luật pháp, thế là người Mỹ được bán rượu, uống rượu lại. Ai trong cơn say mà lái xe hoặc phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm sau, còn lại không quyền lực nào có thể cấm nổi rượu.
Do sức mạnh của tôn giáo, luật cấm uống rượu ở các nước Hồi giáo nghiêm ngặt hơn. Tín đồ Hồi giáo không được uống rượu; ai lén uống bị bắt được thì mấy viên chức trong đạo xử đánh roi nơi công cộng. Các vùng Trung Đông, Ả Rập theo Hồi giáo, nghiêm khắc cấm dùng rượu, ma túy, phim đồi trụy, những lối vui chơi sa đọa. Vì thế, với luật lệ khắc khe của Hồi giáo, thêm vào niềm tin tôn giáo nên luật cấm rượu ở các nước Hồi giáo giữ được. Sang các nước Hồi giáo có nhiều tự do hơn như Malaysia (Hồi giáo) người ta vẫn cho phép uống rượu, nhưng giáo xứ ở vùng nào thì cố gắng giữ gìn luật lệ cho giáo xứ đó, vì thế xã hội vẫn tương đối nề nếp.
Trung Hoa có câu: “Nam vô tửu như kỳ vô phong”, đàn ông không uống rượu như cờ không có gió; cờ mà không có gió không phải... là cờ; cờ phải có gió mới bay phần phật oai nghi. Vì thế, người Trung Hoa có cái đạo về rượu, có triết lý của sự uống rượu. Như Lý Bạch hay Lưu Linh, họ uống rượu nhưng người đời không dám xem thường vì trong cái say sưa ngả nghiêng của họ vẫn ẩn chứa đạo lý bí mật nào đó. Nhưng uống rượu như Lý Bạch, thấy trăng ở dưới nước quá đẹp, nhảy xuống ôm trăng mà chết... thì thật nguy hiểm! Lưu Linh uống rượu vào thì đầy triết lý... Thật hiếm! Còn bình thường, đa số chúng ta uống rượu vào đều bị mất tỉnh táo. Đó là lý do vào thời Đức Phật, Ngài cấm uống rượu. Cho nên giới luật thứ năm: cấm uống rượu là giới quan trọng, buộc chúng ta phải hứa, phải giữ bằng ý chí, bằng quyết tâm của mình.
Tu tập cần có sự tinh tấn. Ví dụ, thiền định phải tinh tấn tu tập, niệm Phật phải tinh tấn niệm, làm việc thiện phải thường xuyên; ngoài sự tinh tấn còn phải có sức mạnh của sự cố gắng, của ý chí, của nghị lực. Nhưng riêng tu tập giới hạnh, đặc biệt giới thứ năm thì cần phải rất dứt khoát và nghiêm khắc, giống như ‘ngắt bỏ ngang’ là xong, tuyệt đối không được đụng đến, mới không phạm giới. Vì vào thời xa xưa đó, người ta uống rượu say cũng làm những việc tàn tệ đánh mất nhân cách nên Đức Phật mới cấm uống rượu.
Tuy nhiên, thực tế tình hình giữ giới thứ năm của Phật tử như thế nào? Có giữ được không? Phụ nữ đa phần giữ được, còn nam giới đa phần lơ là. Có nhiều nguyên nhân. Do các tu sĩ, quý Thầy không kiểm soát, không thường xuyên nhắc nhở; Phật tử chỉ hứa một lần lúc quy y hoặc nghe loáng thoáng đâu đó thôi, rồi từ đó cho đến ngày chết họ cũng ít khi được nghe nhắc lại. Vì vậy, người nam Phật tử thường vi phạm giới thứ năm: uống rượu. Giới thứ năm dễ bị vi phạm nhất, nhưng người phạm giới lại ít bị khiển trách nhất, vì đa số đều cho rằng việc vi phạm vào giới này cũng không nghiêm trọng lắm. Vì thế, hôm nay chúng ta bàn lại để có thái độ dứt khoát hơn về giới thứ năm. Ngày nay, hiểu về giới cấm thứ năm không chỉ cấm uống rượu mà cấm nhiều thứ khác nữa như ma túy (nguy hiểm hơn rượu), thuốc lá , cà phê... Nói chung là cấm sử dụng các chất gây nghiện.
Tại sao phải giữ giới: không uống rượu? Dân gian thường nói người uống rượu mất tư cách của mình. Xã hội cũng coi thường người uống rượu say sưa. Huống chi đối với đạo Phật, chúng ta tu tập là tìm cầu trí tuệ giác ngộ, càng không cho phép người đệ tử Phật làm mê mờ tâm trí mình bằng những chất kích thích. Với bộ não bình thường con người còn không đủ sức để tự tìm thấy đạo lý, huống hồ là có thêm chất kích thích khiến não bộ trở nên mê mờ, mất thăng bằng, thì con đường giác ngộ lại càng xa xôi vời vợi.
Do đó, người đời có thể thấy việc hơi say sưa một chút là không tai hại lắm, nhưng với những ai ấp ủ lý tưởng của đạo Phật là đi tìm sự giác ngộ tuyệt đối cao cả, thì một chút hơi say đó là cả một sự mất mát lớn lao, một sự che mờ lý trí, lý tưởng. Hiểu điều đó để chúng ta dứt khoát giữ giới thứ năm: không uống rượu.
Việc giữ giới yêu cầu lòng quyết tâm và sự dứt khoát, với giới thứ năm này ta phải dứt khoát khước từ cả ma túy, thuốc lá. Cà phê cũng là một chất gây nghiện. Mới ban đầu người ta thấy rằng nếu uống vừa phải, cà phê có tác dụng kích thích nhẹ làm cho não bộ hưng phấn, tỉnh táo. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu gần đây thì cà phê cũng có hại cho tim mạch, nhưng vì sự tác động quá nhẹ nên không ai đặt thành vấn đề.
Nếu người ta chỉ uống chút xíu rượu cho hơi lâng lâng rồi dừng lại thì đạo Phật không chế giới. Nhưng người ta đã không biết kiềm chế để dừng lại mà đã có nhiều người uống đến không tự chủ được nữa, đánh mất nhân cách của mình. Và biết bao tội lỗi gây ra từ sự say sưa do men rượu. Người ta uống rượu, lái xe, giết chết người vô tội. Người ta uống rượu chỉ cần bị kích động một chút là cầm dao đâm người khác. Người ta uống rượu trong cơn say cưỡng hiếp người khác... Nghĩa là tội lỗi giăng đầy do uống rượu.
Trong đạo Phật có kể câu chuyện rằng có một con quỷ bắt người đàn ông trong năm giới cấm phải phạm một giới. Suy đi tính lại, cuối cùng ông chọn giới thứ năm vì nghĩ rằng so với tà dâm, trộm cắp, giết người, nói dối thì uống rượu không nguy hại lắm. Nhưng không ngờ rằng khi phạm giới thứ năm, ông uống rượu say rồi thì phạm luôn bốn giới kia. Câu chuyện nhằm nhắc nhở cho chúng ta nhớ rằng đừng tưởng giới thứ năm là nhỏ nhặt, giới thứ năm (cấm uống rượu) cũng cần phải giữ. Nếu chúng ta phạm giới thứ năm, tức là khi chúng ta uống rượu, chúng ta không còn cư xử như một người bình thường có giá trị, có nhân phẩm nữa vì rượu kích thích, tấn công vào não bộ làm cho chúng ta không còn tỉnh táo để kiềm chế hành vi của mình.
Có hai loại làm say, làm nghiện; hai loại này gây hai trạng thái trái ngược nhau. Loại gây phấn khích là rượu, hồng phiến (thuốc lắc). Khi đi vào cơ thể, chúng tấn công vào não bộ khiến người ta có cảm giác hưng phấn, nồng nhiệt. Riêng thuốc lắc là loại ma túy tổng hợp rất mạnh, người uống vào rồi sẽ phải nói năng, gào thét, đập phá, nhảy múa điên cuồng.
Loại gây êm dịu là những chiết xuất từ thuốc phiện hay cocain. Chúng làm não bộ êm ái, ngây ngất, lắng dịu nên đồng thời cũng giảm cảm giác đau đớn. Khi nạp những loại thuốc này vào cơ thể, người ta thích ngồi hoặc nằm yên một chỗ để tận hưởng cảm giác lâng lâng nơi chính mình.
