NGUYÊN NHÂN SỰ XUNG ĐỘT CỦA THẾ GIỚI
Sự xung đột của thế giới hôm nay có liên quan đến nhiều vấn đề như chính trị, kinh tế, chiến tranh, văn hóa... Ở đây, chúng ta chỉ bàn đến vấn đề văn hóa theo nhãn quan của đạo Phật.
Thế giới hôm nay có sự xung đột giữa hai nền văn hóa. Đó là văn hóa phương Tây và văn hóa Hồi giáo. Hai nền văn hóa đó có ảnh hưởng phần đông người dân trên khắp thế giới. Tiêu biểu cho nền văn hóa phương Tây là châu Âu, châu Mỹ và các nước ảnh hưởng lối sống Mỹ như một số nước Á Đông. Văn hóa Hồi giáo có các nước theo đạo Hồi vùng Trung Đông, Trung Á, một số nước Đông Á và Đông Nam Á.
Sự xung đột đó có nguyên nhân như thế nào?
Người phương Tây lên án Hồi giáo khắt khe với phụ nữ, cuồng tín, thường sử dụng bạo lực hơn là đối thoại để giải quyết những bất đồng với phương Tây. Người phương Tây không chấp nhận văn hóa Hồi giáo. Và loài người nói chung ở thế kỷ XX và XXI không thể chấp nhận sự dã man của những phần tử Hồi giáo cực đoan.
Ngược lại, Hồi giáo phê bình phương Tây tự do quá đáng, sống sa đọa, trác táng và “đám vô đạo” đó phải bị tiêu diệt bằng bom đạn. Ước mơ của người Hồi giáo là chiếm hết thế giới này để cai trị bằng luật Hồi giáo.
Sự xung đột giữa phương Tây và thế giới Hồi giáo rất quyết liệt. Tuy nhiên, phương Tây không có lối sử dụng bạo lực, họ dùng các áp lực về kinh tế, ngoại giao, chính trị để gây ảnh hưởng lên các nước Hồi giáo. Còn Hồi giáo phản đối phương Tây bằng bom đạn. Ngày 11/9/2001, cả thế giới chấn động vì vụ tấn công khủng bố đẫm máu tại Mỹ. Một nhóm không tặc đã cướp bốn máy bay hành khách và lái hai phi cơ lao thẳng vào Tòa Tháp Đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới tại Manhattan, New York. Gần 3000 người đã thiệt mạng và hơn 6000 người bị thương khi Tòa Tháp Đôi sụp đổ. Vụ đánh sập hai tòa nhà ở New York là lối phản đối, lối nói chuyện của thế giới Hồi giáo. Nếu là người khách quan nghe phương Tây và Hồi giáo phê bình, lên án lẫn nhau, chúng ta thấy mỗi bên đều có cái lý của họ. Nhưng cách giải quyết vấn đề thật bi đát.
Hồi giáo phê bình phương Tây sống sa đọa, trác táng. Họ gọi người phương Tây là “vô đạo” và phải bị tiêu diệt. Thế là họ phản đối lối sống “vô đạo” bằng bom đạn bạo lực. Nói thẳng ra lối sống tự do quá đáng của phương Tây làm cho những ai có lương tri sống đàng hoàng đứng đắn khó chấp nhận. Hiện nay, văn hóa phương Tây bắt đầu tràn lan trong xã hội Việt Nam. Vũ trường mọc lên, lối sống trác táng sa đọa đang len lỏi khắp nơi... Tâm hồn non dại của thanh thiếu niên đang bị ảnh hưởng làm cho những ai quan tâm đến cội nguồn dân tộc phải lo lắng, đau buồn.
Chúng ta thấy đất nước Việt Nam có bề dày lịch sử, chịu ảnh hưởng văn hóa Á Đông, nhuốm màu Nho giáo và có tinh thần Phật giáo. Chúng ta vừa có Nho giáo của Khổng Tử vừa có Phật giáo của Đức Thích Ca cho chúng ta một sự trung dung tuyệt vời, một sự điềm tĩnh, một sự chuẩn mực. Trước sự xung đột của hai nền văn hóa trên, chúng ta có một chỗ dựa là cội nguồn dân tộc với một nền văn hóa trung dung tuyệt đẹp.
Hiểu nguyên nhân sự xung đột giữa văn hóa phương Tây và văn hóa Hồi giáo, chúng ta mới thấy rằng chính nền văn hóa Nho giáo và văn hóa Phật giáo là lý tưởng, có thể đem lại cho thế giới hòa bình, hạnh phúc; đồng thời chúng ta thấy được trách nhiệm của người đệ tử Phật là phải làm gì để xây dựng hành tinh thân yêu thật sự là nơi an lành, hạnh phúc, thánh thiện.
VĂN HÓA PHƯƠNG TÂY
Các nước phương Tây có hai điểm nổi bật. Một là lối sống tự do. Hai là khoa học kỹ thuật tiến bộ. Nói tới các nước Anh, Pháp, Đức, Mỹ... là nói tới lối sống tự do và khoa học kỹ thuật phát triển mạnh. Vì vậy, có nhiều người nghĩ rằng nhờ tự do nên phương Tây tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nghĩ vậy là sai lầm, giữa tự do và tiến bộ khoa học kỹ thuật không quan hệ gì với nhau hoặc có quan hệ rất ít.
Không phải tự do thúc đẩy khoa học kỹ thuật tiến bộ. Bởi vì trên thế giới có nhiều bộ tộc sống rất tự do mà không hề có tiến bộ khoa học kỹ thuật. Ví dụ, khi Hồng Kông trở về Trung Quốc, người ta nói Hồng Kông tiến bộ là nhờ ở đó áp dụng chế độ tự do. Sự thật không phải vậy. Hồng Kông đánh thuế rất rẻ, cạnh tranh mạnh nên kinh tế phát triển, chứ không hẳn nhờ tự do.
Phương Tây có nền khoa học kỹ thuật tiến bộ do hai ưu điểm: họ thông minh khỏe mạnh, chỉ số thông minh của người Âu, Mỹ rất cao, người Á Đông không bằng. Trẻ em Âu, Mỹ học như chơi, không có lối học chăm chỉ như trẻ em Á Đông. Nhưng khi họ đầu tư nghiên cứu thì chúng ta không đuổi theo kịp. Tất cả các công trình khoa học kỹ thuật cao cấp của nhân loại đều từ người Âu Mỹ, Á Đông có rất ít. Nghĩa là thế giới mắc nợ Âu Mỹ rất nhiều về công trình khoa học kỹ thuật. Máy bay được chế từ châu Âu, châu Mỹ chứ không phải từ Trung Quốc hay Việt Nam. Bom nguyên tử, tàu ngầm, thiết bị Laser hiện đại, thiết bị thu âm... cũng từ Âu Mỹ, sau này có Nhật Bản. Người Nhật sâu sắc, có nền văn hóa đặc biệt và cũng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cũng dẫn đầu thế giới về khoa học kỹ thuật, mang lại danh dự cho người
Á Đông. Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài học rất giỏi, người Mỹ phải nể phục. Đó là niềm tự hào dân tộc. Chúng ta đinh ninh người Việt Nam thông minh mà sao đất nước vẫn chậm phát triển?
