ĐỊNH NGHĨA VỀ:
THÀNH KIẾN - TRÍ TUỆ - QUAN NIỆM - QUAN ĐIỂM
Thành kiến là ý kiến nhận xét không hay đã cố định, khó thay đổi. Thành kiến còn gọi là định kiến.
Trí tuệ là khả năng nhận thức đạt đến trình độ nhất định dựa trên sự suy luận để nắm bản chất và quy luật của sự vật (không có sự tham dự của cảm tính, chỉ có lý tính).
Quan niệm là hiểu hay nhận thức như thế nào đó về một vấn đề.
Quan điểm là điểm xuất phát định hướng cách xem xét và hiểu các hiện tượng, các vấn đề.
Trên đời, dường như ai cũng nhìn nhận mọi việc qua lăng kính riêng, bằng khuôn mẫu riêng của mình. Tuy nhiên, không phải lúc nào điều ta suy nghĩ cũng xuất phát từ trí tuệ, mà có khi đó chỉ là một thành kiến cá nhân. Nên đề tài chúng ta cùng bàn với nhau hôm nay thuộc về tâm thức, nó hơi trừu tượng, gọi là “THÀNH KIẾN”. Qua đây, chúng ta sẽ tự xem xét lại nội tâm mình rồi tìm cách vượt ra khỏi sự trói buộc của bản ngã để đi tìm một trí tuệ chân thật, từ đó hiểu được thế nào là trí tuệ của chư Phật, chư Bồ tát, cũng từ đó chúng ta sẽ thấy được một lẽ phải, một chân lý chung đồng nhất.
TỪ CHỦ QUAN SINH RA THÀNH KIẾN
Ở đời, ai cũng có cách sống riêng. Đó là những quan niệm của ta về đời sống, cách ăn uống, giải trí, làm việc, đối xử với mọi người, cách chọn bạn, những ước mơ, lý tưởng, tham vọng...
Trong cùng đất nước Việt Nam, cùng nền văn hóa chung nên chúng ta có những suy nghĩ, ứng xử giống nhau theo tập quán, nhưng nếu xét lại từng cá nhân thì vẫn có những điểm khác nhau. Bước qua một đất nước khác, sự khác biệt còn muôn trùng.
Ví dụ, về ăn uống, người miền Trung quan niệm: “Không gì bằng cơm với cá, không gì bằng tình mạ với con”, ăn cơm cho chắc bụng, đi đâu cũng gắn bó với miếng cơm. Nhưng người miền Nam thường quan niệm sống ở đời cứ ăn cho ngon. Còn người miền Bắc thì ngược lại, gia đình ăn uống đạm bạc. Về quan niệm ăn uống của từng miền đã thấy khác.
Hoặc nói về giải trí, có người lúc mệt thì thích lên chùa gặp quý Thầy đàm đạo, có người lại thích đi hát karaoke, nhảy múa quay cuồng trong vũ trường.
Hoặc nói về việc làm, có người quan niệm:
“Sống trên đời phải làm việc cật lực để gầy dựng một sự nghiệp”, nhưng cũng có người nói: “Sống nay chết mai, làm nhiều có ích gì, cứ vừa làm vừa hưởng thụ”.
Hoặc nói về ước mơ, người thì ước mơ xuất gia, người thì muốn trở thành nhà giáo đem kiến thức và đạo đức cho đời, có người mong làm thầy thuốc cứu người,... Hoặc có người lúc bé muốn trở thành Thủ tướng, lớn lên dần thấy khó đạt được nên chuyển qua mơ ước làm Bộ trưởng. Nhưng vài năm sau thấy làm Bộ trưởng cũng hơi xa vời nên chỉ mong làm chủ tịch Tỉnh, vài năm nữa mơ ước xuống dần chỉ còn chủ tịch Huyện, chủ tịch Phường...
Hoặc nói về quan niệm bạn bè, có người chủ trương chơi với bạn phải hơn bạn, người nào giỏi hơn mình thì nghỉ chơi, dưới “cơ” mình mới chơi. Nhưng cũng có người quan niệm “Thà người phụ ta, chứ ta không phụ người”, chấp nhận thiệt thòi về mình, bị bạn bè hơi lấn át vì nghĩ rằng sống trên đời hi sinh một chút lại vui, thay vì cứ hơn thua ganh tị.
Điều này trái ngược với quan niệm của Tào Tháo – nhân vật gian hùng trong truyện “Tam quốc diễn nghĩa”. Trong một lần bị truy nã, Tào Tháo chạy trốn và vào tá túc nhà người quen là Lã Bá Sa. Người ta tiếp đãi ông rất chu đáo vì ông là ân nhân của họ. Đến nửa đêm, nghe tiếng mài dao soàn soạt, ông vốn bản tính đa nghi nên nghĩ rằng họ mài dao giết mình để lãnh thưởng. Thế là ông vung gươm giết chết cả tám mạng người. Không ai chống cự nổi vì Tào Tháo là một vị tướng võ nghệ siêu quần. Đến khi bước vào bếp, thấy một con lợn bị trói bên cạnh nồi nước đang sôi, ông chợt hiểu ra mình đã lầm. Vừa lúc đó, Lã Bá Sa mua rượu về tới nhưng Tào Tháo chẳng những không hối hận mà còn thẳng tay chém chết cả Lã Bá Sa để trừ hậu họa. Tào Tháo lý giải cho sự dã man của mình bằng câu nói còn lưu truyền đến ngày nay: “Thà ta phụ người chứ không để người phụ ta”. Đây là quan niệm hết sức tàn độc, cuối đời Tào Tháo phát điên cũng vì vậy.
Trong việc tu hành, mỗi người tu theo một đường lối và tin rằng đường lối tu của mình là đúng. Ví dụ, có người đến với đạo Phật rất đơn giản. Gặp vị Thầy trụ trì, Thầy dạy pháp môn niệm Phật. Sau một thời gian thực hành, họ thấy tâm cũng được an ổn. Ngay đó vị Thầy căn dặn: “Tám vạn bốn ngàn pháp môn trong đạo Phật, không pháp môn nào hơn niệm Phật. Con nhớ giữ pháp môn này!”. Thế là họ sống chết chỉ trung thành với câu niệm Phật, ai đến nói gì khác cũng bỏ ngoài tai.
Hoặc có người theo pháp môn tu thiền Tứ Niệm Xứ, Vipassana của Nguyên thủy, bản thân thực hành thấy có chút yên lắng thanh tịnh nên không tin gì thêm và đóng khung trong niềm tin đó.
Nhưng cũng có người phức tạp hơn, khi đến với đạo họ không chỉ tìm đến một vị Thầy mà đi lang thang từ chùa này qua chùa kia để học đạo. Bên cạnh đó, họ còn nghiên cứu kinh sách, tài liệu, nghe băng đĩa. Sau khi cân nhắc, họ tự chọn lấy một đường lối mình cho là đúng nhất rồi suốt đời tin theo, không ai lay chuyển được. Nếu có người phản bác hay phê bình, họ đủ lý luận để cãi lại dựa vào bề dày nghiên cứu. Tuy nhiên, chúng ta chưa phải là Thánh nên suy nghĩ của mình chưa chắc đúng, pháp môn tu hành ta chọn cũng vậy, nó có yếu tố may rủi. Ở đây khi chúng ta chọn một pháp môn tu hành thì ta chưa có thẩm quyền, chưa đủ kết luận để đánh giá đúng sai. Nhưng nếu ta chọn đường lối đúng thì cuộc đời ta dần dần đi về nơi cao thượng, phước từ từ tăng lên. Ngược lại, quan niệm sai sẽ dẫn cuộc đời tu hành ta đi xuống, phước mất dần, qua đời sau căn lành không còn.