Vì thế, trong khi người dùng hồng phiến luôn tìm nơi náo động, có tiếng nhạc chát chúa để nhảy múa, la hét thì người dùng loại thuốc phiện gây êm dịu chỉ muốn trốn vào chỗ vắng để nằm. Khi gia đình có ai nghiện loại thuốc phiện này, những người còn trong nhà thường rất dễ nhận biết: cứ đến giờ, người đó lại vào phòng đóng cửa nằm yên, không nói năng với ai. Họ không mệt, không phải hiền lành, không phải ít nói mà thực sự là đang ‘quậy’, đang tận hưởng thuốc.
Tuy hai trạng thái kích thích khác nhau: một gây nên trạng thái phấn khích, một gây nên trạng thái êm lắng nhưng đều giống nhau là gây tình trạng lệ thuộc kéo dài, khó thoát khỏi, chúng ta thường gọi là ghiền hay nghiện. Nghĩa là ai đã một lần dùng rồi cứ muốn dùng hoài, dùng càng nhiều, không có ranh giới kiềm chế. Ví dụ, người nghiện rượu uống một ngày một ly, nhưng hễ có điều kiện cứ uống hai, ba ly... tức là không kiềm chế được. Hoặc người nghiện ma túy chích mỗi ngày một mũi, hễ có điều kiện, họ cứ chích hai, ba mũi... Có nghĩa là người nghiện rượu hay ma túy cứ tăng thêm, đòi thêm cảm giác, gọi đó là sự lệ thuộc kéo dài. Một tay trùm Mafia ở Colombia chế ra loại ma túy Crack rất nguy hiểm, dịch theo tiếng Việt là “rạn nứt”. Thường thường, người nghiện chích ngày trước tới ngày sau mới tới cử. Còn loại ma túy có tên “rạn nứt” này, chích vào chỉ vài giờ sau tới cử trở lại. Loại ma túy này đang tung ra bán rất rẻ trên khắp thế giới. Ai dại khờ chích loại ma túy này thì tối ngày chỉ nghĩ tới nó thôi, không làm việc gì khác được. Đã sa vào nghiện rồi thì coi như chết trong cõi sống. Đây chính là nỗi đau của gia đình, của xã hội, của nhân loại.
* Rượu
Rượu có vị cay, nóng, ở độ cao có thể đốt cháy được, có dẫn xuất tương tự như cồn (alcol). Có khi mấy người uống rượu chế rượu ra đốt cháy để nướng khô mực làm mồi... Một loại đốt cháy được mà đưa vào trong người, gan chịu không nổi. Vì khi rượu vào đường ruột, thấm vào các mao mạch, thấm vào máu thì gan phải lọc chất độc. Một chất đốt cháy được mà phải qua gan lọc lại thì không có lá gan nào chịu nổi lâu dài. Người uống rượu thường bị xơ gan là do vậy. Người uống rượu bị xơ gan sớm hay muộn là do cơ thể tốt hay không tốt. Vị cay cay, đắng đắng ở miệng làm cho người uống rượu cảm thấy thích thú - cảm giác này rất giống với cảm giác do trái ớt mang lại cho người thích ăn ớt. Sau đó, rượu đến dạ dày kích thích dạ dày tiêu hóa, người ta thấy ăn ngon miệng hơn. Cho nên, người ta không chỉ uống rượu mà còn thích ăn. Những người nghèo quá cũng bày ra một chầu nhậu rồi kiếm trái cóc, trái ổi, trái me nhâm nhi ly rượu... Với những trường hợp này, cơ thể còn bị tàn phá nhanh hơn.
Khi rượu thấm vào máu lên não gây cảm giác say choáng váng, phấn khích, thích thú. Chính cảm giác này là vấn đề chúng ta phải bàn. Có hai loại người. Với người sức khỏe tốt, cảm giác say sưa làm họ thấy thích thú bao nhiêu thì với người kém sức khỏe, nó lại làm họ cảm thấy khó chịu, mệt mỏi bấy nhiêu. Có người nói: “Trời ơi, cái cay cay nồng nồng như thế có gì đâu mà nghiện”. Vì không có sức khỏe, họ không hiểu được cảm giác đó thú vị ở điểm nào. Nhưng người mạnh khỏe khi nạp rượu vào cơ thể lại thấy rất thích. Cũng giống như việc ăn ớt, với người có hai lá gan tương đối mạnh thì ớt giúp tiêu hóa tốt hơn nên họ thấy rất thích. Ngược lại, sức khỏe kém làm người ta thấy khó chịu khi ăn phải ớt. Đó là lý do những người mạnh khỏe thường dễ bị nghiện rượu hơn. Nếu sống đời không lành mạnh, chỉ thích hưởng thụ, không biết tu tập thì khi gặp rượu, cái say sưa lâng lâng dễ làm họ ngây ngất đắm luyến rồi nghiện lúc nào không hay, dẫn đến đau bệnh và chết. Cuộc sống trở thành vô nghĩa!
Những cảm giác do rượu gây nên chúng tôi không biết trực tiếp mà chỉ biết do quan sát, nghiên cứu và tìm hiểu bằng tâm của mình. Tuy nhiên, chúng tôi tin những điều mình nói ra cũng phần nào đúng. Cái hại của rượu là nghiện và phấn khích. Vì nghiện mà phải tốn tiền bạc, tốn thời gian và sức lực, vì rượu mà sinh ra bê tha. Như vậy, người nghiện rượu khó có thể làm tròn bổn phận đối với gia đình nên người này thiếu phước lắm. Ví dụ, lúc còn trẻ chúng ta phải nuôi gia đình nhưng chúng ta chỉ lo nhậu nhẹt nên giảm bớt bổn phận đối với gia đình, về già sẽ phải rất khổ. Về già, thái độ của con cái đối với chúng ta rất hạn chế, nhạt nhẽo. Dù gặp đứa con có hiếu, tình cảm của chúng cũng không đậm đà, sự săn sóc không tận tình lắm. Còn nếu gặp đứa con không có hiếu, họ thường bị bỏ mặc trong cô quạnh. Đó là nhân quả.
Nói về con cái lo cho cha mẹ, có người thắc mắc rằng người xuất gia phải xoay xở làm sao khi về già không có con cái chăm lo? Thật ra, cuộc sống lúc già là kết quả của cái phước ta đã tích lũy suốt quãng đời tuổi trẻ. Vào những năm tháng còn cống hiến được, ai siêng năng làm nhiều việc phước thì lúc tuổi già xế bóng, họ vẫn được phụng dưỡng chu đáo dù không có con. Ngược lại, nếu chúng ta có con cái mà không làm tròn trách nhiệm, không làm phước về già vẫn khổ, con cái vẫn ít quan tâm, ít chăm sóc, vẫn bỏ bê chúng ta.
Chúng ta nhớ một điều là khuynh hướng ích kỷ sẽ tăng lên theo mức độ hưởng thụ. Người càng hưởng thụ chừng nào thì càng trở nên ích kỷ chừng nấy. Đây là nguyên tắc bất di bất dịch, là nguyên lý tuyệt đối đúng về tâm. Đó là lý do tại sao chúng ta phải khước từ mọi khoái lạc của thế gian, bởi càng hưởng thụ ta càng ích kỷ.
Nguyên lý này cũng thấy rõ ở người uống rượu. Trong gia đình hay trong hàng xóm có một người nghiện rượu, chúng ta thấy người này sống ít lo cho người khác, kể cả những người thương yêu nhất của mình như vợ con. Người nghiện rượu tốn nhiều tiền bạc, với gia đình họ không tròn bổn phận được thì với xã hội họ lại càng ít đóng góp dựng xây, nên lại càng tổn phước nặng nề. Họ mất trí tuệ, không tu tập được, khi chết rồi sẽ khổ. Đa số người nghiện rượu khi chết thường bị đọa là loài ngạ quỷ (ma đói); thấy người ta ăn mà không thể ăn được vì không ai cúng, cứ đi lang thang kêu đói, cũng không có chùa nào chứa vì cái nghiệp, bởi lúc đó cái phước của họ đã cạn sạch. Đó là quả báo. Vì trong cuộc sống, những người này sống ích kỷ, không lo cho ai, không nuôi ai nên khi chết làm quỷ đói. Khổ báo đó buộc phải xảy đến vì khi còn sống họ đã ích kỷ không nuôi nấng, lo lắng cho ai. Chỉ lo ăn nhậu nên khi sang thế giới bên kia, họ không còn được ai cúng cho ăn nữa. Đó là điều có thật. Với người nghiện ma túy, quả báo còn khủng khiếp hơn cả nghìn lần như thế.
