ĐỊNH NGHĨA
Nếu nói theo chữ thì Lương là lành, là tốt; Tâm là tấm lòng. Lương tâm là lòng tốt. Lương tâm là yếu tố nội tâm tạo cho mỗi người khả năng tự đánh giá và tự điều chỉnh mọi hành vi của mình về mặt đạo đức. Nói cách khác, lương tâm là một loại trí tuệ tự biết đúng sai, thiện ác nơi chính mình.
Có những người thấy lỗi của người khác nhưng không tự thấy được lỗi của mình. Đó là người chưa có lương tâm. Ở đây, chúng ta nói về người có lương tâm là tự đánh giá chính mình (không đặt vấn đề phán xét người khác).
Người ta thường nói đến “tòa án lương tâm”. Vậy tòa án lương tâm là gì? Ví dụ: “Anh cứ làm ác, cứ hại người thì tòa án lương tâm sẽ phán xử anh”. Không biết nơi anh ta có “tòa án lương tâm” hay “tòa án lương tâm” của anh ta đã bị mua chuộc? Tuy nhiên, người ta vẫn mơ hồ nhận thấy rằng trong mỗi con người có trí tuệ gì đó để tự phán xét mình, đó gọi là người có lương tâm.
Mỗi người trong chúng ta là một nét chấm phá của xã hội, của đời sống, của thế giới. Nếu nét chấm phá đó màu đen thì chúng ta đã góp phần làm cho cuộc đời này có màu sắc u ám. Một điều rất đau lòng là người xấu nhiều hơn người tốt, cái ác thường nhiều hơn cái thiện. Từ khi con người có mặt trên cõi đời này, cuộc tranh giành giữa điều xấu và điều tốt; giữa điều thiện và điều ác là cuộc đấu tranh dai dẳng. Nhiều người cũng đã cố gắng giành cái thiện, kéo con người ra khỏi cái ác để đưa về với điều thiện. Nhưng từ ngàn xưa cho đến nay, giữa cái thiện và cái ác vẫn còn là một cuộc đấu tranh kéo dài, không dứt khoát. Chưa khi nào chúng ta hy vọng cái thiện sẽ toàn thắng trên thế giới này, bởi không ít lần ta đã chứng kiến cái ác chực chờ để giành phần thắng. Nếu một ngày nào đó, cái xấu, cái ác hoàn toàn thắng thì trái đất này sẽ tan hoang, nổ tung. Đó là quả báo!
Nói trái đất này nổ tung khi cái ác chiếm lĩnh, khi loài người hoàn toàn xấu là chúng ta không nói đùa. Sở dĩ trái đất không bị nổ tung, không bị tận thế vì còn có những người thiện, những người có lương tâm sống rải rác trong loài người. Những người đó đã cho thế giới này một hy vọng, một sự kiềm chế để không đi tới tận thế. Ví dụ, chúng ta khoan vội tin khi nghe một tôn giáo nào đó nói sắp tận thế. Nếu thấy trong cuộc đời này còn có nhiều người tốt, sống có lý tưởng cao đẹp thì chúng ta biết chưa tận thế. Ngược lại, nếu chúng ta thấy cuộc đời này đầy những người xấu, vũ trường mọc lên như nấm, thuốc “lắc” khắp nơi, karaoke ôm khắp chốn... thì biết rằng trái đất sắp tận thế. (Cũng như loài khủng long đã có mặt trên trái đất này cách đây khoảng sáu mươi lăm triệu năm đã bị tuyệt chủng. Bởi vì không có khủng long thiện, đa phần khủng long ăn thịt đồng loại, hoành hành, khống chế làm chủ trái đất và tàn phá môi trường trái đất, gây nhiều biến động liên tục. Và tận thế xảy ra, khủng long cùng các loài khác đã tuyệt chủng. Nhiều người trong chúng ta có thể vào thời xưa cũng từng đầu thai vào loài khủng long. Ngày hôm nay trở lại làm người, chúng ta may mắn có trí tuệ hơn, có cái nhìn sâu hơn vào vấn đề thiện và ác, phước và tội. Chúng ta có bộ não, có tâm hồn, có tinh thần để tiến sâu vào trong thế giới của đạo lý, của triết học. Nhờ đó mà trái đất còn được tồn tại. Còn khủng long không được như thế. Vì chỉ biết ăn, hủy hoại và tàn sát nên cuối cùng chúng phải bị xóa đi để nhường chỗ cho một giống loài mới. Và loài người đã xuất hiện trong một niềm hi vọng như thế).
May mà thế giới này vẫn còn có những con người thiện, có lương tâm, có lý tưởng cao đẹp về cuộc sống của loài người!
Khi hiểu chưa sâu về chữ lương tâm, chúng ta thấy đó chỉ là một ý niệm trừu tượng, mơ hồ nên không nhiệt tình áp dụng vào cuộc sống. Nhưng một khi đã hiểu rõ về lương tâm, chúng ta cần phải gìn giữ, duy trì và phát triển lương tâm như vun bồi mọi điều tốt đẹp cho cuộc sống chung quanh mình, để cho cuộc sống vốn đầy đau khổ, tội lỗi này được đẹp lên dần dần. Như vậy, lương tâm mới có giá trị.
MỨC ĐỘ CỦA LƯƠNG TÂM
Có thể chia ba mức độ của lương tâm:
Thứ nhất, khi làm điều sai quấy mà chúng ta cảm thấy bất an và hối hận là dấu hiệu có lương tâm.
Ví dụ, hồi còn trẻ, có lần chúng ta thấy tiền để hở nên rút vài tờ tiêu xài chơi cho vui nhưng cũng thấy lòng không yên vì biết làm như vậy là có lỗi. Hoặc chúng ta là viên chức Nhà nước có người nhờ mình ký tờ đơn. Chúng ta ký đơn để giúp họ làm lợi và nhận một số tiền nhỏ vì nghĩ rằng việc làm này không ảnh hưởng gì nhiều mà lại có chút tiền để nuôi con ăn học. Nhưng thỉnh thoảng nhớ lại chuyện này, chúng ta vẫn ray rứt, không yên tâm. Hoặc có lần nào đó nặng tay đánh đứa em ngỗ nghịch chúng ta cảm thấy hối hận. Hoặc chúng ta xót xa trước nỗi khổ, sự đau đớn của người khác và muốn cứu giúp họ (tức là có tâm Bi, là dấu hiệu của đạo đức)... Những điều đó là dấu hiệu có lương tâm. Trong đạo Phật gọi những người này là người có thiện căn. Thiện căn nằm sâu trong tâm làm cho chúng ta nhận ra thiện ác, dù mình chưa hiểu nhân quả, chưa được ai dạy về nhân quả. Chư Phật luôn luôn gia hộ những người như vậy. Khi chúng ta ra đường đi tới chỗ này nơi nọ thấy ai cũng như ai, nhưng chư Thiên, chư Bồ tát biết rõ ai là người có thiện căn thì tạo duyên đưa họ về với Phật Pháp, với đạo lý để phát triển thiện căn đó. Còn những người làm điều tội lỗi mà họ không hề có chút gì ray rứt, hối hận... hạng người này không được chư Thiên nghĩ tới, và khi chết chắc chắn về nơi đọa xứ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh).
Thứ hai, có những người làm điều sai nhưng họ đưa ra những lý luận để bênh vực cái sai của họ.
Ví dụ, những người thích sống hưởng thụ, họ lý luận ai rồi cũng sẽ chết nên còn sống ngày nào là hưởng thụ ngày đó: ăn chơi, nhậu nhẹt, chích ma túy... Hoặc người cướp của, người ăn cắp, ăn trộm lý luận rằng: có kẻ giàu, người nghèo là do ông trời không công bằng nên người giàu phải chia bớt của cải, tiền bạc cho người nghèo. Tức là họ đưa ra lý luận trái với lẽ phải và dựa vào đó để sống, để hành xử (làm điều sai trái) mà không thấy tội lỗi, không thấy “cắn rứt lương tâm”.