Ví dụ, có quan niệm cho rằng người tu phải khiêm tốn. Nghĩa là không bao giờ cho mình cao hơn, giỏi hơn người khác. Quan niệm đó căn bản là đúng, nên người cứ tu như vậy thì phước tăng dần từ kiếp này sang kiếp kia cho đến khi chứng Thánh quả. Nhưng cũng có người quan niệm rằng mình cũng là Phật, trong tâm có Phật ngự trị. Điều này nghe thoáng qua thì hay nhưng lại rất nguy hiểm, không khéo sẽ làm mất đi sự khiêm hạ, vì họ nghĩ mình là Phật rồi thì không cần kính nể ai. Họ càng tu thì sắc diện càng u tối, công phu càng trượt dốc, qua kiếp sau còn bị đọa nặng hơn. Như vậy, quan niệm đúng sai có ảnh hưởng đến cuộc đời thăng hay trầm của mỗi người.
Khi chúng ta chọn một quan niệm để sống, một đường lối để tu rồi chúng ta đóng khung tâm hồn mình một cách cứng nhắc trong đó thì gọi là “thành kiến”. “Kiến” nguyên nghĩa chữ nho là thấy, nhưng nghĩa chính là một sự hiểu biết, ví dụ như từ Chánh Kiến trong Bát Chánh Đạo tức là hiểu biết đúng. Ban đầu chữ “kiến” là hiểu biết nhưng sau này được mở rộng ra hơn, đó là quan niệm, quan điểm, chủ trương, đường lối hiểu biết... “Thành kiến” là chấp nhận, cho điều gì đó là chân lý rồi đóng khung cuộc đời mình vào đó. Ngay cả điều chúng ta cho là đúng và đóng khung lại cũng là thành kiến, chưa phải là trí tuệ. Ví dụ, ai cũng đồng ý rằng khiêm tốn là đúng. Nhưng đóng khung nó có thể có lúc sai. Vì sao? Vì trong đời của mỗi người, không phải lúc nào chúng ta cũng khiêm tốn. Chẳng hạn với vai trò của người thầy đối với đệ tử, chúng ta phải nghiêm khắc dạy dỗ; chúng ta phải có cái uy của một người thầy, chứ cư xử quá khiêm tốn là không hợp lý.
Trong cuộc sống, mỗi người có nhận thức và hiểu biết riêng về những vấn đề nào đó. Cái bệnh chung của con người là ai cũng cho mình là đúng. Nếu “tôi đúng” thì “anh sai”. Thành kiến xuất hiện. Thế là có tranh chấp hơn thua, có bất hòa, bất đồng. Người có thành kiến thường chủ quan, khó tiếp thu ý kiến người khác hoặc không coi trọng ý kiến người khác. Vì vậy, hôm nay chúng ta phải bắt đầu hoài nghi niềm tin, hoài nghi quan niệm của mình, không đóng khung bất cứ điều gì, bất cứ vấn đề nào để trong mọi trường hợp chúng ta có thể xử sự đúng. Đó là bước đầu của trí tuệ.
Có câu chuyện hai người bạn thân thiết với nhau từ thuở hàn vi. Trong một lần chia đôi ổ bánh mì, một người đã cắt thành hai phần lệch nhau một chút rồi lấy phần lớn hơn. Người kia thấy vậy rồi suốt đời đánh giá bạn mình là xấu tính, ích kỷ. Nhưng sau này khi ăn nên làm ra, người bạn này lại rất rộng rãi, độ lượng. Còn trước kia, chỉ vì đang trong cơn đói cồn cào nên anh đã hơi tham ăn một chút. Vậy mà một chút sơ xuất đó đã tạo nên thành kiến suốt đời không gỡ bỏ được nơi người bạn của anh.
THÀNH KIẾN VÀ TRÍ TUỆ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC HIỂU BIẾT ĐÚNG SAI VẤN ĐỀ
Có thể chia ra làm bốn loại hiểu biết:
Thứ nhất, những điều hiểu biết là sai hoàn toàn
Ví dụ, người xưa khi thấy mặt trời mọc hướng Đông, lặn hướng Tây còn trái đất đứng yên, người xưa đã kết luận: “Mặt trời quay quanh Trái đất”. Đây là hiểu biết sai nhưng trong bao nhiêu thế kỷ đã được xem như sự thật hiển nhiên.
Những quan điểm sai, những hiểu biết sai mà chúng ta tưởng là đúng thì thật tai họa cho cuộc đời chúng ta. Và người chung quanh cũng khổ vì quan điểm sai của chúng ta.
Trong lĩnh vực giáo dục, nhiều người cho rằng phải để trẻ phát triển tự do, đừng uốn nắn làm mất đi cái thiên bẩm, cái Phật tánh của trẻ. Thế nên họ thả cho trẻ chơi đùa, nghịch ngợm, quậy phá tùy thích. Quan niệm đó là sai lầm nghiêm trọng. Được nuông chiều mà không được dạy bảo, trẻ nhỏ sẽ luôn tưởng mình là đúng. Hãy nhớ rằng trong các công đức trên đời, công đức của sự giáo dục là lớn nhất. Do đó, ta không bao giờ được lơi lỏng về giáo dục. Dù ở cương vị, lứa tuổi, thành phần nào thì trong mỗi người cũng luôn có hai tính chất. Thứ nhất, chúng ta là người học trò thiết tha học hỏi đạo lý từ Phật Pháp, từ những người chung quanh. Thứ hai, chúng ta cũng phải là nhà giáo dục tận tuỵ. Nếu là thầy cô giáo hay người tu sĩ thì thiên chức giáo dục là đương nhiên. Còn trong phạm vi nhỏ gia đình, ta cũng phải dạy được con cháu mình và những đứa trẻ trong làng xóm. Không những vậy, dù đang ở địa vị, đang có vai trò nào trong xã hội, ta ít nhiều đều phải kiên trì khuyên bảo, giáo dục, cảm hóa người khác.
Có người hoàn toàn phủ nhận luật Nhân Quả. Họ chủ trương thỏa mãn, hưởng thụ niềm vui tạm thời chứ không cần biết kiếp trước kiếp sau, không cần tích lũy công đức. Đây cũng là một cái sai rất trầm trọng. Chúng ta chú ý điểm này: hai người cùng siêng năng làm phước giống nhau nhưng người tin nhân quả và người không tin nhân quả lại có kết quả hoàn toàn khác biệt. Người tin nhân quả khi giúp đời, họ hiểu quả báo sẽ trổ ra ở vị lai, nếu không kiếp này thì cũng kiếp sau, không kiếp sau thì cũng một kiếp kế tiếp, thế nên họ không cần đi tìm hưởng quả báo. Còn người không tin nhân quả, lúc trẻ họ hăng say cống hiến cho xã hội nhưng tư tưởng ‘chết là hết’ khiến họ tự nhiên có xu hướng đi tìm kết quả khi bước dần đến tuổi xế chiều. Họ tự đi tìm phần thưởng cho mình bằng cách tham nhũng, hối lộ, lường gạt... Đó là lý do có những người lúc trẻ thấy tốt nhưng về già lại ‘đổi tánh’, tham lam và hưởng thụ. Đây là hai hướng rẽ trái ngược mặc dù ở giai đoạn đầu, hai người đều nhiệt tâm hy sinh, phụng sự.
Hoặc có người chủ trương “Ai gieo nhân xấu thì phải tự lãnh quả, ta không nên giúp đỡ”. Cũng xuất phát từ niềm tin nhân quả nhưng người quan niệm như vậy hoàn toàn sai. Dĩ nhiên, ta không đủ sức giúp đỡ hết vì cuộc đời này giăng đầy nỗi khổ, nhưng trước tiên ta phải có sự thương yêu xót xa khi thấy chúng sinh khổ, rồi giúp ai, giúp được bao nhiêu là tùy duyên của mình. Đừng nói rằng: “Tại kiếp trước người đó ăn ở thất đức nên phải lãnh quả, bây giờ tôi không việc gì phải giúp”, bởi nhân quả rất công bằng, về sau lỡ khi ta rơi vào cảnh bức bách khốn cùng, sẽ có người lặp lại y hệt câu nói này. Lúc đó, chúng ta mới thấm thía nỗi đau khổ tột cùng trước sự lạnh lùng của đồng loại. Hãy nhớ rằng, cái duyên khiến đôi mắt ta bắt gặp người khổ nhưng ta đóng cõi lòng mình lại, ngoảnh mặt làm ngơ thì nhân quả sẽ đưa chúng ta xuống cõi xấu, thậm chí là đọa làm ngạ quỷ súc sinh. Ngược lại, dù chưa giúp được gì nhưng chỉ cần mở lòng thương xót thì cõi trời đã bắt đầu mở ra chờ đón ta ở vị lai.