Chúng ta thừa hưởng đời sống văn minh, tiện nghi vật chất là đã mắc nợ Âu Mỹ rất nhiều. Chúng ta đang sử dụng những tòa nhà cao tầng, kỹ thuật xây dựng cũng từ Âu Mỹ, kỹ thuật khai thác dầu mỏ cũng từ Âu Mỹ... Những lâu đài kiến trúc đồ sộ để lại cho nhân loại phần nhiều ở châu Âu, trừ Trung Hoa nhờ sử dụng người quá nhiều nên xây dựng được một số công trình vĩ đại như Vạn Lý Trường Thành. Việt Nam không có những công trình kiến trúc lớn đáng kể. Những lâu đài ở Anh, Pháp, Hy Lạp, La Mã thật vĩ đại, cho chúng ta hiểu về tài năng kiến trúc, về sức khỏe, về sức người, về sự tổ chức, về kỹ thuật vượt bậc của họ. Tất cả đều do yếu tố thông minh chứ không phải yếu tố tự do.
Chúng ta vẫn phải thán phục họ giỏi, họ đã đóng góp được cho nhân loại những tiến bộ về khoa học kỹ thuật. Và cả những khái niệm về nhân văn như tự do, dân chủ; những quan điểm về triết học, nghệ thuật, cả thế giới này phải chịu ơn châu Âu rất nhiều. Những danh nhân phần đông là người Âu Mỹ như các nhà bác học Newton, Pasteur, Einstein... những đại văn hào như Victor Hugo, Leon Tolstoi... những vĩ nhân thế giới, những người tài giỏi vẫn thuộc về Âu Mỹ. Thậm chí cách đây mấy mươi năm người ta không biết chọn đạo nào để theo, người ta nói với nhau: theo đạo Thiên Chúa thì sang (đạo của Tây) còn theo đạo Phật đi chân đất, ngồi tụng kinh... không sang.
Người ta vẫn nghĩ những gì thuộc về Âu Mỹ đều vĩ đại. Phương Đông bị choáng ngợp bởi nền khoa học kỹ thuật của phương Tây. Phương Tây sao giỏi quá! Ngoài việc chấp nhận khoa học kỹ thuật, người ta chấp nhận luôn lối sống của phương Tây. Đón nhận văn hóa phương Tây mới là tiến bộ, rồi dần dần người ta biến mình như người Âu Mỹ. Hiện nay, nhiều nước Á Đông đang bị Âu hóa mà hình thức là cách ăn mặc. Hầu hết các nguyên thủ quốc gia gặp nhau mặc veston của phương Tây.
Văn hóa phương Tây lan tràn khắp thế giới, đến nỗi nhiều bậc trí thức nhìn lại mới giật mình thấy rằng đón nhận lối sống tự do quá trớn của phương Tây như đón nhận cái gì độc hại. Sự độc hại đó là gì? Một ví dụ về tình dục. Tình dục là bản năng có sẵn nơi con người do tạo hóa “cài đặt” trong con người. Bản năng này rất mạnh khiến cho người ta phải lấy chồng, lấy vợ để sinh con đẻ cháu duy trì nòi giống. Vì tình dục mạnh và mãnh liệt nên cũng xảy ra vô số chuyện liên quan đến nó. Báo chí đăng những vụ cưỡng hiếp, quấy rối tình dục, vợ lẽ, giết người cũng từ tình dục gây ra, gây rối cuộc đời này. Phương Tây quá tự do tình dục, họ tạo điều kiện cho nam nữ gần gũi nên bản năng tình dục được khuyến khích thay vì hạn chế.
Ví dụ khiêu vũ, người ta ôm nhau, dìu nhau theo điệu nhạc. Thường chỉ những người yêu nhau mới được quyền thân mật như vậy. Người phương Đông, nam nữ không được tiếp xúc kề cận nhau, “nam nữ thọ thọ bất thân”. Còn phương Tây kề cận nhau thoải mái, tự do...
Người phương Tây nhân danh tự do và nhân quyền gieo rắc lối sống phóng túng. Chúng ta thấy phim ảnh đồi trụy có xuất xứ từ phương Tây, phát hành hợp pháp hoặc lén lút nơi bị cấm đoán. Vì thế, vấn đề tình dục như được khuyến khích, không có sự kiềm chế. Điều đó phá vỡ tâm hồn con người, người ta không cần thủy chung, gia đình lỏng lẻo, xã hội bất an.
Ở phương Tây, các vũ trường đua nhau mọc lên, những hình ảnh lõa lồ treo đầy đường phố, các show trình diễn thời trang hở hang được diễn ra, công chiếu khắp thế giới. Ngoài giọng hát, các ca sĩ phương Tây đã phô diễn cơ thể bằng những trang phục thiếu vải. Hình ảnh hở hang, thậm chí lõa lồ của họ được đăng tải ngập tràn trên sách báo, tạp chí đã phá nát tâm hồn non dại của trẻ thơ. Bị ảnh hưởng lâu dài, lớp trẻ xem các ngôi sao đó là thần tượng và lối ăn mặc hở hang là thước đo chuẩn mực của sự hiện đại.
Giữa phương Tây và phương Đông có suy nghĩ trái ngược nhau về vấn đề tình dục. Người phương Đông nhận thấy bản năng tình dục quá mạnh cần phải được kiềm chế. Người phương Đông dạy con từ còn nhỏ đi vào nề nếp, biết dùng lễ nghĩa, dùng lý trí kiềm chế tình dục, không cho phát triển tình dục bừa bãi, dù có khi ức chế. Người nào biết tu theo đạo Phật thì có phương pháp hóa giải bằng thiền định, bằng tâm hạnh đạo đức, công đức lễ Phật. Còn người không tu phải biết tự kiềm chế, đè nén. Như vậy, xã hội mới ổn định, trật tự.
Có lần, một Phật tử đến gặp chúng tôi, người này cũng đã từng đi nghe giảng Pháp nhưng khoảng năm sáu tháng vắng mặt. Anh nói: “Con đi làm cho công ty dầu khí bên châu Phi”. Hỏi: “Đời sống anh bên đó ra sao?” Anh than thở: “Bên đó về tình dục mạnh quá”. Anh kể rằng anh làm việc chung với người châu Phi và người châu Âu. Hai nhóm người đó sống bừa bãi về tình dục dù họ đã có chồng có vợ rồi. Anh và một ít người Việt Nam nhờ biết Phật Pháp nên vẫn giữ mình, chứ không hợp lối sống của họ. Chúng tôi nghe và hiểu lý do Hồi giáo căm thù phương Tây, lên án phương Tây sa đọa, sự sa đọa có lẽ xuất phát từ cuộc sống quá tự do?
Nói đến tự do, trước hết phải nói đến vai trò Quốc hội. Quốc hội ngồi bàn với nhau, đưa ra luật. Luật được Chính phủ thi hành ngoài xã hội. Nhưng đâu phải ở Quốc hội, đại biểu nào cũng có suy nghĩ và tầm nhìn độc đáo, có rất ít. Và chúng ta phải hiểu rằng không phải đa số người luôn luôn đúng. Những vấn đề đúng nhiều khi chỉ vài ba người nhìn ra, thấy được; chỉ những người lỗi lạc, kiệt xuất độc đáo mới có tầm nhìn xa, còn đa số quần chúng đi theo. Vì thế, Quốc hội biểu quyết một vấn đề nào mà lấy theo số đông thì không phải lúc nào cũng đúng. Chỉ có điều, cách biểu quyết đó đại diện được quyền lợi của nhiều người. Ví dụ, vụ khủng bố ở New York làm sập hai tòa tháp, người ta chê CIA dở, không theo dõi được lực lượng tổ chức khủng bố làm cho Chính phủ Mỹ trở tay không kịp. Nhưng tình báo Pháp nói rằng CIA không dở. Thật ra, CIA biết trước sẽ có khủng bố và báo cáo nhiều lần lên Quốc hội Mỹ. Nhưng Quốc hội làm ngơ không tin. CIA mới để yên cho sự việc xảy ra. Bị một cú quá nặng, đánh sụp kinh tế nước Mỹ làm cho Quốc hội kinh hoàng...