Còn chúng ta có cả một hệ thống giáo lý đạo Phật làm chủ thuyết. Chúng ta dựa vào đó để sống, nghĩa là khi làm điều gì chúng ta cũng dè dặt, cân nhắc để tránh sai lầm. Nếu không may chúng ta đón nhận một lý thuyết sai thì cả cuộc đời mình đi tới chỗ sai lầm. Còn nếu may mắn nhận được lý thuyết tốt đẹp dẫn dắt thì cuộc đời chúng ta dần dần đi lên. Lý thuyết giúp cho con người một quan niệm sống. Đây là điều quan trọng.
Bước đầu trong Bát Chánh Đạo là Chánh Kiến (lý thuyết để sống, để tu). Chánh Kiến không dễ gì có được, nhiều khi do may mắn, hoặc do thiện duyên từ đời trước, vì chân lý không đóng cửa với chúng ta nhưng đôi khi chúng ta quay lưng với chân lý, với lẽ phải. Ngay cả trong đạo Phật, không phải ai theo đạo Phật cũng đều là người có đầy đủ Chánh Kiến. Có những người theo đạo Phật, thậm chí có những người xuất gia vẫn hiểu rất sai về việc tu hành, về cuộc sống, chứ không phải luôn luôn họ đúng, hoặc vì đạo Phật sai. Cũng do nhân duyên gì ở kiếp trước khiến cho ngày hôm nay chúng ta gặp được Chánh Pháp, gặp được con đường chân chính để đi tới, dần dần tâm hồn mình được an vui, thánh thiện. Đây là một may mắn, một bí mật gì ở kiếp trước mà chúng ta không giải thích được, chứ không ai tài giỏi hơn ai.
Thứ ba, có những người biết sai mà không cưỡng lại được khuynh hướng tội lỗi.
Ví dụ, những người nghiện ma túy, họ biết sai mà không thoát ra nổi. Họ chỉ nghĩ làm thế nào, và làm bất cứ chuyện gì miễn là có tiền để mua thuốc; ngoài ra, họ không còn biết nghĩ đến điều gì thanh cao hơn. Họ không nghĩ đến ngày mai, không cần biết tội phước, không quan tâm đến nỗi khổ của cha mẹ, anh em hay của vợ con, bạn bè. Đây là điều đáng thương. Tuy nhiên, những người này thiện căn vẫn còn trong tâm, nên có thể đến một lúc nào đó, gặp sự đắng cay cùng cực họ mới tìm cách để hy vọng thoát ra được.
Hoặc những lỗi quá thô chúng ta dễ dàng thấy được, còn lỗi vi tế thì khó thấy. Có thể trong lúc nóng giận chúng ta chửi mắng người hàng xóm rồi sau đó hối hận vì đây là lỗi thô dễ thấy. Nhưng có trường hợp chúng ta nói móc, nói mỉa ai đó một câu nhẹ nhàng mà không thấy đó là có lỗi. Ví dụ, chúng ta nói với người bạn (người này có tính nể vợ): “Anh đóng xong cái bàn thờ để thờ chị chưa”. Người bạn buồn mà chúng ta không biết. Đây là lỗi vi tế khó thấy.
Người có trí tuệ thấp hay lương tâm ít chỉ thấy được những lỗi lầm lớn, còn những lỗi lầm rất vi tế thì không đủ sức thấy. Đó là chúng ta hiểu về lương tâm trong đời thường. Còn những người có trí tuệ cao, lỗi lầm dù rất nhỏ họ cũng thấy; chưa khởi lỗi lầm mà họ đã thấy lỗi lầm từ trong tâm. Đó là những người tu gần tới bậc Thánh... tuy lỗi chìm sâu thẳm trong tâm thức, chưa khởi ra nhưng họ luôn luôn biết mình còn có lỗi, dù đang không khởi gì cả... Trong đạo Phật có một chữ bao hàm cả chữ lương tâm là chữ trí tuệ (chữ tuệ trong đạo Phật có hàm ý về lương tâm). Chữ tuệ trong đạo Phật có nhiều loại: trí tuệ thuộc loại thần đồng; trí tuệ hiểu về Kinh điển, về đạo lý. Nhưng cốt lõi nhất, căn bản nhất trong đạo Phật là trí tuệ biết được lỗi của chính mình.
LƯƠNG TÂM CÓ TỪ ĐÂU?
Tu theo đạo Phật, trước hết ta phải hiểu chấp ngã là gì? Chấp là nắm giữ, ngã là Ta, nghĩa là mỗi người thấy ở mình có một cái Ta quan trọng, thấy cái Ta nơi mình khác với mọi người và coi trọng cái Ta đó.
Chữ chấp ngã nói nghe nhẹ nhàng nhưng rất nặng nề. Chiến tranh, dông bão cuộc đời cũng từ chấp ngã mà ra. Khi thấy cái Ta của mình quan trọng, chúng ta tranh nhau hơn thua, tham lam vơ vét, ích kỷ, hận thù, oán đối... Cũng từ chấp ngã này tạo thành bản năng của con người. Cái bản năng đó lôi cuốn chúng ta đi tìm điều vui sướng cho bản thân mình, tạo thành ích kỷ, muốn được hưởng thụ. Chấp ngã luôn luôn muốn đẩy chúng ta đi vào tội lỗi. Ngược lại, lương tâm cho chúng ta thấy được lỗi của mình; trí tuệ lương tâm kéo chúng ta ra khỏi tội lỗi.
Cho nên, có thể nói trong mỗi chúng ta là một “chiến trường” khốc liệt, là sự đấu tranh giữa bản ngã và lương tâm. Trong khi bản ngã, bản năng đẩy chúng ta vào bóng tối thì có một trí tuệ lương tâm kéo chúng ta về phía ánh sáng. Không ai dám tự hào rằng mình đã thoát ra khỏi bóng đen của bản năng, bản ngã. Có người bước ra được phần ít, có người bước ra được phần nhiều; chứ chưa ai dám chắc rằng mình đã thoát ra khỏi bóng đen bản ngã hoàn toàn.
Tuy nhiên, khi lắng nghe Pháp, biết đọc Pháp là chúng ta có trí tuệ, có lương tâm, có thiện căn, ít nhất cũng đã có ánh sáng le lói chiếu vào tâm hồn dù cũng còn có những góc kín, góc khuất nào đó trong tâm có bóng tối ngự trị. Trong tâm có sáng, có tối. Ánh sáng là lương tâm giữ chúng ta tránh điều ác, làm điều thiện. Nhưng bóng tối là bản ngã đưa chúng ta vào vòng tội lỗi. Bản ngã nằm sâu trong tâm hồn, làm cho chúng ta luôn luôn hơn thua, ganh ghét, đố kỵ, tham lam... Nếu không có lương tâm xuất hiện để phản kháng, để cưỡng lại những điều đó thì lầm lỗi sẽ xảy ra.
Như vậy, lương tâm có từ đâu?
Có lương tâm là do sự giáo dục của cộng đồng
Nói về thời xa xưa, có những bộ tộc phải giết người để tế thần. Theo tục lệ, mỗi năm họ phải giết một người để tế thần thì thần mới cho bộ tộc săn bắn nhiều thú, trồng lúa được nhiều hạt... Ai ai trong bộ tộc cũng nói như thế nên những đứa trẻ của bộ tộc lớn lên không thấy đó là điều tội lỗi. Đó là do môi trường xấu, do tập quán xấu che lương tâm. Một đứa trẻ sống trong môi trường khác, không ai dạy nó giết người để tế thần là điều đúng, để được lợi lộc, thì khi đứa trẻ lớn lên, có thể nó giết người hay săn bắn thú hoang... nhưng khi nhìn con người hay con thú bị giết oằn oại đau đớn trên vũng máu, có khi lòng nó cũng se thắt lại, cũng chạnh lòng. Đó là dấu hiệu có lương tâm.