Đó là về phương diện nhân quả. Còn về phương diện đạo lý, khổ cảnh bày ra trước mắt ta là một thử thách để ta tập mở trái tim mình ra. Cũng như ta học toán thì cần giải bài tập, học văn phải làm những bài luận, học kiến trúc phải thiết kế được nhà ở...; nếu không có thực hành thì ta không giỏi được, lý thuyết sẽ mãi vô nghĩa. Việc đi học đạo cũng vậy, ta có nói nhiều về nhân quả nghiệp báo, lòng từ bi, thiền định, nhẫn nhục... đến mấy cũng vô ích nếu như không đụng cảnh thật, chính cảnh thật mới khiến ta thấm sâu đạo lý Phật dạy. Ví dụ, ta học đạo lý nhẫn nhục nhưng không được thử thách trước những sóng gió nghịch cảnh thì không thành tựu được hạnh nhẫn nhục. Hoặc ta học hạnh từ bi nhưng không gặp cảnh khổ để khởi lòng từ thì cũng không thành tựu được hạnh từ bi. Đó là lý do ta phải biết ơn những cảnh khổ trên cuộc đời, hoặc đó là cảnh khổ của chính ta để ta rút ra được bài học, hoặc đó là cảnh khổ của người khác để ta tập mở tấm lòng bao dung với con người. Tất cả đều là nấc thang nâng bước ta về phía mặt trời chân lý.
- Những quan niệm sai trong sự tu hành
Nhiều người hiểu sai về lý ‘không’. Họ cho rằng việc huân tập những tâm hạnh đạo đức như khiêm tốn, nhẫn nhục, bố thí... là rất thấp, chỉ dành cho người sơ cơ, còn lý ‘không’ của Đại thừa – thấy cái gì cũng không: không có Phật, không có Thánh, không có thiên đường, cũng không có địa ngục – thì mới là cao.
Hoặc có người quan niệm cõi này dơ bẩn cấu uế, lắm khổ đau phiền não nên quyết chí tu hành để được sinh về cõi khác. Họ thấy trần gian này không đáng cho mình quan tâm, từ đó không còn thái độ tử tế, tích cực với đời mà trở nên thụ động. Chưa cần phân tích đúng sai, quan niệm này rõ ràng là một cái dở. Hoặc khái niệm giải thoát cũng vậy, mục tiêu giải thoát khỏi luân hồi sinh tử của đạo Phật là không sai nhưng nếu hiểu sai, ta sẽ trở nên thụ động. Giống như một tù nhân mắc nợ thì phải trả, rồi họ nghĩ trả nợ là khổ ải nên vượt rào, trèo tường bỏ trốn để được giải thoát. Đó là lối hiểu sai, ta phải tích cực trả hết nợ thì cửa tù mới tự động hé mở, ta đi ra trong an ổn tự nhiên.
Cuộc đời là đau khổ – đó là lời Phật dạy, là chân lý không thể phủ nhận, nhưng giải thoát không có nghĩa là tìm yên ổn trong tâm cho riêng mình rồi quay lưng với cuộc đời và cho đó là giải thoát. Lối hiểu này cũng giống như việc vượt rào trốn nợ. Đó là lý do có một thời gian dài, người ta phê bình đạo Phật tiêu cực. Chưa cần biết lý tưởng giải thoát giác ngộ của đệ tử Phật là gì cả, chỉ thái độ thờ ơ với nhân thế đủ khiến người đời có cái nhìn không mấy thiện cảm với đạo Phật.
Vậy lối tích cực trả nợ ở đây là gì? Phải hiểu rằng đời là biển khổ nhưng vì mắc nợ, ta mới sinh vào cõi này. Không chỉ người nghèo lắm nỗi khóc than mà kể cả người giàu cũng khóc. Vì thế, ta năng nổ tích cực làm hết khả năng của mình để thương yêu, làm lợi cho chúng sinh. Khi đó cánh cửa giải thoát mới hiện ra, ta nhẹ nhàng bước ra khỏi trầm luân đau khổ. Người đi đúng như vậy vừa đạt được mục tiêu giải thoát, vừa có thái độ tích cực với đời mà không ai phê bình được.
Nói xa xôi là vậy, còn trong phạm vi gần, người trong đời sống hằng ngày thường hăng hái giúp đỡ tha nhân, suốt một đời hy sinh vị tha thì tối đến ngồi thiền, tâm sẽ rất dễ nhiếp vào định. Đó là câu trả lời trước mắt. Nhiều người nghiệm thấy điều đó rất đúng nên thưa rằng: “Trước kia con rất tinh tấn hành thiền nhưng tâm không yên, đến khi hiểu đạo rồi, ban ngày con chịu khó làm việc thiện, giúp đỡ người này người kia, tối đến ngồi lại yên”. Đây là điều kì lạ - khi ta không dám làm việc gì cả vì sợ động tâm thì tâm lại càng dấy động phiền não, còn khi ta hết lòng lo giúp cho mọi người tăng trưởng thiện pháp, tâm lại an ổn dù cả ngày tất bật.
- Những hệ lụy từ cái hiểu sai của con người
Vì hiểu biết sai mà nhiều người vô tình dung dưỡng cho điều xấu. Ví dụ trong xóm làng, có những tay bặm trợn cướp giật nhưng người dân tại đó vẫn làm ngơ, vì nghĩ rằng những tay này chưa đe dọa tới mình, đôi lúc còn bảo vệ mọi người khỏi những kẻ du thủ du thực khác từ bên ngoài. Thế là thỉnh thoảng họ ‘tốt bụng’ tặng biếu thức ăn ngon để những tay đó sinh cảm tình mà bảo vệ xóm làng.
Cũng vậy, một số công ty đã chủ trương thuê bảo vệ thật bặm trợn để làm người khác khiếp sợ. Hoặc có những lực lượng cảnh sát của vài quốc gia còn liên kết với các băng đảng xã hội đen bên ngoài để đổi lấy thông tin mật. Chúng ta thấy rằng dung dưỡng cho người xấu mà không biết cảm hóa họ, đôi lúc còn hợp tác nhằm làm lợi phần mình là điều sai lầm. Chính những kẻ xấu đó mới là mối nguy hại lớn nhất: có một ngày những phần tử xấu đó sẽ quay lại phá tan xóm làng, những người bảo vệ hung dữ sẽ cấu kết với bên ngoài đánh cắp tài sản công ty, các thế lực xã hội đen sẽ dần lớn mạnh và gây mất an ninh cả quốc gia. Tất cả chỉ vì quan niệm lệch lạc của chúng ta ở buổi đầu.
Những quan niệm sai còn cản trở sự tiến bộ của nhân loại. Chẳng hạn hiện nay một vài quốc gia vẫn tồn tại bất bình đẳng giới, phụ nữ bị hạn chế trong việc học tập và làm việc, thậm chí khi ra đường phải che kín gần hết gương mặt. Thực tế nhiều người nữ rất giỏi, lác đác trên thế giới đã xuất hiện các nữ Tổng thống, nữ Thủ tướng tài ba nhận được sự tín nhiệm, ủng hộ, nể phục của người dân. Một ưu điểm lớn của người nữ là sự hiền lành, làm việc cẩn thận hơn người nam. Họ hiếm khi nhậu nhẹt, cà phê, karaoke,... nên năng suất làm việc hiệu quả. Nhiều công ty ưu tiên tuyển người nữ hơn cũng vì vậy. Do đó, quan niệm hà khắc với phụ nữ xuất phát từ nguyên do tôn giáo, tập quán, khiến xã hội mất phân nửa lực lượng lao động và cản trở sự tiến bộ chung của cả thế giới.