Hoặc đơn cử như trường hợp của Galileo Galilei – người được mệnh danh là “cha đẻ của khoa học hiện đại”. Vào thời đại của ông, “Thuyết Trái đất là trung tâm vũ trụ” được tất cả mọi người công nhận. Cho đến khi Galileo dùng kính viễn vọng quan sát thấy thiên thể chuyển động và kết luận: “Tất cả không phải là tĩnh tại, mặt trời đang quay, trái đất cũng đang quay. Trái đất không chỉ quay quanh mặt trời mà còn tự quay quanh mình nó theo một trục”. Học thuyết của Galileo ra đời đã bị Giáo hội Công giáo Roma cấm tuyên truyền vì đi ngược lại ý nghĩa của Kinh Thánh, lật đổ niềm tin lâu đời của con người. Kết quả, Galileo bị giam cầm đến cuối đời dưới lệnh của Tòa án dị giáo Roma. Mãi đến 300 năm sau, Galileo mới được phục hồi danh dự khi Giáo hoàng chính thức tuyên bố phán quyết đối với ông là sai lầm nghiêm trọng.
Hoặc nhà cầm quyền độc tài Hitler là kết quả sự đồng lòng của dân Đức thời đó. Hitler đã giành được số phiếu bầu lớn hơn bất cứ một nhà lãnh đạo Đức nào và nghiễm nhiên nắm lấy quyền lực. Gần 100 năm đã qua đi, nhưng tội ác của Hitler, chính sách diệt chủng của Đảng Quốc Xã vẫn là nỗi ám ảnh kinh hoàng.
Qua đây, chúng ta thấy rằng ý kiến của số đông chưa hẳn là hay, là đúng. Cho nên, muốn xã hội Mỹ bớt trụy lạc, cơ cấu gia đình bền chặt,
Quốc hội Mỹ phải là người tiên phong cải cách nền tự do của họ, sự tự do mà đến hôm nay họ vẫn cứ tưởng tốt đẹp và muốn áp đặt lên toàn thế giới.
Do quan niệm về tự do của phương Tây nên đưa tới quan hệ con cái không bền chặt. Cha mẹ nuôi con nhưng không dạy được con, con không cần nghe lời cha mẹ. Lớn lên một chút, con gái có quyền có bạn trai ăn ở chung. Nhà trường dạy cho học sinh “quyền trẻ em”. Thế nên, con trẻ chống đối, phản kháng người lớn. Do vậy mà cơ cấu gia đình lỏng lẻo.
Người Âu Mỹ văn minh tiến bộ về khoa học kỹ thuật nhưng họ đang đi xuống về văn hóa và kéo thế giới theo chiều hướng đó. Họ sống quá tự do, phá vỡ cơ cấu gia đình, tàn phá luôn xã hội mà họ không ngờ. Còn luân lý phương Đông dạy cha mẹ phải thương con, “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”, “dạy con từ thuở còn thơ” để con lớn lên đi vào nề nếp, để cơ cấu gia đình bền vững, ổn định. Chúng ta thấy phương Đông hay hơn phương Tây về điểm này. Gần đây có một đợt biểu tình của hàng ngàn gia đình Hồi giáo bên Mỹ. Họ biểu tình phản đối lối sống sa đọa làm hư hỏng tuổi trẻ, phá vỡ nề nếp gia đình.
Một sai lầm khác của các nước phương Tây là tự do tín ngưỡng. Bất cứ người nào có niềm tin thần thánh thì được bảo vệ. Do đó, các giáo phái, tà đạo nổi lên ngày càng nhiều ở các nước phương Tây, kể cả những giáo phái thờ Sa – tăng. Chỉ giết người thì mới bị bắt, còn ai muốn tôn thờ thì cứ tôn thờ. Bảo vệ tự do tín ngưỡng theo chiều hướng đó là vô trách nhiệm với người dân. Vì có quyền tự do tín ngưỡng thì mọi tôn giáo kể cả tà đạo đều được chấp nhận, được nuôi dưỡng. Nên có không ít tổ chức tôn giáo cực đoan đã lợi dụng quyền “tự do tín ngưỡng” của các nước phương Tây để xây dựng, phát triển lực lượng và tiến hành những cuộc khủng bố. Đây là bài học cho cả thế giới và cũng là bài học cho Việt Nam, chúng ta cần cứng rắn ngay từ đầu, ngăn chặn các thế lực nhân danh tự do tín ngưỡng (là các tà giáo, tôn giáo cực đoan) dựa vào đó phá hoại đất nước.
Một sai lầm khác nữa là tự do ngôn luận. Nhân danh tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, người ta truyền bá những tư tưởng độc hại không được sàng lọc, gây ảnh hưởng xấu cho trẻ em. Chúng ta nhớ rằng không phải ai đọc rồi cũng nhận biết được điều nào đúng điều nào sai. Ví dụ, truyền bá tư tưởng: con người phải sống cho chính mình, phải có cá tính mạnh mẽ. Nhưng đó là gì? Là ích kỷ, là bướng bỉnh, tự cao. Đứa trẻ tự nuôi dưỡng điều này thì khi lớn lên sẽ là người như thế nào? Vậy mà người ta thường khen, báo chí ca ngợi: anh (chị) là người có cá tính. Cá tính là cái gì? Là sự bướng bỉnh thì có gì là hay. Sống phải theo lẽ phải, tìm cái gì đúng để thực hiện chứ không phải chỉ giữ cái gọi là cá tính của mình. Trong đạo Phật gọi đó là chấp ngã, ích kỷ, kiêu mạn.
Do đó, chúng ta cần có những tác phẩm về ngôn luận, về tư tưởng có tính giáo dục đạo đức làm người, chứ không phải ai muốn nói gì, viết gì cũng được. Người nghe, người đọc biết nhận xét đúng sai thì ít mà lớp trẻ do vốn sống chưa nhiều, dễ bị nhiễm cái xấu. Cho nên, tự do ngôn luận chưa hẳn là điều hay của thế giới. Tự do ngôn luận có khi lại phản giáo dục, làm hỏng con người. Cũng vì tự do ngôn luận mà khắp nơi tràn lan những loại sách, tiểu thuyết đồi trụy. Hiện nay, lớp trẻ hư hỏng do tiêm nhiễm lối sống Âu Mỹ. Đã đến lúc chúng ta phải bảo vệ môi trường văn hóa của đất nước; văn hóa có tính giáo dục, tính nhân văn để lớp trẻ được sống trong môi trường lành mạnh, có đạo đức chứ lớp trẻ không thể sống tự do quá trớn như kiểu tự do của lớp trẻ phương Tây.
Sau vụ khủng bố ngày 11/09/2001, người dân Mỹ đã thay đổi quan điểm về tự do. Họ nói: “Chúng tôi thà bớt tự do để được an toàn hơn”. Ngày hôm nay, rõ ràng tự do không còn là cứu cánh. Trước đây, người ta cứ tưởng tự do là tất cả, phải đi tìm tự do. Nhưng hôm nay, chúng ta có thể nói:
“Thà bớt tự do để gia đình bền vững hơn;
Thà bớt tự do để xã hội đạo đức hơn;
Thà bớt tự do để con trẻ ngoan hơn;
Thà bớt tự do để cuộc sống hạnh phúc hơn”.