Người nghiện rượu não bộ bị tấn công, lúc đó năng lực bốc lên não, không lắng xuống. Con người có hai phần âm dương. Từ rốn trở lên là phần dương, từ rốn trở xuống là phần âm. Phần âm là phần gốc rễ, phần dương là phần ngọn ngành. Đa phần chúng ta sử sụng phần dương nhiều hơn: chúng ta ăn nói, làm việc; phần âm chỉ hỗ trợ thôi. Đó là nguyên lý Âm Dương. Những người hiểu về Y lý (như hiểu về nội công Trung Hoa), họ coi trọng phần âm: từ rốn trở xuống bàn chân. Cũng giống như người dùng thuốc bắc, người tập nội công họ tích cái lực ở phía dưới phần âm, phần bụng.
Người giữ lực ở phía dưới nhiều có thể sống lâu, tinh thần sảng khoái, ít bệnh tật. Ngược lại, người không biết nguyên lý Âm Dương, để lực chạy lên ngực, lên não từ từ xuất hiện nhiều bệnh, nhất là bệnh căng thẳng thần kinh. Đó là nguyên lý âm dương nơi cơ thể người.
Ai cũng có năng lực chìm ngầm ở phía dưới phần âm, phần bụng. Nhưng khi uống rượu vào, phần năng lượng theo máu bốc lên não và năng lượng tập trung vào não. Lúc đó, não muốn hoạt động, không muốn yên tĩnh. Vì vậy, chúng ta thấy người uống rượu không bao giờ yên được. Họ phải làm cái gì đó, phải nói nhiều, phải hoạt động nhiều. Não ra lệnh cho miệng, tay, chân phải làm việc. Người có nhân cách, có đạo đức lúc đó đỡ làm điều sai trái, chỉ ca hát hay nói cho vui thôi. Nhưng người ít hiểu đạo lý, khi não bộ phấn khích dễ nghĩ, dễ làm điều sai trái, rất nguy hiểm. Ban đầu người ta cho rằng người uống rượu có gây tội lỗi thì kết tội nhẹ thôi vì người say không kiểm soát được mình. Nhưng sau này, luật pháp các quốc gia quy định ngược lại: người say rượu gây tội thì kết tội nặng hơn lúc bình thường. Có bài báo (ở Mỹ) nói về tình trạng những tài xế say sưa khi lái xe đã tông chết người vô tội, trong đó có một hình minh họa rất ý nghĩa và sâu sắc: một em bé ngây thơ nói rằng “Con không uống rượu khi lái xe, tại sao con chết?”. Nghĩa là đứa bé đang vui vẻ đạp xe trên đường, em hoàn toàn vô tội, em không uống rượu khi lái xe nhưng một người say sưa đã tông vào và lấy đi sinh mạng của em. Bài báo được đăng tải để cảnh giác mọi người hễ uống rượu thì đừng lái xe, bởi rượu có thể làm say sưa, mê loạn cho người uống đến nỗi họ lái xe tông vào những người đi đường vô tội.
Người uống rượu, năng lực dồn lên não, trụ trên não kích thích não hoạt động. Người có tật hành hung người khác, uống rượu vào dễ hành hung hơn. Người nóng tính, uống rượu vào nóng tính hơn. Người ác độc, uống rượu vào ác độc hơn. Có những người bình thường không dám bạo dạn làm điều gì nhưng khi uống rượu vào, họ dám làm chuyện khác thường. Ví dụ, báo Pháp luật có đăng tin: ông nọ xúi ông kia leo lên cây lấy ổ ong vò vẽ, được thưởng năm lít rượu. Ông kia không dám leo. Ông nọ cho ông kia uống rượu; uống một lát, ông kia quên sợ, leo lên lấy ổ ong vò vẽ. Ông vò vẽ túa ra, chích khắp mình mẩy, chết bỏ lại năm đứa con. Chúng ta suy nghĩ chuyện này thấy người xúi rất ác, đáng bị truy tố. Ông kia lúc chưa uống rượu cũng bình tĩnh, nhận xét biết chuyện nguy hiểm nên không dám làm nhưng khi uống rượu vô, rượu làm não phấn khích, che mờ lý trí, rồi làm điều sai trái.
* Ma túy
Trong não bộ con người tồn tại một hoạt chất mà khoa học gọi là Endorphin. Chất này gây ra cảm giác êm dịu, sảng khoái, sung sướng giống như ma túy từ ngoài đưa vào cơ thể. Ví dụ, khi chúng ta đi, hai khớp xương va đụng vào nhau hay từng khớp xương sống đè lên nhau (gây đau đớn) nhưng chúng ta không có cảm giác đau đớn. Vì sao? Vì trong não chúng ta sản xuất ra chất Endorphin nên chúng ta mất cảm giác đau, đó là loại thuốc giảm đau tự nhiên. Nếu gặp lúc cơ thể sản xuất ra nhiều, chúng ta có cảm giác sảng khoái, sung sướng lạ thường. Có thể nói nó như chất ma túy nội sinh.
Chất này sẽ sinh ra nhiều trong một số trường hợp sau:
Khi chúng ta mang đến niềm vui cho người khác hoặc làm những việc rất cao thượng, làm cho người khác vui, tự nhiên chất đó xuất hiện làm cho chúng ta vui sướng lâng lâng. Ví dụ, trên con đường vắng người qua lại, chợt người thanh niên gặp một cụ già bị xe đụng vào nhưng tài xế đã chạy mất. Thế là anh dừng xe, tìm cách sơ cứu rồi chở bà đến trạm xá. Chẳng những vậy, vì thấy bà quá nghèo, anh trân trọng tặng bà một ít tiền rồi mới quay trở về đi công việc tiếp. Vài ngày sau, cả tuần sau anh còn cảm nhận niềm vui trong lòng mình. Cảm giác vui đó do chất Endorphin trong não tiết ra lúc chúng ta cứu người bị nạn. Như vậy, khi chúng ta làm việc gì tốt, Endorphin sản xuất nhiều hơn bình thường, nó làm cho chúng ta lâng lâng, vui sướng hoài. Vì vậy, thay vì lấy tiền mua ma túy để sử dụng tìm cảm giác vui sướng, chúng ta dùng tiền làm việc từ thiện cũng sẽ vui sướng, có ý nghĩa hơn.
Endorphin cũng sản xuất trong não khi chúng ta chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Ví dụ, chúng ta xem một bức tranh đẹp hoặc nghe một bản nhạc hay, não sản xuất Endorphin làm cho chúng ta có cảm giác lâng lâng, sảng khoái. Do đó, chúng ta hiểu tại sao người ta ghiền nghe nhạc (hay) hoặc thích chiêm ngưỡng những loại hình nghệ thuật có giá trị.
Endorphin cũng sản xuất nhiều ở những người vận động thể lực. Ví dụ người chơi thể dục, thể thao như đánh bóng chuyền, đá bóng, đánh tennis, đánh võ... khi đánh, đấu các xương ở tay, chân đụng vào nhau, Endorphin biết có cảm giác đau hay mỏi mệt, tự động sản xuất ra làm giảm đau, hết mỏi. Cho nên, những người nông dân sau một ngày làm việc vất vả, chiều lại đầu óc họ thảnh thơi vì Endorphin sản xuất làm cho họ sảng khoái, có cảm giác thảnh thơi, nhẹ nhàng. Hoặc những người tập thể dục, thể thao, đi bộ mỗi sáng (hay tối), họ cảm thấy sảng khoái, ít bị bức xúc do trong não sản xuất ra chất Endorphin.
TU TẬP THIỀN ĐỊNH VÀ SỬ DỤNG MA TÚY CÓ GÌ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU?