Lương tâm là yếu tố tự nhiên trong nội tâm con người. Nhưng, nếu chúng ta ở trong môi trường xấu, hoặc được “dạy dỗ” (giáo dục) sai lầm thì lương tâm sẽ bị che khuất. Ví dụ, trong bộ tộc, một người được chỉ định phải chịu chết để tế thần, bản thân người này sợ hãi mà gia đình cũng xót xa khi chứng kiến cảnh người thân khóc lóc, giãy giụa lúc chết; trong khi bao nhiêu người trong làng vui mừng thoát chết, còn cho việc đó (giết người để tế thần) là lẽ phải, là chân lý vì lương tâm họ đã bị che khuất.
Vì thế, trong một xã hội đông người như ngày nay mà việc giáo dục cạn cợt về đạo đức thì lương tâm con người không phát triển, khiến cho xã hội rối loạn. Do đó, chúng ta cần chú ý tới việc giáo dục đạo đức, dạy dỗ điều phải trái, đúng sai cho trẻ từ lúc nhỏ để lương tâm chúng sáng lên. Có thể có lúc nào đó chúng làm điều tội lỗi, sai trái nhưng nhờ được sự giáo dục từ nhỏ, chúng biết hối hận, biết ray rứt ăn năn, nghĩa là chúng có lương tâm, thì đến một lúc nào đó chúng sẽ thoát khỏi tội lỗi. Cho nên việc giáo dục đạo đức làm người có lương tâm là quan trọng, là cần thiết.
Có lương tâm là do phước đời trước tôn kính bậc cao cả thánh thiện
Nói điều này là chúng ta nói tới nhân quả. Trong hàng đệ tử của Đức Phật có vị trưởng lão Losakatissa. Vị này suốt đời cho tới chết cũng còn bị đói mà vẫn chứng quả A la hán. Trong kinh Phật nói rõ ràng là: “Như ngọn đèn trong chiếc ghè, điều kiện để thành A la hán cháy đỏ trong tim của nó”, nghĩa là đứa bé thiếu ăn thê thảm (do thiếu phước) nhưng lại có thiện căn, có cái nhân để chứng quả A la hán.
Chúng ta cũng vậy, nếu từ những kiếp xưa, chúng ta có duyên lành là kính ngưỡng một bậc Thánh nào đó. Chúng ta thấy họ sống hiền lành, điềm đạm, yêu thương mọi người, sống một đời biết kiềm chế, không thích hưởng thụ, biết giúp đỡ người khác hay đôi khi họ cũng có những thần thông, phép lạ... Do lòng kính phục và ngưỡng mộ bậc Thánh đó, nên có phẩm vật gì chúng ta cũng đem biếu, đem tặng cho họ. Cho dù tái sinh luân hồi nhiều kiếp, thiện căn do lòng ngưỡng mộ một bậc Thánh vẫn cứ âm ỉ cháy trong tim chúng ta không gì có thể đánh bật nổi. Hoặc khi trôi lăn trong vòng luân hồi sanh tử, có khi chúng ta làm quan cầm quyền hay khi là dân dả, lương tâm chúng ta vẫn phân biệt được phải trái, đúng sai; nếu có gặp điều xấu, có gặp người ác thì chúng ta cũng thoát ra được. Đây là lương tâm có được do phước đời trước.
Lương tâm có sẵn trong sâu thẳm tâm hồn cho chúng ta có trí tuệ biết tội phước, phải trái, đúng sai
Trí tuệ lương tâm này sâu hơn chấp ngã. Nếu chấp ngã quá lớn sẽ che mất lương tâm, chúng ta sống trong tội lỗi. Còn nếu chấp ngã mỏng, nhẹ, thì lương tâm chiếu xuyên qua chấp ngã để soi sáng tâm hồn, soi sáng hành động của chúng ta, và giúp chúng ta tránh điều sai trái, tội lỗi.
Ví dụ, ngọn đèn sáng tượng trưng cho lương tâm của chúng ta. Đứng trước ngọn đèn là một người to lớn che khuất nên ánh sáng không chiếu ra được, hoặc chiếu ra rất ít để nhìn thấy cảnh vật phía trước. Nếu người đứng trước ngọn đèn mảnh mai, ốm yếu sẽ không che hết ánh sáng ngọn đèn thì ánh sáng vẫn tỏa ra nhiều phía. Cấu trúc trong tâm chúng ta cũng như vậy. Nghĩa là bản ngã quá lớn che khuất lương tâm, khiến cho chúng ta chỉ sống trong ích kỷ, tham lam, thù hận, dễ sa vào sai lầm, tội lỗi. Còn nếu bản ngã nhỏ, mỏng nhạt thì lương tâm chiếu xuyên qua soi rọi từng hành vi, lời nói, ý nghĩ của chúng ta, nên khi làm bất cứ điều gì chúng ta cũng biết cân nhắc phải trái, đúng sai.
Trong trường hợp này, lương tâm là cái gì có sẵn, nằm giấu kín hơn, sâu hơn chấp ngã. Cái trí tuệ này phải được chúng ta khai thác bằng cách tu tập mỗi ngày để làm giảm chấp ngã nơi chính mình. Trong cuộc sống, chúng ta luôn tự nhắc nhở rằng thân này là vô thường rồi sẽ chôn vùi vào lòng đất lạnh; tâm này là cái ngã chấp nguy hiểm, tạo thành tham-sân-si phiền não, không thật có cái TA, nó không bền vững mà còn tạo nên lỗi lầm.
Hằng ngày, chúng ta hãy tự nhắc nhở như thế thì bản ngã cũng bớt lại, nhỏ dần. Chúng ta tự kiểm tra cái ngã (của mình) lớn hay nhỏ bằng cách tìm hiểu xem mình sống với bản ngã như thế nào khi tiếp cận với mọi người. Nếu sống với mọi người mà chúng ta cứ đụng chạm hết người này tới người kia, rồi bực bội người khác, và thấy người khác cũng bực bội, khó chịu về mình thì biết cái ngã (của mình) còn lớn. Chúng ta phải quán thân vô thường: cái thân này không có thật, bản ngã này là giả dối. Quán thân vô thường cho đến khi nào ai nói gì thì nói, phải trái gì chúng ta cũng cười xòa, không cho là quan trọng. Cái ngã sẽ nhỏ dần dần, ánh sáng lương tâm phía sau chiếu rọi xuyên qua bản ngã. Từ đó, mọi ý nghĩ, hành vi, lời nói của chúng ta đều có lương tâm soi sáng. Chúng ta biết mình nên hay không nên làm điều gì, nên nghĩ và không nên nghĩ điều gì...
Vì lương tâm nằm tầng sâu hơn bản năng nên người sống theo bản năng là khi ham vui thì chạy đi tìm vui; còn khi nóng giận thì mắng chửi người khác. Người sống theo bản năng lương tâm không sáng tỏ. Người biết kiềm chế bản năng thì lương tâm sáng tỏ ra. Chúng ta phải biết tu mới biết kiềm chế bản năng, mới tránh được việc làm sai trái. Ví dụ, chúng ta biết vượt qua nóng giận để không làm điều sai trái do nóng giận gây ra, hoặc bớt ham thích vui chơi. Nghĩa là chúng ta biết kiềm chế bản năng dù chưa biết lương tâm là gì. Sau nhiều lần kiềm chế bản năng, tâm chúng ta tự nhiên sáng lên, trí tuệ sáng lên. Cũng từ đó, chúng ta nhìn mọi việc phải trái, đúng sai rõ ràng. Đó là lúc trí tuệ lương tâm xuất hiện. Có nhiều người không biết như vậy nên chủ trương cứ đi tìm trí tuệ trước rồi sẽ phá được tham, sân, si. Đó là cách đi tắt, mà đi tắt thì không đảm bảo. Vì điều đúng chỉ xuất hiện khi có sự cực khổ để kiềm chế những điều sai.