Từ lâu, chúng ta cứ tưởng có “tự do” là hạnh phúc. (Chỉ khi tự do đi đúng hướng mới có cuộc sống hạnh phúc thực sự). Khi nước Pháp tặng cho Mỹ tượng Nữ thần Tự do dựng ở New York, họ nghĩ rằng tự do là cứu cánh. Thật ra, tự do chỉ là một trong những yếu tố của hạnh phúc, chưa phải hạnh phúc. Tự do phải là phần thưởng đi sau đạo đức. Chỉ người nào có đạo đức vững chắc mới xứng đáng được hưởng nhiều tự do. Và chỉ những bậc Thánh, những bậc thuần thiện mới xứng đáng được hưởng trọn vẹn tự do. Vì các bậc Thánh ở môi trường nào cũng không để mình rơi vào lầm lỗi. Còn chúng ta có khi cũng phạm sai lầm, cũng biết kiềm chế nhưng do lòng tham, ích kỷ, độc ác vẫn còn nên vẫn có thể nhúng tay làm điều sai trái.
Do vậy, ở những xã hội, ở những nơi luật pháp cho phép con người có quá nhiều tự do là sai lầm từ căn bản về lý luận. Vào những thế kỷ XVIII, XIX, XX, XXI và thậm chí đến thế kỷ XXII, con người vẫn còn sai lầm về điều này. Không biết đến khi nào thế giới mới thức tỉnh để biết rằng tự do không phải dành cho những ai chưa hiểu đạo đức, thiếu đạo đức. Tự do chỉ dành cho những ai có đạo đức, có lương tâm mà thôi.
Luật Nhân Quả cho chúng ta hiểu rằng ai gieo gió thì gặt bão. Vì vậy, trong suốt cuộc đời mỗi người chúng ta đừng bao giờ thỏa hiệp với tội ác dù chỉ vì chút quyền lợi ít ỏi hay ngắn hạn. Đừng vì lợi ích của riêng mình mà thỏa hiệp với tội ác. Thà chúng ta có thiệt thòi trong hiện tại mà không để lại hậu quả xấu ở tương lai. Đây là bài học có thể áp dụng ở mọi lĩnh vực trong cuộc sống của chúng ta.
VĂN HÓA HỒI GIÁO
Hồi giáo xuất phát từ giáo chủ Mahomet sinh ở La Mecque năm 570 sau Tây lịch. Từ bé theo cậu làm nghề buôn. Lớn lên, do tính hay suy nghĩ, ông ý thức sự tương phản giữa các tín ngưỡng và đa thần giáo của người đồng hương. Khi buôn bán đã giàu có, sau 40 tuổi, ông ngưng các cuộc giao dịch và du lịch, trở về sống trầm mặc. Tương truyền ngày nọ, lúc ông trầm tư, nghe âm thanh huyền bí trong núi Hira: “Ngươi hãy đọc nhân danh ta”, ông cho đó là được linh khải làm tiên tri. Các giáo huấn của ông được thư ký ghi trên giấy, lá cây, da thú, bia đá. Cũng có những giáo từ được truyền khẩu giữa các đồ đệ hay tín đồ. Cuốn giáo điều tuyển tập đầu tiên ra đời năm 660. Đó là cuốn kinh Coran...
Kinh Coran nói rằng do ông nghe được đấng Allah (Thượng đế) dạy nên ông nói lại, rồi người ta ghi chép và tôn thờ. Kinh Coran có nhiều điểm phù hợp chung với đạo đức của nhân loại nên xã hội Hồi giáo rất ổn định và không trụy lạc. Như về luân lý xã hội, người Hồi giáo chú trọng đời sống gia đình (cho phép người đàn ông được cưới bốn vợ chính thức), cấm ngoại tình; khuyến khích bố thí, không được tự cao, không làm chứng gian hoặc biết mà không nói sự thật, giúp người đi đường xa. Tuy nhiên, trong giáo điều này đặc biệt nhất là mệnh lệnh: “Hãy chiến đấu theo đường hướng Thượng đế cho đến khi nào chỉ có Thượng đế được thờ phụng”. Lính can đảm trở thành tử đạo, đi lính là giáo vụ, chinh phục là việc tông đồ thánh thiện. Phải chăng do giáo điều đặc biệt này nên xuất hiện những tổ chức cực đoan, quá khích?
Rất nhiều điều tốt được dạy trong kinh Coran, như cấm nói dối. Ngày xưa ở các nước từ Do Thái qua Ai Cập, người ta hay làm chứng gian. Ví dụ, người đứng ra làm chứng được thuê trước, tòa hỏi: “Anh có thấy người này ăn trộm không?”, “Dạ hôm trước tôi có thấy người này vô nhà người ta ăn trộm”. Người làm chứng thuê ngồi trước tòa án, đợi người đến thuê: “ Tòa án có hỏi, anh nói có thấy người này ăn trộm”, “Dạ, dạ...”, “Tôi cho anh năm nghìn...”
Hoặc trong cộng đồng phải kiểm soát nhau chặt chẽ. Giáo lý đạo Hồi quy định đời sống xã hội rất kỹ: sáng phải làm gì, trưa phải làm gì, một ngày cầu nguyện năm lần. Trong kinh Coran có dặn khi các ngươi tới nói chuyện với vợ Mahomet, các người không được nói trực diện mà phải nói chuyện qua một bức màn. Lý do là ông có nhiều bà vợ quá trẻ đẹp... Người phụ nữ Hồi giáo cho rằng cơ thể phụ nữ gợi dục làm cho người đàn ông động tâm. Phụ nữ Hồi giáo chỉ đi với chồng hoặc anh em ruột, không được đi với người đàn ông nào khác ở ngoài đường. Hoặc như cấm không được uống rượu, không sống sa đọa trụy lạc, không ăn mặc hở hang.
Hoặc cha mẹ phải thương yêu, nuôi dạy con; con phải biết thương cha mẹ và cầu nguyện cho cha mẹ mỗi ngày.
Hoặc kinh Coran dạy phải biết giúp đỡ người khác nhưng đừng quá phung phí. Đừng phung phí quá là lời dạy rất hay. Ví dụ, giúp đỡ quá khả năng tài chính của gia đình rồi gượng lại không kịp. Trong đạo Phật, có nhiều người biết rằng bố thí thì được quả lành rồi đem hết tiền đi làm phước. Khi làm phước quả lành có tới kịp không? Kiếp sau tới nhưng hiện tại đã khiến người ta hết tiền. Trước mắt nghèo đói rồi than trách Phật: “Sao con bố thí mà con không giàu”, “Con bố thí mà sao nhân quả không linh?”. Bố thí là tốt nhưng kiếp sau mới hưởng, ráng chờ! Hồi giáo dạy phải bố thí nhưng đừng phung phí, đừng vung tay quá trán. Điều đó hợp lý. Những điều dạy hợp lý làm cho xã hội Hồi giáo ổn định.