Có lần chúng tôi nói tu tập thiền định khá gần với việc hút ma túy thì có người nổi giận. Họ nói rằng thiền định là vấn đề cao quý mà chúng tôi đem ví với ma túy. Nhưng thật không ngờ có sự giống nhau giữa thiền định và hút, chích ma túy. Sau khi hiểu được điều này, người nào nghiện ma túy nên chuyển qua “nghiện” ngồi thiền cho cuộc đời đỡ rắc rối mà vẫn thấy vui sướng. Vì sao?
Endorphin sản xuất rất mạnh trong não khi tâm chúng ta bắt đầu tỉnh giác, yên lắng tức là lúc chúng ta ngồi thiền. Khi tâm rất tĩnh, vọng tưởng không khởi, yên lắng sâu; lúc đó, não sản xuất Endorphin rất mạnh làm cho người vào thiền có cảm giác ngây ngất, an lạc. Trong kinh điển ghi là cảm giác hỷ lạc. Vì thế, chúng ta nói ngồi thiền cũng “nghiện”; nếu có ai nói rằng một ngày không ngồi thiền là chịu không nổi là người đó tu đúng đường, có kết quả. Còn ngồi thiền mà chưa thấy ghiền là chưa vào định.
Trước năm 1975, có một quyển sách của một tác giả khá nổi tiếng, ông phê bình rằng nếu ai ngồi thiền mà ghiền thì chẳng khác gì ghiền thuốc lá, hễ ghiền là bậy. Chúng ta nghĩ người này chưa tu thiền hoặc tu thiền chưa có kết quả. Vì tu thiền có kết quả là phải ghiền. Ghiền của thiền định tạo cảm giác sung sướng, tinh thần êm dịu. Ma túy cũng tạo cảm giác êm dịu, sảng khoái, ngây ngất, nhưng nó là chất ngoại sinh đi vào cơ thể theo đường hút, hít hoặc chích vào tĩnh mạch. (Nếu chích ma túy nhằm bắp thịt thì hoại tử vùng đó). Chúng ta thấy Endorphin trong não (chất nội sinh) và ma túy tạo cảm giác giống nhau. Cả hai làm cho con người có cảm giác lâng lâng, sảng khoái. Cho nên nói thiền định cũng ghiền như ghiền ma túy là vậy.
Có lần ở chùa, chúng tôi giúp người cai nghiện không thành công vì không đủ phương tiện và thiếu kinh nghiệm. Chúng tôi hỏi về cảm giác khi sử dụng ma túy, người nghiện nói: “Thưa Thầy, khi con lái xe mà tới cử thì con lái bạt mạng không kể gì luật lệ, tông ai thì tông, chạy cho kịp tới cử hút, chích. Có một mũi chích vô rồi, con lái xe không cần phải đến, ai chửi cũng cười, không phiền giận ai. Tâm yên tĩnh”. Chúng tôi ngạc nhiên: “Ủa, sao giống thiền định vậy? Cũng đi mà không cần phải đến, cũng không phiền não điều gì. Tâm yên lắng, bình thản như không”. Dĩ nhiên, chúng ta không khờ dại thử ma túy để tìm cảm giác. Nhưng chúng ta tập trung tinh thần, tập trung tâm mình để đi vào tâm của người nghiện thì mới thấy ma túy tạo cảm giác giống như thiền.
Thiền định tạo chất nội sinh. Ma túy tạo chất ngoại sinh. Vì thế, kết quả hoàn toàn trái ngược nhau:
Thiền định có ưu điểm thứ nhất, người ngồi thiền đạt định, tâm sẽ xuất hiện cảm giác hạnh phúc. Ở đây, nhân quả thật công bằng. Bởi vì trong suốt cuộc đời của họ (người tu tập thiền định) ở kiếp này và cả những kiếp trước, họ thường đem đến niềm vui chân chính, cao thượng đến cho người khác nên ngày nay họ thành tựu phước ngồi thiền được định, được xuất hiện cảm giác hỷ lạc. Vì vậy, chúng ta nhớ một điều rằng người tu thiền vào được định là phải cả một đời tạo rất nhiều công đức, đem niềm vui, đem lợi ích đến cho mọi người. Còn người không hiểu điều này, trốn chạy cuộc đời rồi tìm về một nơi thanh vắng để chuyên tâm tọa Thiền, có thể nhờ cái phước còn đọng lại từ vô số kiếp trước mà họ sẽ được định một phần nào đó, nhưng khi phước cạn sạch thì cái định cũng biến mất, họ lập tức loạn động trở lại. Đó là sự công bằng. Nên Thiền định sẽ đi qua giai đoạn hỷ lạc, mà giai đoạn này phải được xây trên cái nền của công đức quá khứ. Người muốn tu thiền cho tốt là phải một đời làm phước giúp người. Nếu trốn cuộc đời đi tu tập thì kết quả rất ít, chỉ hưởng hết phước thôi.
Tương tự như một người nhập thất, ở trong thất năm, mười năm cho người khác nuôi đến khi hết phước, tâm tán loạn và nếu cứ ráng ở thêm cho người khác nuôi có thể phát điên, bỏ thất ra đi vì không còn phước để người ta nuôi nữa. Trái lại, thực tế có những người hàng ngày luôn bận rộn giúp đời nhưng khi đêm xuống, họ bắt chân ngồi Thiền giờ nào là tâm được định giờ đó. Nếu hiểu đúng đạo lý này, chúng ta thấy có một đạo Phật rất năng động mà rất tĩnh lặng. Tĩnh lặng khi chúng ta ngồi thiền làm chủ tâm mình nhưng năng động khi chúng ta biết làm phước dù nhỏ nhặt hay lớn lao, biết đem niềm vui đến cho người khác. Hạnh phúc trong thiền định là sự công bằng theo nhân quả. Vì người có hạnh phúc trong thiền định là người đã tạo nhiều công đức, đã giúp đỡ người khác rất nhiều. Cho nên, người nào muốn đi đúng đường của đạo Phật, muốn tu tập được giác ngộ giải thoát thì từng giây, từng phút trong cuộc sống này hãy sống vì mọi người. Đó là ưu điểm thứ nhất của thiền định.
Ưu điểm thứ hai, khi càng an trú trong thiền định, tâm rất định; bên trong hạnh phúc, bên ngoài đạo đức tăng trưởng. Chúng ta càng an trú trong thiền định càng đến gần với vô ngã. Nghĩa là bản ngã giảm dần dần. Nếu tiến đến thiền định tuyệt đối thì bản ngã biến mất. Thật tuyệt vời và độc đáo! Người tu thiền định hưởng được cảm giác sung sướng và công đức từ từ phát sinh; đồng thời mọi người xung quanh an vui, vì họ sống gần một người tăng trưởng đạo đức và vô ngã. Cho nên, trong nhà có người tu thiền chứng được tâm thanh tịnh, cả nhà sẽ rất vui vì có vị Thánh trong nhà: hài hòa, hiền lành, dễ chịu, nhẫn nhục, người đó làm cân bằng lại những xáo trộn trong gia đình, láng giềng cũng có thể ảnh hưởng được cái phước đó. Một người như vậy bước ra cuộc đời thì rất nhiều người được lợi ích. Vì đạo đức của người đó lây lan từ người này sang người khác. Họ có sức mạnh tinh thần mạnh mẽ, nội tâm an tĩnh và đạo đức sâu thẳm nên đem lại lợi ích cho nhiều người. Công đức của thiền định không thể diễn tả được. Người an trú thiền định, bên trong hạnh phúc, bên ngoài làm vô số việc lợi ích cho người khác. Họ làm mà không thấy cực, không chấp công; làm mà thấy mình không làm gì cả. Ai khen chỉ cười, không chấp lời khen. Cho nên, chúng ta càng an trú thiền định chừng nào, phước càng tăng dần. Nhờ phước quá khứ nên hiện tại được thiền định. Có thiền định rồi, trong tương lai phước càng tăng trưởng thêm.
Chúng ta cần biết thêm điểm này. Trong thiền định có khoái cảm gây ra ích kỷ không? Người dùng ma túy bị cảm giác ích kỷ đã đành. Sự sung sướng, hỷ lạc trong thiền định mà hành giả chiêm nghiệm, thưởng thức được cũng gây ra cảm giác ích kỷ. Người đắc thiền định ở giai đoạn ban đầu, từ sơ thiền tới nhị thiền, khá ích kỷ. Tới tam thiền, hỷ lạc vi tế, lúc đó tâm vị tha bùng phát, chứng A la hán thì hỷ lạc thô mới hết, mất ích kỷ và vị tha hoàn toàn.