Sự tàn bạo cũng xuất phát từ những quan niệm sai. Ở một số nước, phạm nhân chịu những hình phạt tàn khốc như thời Trung cổ, vì quan niệm của tôn giáo, tập quán. Chẳng hạn như chặt tay kẻ trộm cắp, ném đá tới chết phụ nữ ngoại tình. Việc hủy hoại thân thể con người dã man như thế vẫn được cho phép. Thời xưa, Trung Hoa còn có hình phạt lăng trì, tức là tội nhân bị đao phủ tùng xẻo từng thớ thịt theo từng tiếng trống.
Người ta có kĩ thuật lóc từng miếng bắp vai, bắp chân... sao cho phạm nhân không chết ngay mà để họ từ từ nếm trải sự thống khổ, đau đớn cùng cực. Trong khi máu tuôn xối xả, họ gào thét giãy giụa đến lúc không chịu nổi nữa thì gục chết. Đối lập với hình ảnh đó là sự bình thản, lạnh lùng đến đáng sợ của người thi hành án. Thế giới văn minh không chấp nhận điều đó. Người tội nặng không xứng đáng để sống nữa sẽ bị khép án tử hình như bắn chết hay tiêm thuốc độc để chết nhanh chóng, hoặc người tội nhẹ hơn thì ngồi tù, chứ không ai được quyền xâm phạm thân thể người khác.
Thứ hai, những điều hiểu biết là đúng
Sự hiểu biết của ta có thể đúng, tuy nhiên không bao giờ đạt đến mức đúng một cách tuyệt đối. Chỉ có những bậc chứng đạo viên mãn mới đạt được cái hiểu đúng một cách tuyệt đối. Ví như sống ở đời, thái độ hiền lành là đúng, nhưng liệu có đúng hoàn toàn? Nếu đúng hoàn toàn thì các chùa đã không thờ ngài Tiêu Diện nhe răng, thè lưỡi với nét mặt dữ tợn và tay cầm thanh đao. Đó là lời nhắc nhở âm thầm mà Chư Phật gửi gắm qua hình tượng Hộ pháp: có lúc ta phải ứng xử cương quyết cứng rắn chứ không phải luôn luôn hiền lành như đất bụi. Tuy nhiên, trên căn bản ta phải hiền lành trước. Quanh năm suốt tháng, mọi người thấy ta nhu mì mềm mỏng rồi đến lúc cần thiết, ta hơi cứng lên thì không ai đánh giá ta hung dữ. Còn người chưa hiền lành mà thích làm mặt ‘ngầu’ với thiên hạ thì chỉ nhận lại sự ghét bỏ. Tóm lại, người chủ trương sống hiền lành là đúng, nhưng chớ vội kết luận là đúng hoàn toàn.
Một quan niệm đúng, dù chưa đúng tột cùng nhưng cũng đủ làm đời ta tốt đẹp và đầy ích lợi cho người chung quanh. Chẳng hạn khi tin hiểu nhân quả nghiệp báo, ta biết giúp đỡ, đem an vui đến cho mọi người và biết cân nhắc đúng sai mà bớt lầm lỗi. Đó mới chỉ là cái biết cạn cợt của ta, còn Chư Phật, Chư Bồ tát hiểu nhân quả tinh vi trong từng hạt bụi. Mọi hành động nhỏ của các Ngài đều cẩn thận từng chút một. Có những sự việc ta mãi không hiểu nổi mà chỉ khả năng siêu việt của những bậc chứng đạo viên mãn mới tường tận đường đi, sự vận hành của nghiệp trong việc tạo thành quả báo về sau.
Ví dụ, có người thuở nhỏ cứ một năm lại bị đau mắt một tháng, trong khi chung quanh không ai mắc chứng bệnh này. Nguyên nhân được tìm thấy là ở một kiếp xưa, người đó sai gia nhân nấu bếp lò nhưng không biết cách dẫn khói đi mà để khói xông lên mù mịt làm đau mắt những người chung quanh. Thế là đời này, người đó lãnh quả báo đau mắt thường xuyên. Hoặc một người ỷ có quyền cai quản cả ngàn người rồi vì một lần công việc cần thiết, họ bắt ép nhân công làm thêm một buổi trong khi đó là quãng thời gian được nghỉ ngơi. Sự vất vả của một ngàn người trong một buổi đủ khiến kiếp sau họ làm cực khổ trong hai, ba chục năm. Nên khi có quyền, nếu ta sắp xếp công việc sai một chút, làm nhiều người cùng vất vả thêm một chút thì chừng đó cũng đủ mang đến quả báo dai dẳng khó chịu vào đời sau.
Chúng ta tin vào nhân quả nghiệp báo, nên hễ làm việc gì thì phải thấy nhân quả sẽ đi về đâu. Ví dụ như bảo vệ rừng giúp khí hậu ôn hòa, bảo vệ sự sống của hành tinh này. Điều đó đúng hay sai? Rất đúng. Rừng là cái nôi của sự sống. Khí hậu không còn ôn hòa, lụt lội, bão tố hoành hành nhiều hơn, nguyên nhân cũng bởi rừng bị tàn phá nặng nề. Đó là kết luận của các nhà khoa học, đúng nhưng cũng chưa đúng hoàn toàn. Vậy điều gì đúng hơn?
Hiện tượng này không đơn thuần dựa trên yếu tố vật lý mà ta phải kể đến yếu tố siêu nhiên nữa. Vì sao vậy? Rừng cây là nơi trú ngụ của quỷ thần, nhất là những loại cây lâu năm. Khi con người tàn phá rừng, những chúng sinh siêu hình tại đó bị mất chỗ ở nên rất tức giận. Tuy trước mắt họ chưa đủ lực để làm nên chuyện nhưng đến lúc sự giận dữ được sinh ra từ quá nhiều chúng sinh, nó biến thành bão tố. Ông bà ta có câu: “Rồng tạo mưa, rồng tạo gió” cũng vì vậy. Đó không phải chuyện mê tín dị đoan mà là lời gởi gắm, là trí tuệ của người xưa - mưa gió bão bùng luôn âm thầm chứa đựng yếu tố siêu nhiên qua biểu tượng con rồng. Vì vậy, hầu hết những tay lâm tặc không giàu nổi, cuộc đời họ thường khốn khổ bất hạnh. Mặt khác, nếu chúng ta cứ dung túng cho việc chặt phá rừng bừa bãi thì bão tố – cơn thịnh nộ của thế lực siêu nhiên – sẽ chẳng dừng lại, làm ảnh hưởng chung cả trái đất này. Đó là một lời nhắc nhở cho nhân loại, đừng chạy theo lợi nhuận trước mắt mà hãy ý thức bảo vệ rừng.
Hoặc truyền bá đạo đức cũng là một công đức lớn mặc dù ta chưa hiểu hết nhân quả của nó. Sau này, nếu thuần thục thì người truyền bá đạo đức trở thành bậc Thánh phi thường để lại những điều cao cả cho thế gian. Còn nếu ở cõi người, họ là người thiện lương được người đời thương mến, thường gặp nhiều may mắn và sống sung sướng. Vì sao vậy? Ở cõi người, họ gặt được điều mình đã gieo trồng. Ví dụ ở kiếp trước, họ dạy đạo đức cho ông A, sau đó ông A dạy lại cho bà B, bà B đem truyền cho cô C, cô C làm bao nhiêu việc phước thiện rồi dạy cho cậu bé D. Đến khi đầu thai, họ gặp lại cậu bé D thì cậu bé đối xử với họ rất tốt. Như vậy, quả báo đi lòng vòng mà rất chặt chẽ. Nếu nói rằng mọi chuyện là ngẫu nhiên, giữa họ và cậu bé D không liên quan gì là phi lý. Nó vừa là nghiệp báo siêu hình, vừa là đường đi vật lý thực tế ăn khớp cả hai người với nhau.