Tuy nhiên, đường lối của Hồi giáo là không khoan dung. “Hãy chiến đấu theo đường hướng Thượng đế cho đến khi nào chỉ có Thượng đế được thờ phụng”, một mệnh lệnh mạnh mẽ, Thượng đế của họ là Allah. Thánh Allah hay giáo chủ Mahomet ra cái lệnh này? Hồi giáo phát triển nhanh, lan xa khắp thế giới vì cái mệnh lệnh đó. Trước đây, Malaysia có Phật giáo và Thiên Chúa giáo nhưng đến nay, Malaysia tuyên bố là quốc gia Hồi giáo. Indonesia cũng đã từng có Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Nay Indonesia biến thành quốc gia Hồi giáo.
Trước hay sau, họ đều luôn luôn truyền đạo bằng cách đó. Thế kỷ XIII, Thành Cát Tư Hãn nổi lên đánh bật hết các lực lượng Hồi giáo từ Trung Hoa sang Mông Cổ tới Trung Á. Thành Cát Tư Hãn nói với người Hồi giáo: “Khi các người chết thì các người theo Allah nhưng bây giờ các người còn sống thì hãy làm theo lưỡi gươm của ta”. Bằng bạo lực trấn áp, Thành Cát Tư Hãn ngăn chặn Hồi giáo một thời gian dài. Sau này khi Âu Mỹ chiếm được nhiều thuộc địa với súng ống quá mạnh nên Hồi giáo bị chận lại. Ngày nay, các quốc gia Hồi giáo có nguồn lợi dầu hỏa, mua được vũ khí, một số nơi bùng phát trở lại đường lối cực đoan như ngày xưa.
Có nhiều người hỏi tại sao Ấn Độ là thánh địa của đạo Phật mà một thời gian dài đạo Phật tại đây không phát triển. Vì Hồi giáo bắt đầu xâm nhập Ấn Độ từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ XIII. Họ đập phá hết chùa, chặt đầu Tăng Ni trên đất nước Ấn Độ. Không chỉ vụ đập tượng Phật ở Afganistan mà từ năm 1197, Bakhtiyar Khilji lãnh đạo bộ tộc Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ giết sạch 8000 tu sĩ và hơn 1500 vị giáo sư tu sĩ lỗi lạc tại trường đại học Nalanda – trung tâm đào tạo Phật học lớn nhất châu Á thời bấy giờ. Không dừng lại ở đó, hai trung tâm tu học của Phật giáo Mật Tông là Odantapura và Vikramasila ở Maghada cũng lần lượt bị phá nát vào năm 1198 và năm 1235. Ngày nay, Phật giáo ở Ấn Độ đang dần dần hồi phục, Thánh địa Bồ đề đạo tràng, nơi Phật đã thuyết pháp được công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Tín đồ Hồi giáo tin rằng người nào chết vì Allah sẽ được lên Thiên Đường sống sung sướng, được mười hai tiên nữ hầu hạ. Có lẽ vì thế mà họ sẵn sàng ôm bom chết để được lên Thiên Đường? Họ xem người Âu Mỹ, người phương Tây là đám vô đạo làm dơ bẩn thế giới, đáng bị tiêu diệt. Lối sống sa đọa, trụy lạc của phương Tây phải bị tiêu diệt. Họ nghĩ rằng phải chiếm hết thế giới để thiết lập luật lệ Hồi giáo làm cho thế giới này được tốt đẹp, thế giới của Thánh Allah. Nhưng người Âu Mỹ cứ sống xô bồ sa đọa, treo hình ảnh phụ nữ không kín đáo làm người Hồi giáo nổi giận. Mối thù xung đột giữa hai nền văn hóa trái ngược nhau biết đến bao giờ chấm dứt? Và người Hồi giáo vẫn cứ tiếp tục khủng bố người Âu Mỹ cho đến khi nào người Âu Mỹ biết kiềm chế lối sống sa đọa, trụy lạc...
Hiện nay vẫn có những nhóm Hồi giáo cực đoan chủ trương bành trướng đạo Hồi bằng vũ lực, bằng khủng bố. Người ta khó phân biệt ai là người Hồi giáo bình thường và ai cực đoan. Vì cuộc sống thường ngày của họ vẫn lặng lẽ như mọi người đến khi có sự việc xảy ra, mới biết ai là Hồi giáo cực đoan. Như vụ khủng bố đánh sập hai tòa tháp ở New York, điều tra về những người khủng bố mới biết được trước khi thi hành sự việc, họ sống bình thường với mọi người, cũng dễ thương, lịch sự, cũng uống rượu và có bạn gái. Khi lên máy bay, họ biến thành những tên khủng bố. Họ ngấm ngầm trong tim, trong tư tưởng của họ mà không ai biết được.
Nguyên nhân nào Hồi giáo dễ biến thành cực đoan, thích dùng bạo lực? Chúng ta đọc kinh Coran thấy trong đó nhiều đoạn ca ngợi Allah nhân từ, khoan dung. Nhưng cũng có nhiều đoạn nhấn mạnh sự sùng bái tuyệt đối một Thiên Chúa Allah độc nhất. Ngoài ra, không một Thiên Chúa nào khác được chấp nhận. Hễ ai có tư tưởng chống Allah hoặc công kích nhà tiên tri Mahomed đều bị khép hình phạt.
Kinh Coran khác với kinh Phúc Âm và cũng hoàn toàn khác với kinh đạo Phật, trong kinh Phúc Âm, khi thánh Phéro hỏi Chúa Jesus: “ Khi người ta xúc phạm con, con nhịn tới mấy lần, tới lần thứ tám thì đánh à?” Chúa nói: “Không! Ngươi phải nhịn họ tới bảy mươi lần bảy, cứ nhịn hoài vậy”. Hoặc Chúa nói: “Ai dùng gươm, sẽ chết vì gươm”. Còn trong đạo Phật sức nhẫn nhục của chúng ta phải đến mức độ nào? Sức chịu đựng, sức nhẫn nhục của chúng ta như đất, như nước, không còn biên giới. Dù có bị người ta chặt tay chặt chân, chúng ta vẫn nhịn, vẫn thương yêu. Ở điểm này, kinh Coran lại nói: “Các người không được giết hại nó, trừ trường hợp nó đánh ngươi thì ngươi được quyền giết nó”. Đọc kinh Coran, người Hồi giáo dễ dùng bạo lực thích đánh nhau. Không đánh người ngoại đạo họ cũng đánh người trong cộng đồng Hồi giáo dễ dàng. Báo chí cũng có đăng họ uống rượu, gây gổ với nhau trong quán, cảnh sát tới họ bắn cảnh sát dù những người ấy đều là Hồi giáo.
Hồi giáo không lý luận tranh cãi với các tôn giáo khác. Họ chỉ dùng bạo lực để Hồi giáo hóa mọi người ở gần mình, trong cộng đồng mình. Với người Hồi giáo chỉ có duy nhất Thánh Allah. Họ không khoan dung với tôn giáo khác như họ đã bắn phá tượng Phật ở Afghanistan. Gần đây do tư tưởng dân chủ của Âu Mỹ, nhờ quy định của Liên Hiệp Quốc nên các nước Hồi giáo cũng có kiềm chế, bớt cực đoan và cởi mở, gần với dân chủ hơn.
ĐỂ TRÁNH XUNG ĐỘT THẾ GIỚI CẦN MỘT NỀN VĂN HÓA MỚI
CHUẨN MỰC VÀ HỢP LÝ HƠN
Ở phần trước, chúng ta đã bàn về sự khác biệt giữa hai nền văn hóa nên đưa đến sự xung đột giữa phương Tây và cộng đồng người Hồi giáo (tất nhiên sự xung đột đó còn nhiều lý do khác như kinh tế, chính trị, dầu hỏa... chúng ta không bàn tới). Người phương Tây căm ghét sự cực đoan của Hồi giáo, đưa đến khủng bố, giết hại người vô tội.