Cho nên, người chứng sơ thiền, đang đi qua giai đoạn ích kỷ, họ chỉ muốn tu mà không muốn làm gì cả. Khi thấy một người ngồi thiền tới lúc tự nhiên không màng tới ai, không màng tới việc gì, chỉ thích ngồi thiền là biết họ đang ở giai đoạn sơ thiền. Họ đang đi qua giai đoạn ích kỷ, do cảm giác sung sướng nên họ không cần biết đến mọi việc chung quanh. Tới giai đoạn này, phải có vị thầy hướng dẫn giúp đỡ đệ tử mình vượt qua. Thầy cho đệ tử biết rằng cái cảm giác khoái lạc mà đệ tử đắm chìm trong đó, cảm giác này đang gây cho đệ tử sự ích kỷ. Vì thế, đệ tử phải ráng tu để vượt qua. Đừng chấp mà phải vượt qua. Cho đến Nhị thiền, Tam thiền, ích kỷ mới bắt đầu giảm dần. Đó là nguyên tắc của thiền định.
Thiền định tạo chất nội sinh, cho hành giả chiêm ngưỡng cảm giác hỷ lạc. Ma túy là chất ngoại sinh, chất ngoại sinh này làm cho người sử dụng nó lãnh hậu quả như thế nào? Bất cứ chất nào bên ngoài đưa vào cơ thể như những chất nội tiết tố Tây y chế tạo, chích vào cơ thể đều phá cơ thể. Lẽ ra, cơ thể thiếu chất nào phải làm cho chất đó nội sinh, người ta lại đưa vào cơ thể chất ngoại sinh. Ở đây cũng vậy, thiền định tạo chất nội sinh, người càng an trú thiền định càng khiến cho vô số công đức được tạo thành về sau. Còn cảm giác sung sướng do chất ngoại sinh ma túy đưa vào cơ thể, con người gây ra vô số tội lỗi về sau.
Người dùng ma túy, đã vét cạn phước của mình, vét cạn phước của quá khứ để mua thuốc.
Tuy nhiên, phước nhiều hay ít tùy thuộc vào mỗi người. Hiện nay, có những người rất giàu vẫn nghiện ma túy, nhưng vì phước vẫn còn dư dả nên họ tương đối thoải mái về tiền bạc. Nhưng với người ít phước, sự nghiện ngập chắc chắn sẽ buộc họ phải tạo nghiệp, bởi số tiền đổ vào việc mua ma túy là rất lớn.
Ví dụ, trong một ngày lao động, một người nghèo kiếm được 30 - 50 nghìn đồng và với số tiền đó anh phải nuôi cả gia đình. Nhưng nếu nghiện ma túy, để nuốt một viên thuốc lắc anh ta phải chi 600 nghìn một ngày. Số tiền đáng lẽ phải được sử dụng cho nhiều người lại bị anh đốt vào trong cảm giác thoáng chốc chừng một, hai tiếng đồng hồ. Chút phước ít ỏi còn lại vì thế mà nhanh chóng cạn kiệt. Và như thế, quả báo về sau là vô cùng thê thảm.
Không như rượu hay thuốc lá, tới cử chỉ biết ngáp sơ sơ; người dùng ma túy tới cử mà không có thì toàn thân đau đớn vật vã. Vì sao vậy? Bình thường, não sản xuất chất Endorphin để hóa giải những cảm giác đau tự nhiên do các khớp xương đụng nhau. Ví dụ, khi chúng ta đi, hai xương đùi đè lên nhau làm đau, những khớp xương sống đè lên nhau làm đau nhưng đã có Endorphin hóa giải cảm giác đau. Còn người dùng ma túy có cảm giác sung sướng; não nghỉ ngơi không sản xuất Endorphin nữa. Khi tới cử, mà không có ma túy đưa vào cơ thể: từng khớp xương đau, tim mạch không ổn, tiêu hóa rối loạn, đầu óc xây xẩm. Khi không có ma túy, Endorphin tiết ra làm cho não êm dịu, khi dùng ma túy, ma túy làm cho não êm dịu, Endorphin không sản xuất nữa. Tới cử, không có ma túy (chất ngoại sinh bên ngoài đưa vào) bên trong lại không có Endorphin, không có thứ gì để làm não êm dịu. Thần kinh tiền đình, thần kinh trung ương rối loạn muốn ói. Từng khớp xương, từng mạch máu, từng đường gân đau không tưởng được.
Người nghiện ma túy làm sao để có tiền mua ma túy? Tới cử phải có ngay ma túy? Bất cứ chuyện gì họ làm được là làm. Ban đầu, người nghiện ma túy không muốn giết người cướp của đâu. Họ chỉ nói dối để có tiền thôi. Nói dối cha mẹ xin tiền đóng học phí, nói dối... họ nói dối rất giỏi; nói làm sao để cha mẹ, người thân, bạn bè cho tiền, đưa tiền cho mượn... Đến khi nào không còn ai để lừa gạt nữa, mới đi ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp... rồi giết người.
Người dùng ma túy có chút phước quá khứ. Khi phước đã tiêu tan, họ tạo tội khủng khiếp ở tương lai. Người càng sử dụng ma túy cơ thể càng suy sụp, đạo đức càng đổ vỡ và càng làm cho mọi người chung quanh đau khổ. Người càng hưởng cảm giác khoái lạc càng ích kỷ, cảm giác khoái lạc do ma túy rất mạnh, ích kỷ tăng. Người nghiện ma túy không tình nghĩa với ai, không biết ai trên đời này. Vì khi họ tận hưởng cảm giác của ma túy thì cảm giác vị tha không còn. Đây là nguyên tắc, là chân lý: hưởng thụ khoái cảm, lòng ích kỷ tăng.
Khoái cảm của ma túy làm cho con người ích kỷ dữ dội, không tình nghĩa với ai, họ chỉ biết bản thân mình, biết khoái cảm của mình thôi. Tuy nhiên, họ cũng nói nhân nói nghĩa, họ nói dối. Chúng ta nhớ như vậy.
Chúng ta nói về quả báo của người dùng ma túy. Trước hết, người dùng ma túy sử dụng cái phước quá khứ của mình là dùng tiền mua ma túy hút, chích. Đến khi hết tiền, vay nợ của tương lai bằng cách cướp giật, giết người và có thể mua bán ma túy luôn. Tất cả những cảm giác sung sướng họ có được từ đồng tiền tội lỗi; khi chết, họ phải chịu gấp mười lần cảm giác đau khổ ở địa ngục vì vay nợ phải trả có lãi. Ở đây, luật nhân quả giống như ngân hàng mà lãi nặng hơn ngân hàng. Ví dụ, kiếp này chúng ta đem mười cây vàng cứu người lúc nguy ngập (người được cứu tương đối đàng hoàng, không phải người xấu). Qua kiếp sau, chúng ta có được hơn mười, hai mươi cây vàng. Hoặc ví dụ, người cướp giật lấy tiền hút, chích làm cho người khác đau khổ. Sự đau khổ của người khác đổi lại sự sung sướng cho người dùng ma túy, người dùng ma túy chết đọa địa ngục: nấu trong dầu sôi, bị thiêu đốt. Thân xác, linh hồn không chết. Linh hồn cứ bị đau đớn hoài. Quả báo khủng khiếp như vậy. Sự thiêu đốt chỉ tạm dừng nghỉ khi trên chùa gióng chuông cầu nguyện cầu siêu cho người có tội đó.
MA TÚY – VŨ TRƯỜNG – TỰ DO CÁ NHÂN
Rượu gây phấn khích, ma túy còn gây phấn khích mạnh hơn rượu đối với người sử dụng. Thuốc lắc là loại ma túy tổng hợp (hồng phiến là chất tổng hợp nhân tạo được gọi là Methamphetamine) gây phấn khích gấp trăm lần rượu, uống vô người ta phải vận động, phải la hét, phải đập phá... Ngày xưa chưa có vũ trường mở nhạc với công xuất ba, bốn ngàn watt để người ta nhảy nhót. Cho nên, khi phấn khích họ phải lao ra ngoài đường đập phá, gặp ai đánh nấy...