Như khi ta gặp một người nào đó tử tế với mình, nếu có con mắt nhìn xuyên qua nhiều kiếp luân hồi, ta sẽ thấy người đó liên quan chằng chịt với người mà ta đã đối xử tốt đời trước. Vì thế, chúng ta hãy cố gắng đem đạo đức truyền bá cho đời, chớ sợ khổ cực mà chùn bước. Cuộc sống vốn dĩ vô thường, ‘sống nay chết mai’ – không ai biết được lúc nào mình sẽ bước chân vào cửa tử nên ta phải trân quý từng phút giây của cuộc sống. Mỗi sớm mai thức dậy, chúng ta hãy luôn tự hỏi bản thân: “Ta đã làm được gì ích lợi cho tha nhân?”
Thứ ba, những điều hiểu biết là đúng lẫn sai đưa đến kết quả vừa tốt vừa xấu.
Chúng ta sẽ điểm qua một vài trường hợp như thế.
Trong đạo Hòa Hảo có một câu chuyện rất hay. Thuở còn nghèo khó, bác Hai Như Sanh mưu sinh bằng nghề bán dao mác. Gặp bác, những người bạn đạo trách cứ: “Anh làm nghề này là bất nhơn thất đức! Người ta sẽ cầm dao mà đâm chém, cắt thịt chúng sinh”. Tình cờ một người thầy thuốc đi ngang, bác vớ ngay người này nói rằng: “Ông này tội lớn nhất nè!”. Những người kia ngạc nhiên vì câu nói kỳ cục đó, bác giải thích: “Đức Thầy (Đức Huỳnh Phú Sổ) nói ‘Một trăm mới được ôi thôi mười người’, tức một trăm người chỉ có mười người tốt, còn lại toàn là thứ dữ. Anh hốt thuốc giúp người ta mạnh giỏi, họ làm hung ác cả đời biết bao nhiêu tội lỗi, anh chia với họ cũng đủ chết luôn!”. Nghe xong, không ai còn bắt bẻ bác được nữa.
Dĩ nhiên, trên tổng quát, nghề thầy thuốc là tốt nhưng chúng ta thấy có những người làm thầy thuốc cả đời nhưng không có phước nhiều là vậy. Trong số người được họ cứu chữa thì những kẻ bất lương khá nhiều, nếu chẳng may họ mở phòng thuốc từ thiện ở ngay xóm toàn những tay bặm trợn, hằng ngày bốc thuốc chữa bệnh cho những kẻ đi đâm thuê chém mướn, gieo rắc cái ác cho đời thì tội lỗi cũng chất chồng theo đó. Vậy, việc giúp đỡ không đơn giản là tốt nên chúng ta hãy cân nhắc suy xét thật cẩn thận.
Ví dụ, trong đạo Phật, hình ảnh nhà sư hàng ngày lặng lẽ ôm bát đi khất thực giữa dòng đời lao xao tất bật quả thật rất đẹp. Dĩ nhiên, trước hình ảnh đẹp đó, người Phật tử thường phát tâm cung kính cúng dường. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, phải chăng cứ trông thấy một vị sư đi khất thực thì chúng ta liền cúng dường? Một thời gian báo chí đăng tải nhiều trường hợp những sư giả lợi dụng khất thực để trục lợi. Gần đây, chúng tôi đi trên đường thì thấy hai du khách nước ngoài móc tiền cúng dường cho một nhà sư. Không biết ông kiếm được ở đâu “y áo” tu sĩ, rồi cũng đầu tròn áo vuông, và ông thẳng tay đưa bình bát chờ đón đồng tiền của hai người kia. Thật đau lòng! Chính bởi những hành vi phản cảm như thế đã làm ảnh hưởng uy tín của Tăng già. Mọi người nhìn vào và nghĩ rằng người tu theo đạo Phật là vậy. Gặp những trường hợp đó, nếu Phật tử đồng lòng, quyết tâm không ủng hộ, thậm chí có những biện pháp cứng rắn như báo cáo cho chính quyền xử lý thì mới mong chặn đứng được tệ nạn này.
- Về tình thương con
Thương yêu con cái cũng vậy, có hai mặt tốt xấu đan xen. Có những bậc cha mẹ thương con rồi cứ nuông chiều theo sở thích của chúng, muốn gì cho nấy. Vì sống quá sung sướng, được hưởng thụ nhiều nên chúng cũng đốt sạch phước của mình, đến lúc lớn lên thì cuộc đời nghèo khổ lận đận. Do đó, cha mẹ thương con phải tập cho chúng làm phước, tập cho chúng sống thương người, yêu thích lao động, phụng sự giúp đời. Như vậy, sau này cha mẹ có nhắm mắt xuôi tay, chúng cũng còn phước mà sống. Chính phước mới là chỗ nương tựa vững chắc chứ không phải của cải vật chất tạm bợ. Đấng sinh thành hãy nhớ điều này, bởi hầu hết ai nuôi con cũng dễ mềm lòng cưng chiều. Đó là sai lầm tai hại mà chúng ta không ngờ được.
- Về kỹ thuật
Kỹ thuật là biểu hiện của trí tuệ loài người. Quan điểm đó đúng hay sai? Đúng, vì kỹ thuật là kết tinh về thành tựu nghiên cứu của bao thế hệ, tuy nhiên ở đây có tốt xấu lẫn lộn. Người ta dùng kỹ thuật đó để phục vụ con người nhưng người ta cũng có thể dùng phương tiện đó để hủy diệt tất cả.
Thứ tư, những điều hiểu biết là đúng tuyệt đối
Đây không phải là loại hiểu biết phàm phu mà chỉ có Đức Phật và những bậc Thánh đắc đạo mới thấu triệt. Còn lại, thông thường suy nghĩ của chúng ta vướng vào ba loại: hoặc sai, hoặc đúng, hoặc lẫn giữa đúng và sai.
BA YẾU TỐ ĐỂ CÓ HIỂU BIẾT ĐÚNG HƠN
Tất cả những suy nghĩ đó đều được ta cho là đúng hoàn toàn thì ta rơi vào bệnh cố chấp. Định kiến tồn tại trong tâm như vậy sẽ cản trở trí tuệ xuất hiện. Chúng ta tu tập thì phải có trí tuệ, nhưng khi bị định kiến đóng khuôn lại thì ta không còn hiểu biết nhiều hơn nữa, từ đó làm việc gì cũng không đúng, không viên mãn, tâm cũng thường bất an. Vì vậy, đừng bao giờ đóng khuôn những điều đã biết, những quan niệm, chủ trương của bản thân, và cũng đừng cho rằng điều đó là đúng hoàn toàn, vì sẽ còn điều đúng hơn nữa. Đây là chỗ chúng ta phải thoát ra. Trách nhiệm của chúng ta trong suốt cuộc đời mình là tìm kiếm điều đúng hơn nữa, đúng hơn nữa. Mà muốn những điều đúng hơn hiện bày, chúng ta phải có ba yếu tố sau:
Trí tuệ
Có hai trường hợp xuất hiện trí tuệ. Một là nhờ học mà biết. Nghĩa là chúng ta tinh chuyên đọc kinh sách, nghe băng giảng, từ đó ta biết thêm những điều mới mẻ, những cái đúng hơn nữa. Hai là tự mình biết được. Có những trường hợp rất lạ, do duyên đời xưa nên họ chưa cần học mà tự nhiên thấu suốt vấn đề. Ví dụ trong lĩnh vực toán học, đó là các thần đồng nhỏ tuổi, hoặc trong lĩnh vực đạo pháp, đó là những người nhìn đâu cũng thấy đạo lý.
Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng kẻ ngu thì cứ tưởng mình am tường mọi sự đời, còn người trí tự biết những quan điểm, hiểu biết của mình còn hạn hẹp. Nên Khổng Tử có câu: “Người biết mình ngu là bắt đầu khôn”, đó là bài học muôn thuở cho hậu thế. Hãy luôn nhớ cái biết của mình chưa bao giờ là đủ, nó chỉ như một giọt nước trong biển cả, một chiếc lá giữa rừng xanh. Biết như vậy, trí tuệ mới bắt đầu khai mở. Còn ngày nào ta bắt đầu nghĩ mình khôn ngoan thì cái ngu muội mê mờ đã che phủ trước mắt.