Còn Hồi giáo thì căm thù lối sống sa đọa, trụy lạc của người phương Tây. Chúng ta cần biết thêm rằng trong con người, ngoài bản năng tình dục còn có bản năng bạo lực. Bằng chứng là những phim bạo lực và bóng đá luôn luôn hấp dẫn nhiều người hơn. Có bạo lực là có tranh giành hơn thua. Bản năng bạo lực và bản năng tình dục chống đối nhau. Sự xung đột giữa hai nền văn hóa lớn như vậy đưa đến sự bất ổn cho con người và cho hòa bình thế giới. Vì thế, chúng ta phải tìm sự dung hòa, tìm cho thế giới một nền văn hóa mới chuẩn mực hơn, hợp lý hơn. Văn hóa mới đó được rút ra từ những điều hay, những điều tốt đẹp của các tôn giáo cổ truyền, từ các tư tưởng cổ truyền, gạt bỏ những điều không hợp lý (của văn hóa phương Tây và Hồi giáo), kết hợp với cái nhìn của thời đại ngày nay và cái nhìn vào tương lai.
Chúng ta phải công nhận rằng mỗi tôn giáo đều có ưu điểm, nhược điểm. Những tư tưởng hay hoặc giáo lý nào hay chúng ta rút ra để thực hành; những tư tưởng hoặc giáo lý nào làm ảnh hưởng đến con người về mặt tiêu cực thì chúng ta xóa bỏ. Nhìn chung, những tư tưởng tiến bộ của nhân loại đã được thực hiện. Có sự bình đẳng đối xử với nhau, khoa học kỹ thuật được áp dụng một cách tương đối cho đa số. Thế giới đang thu hẹp lại, con người như gần nhau hơn. Nhưng trên hết, những người đi tìm một nền văn hóa mới cho nhân loại phải có tầm nhìn sâu, nhìn xa vào tương lai ở những thế kỷ tới. Trong năm thế kỷ tới, thế giới sẽ như thế nào và chúng ta phải chuẩn bị nền văn hóa mới của thế giới như vậy.
Trong các nền văn hóa, chúng ta nhận thấy nổi bật lên là văn hóa Phật giáo, giáo lý của đạo Phật, một giáo lý xây dựng được nhân cách hiền lành. Con người thấm nhuần giáo lý đạo Phật sẽ sống trong môi trường đạo lý, nhất là đạo lý về nhân quả. Khi con người tin luật Nhân Quả sẽ chịu trách nhiệm về cuộc đời mình, chịu trách nhiệm về hành động của mình, không dám làm người khác đau khổ. Vì luật Nhân Quả kiềm chế con người làm điều xấu, điều ác. Tin luật Nhân Quả, con người sẽ sống tốt với nhau. Vì người ta hiểu rằng làm đau khổ người khác thì chính mình sẽ phải nhận lại đau khổ. Luật Nhân Quả công bằng là vậy.
Giáo lý của đạo Phật dạy con người tâm từ bi, thương người vô hạn và hết lòng cứu người thoát mọi khổ đau. Nếu đạo lý Từ Bi được dạy dỗ, hướng dẫn phát triển trên toàn thế giới thì thế giới này tốt đẹp biết bao. Đạo Phật còn dạy con người sống với tâm vô ngã. Tâm vô ngã là cái đích cuối cùng của sự giác ngộ, làm cho con người không cố chấp đời sống ích kỷ của mình, không cố chấp ý kiến cá nhân của mình. Trái lại, biết tôn trọng người khác, tâm vô ngã đưa tới lý tưởng giác ngộ giải thoát. Có thể nói giáo lý căn bản của đạo Phật là ánh sáng của thế giới, là văn hóa tương lai của nhân loại sau này.
Nhưng tại sao một giáo lý, chân lý tuyệt đối như vậy chưa được đem áp dụng trên toàn thế giới? Bao lâu nay, những đệ tử Phật, phần đông chỉ lo tu cho phần mình, tìm tới đạo Phật là tìm sự giải thoát cho riêng mình; tìm tới đạo Phật là nói tới làm phước, chỉ biết tự mình đi tìm phước; tìm tới đạo Phật là tìm sự giác ngộ, giải thoát hay tìm sự vãng sanh cho riêng mình. Tất cả đều là những tư tưởng, hành động ích kỷ, chỉ vì không năng nổ, không siêng năng đem giáo lý ứng dụng trong cuộc sống. Vì thế, văn hóa Phật giáo chưa được đem giới thiệu cho thế giới. Cho nên, hôm nay những người đệ tử Phật phải có trách nhiệm giới thiệu cho thế giới biết nhiều về văn hóa Phật giáo ở mọi nơi, về giáo lý cao đẹp của Phật giáo trên toàn thế giới, để con người biết tránh những tư tưởng sa đọa, ngăn chặn tự do bạo lực gây đau khổ cho loài người khắp nơi.
Chúng ta thấy sự xung đột của phương Tây và thế giới Hồi giáo, nếu không khéo léo dàn xếp ổn thỏa thì thế giới sẽ đứng trên bờ vực của sự hủy diệt. Ví dụ, những nước có bom nguyên tử mà ở đó có quá nhiều phần tử Hồi giáo cực đoan. Nếu Hồi giáo cực đoan chiếm chính quyền thì trong tay họ là bom nguyên tử, thật nguy hiểm! Trước sự xung đột của các thế lực trên thế giới, đã đến lúc người Phật tử chúng ta hãy thức tỉnh, phải làm việc nhiều hơn chứ không ngủ yên trong “vỏ bọc” giáo lý mà không nghĩ tới mọi việc đang xảy ra trên thế giới. Đạo lý tuyệt đẹp của đạo Phật rất ít người biết, rất ít người xưng tụng, truyền bá, vì chúng ta mãi lo tu cho riêng mình. Như vậy, chúng ta rất có lỗi với nhân loại, vì chúng ta hiểu đạo Phật tuyệt diệu mà không đóng góp gì nhiều cho thế giới này.
Ngày nay, chúng ta phải suy nghĩ và điều chỉnh việc tu hành có hiệu quả hiện thực hơn. Tuy người tu theo đạo Phật nhiều, nhưng vì không thực hành đạo lý căn bản của đạo Phật nên chúng ta không hình thành được những cộng đồng Phật giáo lớn và thiếu sự đoàn kết chặt chẽ. Hồi giáo nếu cần thiết, họ tập hợp được ngay một lực lượng vài chục ngàn người. Trong khi chúng ta muốn tập hợp hai ngàn đệ tử Phật thì ít khi làm được, do tinh thần người theo đạo Phật ít năng nổ hoạt động; thậm chí còn hiềm khích, chia rẽ, nói xấu nhau.
Nhìn lại, chúng ta có những nhược điểm sau:
Đạo Phật chưa được ứng dụng nhiều trong đời sống thực tế. Ví dụ, chúng ta đi chùa năm, mười năm mà vẫn không có thay đổi gì đặc biệt, chúng ta chưa ứng dụng giáo lý vào cuộc sống. Chúng ta tới chùa tu học, khi về lại nhà, về lại xóm làng, ai cũng thấy mình nhân ái hơn, hiền lành hơn, can đảm hơn, nhẫn nhục chịu đựng hơn, biết giúp đỡ mọi người nhiều hơn... Người ta phải thấy đạo lý tỏa ra, mới tin theo đạo Phật.