Vũ trường mới có sau này. Ba, bốn thập kỷ trước, người đến vũ trường, họ dìu nhau đi những điệu êm dịu, nhẹ nhàng. Nhưng ngày nay, vũ trường là nơi sử dụng ma túy trá hình, không còn có nhạc êm dịu, chỉ có nhạc kích động, thích hợp cho người dùng thuốc lắc, cho họ nhảy múa quơ quào, chứ không thì họ bứt rứt chịu không nổi.
Một anh bạn kể là có một lần anh vô tình đi cùng với nhóm bạn vào vũ trường ban đêm. Nó ép phải mua thuốc lắc, anh đành phải dốc hết tiền ra mua. Anh uống nửa viên, nó ép anh phải uống hết. Ở đó toàn dân xã hội đen, anh phải uống thuốc vào, hai bàn chân anh lạnh ngắt (năng lực chạy hết lên não), mặt nóng bừng bừng, anh có cảm giác lâng lâng như đi trên mây; đồng thời muốn hoạt động. Thế là anh cứ theo điệu nhạc, anh nhảy múa quơ quào, không nhảy múa chịu không nổi: “Tới chừng anh về nhà thì sao?”. Anh nói về nhà rồi thấy người mình như bị chặt ra năm khúc; đau đớn, rã rời. Từ đó, khi họ rủ đến vũ trường, anh phải trốn.
Ngày nay, không riêng gì ở Việt Nam, hầu hết các vũ trường ở Á, Âu, Mỹ là nơi buôn bán ma túy, là ổ tội phạm, là nơi thanh thiếu niên đi vào đốt tuổi thanh xuân của họ. Chúng ta thử hỏi những thiếu niên chưa làm gì ra tiền mà mỗi ngày lại có một, hai triệu để dùng thuốc lắc. Tiền đó ở đâu ra? Hoặc là cha mẹ của các em có lợi nhuận quá cao hoặc đồng tiền phi pháp? Đồng tiền phi pháp đem dùng cho những chuyện phi pháp đó sẽ làm cho con cái hư, mất đạo đức. Nuôi con bằng đồng tiền phi pháp thì không bao giờ có những đứa con tốt. Chúng ta nghi ngờ nguồn gốc đồng tiền của những cha mẹ có những đứa con đem tiền vào đốt ở những ổ ma túy! Đây là điều các bậc cha mẹ phải quan tâm, phải nghĩ lại. Những bậc cha mẹ tham tiền, sử dụng đồng tiền phi nghĩa để cho con phung phí thì hậu quả là một nỗi đau lòng vì sẽ chứng kiến con cái mình không còn là con người đích thực nữa, không còn phẩm giá của con người nữa khi chúng đốt cuộc đời vào ma túy.
Những bộ phim nước ngoài có chiếu cảnh vũ trường, chúng ta đều thấy lố nhố những gương mặt nam nữ thanh thiếu niên xô bồ trong nhạc kích động và có sử dụng ma túy. Vũ trường trên thế giới là hang ổ của ma túy. Hiện nay, dư luận đang phản đối vũ trường nhưng người ta vẫn tìm cách mở thêm vũ trường. Có thể nói mỗi vũ trường mọc lên là chúng ta mất dần quê hương. Vũ trường mọc lên nhiều chúng ta sẽ không còn một quê hương Việt Nam êm đềm, đạo lý đẹp đẽ, chân chính như xưa nữa; chúng ta sẽ không còn, sẽ mất dần một đất nước Việt Nam mến yêu của ông cha để lại mà chỉ còn một đất nước nào khác. Nếu mọi người không tỉnh giác, không tỉnh ngộ, không thức tỉnh, không đấu tranh, cứ để yên cho vũ trường mọc lên, mọc lên... thì chúng ta sẽ không còn một quê hương Việt Nam của ngày xưa nữa! Đồng tiền tuy có sức mạnh nhưng nó phải thua sức mạnh lẽ phải của toàn dân, thua cái quyết tâm của toàn dân. Nếu mọi người không đấu tranh, ai cũng để yên cho tội lỗi phát triển thì đất nước chúng ta sẽ suy sụp. Nhiều khi người ta cứ nhân danh tự do theo quan niệm tự do của thế kỷ XVIII, XIX, XX một cách sai lầm, cho phép vũ trường tồn tại và phát triển thì không riêng Việt Nam mà cả nhân loại sẽ bị hủy diệt.
Một bài báo thuật lại vụ đánh bom, đánh sập một phần tòa nhà chính phủ liên bang Mỹ, giết chết hàng loạt trẻ em vô tội. Người đánh bom bị bắt. Người ta điều tra lý lịch, đời sống riêng tư, tư tưởng của người này. Anh ta đã từng đi lính ở chiến trường Việt Nam. Trở về Mỹ, anh ta nuôi mối thù chính phủ Mỹ. Anh ta lý luận rằng chính phủ Mỹ đã đè bẹp tự do cá nhân anh, anh đòi có thêm tự do. Anh trả thù bằng cách tự chế tạo bảy ngàn bao thuốc nổ hy vọng đánh sập tòa nhà Liên bang. Anh đậu xe gần nhà giữ trẻ và cho nổ. Người ta đào bê tông, tìm thấy từng miếng thịt của trẻ em và người lớn. Vụ đánh bom trả lời cho việc đòi hỏi tự do cá nhân, sùng bái chủ nghĩa cá nhân của anh ta.
Đòi hỏi tự do quá độ là một sai lầm, một cực đoan của nhân loại. Nước Mỹ khá nhiều tự do mà người này thấy chưa đủ, phải đòi thêm. Chúng ta nhớ rằng tự do cá nhân luôn luôn đi đôi với ích kỷ mà ích kỷ là nguyên nhân gây ra tội ác. Tâm ích kỷ luôn luôn đưa đến tâm ác độc. Đòi hỏi tự do là có tâm ích kỷ. Tâm ích kỷ của người này lên đến tột độ biến thành tội ác giết hàng trăm con người. Khi ra tòa, anh ta lạnh lùng, không thèm trả lời một tiếng, đôi mắt căm hờn.
Khi con người chưa đủ đạo đức thì không thể có quá nhiều tự do. Chúng ta không hiểu tại sao thế giới hôm nay đã cho con người nhiều tự do một cách vô lý? Khống chế tự do hay tự do quá mức đều là cực đoan. Ví dụ một bạo chúa khống chế tự do là ác độc, người ta khó sống. Nhưng tự do quá mức cũng phá vỡ xã hội. Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới hiện nay cho con người nhiều tự do mà không quan tâm đến vấn đề đạo đức của con người. Một số quốc gia, con trẻ không thích sống chung với cha mẹ, ra ở riêng được Nhà nước cấp dưỡng. Con trẻ thoát khỏi ảnh hưởng của gia đình, thoát khỏi sự giáo dục của cha mẹ. Cơ cấu gia đình không coi trọng thì xã hội dễ tan vỡ. Xem nhiều bộ phim Âu Mỹ chúng ta đều thấy cảnh những đứa con khoảng mười sáu, mười bảy tuổi thường cãi cọ, gây gổ với cha mẹ... Một số gia đình Việt Nam đang sống ở xã hội Âu Mỹ, cương quyết dạy con theo văn hóa Á Đông. Gia đình nào không dạy con kỹ, để con sống theo văn hóa Âu Mỹ, sống tự do thì con cái khó giữ lề lối của truyền thống dân tộc Việt Nam. Cho nên, gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tốt là nền tảng vững chắc cho một xã hội ổn định.
Chúng ta cần giữ truyền thống văn hóa Á Đông; gìn giữ đạo lý Á Đông, kỹ cương gia tộc, lòng hiếu nghĩa của con người. Nghĩa là giữ gìn quan hệ cha mẹ, vợ chồng, con cái, thân tộc luôn luôn bền chặt. Dĩ nhiên, cha mẹ không phải là Thánh nên đôi khi cũng bất công với con cái một chút nhưng vẫn là người thương con hơn người dưng, vẫn dạy dỗ và muốn con nên người. Cha mẹ đã từng trải đời, trải nghiệm để dạy dỗ con cái; con cái không nên bung ra khỏi gia đình khi chưa đủ trí tuệ phán xét mọi việc. Gia đình là tế bào của xã hội. Xã hội trật tự, an toàn khi mỗi gia đình đều là những tế bào tốt của xã hội.