Trí tuệ lương tâm phân biệt được phải trái, đúng sai một cách tự nhiên. Ví dụ, khi phải chia phần trong việc làm ăn, thấy người bạn còn khó khăn, chúng ta tự nguyện nhường phần thuận lợi, phần nhiều hơn cho người bạn, chỉ giữ lại phần ít hơn về mình bởi chúng ta biết ích kỷ là xấu xa, vị tha là tốt đẹp. Hoặc chúng ta thấy quý những người biết nhường nhịn điều tốt đẹp thuận lợi cho bạn bè, quý trọng người biết sống vị tha. Hoặc chúng ta cho rằng người chỉ biết hưởng thụ thì không phải là người hay, mà chính người chiến thắng được lạc thú mới là người hay, vì bản năng hưởng thụ là luôn luôn đi tìm lạc thú, tìm những trò vui.
Cho nên, khi nhìn thấy một người khước từ lạc thú trong cuộc đời, chúng ta kính nể họ vì biết họ là người hay, người giỏi. Hoặc ngay chính bản thân chúng ta nếu biết kiềm chế, không đi tìm những niềm vui lạc thú tầm thường ở thế gian này, mà chúng ta chịu khó làm điều lợi ích cho con người thì cũng là tốt đẹp. Tất cả những điều chúng ta nghĩ được và làm được như vậy là do trí tuệ lương tâm sáng lên.
Trí tuệ cao sâu của Vương Thủ Nhân
Chúng ta vừa bàn với nhau: Lương tâm là tầng trí tuệ cao hơn bản ngã, có sẵn để chúng ta biết tội phước, thiện ác.
Ngày xưa, có một triết gia người Trung Hoa tên thật là Vương Thủ Nhân (1472 – 1528), biệt hiệu là Vương Dương Minh. Ông là một nhà nho, cha đậu Trạng Nguyên, lớn lên ông cũng đỗ tiến sĩ. Từ nhỏ, người ta hỏi ông học để làm gì, ông trả lời học để làm Thánh, trong khi bao nhiêu người khác nói học để làm quan. Là một nhà Nho nhưng ông nghiên cứu đạo Lão, đạo Phật, ngồi thiền, luyện võ, bắn cung... cái gì cũng giỏi. Sau cùng, ông nghiên cứu triết học. Ông làm cuộc cách mạng lột xác đạo Nho. Đạo Nho từ thời Khổng Tử, tới Mạnh Tử qua nhiều nhà chú giải nổi tiếng như Chu Hy nhưng đến đời Vương Dương Minh, ông không bằng lòng. Ông nhận thấy rằng cái nền của Khổng Tử đặt ra có nhiều điều hay nhưng chưa đào sâu, chưa phát triển mạnh. Mạnh Tử có phát triển thêm một chút nhưng ông thấy vẫn chưa đủ. Tới Chu Hy bắt đầu hơi lạc. Ông củng cố lại đạo Nho, giải thích lại toàn bộ đạo Nho, làm cho đạo Nho gần với đạo Phật. Ông chủ trương Tâm là Đạo, Đạo là Trời; biết Tâm là biết Trời. Cách nhìn của ông về Tâm rất gần với đạo Phật. Ông chính là niềm hãnh diện của đạo Nho thời đó (đời nhà Minh). Lúc đó, đạo Nho kém thế so với đạo Phật, đạo Phật phát triển hơn. Vì học Nho chỉ để làm quan, có lễ giáo với gia đình vậy thôi, nên tâm linh con người cứ hướng về đạo Phật.
Cuộc đời Vương Dương Minh nhiều nỗi thăng trầm. Ông có công trạng rất lớn với triều đình, đi đến đâu dẹp loạn tới đó, nghĩa là ông đi tới đâu là an dân tới đó. Công trạng của ông bao trùm mọi lĩnh vực như giáo dục, kinh tế, chính trị. Nhưng ông luôn luôn bị đố kỵ, bị gièm pha, bị xua đuổi, bị đi đày. Có lần vua đày ông vào miền nước độc để giáo hóa người Thượng. Chính lần đi đày đó, ông đã ngộ được điều gì trong tâm. Từ đó, ông cải cách đạo Nho khác hẳn, thành đạo thực dụng (tri hành hợp nhất). Ông cũng cảnh tỉnh đạo Phật, vì thời đó đạo Phật cũng chìm trong sự mơ mộng, mơ hồ. Ông xây dựng đạo Nho gần với đạo Phật, nghĩa là đi sâu vào tâm linh nhưng trong cuộc sống rất thực tế. Trong đó, phần lớn ông nói về cái trí lương tri, ngày nay gọi là lương tâm.
Vương Thủ Nhân nói về trí lương tri (lương tâm) theo định nghĩa thứ ba là cái có sẵn mà chúng ta đã bàn. Ông nói không thiện không ác là cái thể thanh tịnh của tâm. Khởi thiện, khởi ác là cái động của ý; ý nghĩ của người thì có thiện, có ác. Vậy biết thiện, biết ác là lương tri. Cái trí lương tri này làm thiện, bỏ ác là cách vật tức là biết tu sửa. Tu tức là phải làm thiện bỏ ác, phải biết thiện biết ác, đó gọi là lương tri. Cái ý của con người khởi, có khi khởi thiện, có khi khởi ác. Khi (khởi) ác còn sâu trong tâm thể bất động như là không thiện không ác thì đó chính là bản thể của tâm. Vương Dương Minh là một nhà Nho mà phân tích cái tâm như vậy, rất là độc đáo.
Ông nói người thường ai cũng có tập nhiễm. Nếu không dạy người ta thực hành các công phu của lương tri (lương tâm) để làm thiện bỏ ác thì chỉ là treo cái không tưởng của bản thể không thực tế, chẳng qua nuôi thành cái hư tịch là cái bệnh rất nặng phải chữa. Ý ông muốn nói: nhiều người đi tìm bản thể của tâm; tâm lặng lẽ bất động, rồi không đặt vấn đề biết thiện biết ác. Mà nếu nói tâm thanh tịnh, trong tâm thanh tịnh đó không có cái trí để biết thiện, biết ác. Người này sẽ rơi vào hư vô, đây là bệnh nặng.
Cái bệnh này, ông phê bình ai? Ông phê bình đạo Phật. Vì vào thời đó, người ta rất mê cái KHÔNG của đạo Phật. Ông nói cái KHÔNG của tâm đó có gì hay nếu nó không biết được thiện ác. Phải có cái trí lương tri biết thiện biết ác thì mới thực tế để chúng ta áp dụng trong cuộc sống, để chúng ta sống tốt đẹp giữa con người với nhau trong cuộc đời này. Ông phân tích điều này rất hay. Chúng ta đồng ý tâm mình thanh tịnh, bất động, lặng lẽ nhưng tâm đó phải có cái trí để biết (trí tri) được đúng sai. Nghĩa là chúng ta sống rất điềm đạm, thanh thản nhưng khi có gì đưa đến là chúng ta biết ngay đúng sai. Vì thế, chúng ta không làm điều gì sai trái. Đó mới là trí tuệ. Vương Dương Minh gọi đó là trí lương tri. Theo ông thì trí lương tri (lương tâm) có sẵn. Để phát triển trí lương tri đó phải do giáo dục, tức là phải có những vị thầy tốt, những gia đình tốt, môi trường xã hội tốt, con người được dạy dỗ kỹ để biết thiện, biết ác mà vượt qua những tập nhiễm, những thói quen xấu.
Lúc đó, ông chưa phân tích về bản ngã nhưng ông lý luận nhiều về trí lương tri này, và chính nó đã tạo nên cả một hệ thống lớn trong nền triết học của ông. Nền triết học đó thổi vào cuộc sống. Những đệ tử của ông thời đó sống rất tốt. Họ năng nổ hoạt động và sống rất thanh thản. Chỉ tiếc là ông bị sự đố kỵ nên ở Trung Hoa thời đó, người ta không ứng dụng nhiều, và triết học đó truyền qua Nhật Bản. Người Nhật áp dụng và họ đã thành công. Qua bốn, năm thế kỷ, người Nhật ảnh hưởng triết học Vương Dương Minh, họ xây dựng một đất nước vừa thực tế, vừa tinh tế mà vừa trầm lắng, để ngày nay Nhật Bản trở thành cường quốc về kỹ thuật trên thế giới.