Khiêm hạ
Sau bao nhiêu năm, một người cứ nghĩ mình tài giỏi nhưng chợt một hôm, họ nhận ra cái biết của mình còn kém dở, còn cạn cợt thì vừa ngay đó, tâm khiêm hạ xuất hiện, họ bắt đầu khôn ra và trí tuệ dần hiện bày. Còn người dương dương tự đắc, lúc nào cũng tưởng mình giỏi thì được xếp cùng một loại với kẻ ngu. Nhìn vào thái độ, chúng ta có thể nhận biết được người khôn hay kẻ ngu. Ví dụ như một người học hành giỏi giắn, điều gì cũng biết, trong mắt bạn bè, họ được xem như là
‘từ điển sống’. Dù ngoài thế gian họ có thể vang danh với vốn tri thức sâu rộng nhưng trong đạo Phật, nếu bắt đầu tự mãn, ngạo nghễ thì họ vẫn bị xem là kẻ ngu. Hoặc một người có thể kém hiểu biết, thiếu kiến thức xã hội nhưng nếu tự biết mình đang ngu thì họ đang khôn ngoan dần dần.
Can đảm
Yếu tố thứ ba là can đảm, tức là dám buông bỏ quan niệm sai lầm của mình, vì thông thường chúng ta rất khó phủi sạch điều mình đã chấp nhận. Chẳng hạn trở lại vấn đề thương con, cha mẹ thường hết mực cưng chiều vì đứa trẻ là do mình dứt ruột sinh ra, bao nhiêu tình yêu thương đều dồn hết vào đó. Đáp ứng mọi mong muốn của con - quan niệm này như một thói quen dễ chịu của các đấng sinh thành. Chợt một ngày, họ nghe một vị thầy dạy kiềm chế bản năng yêu thương con vô điều kiện, đừng để bản năng đó lấn át lý trí mà trở thành chiều chuộng quá mức, thương con phải dạy con đúng cách, phải hướng chúng làm điều phước lành, tập cho chúng chịu vất vả mà phụng sự giúp đời. Nghe vậy nhưng thông thường người ta rất khó buông bỏ quan điểm của mình, mà chỉ có những người đủ can đảm, gan dạ mới dám thấy mình sai.
Nhất là trong tôn giáo - nơi đụng chạm đến niềm tin và tình cảm của con người - hiếm ai dám bỏ đường lối tu hành sai lầm trước đây của Thầy Tổ mình. Thậm chí ở những tôn giáo cực đoan, nếu có đem họ ra bắn chết cũng không lung lay được niềm tin mù quáng, họ vẫn tôn sùng, vẫn cho rằng những việc sai trái như giết người hàng loạt là sứ mệnh làm đẹp lòng Thượng Đế. Quan điểm đó đúng hay sai? Chắc chắn là sai, bởi nếu Thượng Đế có linh thiêng toàn năng thì tại sao Thượng Đế không thẳng tay giáng tội những kẻ được cho là hành động sai trái, bất tuân theo ý mình mà phải chờ tín đồ đem bom đánh giết? Những tín đồ không bao giờ chịu thừa nhận mình sai. Dù chúng ta có đem lẽ phải đến thuyết phục, khuyên bảo thì họ cũng không đủ can đảm để buông xuống những quan điểm từ lâu mình luôn tôn thờ.
Hoặc trong đạo Phật, ở một số nơi người tu Thiền tông thì thấy đó là chân lý tối thượng không gì sánh bằng, người tu Tịnh độ tông thì khẳng định niệm Phật vãng sanh là con đường mầu nhiệm nhất trong thời đại này, người tu Mật tông xem câu thần chú là giải thoát hiện đời mà không gì linh thiêng hơn. Chúng ta thấy mỗi người đã chấp dính vào đường lối của mình rồi ai nói gì mặc ai, nếu có người đem ra tranh luận với họ thì chắc chắn nổ ra “chiến tranh”.
Đó là lý do người xưa thường dặn nhau nói chuyện gì thì nói, chớ động chạm đến hai lĩnh vực tôn giáo và chính trị, bởi lẽ chúng gắn với tình cảm của con người rất mạnh.
BỐN CÔNG HẠNH GIÚP PHÁ VỠ THÀNH KIẾN
Người Phật tử đến chùa học đạo, học cái đúng rồi nhưng chỉ mới đúng một phần chứ chưa đúng hoàn toàn. Hãy nhớ dù là cái đúng nhưng nếu bị đóng khuôn thì nó vẫn cản trở trí tuệ ta tìm thấy cái đúng hơn nữa. Ở đây, chúng ta đi tìm trí tuệ vượt ra ngoài khuôn mẫu trước giờ đã giam hãm mình, hay nói cách khác, là thoát ra sự trói buộc của thành kiến. Muốn vậy, chúng ta có những việc phải làm:
Một - Hoài nghi chính mình
Đầu tiên là có một cuộc tổng thanh lọc lại mọi quan điểm, hiểu biết, chủ trương của mình. Hãy hoài nghi lại tất cả, tự nhủ rằng: “Chưa chắc những điều mình biết, những điều mình hiểu là đúng”. Từ bây giờ, mỗi người tinh cần quan niệm như vậy, bắt đầu một cuộc thanh lọc kéo dài vài ba năm để thoát ra mọi thành kiến. Mỗi lời nói với người khác, ta hãy luôn dè dặt cẩn trọng, không chắc mình đã đúng hoàn toàn. Hoặc khi ai đó phê bình ta điều gì, hãy bình tâm suy xét vì không chừng điều đó chính xác, họ quả thật là thầy ta.
Tuân Tử từng có câu: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta”, nên chúng ta biết ơn những người chê mình là vậy. Có thể ta sai và nhận được lời phê bình, nghĩa là họ đúng ở tiêu chuẩn thứ nhất.
Trong cái hoài nghi, chúng ta rất cần thiền định. Vì sao vậy? Thiền định giúp tâm ta rỗng rang sáng tỏ mà không dựa vào cái niệm gì cả nên dễ xuất hiện trí tuệ, dễ hoài nghi hết tư tưởng của mình. Trong cái định, ý nghĩ vừa khởi lên, ta tách ra khỏi nó và biết phán xét chính nó, từ đó không còn cố chấp bám víu hay dựa dẫm vào đâu cả. Nên người tinh tấn hành thiền dễ cởi bỏ sợi dây trói buộc của thành kiến là vậy.
Còn các pháp môn khác, khá nhiều người tu ôm luôn một câu niệm Phật, hay một câu thần chú linh thiêng rồi chấp giữ vào đó. Như pháp môn niệm Phật có cái hay là được phước, lại dễ tu, đỡ vất vả nên thường được các cụ lớn tuổi lựa chọn, nhưng cũng có mặt dở: nếu người tu không khéo thì khó bỏ được thành kiến của mình. Nên có nhiều người già tu niệm Phật mà rơi vào cố chấp là vậy. Ở đây, ta cần sự dung hòa: lúc nào cần niệm Phật thì niệm, lúc nào buông câu niệm Phật thì giữ cho tâm rỗng rang luôn. Như vậy, ta tu niệm Phật mà không bị cố chấp vì trong cái tâm rỗng rang, ta phá được thành kiến của mình. Còn cứ dùng một câu niệm Phật mà che tâm rồi thì ta mãi không thấy những chấp thủ sâu kín.
Vậy nên cái tâm rỗng rang không lệ thuộc vào ý nghĩ, rất hay là nó làm ta phát khởi trí tuệ. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng nó cũng dễ gây hiểu lầm: tâm rỗng rang là để ta không lệ thuộc vào ý nghĩ chứ không phải để rơi vào tiêu cực thụ động.