Người theo đạo Phật thiếu quyết tâm truyền bá Phật Pháp như các tôn giáo khác, thường chỉ thích tu cho mình. Các đạo khác, không những giáo sĩ mà tín đồ cũng quyết tâm truyền đạo. Trong tâm chúng ta, mỗi người phải có tâm nguyện giúp người khác hiểu được giáo lý đạo Phật và sẵn sàng hiểu biết thêm đạo khác. Chúng ta chấp nhận giao lưu và so sánh, chứ không e ngại về cái sai, cái đúng của đạo nào. Ví dụ, người Thiên Chúa giáo nói về bác ái, chúng ta nói về lòng từ bi; hoặc họ nói về cái chết, về nước Chúa, chúng ta nói về giáo lý vô ngã, về giải thoát luân hồi sinh tử. Chúng ta tranh luận chân chính, chân tình, không giận dữ, gay gắt. Còn đối với người chưa biết đạo, chúng ta phải nỗ lực truyền đạo đến cho họ, cho họ tin có luật Nhân Quả để họ sống tốt với mọi người. Chúng ta phải làm sao truyền bá Phật Pháp tràn lan khắp nơi để cứu tâm hồn, cứu cuộc đời mọi người. Chúng ta khuyên người khác phải có lòng tin nhân quả, có lòng từ bi, nhẫn nhục. Giúp người khác tiền muôn bạc vạn không bằng cái phước giúp người khác hiểu và ứng dụng giáo lý đạo Phật, đặc biệt là hiểu, tin và sống theo Luật Nhân Quả.
Người đệ tử Phật không cương quyết Phật hóa gia đình, nghĩa là khi biết đạo rồi, chúng ta chỉ tu riêng mình, anh chị em, con cháu ai không tu cũng được, đây là điều không hay! Vì có nhiều đạo, cha mẹ theo đạo nào con cái phải theo đạo đó ngay từ nhỏ.
Thử nhìn lại gia đình chúng ta, cha mẹ theo đạo Phật mà con cái chẳng biết chút gì về đạo Phật; thậm chí lấy chồng, lấy vợ phải theo đạo của chồng, của vợ. Cho nên, ngày nay, chúng ta phải Phật hóa gia đình ngay từ đầu, cha mẹ theo đạo Phật, con cái ngay từ nhỏ phải theo đạo Phật. Điều này, nếu được thực thi chặt chẽ, cương quyết thì năm mươi, một trăm năm sau, chúng ta mới có nền tảng Phật hóa gia đình.
Ngoài ra, có một điều tế nhị nói ra cũng đáng buồn là trong hàng ngũ người theo đạo Phật còn có sự ganh tị nhau. Chúng ta cũng không hiểu vì sao, trong khi chúng ta tu từ bi, vô ngã mà lại có sự ganh tị nhau? Chúng ta phải tránh cho được điều này, nhất là trong hàng ngũ Tăng Ni. Tăng, Ni phải biết xưng tán lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau; đồng thời người Phật tử cũng biết góp ý, phê bình vị Tăng, Ni nào ưa gây chia rẽ. Vì người Phật tử ủng hộ đạo pháp có quyền lên tiếng nói về những điều sai trái, mới góp phần xây dựng trong đạo sự đoàn kết để cho đạo Phật được mạnh.
Trước sự phát triển của các loại văn hóa gây nguy hiểm cho thế giới, chúng ta phải xây dựng lại đạo Phật, đưa đạo Phật vào xã hội, vào đời sau và rộng hơn. Đạo Phật phải đứng lên cứu thế giới bằng giáo lý, đạo lý tuyệt diệu của Đức Phật đã dạy. Để làm được điều đó, từng người đệ tử phải là “chiến sĩ” dám tử vì đạo. Vì Đức Phật, vì Đạo pháp, chúng ta chấp nhận hy sinh, chấp nhận bỏ thân mạng này. Không phải vì được lên “thiên đường” để gặp tiên nữ mà vì đó là cuộc sống đẹp, cái chết có ý nghĩa, xứng đáng, làm lợi cho đạo, để mọi người được sống với đạo lý từ bi, biết và tin Luật Nhân Quả.
Để có một nền văn hóa mới cho thế giới thì ngày nay, thế giới cần gì?
Thứ nhất, thế giới cần sự bao dung giữa các tôn giáo. Nghĩa là các tôn giáo chấp nhận nhau. Đạo Phật chấp nhận đạo Hồi có những điểm hay, chấp nhận đạo Thiên Chúa có những điểm hay và ngược lại. Đối với tín ngưỡng, phải biết chấp nhận những điều hay của các tôn giáo khác; chứ không phải phủ nhận các tôn giáo khác mà chỉ nhìn nhận tôn giáo của mình.
Thứ hai, gạn lọc ưu điểm của từng nền văn hóa. Nghĩa là giữa các khối văn hóa Hồi giáo, văn hóa phương Tây, văn hóa phương Đông... Chúng ta gạn lọc để tìm những điều cao đẹp cho nhân loại, chứ không phải cố chấp nền văn hóa của mình áp đặt lên người khác. Ví dụ, đối với phương Tây, chúng ta thấy rằng tự do quá trớn là một sai lầm, chúng ta cần loại bỏ. Nếu không loại bỏ thì các thế hệ con cháu chúng ta càng sa đọa, trụy lạc; con người sẽ mất nhân cách, kém đạo đức... Hoặc đối với văn hóa buộc mọi người phải theo đạo bằng bạo lực thì phải xem xét lại. Vì theo tôn giáo nào là quyền quyết định của mỗi người chứ không ai được ép buộc ai. Chúng ta được quyền chế tài tội phạm theo luật pháp. Nhưng trên quan hệ giữa người với người, chúng ta không có quyền ngược đãi họ mà chính chúng ta phải giáo dục, thuyết phục để họ tránh được sai lầm.
Thứ ba, cần có Luật Nhân Quả và đạo lý Từ bi làm nền tảng cho văn hóa thế giới. Chúng ta thấy có sự trùng hợp giữa Hồi giáo, Thiên Chúa giáo và Phật giáo về sự thưởng phạt mà trong đạo Phật gọi là Luật Nhân Quả. Ví dụ, trừng phạt kẻ ác, tán thưởng điều thiện. Người tốt xứng đáng được hưởng niềm hạnh phúc, người xấu phải nhận quả báo xấu đến với họ. Đó là sự công bằng. Sự công bằng đó đúng với lương tâm nhân loại, là ý Allah, là ý Chúa. Như vậy, thế giới cần có luật Nhân Quả công bằng để làm nền tảng văn hóa cho nhân loại.
Người đệ tử Phật có trách nhiệm truyền bá luật Nhân Quả cho toàn thế giới, đem đến cho thế giới một ý niệm về sự công bằng để con người đối xử tốt với nhau, không còn cảnh ngược đãi nhau, làm khổ nhau. Chỉ những con người sống tốt, đối xử tốt với nhau mới được quyền hưởng hạnh phúc; đó là sự công bằng của luật Nhân Quả. Đồng thời, người Phật tử phải truyền bá đạo lý Từ bi. Con người phải được hướng dẫn về tình thương yêu. Từ lúc nhỏ, con trẻ phải biết thương yêu người khác, thương yêu súc vật, thương yêu cuộc sống, thương yêu nhân loại và trái đất chúng ta. Để được như vậy, chúng ta phải có quá trình tu tập: tu tập lòng yêu thương giữa người với người hay với muôn loài rất vất vả. Chính người đệ tử Phật phải biết tu tập lòng thương yêu và đem kinh nghiệm đó truyền ra khắp thế giới, kêu gọi thế giới tu tập lòng từ bi. Nơi nào có tình thương yêu, nơi đó có hạnh phúc, nơi đó sẽ không có đau khổ.