Vào thời đó, người Nhật rất thích đeo hình Vương Dương Minh. Triết thuyết của ông tràn sang Nhật rất mạnh, còn người Trung Hoa thì không áp dụng. Cho đến thế kỷ XIX, Nhật đánh chiếm Trung Hoa nhờ sức mạnh của một nền triết học. Một nền triết học chân chính đã cho dân tộc Nhật một sức mạnh kỳ lạ: vừa thầm lặng, tinh tế mà vừa mãnh liệt làm cho nước Nhật trở thành cường quốc của thế giới.
Nhìn lại đất nước mình, chúng ta ngày nay cũng cần có một đạo lý giống như vậy. Chúng ta cần một đạo lý để xây dựng tâm hồn mỗi người dân biết thiện biết ác, nghĩa là luôn luôn làm điều thiện bỏ điều ác mà vẫn giữ một đời sống thanh thản, trầm tĩnh, điềm đạm nhưng lại rất năng nổ, rất thực tế. Chúng ta cần một đạo lý để xây dựng sức mạnh của dân tộc và tiến xa hơn là xây dựng sức mạnh của nhân loại, để con người nhiệt tình dấn thân, hy sinh làm lợi cho cuộc sống này. Cái cốt lõi là con người biết làm điều thiện, bỏ điều ác mà vẫn sống một cuộc đời an vui, thanh thản. Đạo lý đó có trong đạo Phật.
LƯƠNG TÂM VÀ THÁNH NHÂN
Nhiều vị Thánh, nhiều vị hiền triết qua nhiều thời đại đóng góp thành một hệ thống đạo đức tiêu chuẩn để lại cho con người ngày nay. Đạo đức và lương tâm không thể tách rời trong mỗi một con người. Bởi vì người có đạo đức là có lương tâm.
Chúng ta nhìn lại lịch sử triết học của nhân loại, thỉnh thoảng quốc gia này có vị hiền triết xuất hiện, quốc gia kia có vị Thánh xuất hiện. Mỗi vị có lý luận về đạo đức mà sau nhiều thế kỷ được con người gạn lọc và công nhận. Cũng có nhiều người xuất hiện trên cuộc đời này, nhưng thế giới chỉ ngợi ca một vài vị như Phật Thích Ca, Chúa Jésus, Khổng Tử, Lão Tử... Đó là những vị Thánh triết được người đời công nhận.
Ở đây, chúng ta thấy có hai điều hay:
Thứ nhất, những vị Thánh xuất hiện đưa ra hệ thống đạo đức.
Thứ hai, người hậu thế chúng ta nhận biết lý luận đạo đức nào hay để tiếp thu. Vì nếu người hậu thế không biết vị nào hay, vị nào dở, cứ thu nhận lý luận sai mà tôn thờ, đi theo thì nhân loại sẽ hỗn loạn.
Các vị Thánh đi trước mở ra những giáo lý và người đi sau biết phán xét điều hay để đi theo. Ví dụ, Chúa Jésus nói: “Ai đánh con má bên này, con hãy đưa má bên kia cho họ đánh”. Đó là một ẩn dụ về lòng nhẫn nhục. Hoặc Lão Tử nói: “Sở dĩ biển đầy nước vì biển thấp hơn nên nước khắp nơi đổ về”. Câu này nói về lòng khiêm hạ: Người đứng ở vị trí thấp tự nhận mình là thấp thì họ sẽ nhận được nhiều tinh hoa tốt đẹp của cuộc đời. Hoặc có vô số những giáo lý cao cả của Đức Phật để lại: từ bi, hỷ xả, vị tha, luật Nhân Quả...
Cũng may mắn cho con người là trên thế giới này có những vị Thánh đã đến với trần gian, để lại cho con người những điều tốt đẹp. Và người đời sau, những người có lương tâm đã gạn lọc, chắt lọc, chọn lọc gom lại thành gia sản tinh thần cho nhân loại, nhất là hệ thống đạo đức tiêu chuẩn. Ví dụ, nói đến lòng nhân ái. Sống trên đời này, người phải nên thương người. Đó là chân lý tuyệt đối, không ai phủ nhận.
Hoặc nói đến lòng vị tha. Từ lòng thương yêu giữa người với người, chúng ta biết hy sinh, biết chấp nhận thiệt thòi để làm lợi ích cho người khác. Chúng ta đem lại điều tốt đẹp, đem lại hạnh phúc cho con người.
Hoặc đạo lý về sự nhẫn nại. Cuộc đời này có nhiều khó khăn, có nhiều nghịch cảnh nhưng chúng ta đừng nông nổi, đừng làm điều sai trái làm cho mọi chuyện xấu thêm. Hãy kiên nhẫn vì lòng kiên nhẫn giúp chúng ta chịu đựng và vượt qua khó khăn, trở ngại. Ví dụ thất vọng quá, khổ quá muốn tự tử cho xong, đó là nông nổi, không kiên nhẫn. Tính kiên nhẫn là đạo lý để chúng ta vượt qua nghịch cảnh.
Hoặc đạo lý về sự tha thứ. Đã có nhiều lần trong cuộc đời mình, người thân làm những điều lầm lỗi khiến chúng ta buồn đau. Nhưng chúng ta luôn luôn chờ đợi sự hồi tâm biết lỗi của họ, và sẵn sàng tha thứ, đối xử tốt lại; chứ chúng ta không muốn phải nghiêm khắc, rầy la, quở trách mãi. Chúng ta gặp nhau chỉ muốn cười với nhau, khen ngợi nhau, quý mến nhau, tôn trọng nhau thôi. Tuy nhiên, nếu gặp một người tham lam ăn cắp, chúng ta vẫn phải nghiêm khắc chỉ cho họ thấy lỗi của họ và vẫn hy vọng họ hồi tâm, từ bỏ tật xấu, để rồi khi gặp nhau nhìn nhau quý mến, cho nhau nụ cười hơn là cứ trách móc. Như vậy, cuộc đời thấy đẹp hơn. Khi người có lỗi biết hồi tâm ăn năn, họ sẽ trở thành người tốt. Chúng ta không nhắc lại chuyện cũ. Đó gọi là đạo lý của sự tha thứ. Tha thứ là một khía cạnh của đạo đức được Thánh nhân để lại nên chúng ta cố gắng áp dụng trong cuộc sống chung với nhau.
Hoặc đạo lý về sự đoàn kết. Đôi khi chúng ta thích sống yên tĩnh một mình. Sống cô độc cũng là niềm vui thú. Ví dụ, có những người sống một mình trong căn nhà hay người tu cũng thích sống một mình trong hang động, nhưng không phải là ích kỷ. Họ vẫn sẵn sàng đi vào đám đông, hòa đồng với tập thể làm nhiều điều lợi ích cho cộng đồng. Họ vẫn chan hòa với mọi người nhưng vẫn có những ngày giờ sống cô độc để được yên tĩnh tâm hồn. Điều quan trọng là đoàn kết chứ không phải sống một mình rồi quay lưng với mọi người. Những điều tốt đẹp lớn lao chỉ có thể thực hiện được bởi sự đoàn kết, góp sức của nhiều người. Cho nên, chúng ta dù thích sống yên tĩnh một mình mà vẫn phải có cái tâm đoàn kết.