Có những người cố giữ tâm rỗng rang rồi sống một đời tiêu cực yếm thế, không động tay động chân làm gì giúp người vì sợ động tâm. Đó là lối hiểu sai. Cái định tâm là để phá vỡ thành kiến cũ, mở tung cánh cửa trí tuệ, từ đó giúp hành giả nhìn mọi điều sắc bén hơn từng ngày chứ không phải xa lánh trốn đời. Hiểu sai vấn đề này, ta khiến người đời chê bai đạo Phật và thiền định. Còn hiểu đúng rồi, ta có tâm định nhạy bén nên có thể trở thành thầy người khác trong đời sống, vì mỗi khi được hỏi về vấn đề gì, ta cũng trả lời chuẩn xác, sâu sắc và kỹ lưỡng. Đó là kết quả phát ra từ trí tuệ trong tâm thanh tịnh yên lắng.
Rồi bao nhiêu điều đã được học trước đây, bây giờ ta đừng đóng khuôn nó nữa. Cuộc đời là một sự phát triển không ngừng nên chấp giữ mãi quan niệm cũ là một sai lầm. Trên căn bản, có thể người xưa đã đúng nhưng những chi tiết ngọn ngành của mọi điều luôn cần phải phát triển, mở rộng thêm mãi.
Trong đạo Phật cũng vậy, Đức Phật đã để lại cho chúng ta biết bao giáo lý tuyệt vời nhưng nếu cứ mãi giữ nguyên như vậy thì ta có lỗi với Người.
Vì sao vậy? Nhân sinh càng lúc càng phức tạp nên người tu phải dựa trên cái đúng đó mà phát triển đến từng chi tiết nhỏ, đào sâu đến từng cái căn bản của lời Phật dạy. Nghĩa là đạo Phật phải thực tế, phải ứng dụng được vào thời đại hôm nay để mang lợi lạc đến cho chúng sinh. Còn cứ mãi bám víu từng câu chữ trong kinh điển cổ, không gắn kết được với đời sống hiện đại thì đạo Phật không có lợi gì cho trần thế khổ đau này.
Có những vị giảng sư đã mạnh dạn thổi một luồng gió mới vào Phật Pháp khi bổ sung, sáng tạo, phát triển những lý luận mới, phân tích về những vấn đề muôn màu của nhân sinh để đạo Phật thích nghi với xã hội hiện đại, gần gũi với thực tế cuộc sống, phù hợp với tâm tình của con người trong thời đại ngày nay. Không những không xa rời giáo lý căn bản mà các vị ấy còn đào sâu, tạo nên sự kết nối giữa cái cũ và mới, giúp mọi khúc mắc của cuộc sống được hiển bày rõ ràng và tràn đầy đạo lý.
Dù có nhiều người đã chê trách các vị thuyết giảng không giống với kinh điển cổ nhưng thực sự các vị đã thực hiện được tâm nguyện của Đức Phật: đem giáo lý của Người phát triển mãi để phù hợp với thực tế hôm nay. Còn nếu cứ cứng nhắc giữ nguyên từng câu kinh xưa, không dính mắc gì cả với thời thế thì sẽ khiến chúng sinh nhàm chám, nhất là với giới trí thức trẻ - họ luôn đòi hỏi những điều thiết thực ứng dụng được vào cuộc sống chứ không phải niềm tin dễ dãi.
Nên ở đây chúng ta lúc nào cũng tỉnh táo xét từng quan điểm trong mỗi trường hợp khác nhau.
Quay trở lại vấn đề bố thí, nó đúng nhưng tùy trường hợp mà ta xét xem có nên bố thí hay không. Sự xét nét đó là cần thiết bởi không phải hễ nói đến bố thí thì cứ nhắm mắt vung tiền.
Một trong sáu phương tiện của Lục độ Ba- la-mật là “Bố thí Ba-la-mật”. Tức là bố thí có trí tuệ - trong nội tâm ta hoàn toàn không còn bóng dáng vị kỷ, tham lam và luôn tràn ngập vị tha nhân ái; sự bố thí bảo đảm đem lại lợi ích cho cuộc đời chứ không phải điều tai hại. Ta phải chắc chắn rằng đồng tiền biến thành bát cơm, bao gạo nuôi sống người khác, không phải tạo cơ hội cho họ say sưa trong men rượu rồi đánh đập vợ con, quậy làng phá xóm. Bố thí Ba-la-mật không có nghĩa là cho thoải mái, vô điều kiện. Hiểu sai như vậy thì dẫu có cả núi vàng trong tay cũng không đủ cho ta thực hành bố thí.
Một hệ lụy từ lối bố thí sai lầm này là lực lượng ăn xin trong xã hội ngày càng phát triển. Tôn giáo vô tình trở thành bệ phóng giúp việc ăn xin trở thành cái nghề kiếm tiền béo bở của những kẻ xấu. Có người khoác lên chiếc áo tu sĩ rồi lang thang khắp nơi xin tiền quyên góp cất chùa. Về đến nhà, họ tự hào khoe với vợ con số tiền cả triệu bạc kiếm được trong một ngày từ sự cả tin của người đời. Trong khi đó, một người lao động chân chính quần quật cả ngày chưa chắc kiếm nổi số tiền như vậy. Nên việc bố thí vội vàng không cân nhắc rất dễ trở thành hành động tiếp tay với tội ác.
Đó là lý do chúng ta cần xét nét từng quan điểm, từng trường hợp và sáng tạo một cách hợp lý nhất. Có thể giữa cái mới và cũ có những điểm vô tình trùng lặp nhưng đừng bao giờ rập khuôn theo cái cũ. Bởi một khi rập khuôn, ta liền dính mắc vào thành kiến. Những phát minh lớn của khoa học hay đạo học đều xuất phát từ việc chưa bằng lòng với cái cũ. Người không ngừng nỗ lực nghiên cứu, tìm tòi, phát triển thêm nữa là người sẽ dựng xây nên những điều vĩ đại cho nhân loại.
Tuy nhiên, ở buổi đầu, công đức chưa đủ, thiền định chưa sâu thì ta phải nương với trí tuệ của người đi trước. Người tu phải siêng năng học hỏi đạo lý từ Tăng Ni, từ kinh sách chứ không được chủ quan. Ta được gợi ý cái đúng là gì, dần dần nhờ cái đúng đó ta có công đức, rồi công đức mới phát triển thành trí tuệ. Đừng để bản thân rơi vào trường hợp chê bai cái cũ rồi ai nói gì cũng bỏ ngoài tai.
Chúng ta từng đề cập ở trên rằng mình sống bằng trí tuệ, không bằng thành kiến. Bên cạnh đó, ta phải nương vào trí tuệ của người đi trước. Đây là chỗ còn tồn tại niềm tin vì ta không biết chắc người mình tầm sư học đạo có đi đúng với Chánh pháp hay không. Có khi may mắn gặp đúng bậc minh sư, ta sẽ dần vượt lên, huân tu được giới hạnh, thăng tiến trên con đường tu tập. Nhờ nương náu trí tuệ của người đi trước mà ta khai mở được hạt giống trí tuệ. Nhưng nếu ta lầm đường lạc lối, tin theo những lời dạy sai lầm của người đi trước thì ta bị đóng khuôn theo đó và trí tuệ mãi chôn vùi dưới mảnh đất tâm khô cằn. Đây là chỗ tùy duyên, may rủi là vậy. Do đó, người tu phải rất cẩn thận.
Hãy nhớ, thành kiến có khuynh hướng bảo thủ khép kín lại, còn trí tuệ có khuynh hướng phát triển mở rộng ra. Ta phân biệt ở điểm này.
Nên bây giờ ta xét lại mọi điều đã học: nó là chân lý giúp khai mở trí tuệ hay là khuôn mẫu khiến ta bảo thủ. Lúc nào ta cũng phải biết hoài nghi tất cả những điều mình đã biết vì có thể nó là sai lầm.