Thứ tư, điều thế giới cần nữa là sự bảo vệ cơ cấu gia đình bền vững. Nghĩa là, cha mẹ thương yêu con, dạy con cho hết bổn phận, cho tròn trách nhiệm của mình; đồng thời, con phải vâng lời cha mẹ dạy bảo, phải hiếu kính cho tròn đạo làm con đối với cha mẹ. Như vậy, cơ cấu gia đình mới bền vững, làm bệ phóng cho con người bước ra cuộc đời, bước ra xã hội và có trách nhiệm với cộng đồng. Nghĩa là, con người có bệ phóng tốt, có nơi xuất phát tốt và có chỗ nương tựa là gia đình, chỗ lui về yên nghỉ, nơi đã từng cho con người tình thương yêu suốt thời thơ ấu êm đềm, tốt đẹp. Chúng ta không thể không có tổ ấm, sống bấp bênh, không ai nuôi dạy, không có chỗ quay về!
NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC VĂN HÓA PHẢI NHƯ THẾ NÀO?
Chúng ta cần biết rằng việc bảo vệ văn hóa rất quan trọng. Chúng ta phải cứng rắn để bảo vệ văn hóa dân tộc. Văn hóa dân tộc không thể bị mất đi bởi sự “xâm lăng” của văn hóa phương Tây hay văn hóa ngoại lai. Người làm công tác văn hóa phải có tấm lòng với dân tộc, phải hiểu sâu sắc văn hóa dân tộc, phải thực hành mới dẫn dắt, lãnh đạo văn hóa dân tộc phát huy sức mạnh tinh thần dân tộc. Người lãnh đạo văn hóa có trách nhiệm với văn hóa dân tộc. Người đó cần phải biết thiền định, biết tập khí công, biết tu tập từ bi và hiểu biết các loại hình nghệ thuật cổ, có chiều sâu về triết học phương Đông. Người lãnh đạo văn hóa phải thực hành, phải sống trong văn hóa dân tộc, biết được cái hay cái đẹp của văn hóa dân tộc mới hết lòng, mới quyết tâm bảo vệ nền văn hóa dân tộc.
Ngược lại, nếu người làm công tác văn hóa hời hợt, không chiều sâu, mà luôn luôn cho rằng văn hóa phương Tây là hay, rồi đưa vào nước áp dụng, không khéo lại hủy hoại tâm hồn các tầng lớp trẻ. Vậy là phá hỏng trụ cột của đất nước. Nhà nước Trung Quốc cho dạy võ Thiếu Lâm trong các trường phổ thông. Học sinh Trung Quốc đều được học võ cổ truyền. Bao nhiêu học sinh Trung Quốc sau này lớn lên là bấy nhiêu chiến sĩ giỏi võ nghệ. Chúng ta đi chậm một bước. Muốn phát triển, chúng ta phải dạy võ cổ truyền Việt Nam, thiền định, khí công, luật Nhân Quả. Đó là bốn môn chính chúng ta cần đưa vào dạy ở các trường phổ thông. Như thế, hy vọng bao nhiêu học sinh Việt Nam sau này lớn lên là bấy nhiêu công dân biết sống tốt, có đạo đức, giỏi võ nghệ và sắc bén trong tư duy, trong suy nghĩ để xây dựng và bảo vệ đất nước.
Sự kính tin các bậc Thánh là phương pháp tốt để con người bớt buông lung. Như người Thiên Chúa giáo tin đức Chúa Jesus, chúng ta kính tin Đức Phật. Người đệ tử Phật phải tôn kính Đức Phật một cách tuyệt đối. Mỗi ngày, chúng ta phải thiết tha lạy Phật. Phải lạy Phật tới mức thiết tha, lạy Phật với lòng tôn kính tuyệt đối. Đó là bước đầu xây dựng lại đạo Phật vững mạnh.
Ngày hôm nay, chúng ta cần tạo một nền tảng tâm linh cho dân tộc Việt Nam bằng một đạo Phật phù hợp với thời hiện tại. Thời xưa, cách đây 2500 năm, một đạo Phật do Đức Phật để lại trên nền tảng xã hội còn đơn giản. Ngày nay, xã hội phức tạp, chúng ta cũng cần cải cách đạo Phật dựa trên nền tảng cũ cho phù hợp với con người và xã hội hiện đại. Chúng ta không cố chấp, không bảo thủ. Một số người cho rằng ngày nay các Thầy giảng Phật Pháp nghe sao mới lạ, cải cách quá. Bình luận vậy e rằng bảo thủ. Chúng ta không nên quá bảo thủ. Chúng ta cần dựa vào nền tảng giáo lý Phật Pháp để phát triển đạo Phật phù hợp với thời đại ngày nay. Được như vậy, đạo Phật mới có ích cho cuộc đời, mới áp dụng vào cuộc sống của mọi người. Chúng ta phải mạnh dạn cải cách đạo Phật (cải cách đúng đường, đúng hướng). Chúng ta cũng mạnh dạn đối thoại tích cực với các tôn giáo khác để tìm cái hay của họ. Như vậy, chúng ta sẽ phải học tập bài học dấn thân, hiện đại hóa Phật giáo mà ít nhất là khắc phục được ba nhược điểm nói trên.
Chúng ta đã bàn với nhau về sự xung đột giữa hai nền văn hóa lớn trên thế giới. Đó là nguyên nhân gây chiến tranh, bạo lực, khủng bố, nhiều người vô tội đã chết, ngoài nguyên nhân kinh tế, chính trị... Sự xung đột đó nếu không được giải quyết rõ ràng, dứt điểm thì e rằng chiến tranh thế giới lại xảy ra, hủy diệt loài người.
Chúng ta phải có trách nhiệm thắp sáng đạo lý của đạo Phật cho thế giới để người phương Tây, người Hồi giáo kiềm chế lại khi họ đã thấm đạo lý về nhân quả, về lòng từ bi, về tu tập chuẩn mực, về sự hiền lành. Từ hôm nay, hiểu đạo Phật rồi, chúng ta không được lười biếng, thờ ơ nữa; bản thân mỗi người phải tu tập, phải siêng năng lạy Phật tha thiết để tăng được đạo tâm và tăng công đức.
Chúng ta cố gắng truyền bá Phật Pháp cho mọi người để mọi người cùng nhau sống đẹp, biết lo lắng và giúp đỡ nhau. Mọi người giúp nhau một chút, cả nước giúp nhau làm cho kinh tế đi lên. Chúng ta làm hết bổn phận, trách nhiệm của mình đối với gia đình và xã hội cũng chính là xây dựng đất nước đi lên.
Và để bảo vệ Phật Pháp trước nguy cơ xâm chiếm, phá hoại của các phần tử tôn giáo cực đoan, chúng ta rất cần một Nhà nước vững mạnh ủng hộ Phật Pháp. Khi chúng ta có một Nhà nước hết lòng ủng hộ Phật Pháp thì chúng ta cũng hết lòng ủng hộ Nhà nước. Như ngày xưa, đất nước và Phật Pháp hòa làm một nên ông cha chúng ta đã chiến thắng quân Nguyên Mông. Ngày nay, điều đó cũng cần thiết được tái lập trên đất nước Việt Nam chúng ta.