Chúng ta vừa nói đến lòng nhân ái, vị tha, tính nhẫn nại, sự tha thứ, sự đoàn kết... là những đức tính, những khía cạnh của đạo đức. Đạo đức là thái độ, là tâm niệm đối với người khác chứ không phải đối với chính mình. Chúng ta nghĩ tốt về người khác, đối xử tốt với người khác, có thái độ đúng đắn với người khác mới gọi là có đạo đức; còn với chính mình thì không gọi là đạo đức. Ví dụ, tôi ăn mặc không cầu kỳ, càng đơn giản càng tốt. Đó là quan điểm cá nhân về sự ăn mặc chứ không nói lên đạo đức. Còn trường hợp như tôi ra đường gặp người ăn mặc rách rưới, tôi sẵn sàng cho họ cái quần dài (tôi mặc quần đùi về nhà cũng được, tôi chấp nhận hơi mất lịch sự một chút để người khác có được hạnh phúc), hành vi đó biểu hiện đạo đức. Hoặc ví dụ một người sống trong làng xóm, quanh năm suốt tháng không bao giờ làm mích lòng ai thì chưa gọi là người sống có đạo đức. Chúng ta chưa biết quan niệm sống của người này ra sao. Khi nào chúng ta thấy người này đối xử tốt đẹp với mọi người trong xóm làng thì mới gọi là người có đạo đức. Như vậy, những điều đạo đức Thánh nhân truyền lại cho chúng ta, quan trọng là thái độ đối xử tốt của chúng ta với con người (chứ không phải là cách sống của riêng mình, dù cách sống đó có vẻ khắc khổ hay khổ hạnh cũng không gọi là đạo đức).
Mỗi tôn giáo, mỗi giáo phái đào sâu thêm đạo đức có khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta phải đón nhận tiêu chuẩn chung về đạo đức Thánh nhân đã để lại, giúp chúng ta khơi mở lương tâm nơi chính mình.
Một trong ba yếu tố để có lương tâm như chúng ta đã bàn, giáo dục là yếu tố phải lưu ý. Cần giáo dục đạo đức cho thế hệ con cháu của chúng ta. Vì nếu chúng không được giáo dục kỹ về đạo đức thì lương tâm không sáng tỏ và xã hội sẽ bị suy đồi. Cho nên, trách nhiệm giáo dục đạo đức là trách nhiệm rất nặng nề của thế hệ trước đối với thế hệ sau. Có thể chúng ta là những người có đạo đức (nếu không có đạo đức, không có thiện căn, chúng ta đã không đến chùa để nghe Pháp hay đọc Kinh sách), hãy nghĩ về con cháu mình. Chúng ta biết đạo lý để sống, xin hãy dạy cho con cháu đạo lý để chúng biết sống đạo đức, có lương tâm. Chúng ta may mắn có lương tâm được thắp sáng bởi Phật Pháp thì phải truyền ngọn lửa lại cho thế hệ sau, đừng để ngọn lửa ấy bị tắt, bị mai một.
Có một bài học kinh nghiệm mà chúng ta cần phải chú ý. Người Á Đông ngày xưa thường giấu nghề, giữ lại những cái hay cho riêng mình hay gia đình mình, không truyền bá. Ví dụ, có những môn võ bí truyền từ từ mai một. Hoặc người Trung Hoa đã chế ra dụng cụ đo động đất rất chính xác, nhưng người làm ra máy đó không truyền nghề rồi chết đột ngột nên sau này không còn ai chế tạo được nữa. Ngày nay, chúng ta lấy đó làm kinh nghiệm: Không để những điều tốt đẹp tắt mất mà nên tranh thủ truyền bá cho người sau. Ngoài việc tu sửa bản thân, chúng ta phải ráng dạy một điều hay gì đó cho người khác trong mỗi ngày vì cái chết không biết đến với chúng ta lúc nào. Đừng để chết rồi mà vẫn chưa truyền lại được một điều đạo đức, khai mở lương tâm cho người khác, chúng ta sẽ mắc nợ tiền nhân. Chúng ta trả nợ tiền nhân bằng cách dạy dỗ kẻ hậu sinh. Việc giáo dục, dạy dỗ người khác có đạo đức, có lương tâm là một sứ mệnh thiêng liêng của mỗi người chúng ta.
HIỂU VÀ TIN LUẬT NHÂN QUẢ LÀ DẤU HIỆU CÓ LƯƠNG TÂM
Khi chúng ta hiểu và tin luật Nhân Quả là dấu hiệu có lương tâm. Luật Nhân Quả rất công bằng đặt trên tương quan giữa người với người, giữa người và chúng sinh, chi phối khắp cả vũ trụ. Khi tạo niềm vui cho người khác, chúng ta nhận được niềm vui và hạnh phúc. Khi làm cho người khác đau khổ, chúng ta phải chịu đựng đau khổ... Luật Nhân Quả chi phối khắp vũ trụ không chừa một kẽ hở nào. Nếu chúng ta làm điều ác rồi trốn dưới hầm sâu, ở đó, đau khổ cũng tìm đến buộc chúng ta trả quả báo. Hoặc chúng ta giúp ai rồi trốn ra hoang đảo để tránh việc người đó trả ơn thì quả báo cũng tới. Ví dụ, chúng ta thường đi cứu trợ, giúp đỡ người khốn khó với cả tấm lòng trong năm, mười năm. Sau đó, chúng ta không muốn quả báo tới, ra hoang đảo cất chòi ở để sẽ không gặp ai đối xử tốt với mình (muốn thử thí nghiệm luật Nhân Quả). Cũng không được. Tự nhiên đến một lúc nào đó, có chiếc tàu chở nhiều người bị hư máy, lạc vô đảo và trên tàu đủ món ngon vật lạ. Gặp chúng ta ở đảo, họ tôn sùng làm chúa đảo và họ tự nguyện làm thần dân. Hoặc ai đó làm phước ở hành tinh này, rồi dùng phi thuyền bay qua hành tinh khác, sống ở đó để không người nào trả quả báo (đền ơn), cũng không xong. Vì dù có ở hành tinh mới, ở đó, cũng xuất hiện những sinh vật tôn sùng người đã từng làm phước.
Như vậy, luật Nhân Quả chi phối khắp cả vũ trụ. Đây là luật tự nhiên của vũ trụ. Vũ trụ thật lạ! Chúng ta nhìn thì thấy nó là vật chất: cát, đá, nước, tinh vân, thiên hà... là những hình thức muôn màu muôn vẻ. Nhưng ngoài những hình thức vật chất còn có Bản Thể thoát ra ngoài vật chất, một Bản Thể kỳ lạ có luật Nhân Quả ở trong chi phối khắp cả vũ trụ nên không có điều gì bất công vì tất cả được chi phối bởi luật nhân quả công bằng. Chúng ta làm điều tốt chắc chắn sẽ có quả báo tốt; chúng ta làm điều xấu thì chạy trốn đâu cho thoát. Bản Thể chi phối cùng khắp vũ trụ mà thoát ra khỏi vũ trụ, luật Nhân Quả cũng theo đó khống chế, chi phối tất cả chúng ta. Đây là điều không thể nói bằng ngôn ngữ mà chỉ hiểu được bằng trí tuệ khi chứng đạo.
Tuy nhiên, nơi tâm thức chúng ta có đường nối với Bản Thể. Đừng tưởng mỗi con người là một thế giới khép kín. Khi chưa vào định được, hay động tâm thì chúng ta nghĩ mỗi con người là một thế giới khép kín, không ai đến với ai được. Chúng ta biết nhau qua lời nói, cử chỉ, thái độ nhưng bí mật trong sâu thẳm từ tâm, tuy trong đó có ngã chấp mà vẫn có đường nối vào Bản Thể Tuyệt Đối của vũ trụ để giao thông từ tâm và tâm với nhau. Sở dĩ chúng ta không thấy được điều đó vì bản ngã chúng ta quá lớn như một bức tường ngăn cách. Nhưng nếu tâm an định, từ từ bức tường vô hình đó rớt dần dần để thấy tâm của tất cả chúng sinh có liên hệ với nhau trong khắp vũ trụ. Chính vì nơi tâm chúng ta có đường nối dính với vũ trụ nên chúng ta mơ hồ biết được nhân quả. Chúng tôi nói “mơ hồ” vì nó chưa rõ. Chỉ có những vị Thánh chấm dứt được vọng tưởng và bản ngã, biết rõ nhân quả: nhân nào tạo quả nào; kiếp trước, kiếp sau ra sao... các vị biết rõ, không sai. Chúng ta là phàm phu, tuy không phải hoàn toàn không biết nhân quả mà biết một cách mơ hồ. Đây là dấu hiệu của trí tuệ lương tâm. Người chứng quả A la hán hay các Đức Phật bản ngã đã hết, các Ngài trở thành tuyệt đối, trở thành toàn thể vũ trụ và biết rõ nhân quả. Còn chúng ta, dù chưa chứng quả nhưng trong tâm vẫn mơ hồ tin vào sự công bằng báo ứng.