Giai đoạn hoài nghi ban đầu, người ngoài nhìn vào thấy ta có vẻ hơi rụt rè thiếu tự tin. Nhưng cứ chấp nhận đi qua ba năm thiếu tự tin như vậy, đến khi mầm trí tuệ nở hoa rồi, ta sẽ phục hồi sự tự tin lại và nó rất vững chắc. Điều ta biết, điều ta nói đều đúng cho mọi người và làm gì cũng chắc chắn mang đến lợi lạc cho tha nhân. Còn khi một người vẫn mang thành kiến, dù có vẻ tự tin nhưng họ lại là con người bướng bỉnh cố chấp. Đây là điều đáng sợ.
Hai - Siêng năng lễ Phật cầu gia bị
Lúc nào ta cũng siêng năng lễ Phật, dâng lên lòng tôn kính thiết tha thì mới có được một phần phước trí tuệ siêu việt của Đức Phật. Đây là điều rất vi diệu, đúng theo sự công bằng của nhân quả: khi chúng ta cung kính một bậc Thánh thì sẽ dần thành tựu được những tính chất vĩ đại của bậc Thánh đó. Trong cuộc sống cũng vậy, khi ta nghiêng mình ngưỡng mộ trước một người tài giỏi thì những tài năng đó dần xuất hiện nơi ta. Còn trước những tấm gương đáng kính mà ta thờ ơ xem thường thì sẽ mãi chôn mình trong thân phận hèn kém. Huống hồ là trước Đức Phật, các vị Bồ tát, A la hán trí tuệ ngất trời, phủ trùm cả pháp giới bao la mà ta biết cung kính cúi đầu đảnh lễ, dĩ nhiên phước báu sẽ đơm hoa kết trái ở vị lai, trí tuệ dần sung mãn tràn đầy.
Ba - Tinh tấn thực hành thiền định
Người tu siêng năng hành thiền, giữ tâm mình rỗng rang sáng tỏ, không để vọng tưởng lôi kéo, mỗi ý nghĩ khởi lên đều thấy rõ và buông bỏ nó.
Bốn - Năng nổ giúp đời
Siêng năng làm lợi cho tha nhân, ta có phước vị tha nên dĩ nhiên trí tuệ kề cận. Hãy nhớ từ bi là nhân, trí tuệ là quả.
CHÂN LÝ CHỈ LÀ MỘT
Khi dần có bốn công hạnh đó, ta không còn bị gò bó trong thành kiến mà sống bằng trí tuệ tự tại linh hoạt. Mọi việc xảy đến, ta nhận định sâu sắc dù trước đó một giây ta không hề biết gì cả. Nghĩa là ngay khi người vừa hỏi, ta nhìn thấu suốt mọi ngọn ngành vấn đề mà không cần dựa vào những hiểu biết cũ. Đó là trí tuệ tức thời, không lệ thuộc vào thành kiến. Còn người dựa vào thành kiến thì cái nhìn của họ rất chậm.
Ví dụ như quan niệm cho rằng người nữ thua kém người nam. Điều này đúng không? Chắc chắn không. Người nói câu đó không chừng đã nhìn qua lăng kính hạn hẹp riêng của bản thân mình. Nên ta phải xét trên mọi khía cạnh để xem quan điểm đó đúng hay sai. Về sức khỏe, đa phần người nữ yếu hơn nam. Nhưng về tài năng, điều đó chưa hẳn đúng. Chẳng hạn các đầu bếp danh tiếng thế giới đa phần là nam, tuy nhiên cũng không hiếm những người nữ xuất sắc. Có những năm thi tuyển sinh đại học ở nước ta thủ khoa toàn là nữ.
Nam nữ sai biệt nhìn trên thực tế xã hội là vậy. Nhưng dưới nhãn quan của đạo Phật, nam nữ có thể đầu thai chuyển kiếp qua lại. Một người đời này mang thân nam nhưng không chừng kiếp sau lại là nữ; hoặc một người đời trước làm nữ nhưng kiếp sau đầu thai làm người nam. Nên những người rơi vào các trường hợp đó thường mang một số tính chất của giới kia. Đó là lý do vì sao có những người nam phảng phất một số tính chất của người nữ như thích trang điểm, nấu nướng, khéo cắm hoa..., lại có những người nữ làm gì cũng mạnh dạn, ăn nói cộc cằn. Trong sinh tử luân hồi, nam nữ chuyển đổi qua lại không cố định nên việc kết luận người nữ thua kém nam là phiến diện.
Người có trí tuệ sắc bén không lệ thuộc vào thành kiến của mình, không lướt nhìn một sự việc rồi vội vàng kết luận ngay. Họ biết còn nhiều phương diện khác nữa, không đơn giản giống như mắt thấy tai nghe.
Chẳng hạn khi bước vào một ngôi chùa, thấy một vị thầy trừng mắt rầy đệ tử, người bị che lấp bởi thành kiến thì vội vã kết luận vị thầy này dữ. Còn người có trí tuệ thì nhìn việc đó ở nhiều khía cạnh: có thể lúc đó người đệ tử phạm lỗi, vị thầy quát nạt nhưng những lúc khác lại sống vị tha, hay giúp người, vì quá nhiệt tình nên đã có vài lần đâm ra nóng tính. Do đó, trước mọi vấn đề của cuộc sống, ta phải suy luận ở nhiều khía cạnh để không bị thành kiến là vậy. Hãy nhớ nếu mắt thấy, tai nghe, tâm suy nghĩ được điều gì thì ta không được chấp dính vào đó.
Ranh giới phân biệt giữa người có thành kiến hay trí tuệ là ở cách bảo vệ quan điểm của họ. Kẻ vương mang thành kiến thì bảo vệ quan điểm một cách hung dữ. Như khi họ khẳng định: “Trái đất hình vuông”, mà hễ ai phản bác thì họ dùng bạo lực đáp trả ngay; hay như một số tôn giáo cực đoan bảo vệ những giáo lý sai lệch bằng gươm đao, súng đạn. Còn những người có trí tuệ biết mình đúng, dù họ rất cứng rắn cương quyết nhưng cách bảo vệ quan điểm vẫn hiền lành điềm đạm. Như họ biết trái đất hình tròn, họ giữ vững lập trường đó một cách hiền lành chứ không sẵn sàng dùng nắm đấm với những ai trái ý. Đó là thước đo phân biệt.
Cuối cùng, chân lý chỉ là một. Có thể ta là người miền Bắc đến, người miền Tây lên hay người ở Huế vào, thậm chí là người ở châu Âu xa xôi, ở mọi miền trên thế giới đổ về nhưng nếu tất cả cùng bỏ xuống mọi thành kiến trong tâm, cùng đạt được thiền định rỗng rang thì sẽ gặp nhau tại một điểm. Nghĩa là đối trước mọi vấn đề, tất cả sẽ thấy một điều giống hệt nhau, xử sự không sai khác vì đã cởi bỏ sợi dây trói buộc của thành kiến. Ví dụ, cả mười người cùng trông thấy bàn tay chìa ra của một người ăn xin, sẽ không có chuyện người cho, kẻ không. Ở đây họ cùng quyết định giống nhau vì cùng hiểu nhau tại một điểm. Đây là kẻ núp bóng nghèo khổ để trục lợi, nếu dễ dãi bố thí thì sẽ dung dưỡng thành một cái nghề ăn xin, làm xã hội thêm phần phiền toái, phức tạp. Nên họ đồng lòng làm ngơ trước những kẻ đội lốt khố rách áo ôm đó. Hoặc khi gặp một người phỉ báng Phật Pháp, họ cùng có một cách giải quyết cứng rắn hoặc ôn hòa bởi tìm thấy được một chân lý chung.
Chúng ta ước mong mai sau nhân loại sẽ cùng buông bỏ mọi thành kiến, biết hoài nghi hết những chủ trương, quan điểm, hiểu biết mà bấy lâu nay mình đã chấp nhận; bên cạnh đó, biết siêng tu thiền định, tin yêu luật Nhân Quả, huân tập từ tâm, nương vào trí tuệ Chư Phật... Lúc đó, thế giới sẽ tìm thấy một chân lý chung, con người cùng chung sống chan hòa trong tình thương yêu đại đồng, trong niềm hạnh phúc vô bờ bến.