PHƯỚC VÀ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI
Người phước nhiều được nhiều người kính trọng. Người phước ít, ít được kính trọng. Người thiếu phước bị người ta khinh bỉ. Giá trị con người nằm ở chỗ có phước hay không. Đó là quy luật. Đừng nghĩ tại sao tôi cũng là người mà tôi không được kính trọng. Vì anh ít phước, vì anh thiếu phước, anh nặng nghiệp nên anh bị người khác xem thường. Đó là chúng ta nói theo nhân quả, không phải kỳ thị giàu nghèo, giai cấp, dòng dõi xuất thân. Dù anh thuộc giai cấp nào, dòng dõi nào, giàu hay nghèo nhưng anh thiếu phước sẽ bị người ta xem thường. Nếu anh là người biết làm phước, tăng phước từng ngày, từng ngày thì trước mắt mọi người, anh là người đáng kính trọng. Luật Nhân Quả là vậy. Chúng ta đừng đòi hỏi người khác kính trọng mình mà phải tự đòi hỏi mình phải có đức, phải làm phước. Một người khi đã đủ phước, không cần mong đợi hay kêu gọi, người khác vẫn kính trọng mình.
Những người uống rượu say, sử dụng ma túy để hưởng thụ khoái cảm là những người đốt phước của mình rất nhanh và đừng trách tại sao người ta không kính trọng mình. Có ba nguyên nhân tạo phước để được người khác kính trọng mình. Một là biết kính trọng những người đáng kính, đó là những bậc Thánh, những người tốt trên đời này. Hai là thường giúp đỡ người khác: rộng lòng bố thí, giúp đỡ người nghèo. Ba là tu sửa nội tâm thuần thiện: lúc nào cũng có lòng thương yêu con người, trừ diệt cái xấu, bồi dưỡng cái đức của nội tâm.
Có ba nghiệp nhân tạo thành cái phước làm kẻ khác phải kính trọng.
Thứ nhất là kính trọng người đáng kính. Quan trọng nhất là bậc Thánh, kế đến là những người tốt trên đời.
Thứ hai là thường giúp đỡ, bố thí, ban ân rộng rãi.
Thứ ba là tu sửa nội tâm cho thuần thiện. Dù có thể chưa giúp được nhiều người nhưng nếu lúc nào ta cũng thương yêu con người, biết quan sát, trừ diệt từng lỗi dù nhỏ nhặt... Tức là biết tồn dưỡng cái đức của nội tâm, chắc chắn ta sẽ thành tựu được cái phước khả kính.
Ngược lại, cũng có những nguyên nhân làm ta mất phước để rồi phải thọ lãnh sự khinh bỉ.
Thứ nhất là khinh thường bậc đáng kính, đặc biệt là bậc Thánh.
Thứ hai là hưởng thụ, lấy niềm vui của kẻ khác làm niềm vui của mình mặc cho họ đau đớn khổ sở. Nặng nề nhất là trường hợp của những người sử dụng ma túy.
Thứ ba là không tu sửa nội tâm. Người có nhân cách tầm thường, nói năng vụt chạt, làm việc gì cũng đều sơ suất, sai lầm thì chắc chắn không bao giờ được ai kính nể.
Vì thế, trong cuộc sống có những người rất được kính trọng mà cũng có người bị xem thường do phước có hay không. Có những người càng già càng được kính trọng vì họ đã tích được nhiều phước. Nhưng cũng có người càng già họ càng bị xem thường vì họ không làm phước mà chỉ hưởng thụ suốt một đời đến khi tuổi già, đứa con nít cũng không kính trọng. Có những người khi còn trẻ vẫn được người ta kính trọng vì có phước từ đời trước.
Phước tạo nên giá trị con người. Để làm được một con người đầy đủ ý nghĩa, đầy đủ giá trị của một con người, chúng ta hãy nhớ thường xuyên làm phước. Phước đó làm nên phẩm giá, giá trị của con người; đồng thời cũng là vốn để dành đi về kiếp sau và cũng là sức mạnh để chúng ta đi vào thiền định, giải thoát. Do đó, phước như chiếc chìa khóa mở ra nhiều cánh cửa để ta ung dung sống trong luân hồi sinh tử cũng như ung dung đi tìm con đường giải thoát giác ngộ.
GIỮ GIỚI THỨ NĂM CHO BẢN THÂN VÀ CHO TOÀN XÃ HỘI
Trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du viết:
“Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”.
Nguyễn Du nói điều này rất đúng với nhân quả. Mỗi con người khi sinh ra như có số, có con đường được định sẵn phải đi. Người có số sống một đời thanh cao; tự nhiên họ không nhiễm bụi trần, đi trên con đường thanh khiết. Nhưng người có cái số phải lấm bụi trần, phải bị ô nhiễm, loay hoay rồi cũng tìm con đường xấu để đi. Như Thúy Kiều, cha mẹ bị nạn là cánh cửa mở ra để Thúy Kiều trả nghiệp. Việc trả hiếu cho cha là công đức rất lớn nhưng sao bao nhiêu cách không làm mà Kiều lại chọn con đường dẫn đến lầu xanh? Bởi vì cái số “Bắt phong trần phải phong trần” Cái số đó ở đâu ra? Ở kiếp trước. Chính kiếp trước gieo nhân nên kiếp này Thúy Kiều tự nhiên chọn con đường tối tăm đó.
Người có phước xuất gia tu tập để “được phần thanh cao”. Còn tại sao người mến đạo mà không thể xuất gia, phải sống giữa đời để lo lắng nhiều, bởi vì “bắt phong trần phải phong trần”. Sống “đời thanh cao” hay “đời phong trần” đều do nhân quả ở kiếp trước, chứ không phải là có tài hay bất tài. Hiểu điều này, chúng ta mới biết thương người đang đi trên con đường tăm tối, vì họ không đủ phước để giữ mình trong sạch. Chúng ta phải biết do nhân gì đó nên mình không bị rơi vào bóng tối, rơi vào hưởng thụ, sa đọa, vẫn giữ được thân mình. Chúng ta hiểu được điều này, gây cái nhân này cho con trẻ, cho con cháu chúng ta để chúng có sức đề kháng, biết tránh xa ma túy. Còn nếu không có cái nhân đó, trẻ lớn lên dễ bị cuốn vào ma túy, vào con đường sa đọa sau này.
Nhân đó có thể hiểu như sau:
Thứ nhất, cung kính bậc Thánh, lạy Phật với lòng tôn kính thiết tha, tự nhiên tâm giữ được trong sạch, không bị dính vào ô nhiễm. Do đó, con trẻ phải lễ Phật mỗi ngày.
Thứ hai, sống có lý tưởng. Sống biết lo lắng cho mọi người, cho quê hương, cho nhân loại với những điều tốt lớn lao nhưng con trẻ cũng có lòng yêu quê hương đất nước, yêu nhân loại.
... Còn con xin nguyện từ đây
Siêng năng học tập để ngày lớn khôn
Đáp đền cha mẹ công ơn
Đắp xây thế giới đẹp hơn bây giờ.
(Trích bài tụng “Lời nguyện cầu buổi sáng”)
Bài tụng cho con trẻ một lý tưởng để sau này trẻ có sức đề kháng với sự sa ngã. Chúng ta nên nhắc nhở con trẻ tụng mỗi ngày bài “Nguyện cầu buổi sáng”!
Trong khi người sống quá tầm thường dễ sa ngã trước cám dỗ thì người ôm trong lòng một lý tưởng cao đẹp tự nhiên có sức đề kháng mạnh mẽ trước điều xấu ác. Do đó, có thể con trẻ không thông minh lắm, khi lớn lên chưa chắc chúng đã có địa vị trong xã hội nhưng hãy dạy cho chúng tình yêu nước, yêu nhân loại, hãy thắp cho chúng một lý tưởng để chúng sống trên đời.