Rồi cũng có quan niệm chết là hết. Ví dụ, anh A giật nợ của người nào đó cả trăm triệu rồi bỏ trốn ở xứ khác. Anh nghĩ mình trốn ở xứ khác, mình chết, người đó ở xứ này cũng chết, huề. Nhưng có người đưa ra lập luận: Anh A giựt nợ cả trăm triệu, không trả kiếp này thì kiếp sau vẫn phải trả đủ hay trả dư số đó; Anh A còn phải chịu đựng nỗi khổ anh đã gây cho người kia. Vì người kia mất cả trăm triệu đã phải bán nhà. Sau này, anh A phải trả quả báo đầy đủ: anh không nhà không cửa, không cơm không gạo, anh phải thiếu ăn... Có hai lập luận như vậy, tự nhiên chúng ta tin vào lập luận sau vì nó có lý, và mơ hồ tin vào sự công bằng của luật Nhân Quả. Ngay cả tên cướp ghê gớm nhất, ác độc nhất khi nghe nói về nhân quả vẫn mơ hồ tin, tin rằng cuộc đời này có sự công bằng.
Chính vì tâm chúng ta nối được với vũ trụ nên thẳm sâu trong tâm chúng ta có niềm tin đối với sự công bằng của vũ trụ. Sự công bằng đó chính là luật Nhân quả Nghiệp báo. Có niềm tin, đó là lương tâm. Chúng ta tin người ác rồi cũng sẽ gặp đau khổ, người thiện sẽ được yên vui. Chúng ta tin như vậy; dù là tên cướp, họ cũng tin như vậy. Thử đến gặp tên cướp trong tù, nói chuyện với họ về nhân quả, chúng ta sẽ thấy họ cũng tin vào sự công bằng của luật Nhân Quả. Bởi vì tâm của mỗi người có điểm nối với vũ trụ, trong đó có luật Nhân Quả.
Ngay trong luật pháp của thế gian này cũng phản ánh phần nào luật Nhân Quả
Tại sao chúng ta lập ra Tòa án, lập ra ngành Công an? Vì như vậy mới có công bằng trong xã hội. Một tên giết người cướp của, bất cứ người nào dù bình thường nhất trong xã hội cũng nghĩ là phải bắt nhốt, phải xử tên tội phạm đó tùy theo mức độ nặng, nhẹ. Điều đó là chính đáng. Những điều chính đáng làm thành luật pháp xã hội. Như vậy, luật pháp phản ánh phần nào luật Nhân quả Nghiệp báo. Chính vì lương tâm chúng ta thầm công nhận sự công bằng của luật Nhân Quả nên chấp nhận hệ thống luật pháp. (Dĩ nhiên, hệ thống pháp luật nhìn chung vẫn chưa hoàn chỉnh nhưng tương đối khá chi tiết).
Bây giờ, chúng ta chưa thấy được luật Nhân quả Nghiệp báo chi phối cuộc đời như thế nào, nhưng chúng ta cần có luật pháp quốc gia nhắc nhở (và răn đe). Chúng ta nhắc nhở mọi người cần phải tin vào sự công bằng, phải chấp nhận sự công bằng của xã hội, không làm điều bất công, không làm điều gây đau khổ cho người khác, chỉ làm điều tốt và hành xử tốt với nhau. Luật pháp cũng răn đe những ai gây tội ác. Đó cũng là phương tiện trấn áp kẻ có tội.
Lương tâm sẽ bị che mờ nếu bản năng con người quá mạnh; tập quán sai lầm; bị dụ dỗ, xúi giục bởi kẻ xấu.
Bản năng con người quá mạnh che mờ lương tâm. Ví dụ, một người quá dâm dục đến độ cưỡng bức cả trẻ em. Họ biết sai nên bỏ trốn vì chắc chắn luật pháp sẽ không dung tha, có khi bị tù chung thân hoặc bị tử hình. Nhưng vì bản năng quá mạnh đã che mất lương tâm nên họ phạm tội lỗi.
Tập quán sai lầm che mờ lương tâm. Ví dụ, chung quanh chúng ta ai cũng làm điều gì đó mà điều đó trở thành một tập quán, một thông lệ, chúng ta cứ phải làm theo. Thế giới có ngày “cá tháng Tư” (ngày 1 tháng 4 Dương lịch) là ngày mọi người nói dối. Ngày đó nói dối cho vui không có tội, nhưng biết bao điều đau lòng đã xảy ra vì ngày nói dối này. Chúng ta làm theo các nước Âu Mỹ cũng nói dối vào ngày “cá tháng Tư”, và kẻ xấu đã lợi dụng tập quán này để lừa nhau, gây cho nhiều người đau khổ, bất an.
Sự dạy dỗ, xúi giục của kẻ xấu làm lương tâm bị che mờ. Ví dụ, một người làm sai, khi chúng ta nói họ nghe và biết ngay cái sai của họ; nhưng nếu vài ba người cùng làm sai thì chúng ta rất khó nói. Một đứa trẻ đánh bài, hỗn láo hay ăn cắp vặt, chúng ta nhắc nhở, nó thấy được lỗi và sửa lỗi. Nhưng nhiều đứa trẻ cũng ăn cắp vặt, hỗn láo, đánh bài dù chúng ta có dạy dỗ, nhắc nhở gì chúng cũng khó nghe theo để sửa lỗi, chúng bướng bỉnh, lôi kéo, xúi giục nhau. Là cha mẹ, chúng ta phải lưu ý con cái ở điểm này. Khi con cháu chúng ta mắc lỗi, nếu đã được nhắc nhở mà chúng vẫn bướng bỉnh, không sửa sai lầm là biết ngay con cháu mình đang bị bạn xấu lôi kéo, xúi giục phía sau. Chúng ta phải điều tra, kiểm soát và cách ly chúng với bạn bè xấu, vì trẻ con dễ bị kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo, xúi giục làm điều sai trái.
Ở xã hội phương Tây, con cái tuổi mười tám không sống với cha mẹ, chúng rời gia đình sống tự lập, tự do, được trợ cấp và được pháp luật bảo vệ. Vì thế, cơ cấu gia đình tan vỡ. Chúng ta không hiểu tại sao người ta vẫn gọi đó là văn minh trong khi lối xử sự lại phá vỡ cơ chế gia đình. Đó là tội ác, không phải là văn minh. Cha mẹ bất lực trong việc dạy dỗ con cái là một thảm họa cho xã hội, cho đất nước.
Trẻ hư hỏng do đâu? Do trí tuệ lương tâm đứa trẻ chưa sáng. Chúng không được hướng dẫn, giáo dục lại còn bị bạn xấu rủ rê, xúi giục. Chúng tôi biết có một gia đình người Việt sống ở Mỹ. Con cái họ được sinh ra ở đất nước (gọi là tự do) này nhưng không đứa nào hư hỏng. Lý do là vì bà kiểm soát chúng kỹ lưỡng: Ở gia đình, các con bà phải nói tiếng Việt, không được nói tiếng Mỹ; không cho bạn bè gọi điện thoại; không gọi điện thoại nói dằng dai; bạn bè thiếu nghiêm chỉnh không được tới nhà chơi... Vì thế, các con bà không đứa nào hư hỏng vì chúng được sống trong tình thương yêu, trong một gia đình đầm ấm. Xã hội Mỹ tạo điều kiện cho trẻ tự do, trẻ thoát ra ngoài ảnh hưởng của gia đình thì rất dễ sai lầm, hư hỏng.
Còn một điểm nữa chúng ta cần lưu ý là: lỗi lầm của một người còn dễ sửa, nếu lan sang nhiều người là rất khó chặn đứng. Cho nên, trong việc điều tra, ngăn chặn hoạt động của các tổ chức tội phạm, khi phát hiện được người có dấu hiệu phạm tội thì phải tìm cách ngăn chận ngay, đồng thời theo dõi, tìm hiểu gốc sai đó từ đâu ra, ai đứng phía sau chủ mưu, không để tổ chức tội phạm đó ngày càng bành trướng mở rộng, quy tụ nhiều tội phạm thì khi bắt xử lý sẽ khó khăn vì nó như chân rết.
LƯƠNG TÂM VÀ TRÁCH NHIỆM
Khi chúng ta được giao phần việc nào đó, chúng ta có ý thức phải làm tròn, làm phải đạt kết quả; kết quả đó có ảnh hưởng tốt lâu dài thì gọi là có trách nhiệm. Người có lương tâm luôn luôn gánh vác trách nhiệm, không trốn tránh trách nhiệm. Lương tâm và trách nhiệm đi đôi với nhau, không thể tách rời nhau. Ví dụ người kỹ sư cầu đường, dù chưa ai kiểm tra nhưng ý thức rằng nếu làm sai, làm kém chất lượng thì năm mười năm sau công trình sớm bị hư, phải sửa chữa tốn kém gấp nhiều lần. Vì thế, ngay từ lúc đầu, người kỹ sư làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, đạt hiệu quả tốt đem lại lợi ích tốt đẹp cho quốc gia. Đó gọi là có lương tâm và có trách nhiệm trong nghề.
Hoặc người thầy dạy học, dạy nghề. Tuy biết rằng dạy kỹ phải tốn nhiều công sức, rất mệt nhưng người thầy ý thức trách nhiệm của mình là đào tạo nhân tài cho đất nước nên tận tụy dạy dỗ. Điều đó chỉ có lương tâm soi sáng, đánh giá chính mình. Càng tốt hơn nếu mỗi ngày, mỗi tuần, để ra năm mười phút nói đạo đức với học trò. Biết đâu năm, mười năm sau, người học trò sẽ trở thành người công dân tốt của đất nước, giúp ích cho xã hội được nhiều.
Hoặc viên chức nhà nước hết lòng vì nước vì dân cũng gọi là có lương tâm và có trách nhiệm. Chứ dùng quyền để bắt nạt dân, bắt dân phải bồi dưỡng; hối lộ; đó là vô lương tâm, thiếu trách nhiệm. Làm gì cũng có phần thưởng hay cái giá phải trả. Tận tụy vì dân, làm cho đời sống người dân được thuận tiện, dễ dàng tốt đẹp thì hưởng phước sau này và còn để lại đức cho con cái. Còn người viên chức bắt nạt dân, đòi hối lộ thì sau này con cháu họ sẽ hư.
Hoặc Tăng, Ni tinh tấn tu hành vì đạo, vì chúng sinh cũng gọi là có lương tâm. Còn người xuất gia thiếu lương tâm chỉ biết hưởng sự cúng dường của Phật tử, không lo tu, không lo giáo hóa chúng sanh. Cho nên, chúng ta phải ráng tu hành để đền ơn Đức Phật, đền ơn đàn na tín thí, phải có trách nhiệm làm gì đó tốt đẹp cho đời.
Hoặc người làm nghề báo phải biết bài báo của mình ảnh hưởng đến công luận rất nhiều; phải viết làm sao có tác dụng bảo vệ lẽ phải. Người làm báo phải dùng ngòi bút của mình để bảo vệ lẽ phải chứ không dùng ngòi bút bênh vực kẻ xấu hay làm điều gì sai lầm khuất tất cũng gọi là có lương tâm.
Hoặc làm thầy thuốc phải hết lòng chăm sóc chữa trị bệnh nhân. Người thầy thuốc không thể vô lương tâm kéo dài bệnh, làm ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân. Những điều đó không ai biết để phê bình, phán xét mà chỉ có lương tâm người thầy thuốc soi sáng, tự biết thôi. Người thầy thuốc có lương tâm thanh thản hay lương tâm bị cắn rứt tùy cách hành xử của mình với bệnh nhân tốt hay xấu.
Nhân đây, chúng ta nói qua về việc lạm dụng sức khỏe. Trên thế giới, bất kỳ quốc gia nào dù giàu hay nghèo đều có mục tiêu tốt đẹp là chăm sóc sức khỏe toàn dân trong đó có chăm sóc sức khỏe trẻ em. Có những quốc gia chăm sóc sức khỏe cho dân hoàn toàn miễn phí về y tế như Canada. Có quốc gia chi phí rất mắc tiền như Mỹ, bù lại họ có bảo hiểm y tế. Mỗi nước tùy theo khả năng mà có kế hoạch chăm lo sức khỏe cho toàn dân. Có sức khỏe, có sức lực thì cuộc sống của chúng ta mới có ý nghĩa. Nếu người sống có lý tưởng thì sức khỏe là phương tiện giúp họ làm việc để cống hiến cho cộng đồng xã hội.
Tuy nhiên, có những người tiêu hao sức khỏe một cách vô ích ở những nơi ăn chơi vô bổ. Người ta đến vũ trường đông nghẹt, dưới ánh đèn mờ ảo tắt chớp, điệu nhạc dồn dập nhảy nhót. Muốn có “sức khỏe” hơn, họ dùng thuốc kích thích, dùng ma túy tổng hợp gây hưng phấn tột độ. Và để giải tỏa hưng phấn, họ hoạt động rất mạnh, họ phải nhảy, phải la hét loạn cuồng...
Gia đình nuôi con cái khỏe mạnh, chính sách chăm sóc sức khỏe toàn dân của Nhà nước sẽ uổng phí nếu chúng ta không hướng dẫn mọi người nên dùng sức khỏe để làm gì. Vấn đề này thuộc phạm vi giáo dục cộng đồng và lương tâm của mỗi người chúng ta đối với xã hội, đất nước.
Khi các vũ trường, những ổ “lắc”, những hang ổ đồi trụy cứ mọc lên thì tinh túy, tinh hoa của dân tộc dần dần biến mất. Nền văn hóa dân tộc, lễ nghĩa truyền thống không kiềm chế được sự hưởng thụ bừa bãi. Tinh thần và bản sắc dân tộc nếu không giữ được, nếu mất đi thì thật vô nghĩa. Cho nên, nếu ngày hôm nay, Nhà nước và Đạo Phật và Xã Hội nhân dân không cảnh tỉnh kịp thời, cứ để cho các ổ ăn chơi trác táng phát triển thì sự tồn vong của đất nước đáng cho chúng ta quan tâm và lo ngại.
***
Sống theo lương tâm cũng là góp phần làm cho cuộc sống vốn đầy tội lỗi, khổ đau sáng lên, đẹp lên dần dần.
Sống theo lương tâm, chúng ta sẽ an vui mà đi vào cõi chết ở kiếp này và chúng ta sẽ an vui hơn, hạnh phúc hơn ở những kiếp sau.
Thiếu Phật Pháp đời là bể khổ
Kiếp nhân sinh vô số lỗi lầm
Tâm hồn mờ mịt tối tăm
Sa chân lỡ bước trôi lăn đọa đày.
Đền ơn Phật con nay phát nguyện
Cả một đời tinh tiến tu hành
Rồi đem chánh pháp quang minh
Gieo vào khắp chốn chúng sinh vạn loài.
Dù những chỗ chẳng ai mời thỉnh
Hoặc những người bướng bỉnh ngang tàng
Lòng con kiên nhẫn yêu thương
Gieo duyên hóa độ mở đường tương lai...