Xin cha mẹ dạy con tình nhân loại
Tinh cầu này là hoa trái yêu thương
Gieo rắc lên trên khắp mọi nẻo đường
Cùng xây đắp cõi hiền lương thánh thiện.
(Trích bài thơ “Xin cha mẹ cho con”)
Thứ ba, để giữ mình được trong sạch, phải biết ngăn cản, biết khuyên bảo, vận động nhiều người tránh sa ngã. Ví dụ, chúng ta thấy vài ba thanh thiếu niên chơi với đám người sử dụng ma túy, chúng ta khuyên nhủ, cản các em lại; hoặc thấy người tập tành uống rượu chúng ta cũng cản, khuyên họ không nên uống. Tất nhiên, chúng ta phải giải thích cái hại của việc sử dụng ma túy hay uống rượu. Cái nhân chúng ta không muốn người khác bị vướng vào việc xấu, quả báo trở lại là chúng ta không bị vướng vào những thứ xấu đó. Còn thấy người ta sử dụng ma túy hay uống rượu như không biết gì, cho rằng ai làm nấy chịu thì biết đâu sau này mình cũng bị vướng vào những thứ đó.
Người nghiện rượu sức khỏe suy yếu dần. Người nghiện ma túy không làm gì được cho ai, chỉ gây khổ cho mình và cho người khác. Người ta xem người nghiện là thành phần cặn bã của xã hội. Tuy nhiên, cái nhân khinh người nghiện sẽ bị quả báo nghiện như họ. Vì thế, chúng ta đừng bao giờ khinh chê người nghiện mà hãy xót thương họ. Dưới mắt nhìn của người Phật tử, họ là những người đáng thương. Dù không ngăn cản được họ nhưng trong tâm chúng ta luôn luôn ấp ủ, nuôi dưỡng tư tưởng làm sao trên đời này không còn người nghiện rượu, nghiện ma túy.
Để giữ mình không vướng vào ma túy, để toàn xã hội không còn ma túy, chúng ta quyết liệt tố giác những hang ổ ma túy lên chính quyền một cách khôn khéo, một cách kín đáo. Nếu trong xóm làng có hang ổ ma túy mà chúng ta làm ngơ thì một ngày nào đó con cháu chúng ta sẽ bị vướng vào. Vì thế, trong toàn xã hội, nếu mọi người là những chiến sĩ chống ma túy thì đất nước chúng ta không còn ma túy. Bởi vì chiến sĩ quá đông, ở đâu cũng có người để mắt tới ma túy thì người bán và người sử dụng ma túy không có đất dung thân. Khi chúng ta quyết liệt được như vậy, đến đời con, đời cháu chúng ta tránh được hiểm họa của ma túy, của rượu.
Ngày xưa, đạo Phật thịnh từ đời nhà Lý, Trần, cả nước theo đạo Phật. Khi quân Nguyên sang xâm lăng, toàn dân đều là đệ tử Phật đồng lòng đứng lên chống quân Nguyên, giữ được độc lập của đất nước. Quân Nguyên đánh đâu thắng đó chỉ khựng lại ở hai nước Nhật Bản và Việt Nam, hai nước theo đạo Phật. Đoàn tàu của quân Nguyên qua Nhật Bản bị sóng biển đánh đắm. Có lẽ dân Nhật lúc đó có phước khiến cho quân
Nguyên không đánh được Nhật. Còn Việt Nam với sức mạnh đoàn kết của toàn dân nên đánh đuổi được quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi.
Ngày nay cũng vậy, toàn Phật tử chúng ta đồng lòng chống ma túy để bảo vệ quê hương đất nước thoát khỏi hiểm họa xăm lăng của ma túy. Hãy mạnh mẽ như vậy. Tội phạm ma túy có nhiều tiền, có tổ chức lớn có thể chúng mua chuộc thâu tóm quyền lực nhưng chúng sẽ thua sức mạnh đoàn kết của toàn dân.
Nói về giới thứ năm trong đạo Phật, không có nghĩa là chỉ người Phật tử chỉ giữ giới cho mình là không uống rượu, không dùng ma túy, không dùng các chất gây nghiện. Người Phật tử còn phải biết giữ giới thứ năm cho toàn xã hội. Cũng không phải chỉ người Phật tử giữ giới thứ năm mà tất cả những ai yêu quê hương đất nước, vì sự tồn vong của cả một dân tộc đều nên giữ giới thứ năm như lời Phật dạy. Thế hệ mai sau, thế hệ con cháu chúng ta không nghiện rượu, không nghiện ma túy thì dân tộc ta, đất nước ta mới “sánh vai với các cường quốc năm châu” một cách vẻ vang.
Về phần các bậc cha mẹ, chúng ta phải hiểu rằng con cháu mình đang sống trong một môi trường có nhiều ma túy. Bất cứ lúc nào và ở đâu, khi thuận tiện, chúng ta đều nhắc nhở, đều giáo dục con cháu về hiểm họa của ma túy. Từ nay, các bậc cha mẹ phải là một nhà giáo dục, một nhà thuyết pháp, chứ cha mẹ không được phó thác con trẻ cho nhà trường, cho thầy cô giáo... Cha mẹ luôn luôn giám sát con cháu vì biết đâu đứa bạn cùng đi, cùng về với nó đã dính ma túy và biết đâu con cháu mình là đối tượng nhắm đến của bọn tội phạm ma túy.
Vì thế, con cháu chúng ta cần được thường xuyên nhắc nhở, giáo dục hướng tới cái tốt, điều thiện để chúng đủ sức mạnh thoát ra âm mưu đen tối của tội phạm ma túy. Chúng ta phải chú ý giờ giấc đi về của con trẻ: học giờ nào, ở đâu, đi sớm về trễ phải hỏi cho rõ nguyên nhân. Hoặc nào giờ thấy con không cãi một câu, nay ngang ngang bướng bỉnh... thì xem ma túy bước vào nhà hay chưa. Cho nên, hôm nay các bậc cha mẹ phải sáng suốt, phải cẩn thận để bảo vệ con trẻ vì chúng đang bị ma túy bao vây; đồng thời các bậc cha mẹ phải là tấm gương đạo đức cho con trẻ: phải ngộ đạo, phải tu hành nghiêm chỉnh.
***
Như vậy, chúng ta đã bàn về giới thứ năm: cấm uống rượu, ngày nay nói chung là những chất gây nghiện như thuốc lá, cà phê, đặc biệt là ma túy. Đó là những chất đưa vào cơ thể làm cho con người mất sáng suốt, bị lệ thuộc, bị nghiện, từ đó vướng vào tội lỗi và tổn phước, gây nợ chồng chất oan khiên ở tương lai và bị đọa nặng sau khi chết. Hiểu điều này để chúng ta thấy công đức vi diệu của sự tu tập, của thiền định tạo an lạc, hạnh phúc, không mang tội lỗi. Hưởng thụ hạnh phúc mà mang tội (dùng ma túy) hoặc hưởng thụ hạnh phúc và thêm phước, chúng ta biết phải chọn con đường nào. Chúng ta sẽ phải chọn con đường đi đến hạnh phúc, có thêm phước mà không mang tội. Chúng ta phải biết gieo nhân để không vướng vào sự sa ngã. Chúng ta cũng cảnh giác để dạy con trẻ có đủ sức mạnh tránh xa rượu và ma túy khi chúng lớn lên sau này.
Giữ giới thứ năm một cách tích cực, chúng ta nguyện lòng với nhau, hứa trước Tam Bảo và với đất nước, với nhân loại này sẽ nỗ lực tu tập để bảo vệ tâm hồn cho chính mình, cũng như quyết tâm đấu tranh giúp cho bao người khác được trong sạch, vượt thoát khỏi vô số điều sa đọa, vô số tội lỗi đang giăng bủa ngập tràn.
Đi giữa cuộc đời là bước qua bao điều xấu ác
Ta đừng thờ ơ bỏ mặc bóng tối tràn lan
Rồi một ngày kia chính ta cũng sẽ khóc than
Chân Quang Khi điều xấu đã làm điêu tàn cả thế giới.
Đi giữa cuộc đời là đừng phân vân chờ đợi
Phải dấn thân đem điều thiện lợi đến mọi người
Vì người vui chính ta cũng được vui
Ngọn đèn sáng nơi nơi đều rạng rỡ.


