Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật từng đăng một bài viết tựa đề “Hãy dành một phút để suy ngẫm về cuộc đời chúng ta”, của Nguyễn Cung Vệ Binh. Không biết đây là tác giả, dịch giả hay là người trích dẫn từ Internet. Sau đây là nguyên văn bài viết:
Những nghịch lý của thời đại ngày nay:
Đường phố rộng hơn nhưng quan điểm lại hẹp hòi hơn.
Chúng ta tranh giành nhiều hơn nhưng lại có ít hơn.
Mua sắm nhiều hơn nhưng hưởng thụ lại ít hơn.
Chân Quang Có những tòa nhà đồ sộ hơn, nhưng gia đình lại bé nhỏ hơn.
Cuộc sống tiện nghi hơn nhưng ít thời gian nhàn rỗi hơn.
Bằng cấp nhiều hơn nhưng giá trị lại ít hơn.
Hiểu biết nhiều hơn nhưng nhận xét lại kém hơn.
Nhiều nhân tài hơn nhưng ít sáng tạo hơn.
Sở hữu nhiều hơn nhưng nhân cách giảm nhiều hơn.
Nói quá nhiều, nhưng yêu thương thì quá ít và ghen ghét lại nhiều hơn.
Chúng ta biết cách mưu sinh nhưng không biết tạo dựng cuộc sống.
Sống thọ hơn nhưng sống ít ý nghĩa hơn.
Làm được những điều cao sang nhưng lại không làm được điều đơn giản với đồng loại.
Chúng ta chinh phục được vũ trụ nhưng Đạo Phật và Xã Hội không thắng được cõi lòng.
Thu nhập cao hơn nhưng đạo đức lại suy đồi hơn.
Chuộng số lượng nhưng quên mất chất lượng.
Giải trí thì nhiều mà niềm vui thì ít.
Nhiều thực phẩm hơn nhưng kém dinh dưỡng hơn.
Đây là thời đại của thu nhập gấp đôi nhưng chia ly thì lại nhiều.
Thời đại của sự hào nhoáng bên ngoài nhưng bên trong thì rỗng tuếch.
Thời đại mà công nghệ mang đến cho bạn thông điệp này và cũng là thời đại mà bạn có thể phải lựa chọn, hoặc là sống khác đi, hoặc là chỉ buông xuôi...
Bài viết ngắn ngọn nhưng làm chúng ta phải giật mình, để suy nghĩ về những nghịch lý. Nghịch lý là gì? Là điều có vẻ như ngược với logic thông thường nhưng vẫn đúng, hoặc khó bác bỏ. Dĩ nhiên, không phải chúng ta đồng ý hết mọi điều được nêu ra vì cũng có một vài điều hơi bi quan. Nhưng nhìn chung, những điều tác giả đã nhìn nhận tương đối hợp lý, có những điều rất quý, rất đáng để chúng ta suy ngẫm.
Chúng ta thấy mình có lối sống văn minh, tiến bộ hơn nhưng thực tế lại mất đi nhiều điều đáng quý hơn. Con người hối hả theo đuổi quá nhiều thứ, nhưng lắm khi đang đi về phía bất lợi mà không hay. Vì vậy, chúng ta hãy cùng dừng lại đôi chút để suy ngẫm về những nghịch lý của thời đại, từ đó cân đối lại mọi điều trong cuộc sống của mình.
CHÚNG TA CÓ NHỮNG TÒA NHÀ ĐỒ SỘ HƠN
NHƯNG GIA ĐÌNH LẠI BÉ NHỎ HƠN
Trước đây khi xã hội còn lạc hậu, trong một căn nhà trệt chỉ có gác lửng mà gia đình cả chục người vẫn có thể chung sống êm ấm; hay một mái nhà đơn sơ có thể chứa được một đại gia đình đông đúc gồm ba, bốn thế hệ cùng chung sống. Bà con ở quê đến thăm vẫn được mở rộng cửa đón tiếp. Tình thân tộc thuở ấy thật gần gũi và đậm đà. Những người họ hàng thường quy tụ lại sinh sống gần nhau nên xuất hiện người trưởng tộc (như ở miền Trung và miền Bắc). Người trưởng tộc rất có uy quyền, nắm hết quyền quyết định mọi việc trong dòng họ. Họ cân nhắc, tính toán mọi vấn đề một cách hợp lý, dạy dỗ con cháu rất có nề nếp. Trong một đại gia đình gồm mười mấy gia đình, ai muốn cưới hỏi, ma chay... đều đến xin ý kiến của vị trưởng tộc.
Ở vào thời đó, tuy con người có ít tự do và bị khống chế bởi nhiều quyền lực, vậy mà đời sống gia đình nề nếp, xã hội ổn định, tình nghĩa sâu nặng. Có thể vì khi nghèo người ta không phải đề phòng nhau, còn lúc đã dư dả sung túc, vì có tài sản phải bảo vệ nên ai cũng cảm thấy lo lắng, e dè, nghi kị nhiều hơn. Của cải bỗng trở thành bức tường vô hình ngăn cách người với người, gia đình bỗng nhỏ bé như những ốc đảo cô lập. Nên thời đại ngày nay, con người giàu có hơn nhưng tình người nhạt nhẽo hơn.
Thuở xưa có một ngôi chùa thanh tịnh tọa lạc trên núi vắng. Dù có những vị tu hành chân chính nhưng vì núi cao, đường đi khó khăn nên rất ít người cất công lên đó. Và chùa có tục lệ đặc biệt là tuyệt đối không nhận tiền cúng dường của Phật tử để tránh giặc cướp. Nếu chùa nhận tiền của Phật tử hành hương, thế nào cướp cũng tìm đến, trong khi ở trên núi vắng hầu như không có chính quyền để bảo vệ. Thế là các sư quyết định không nhận tiền. Quan điểm này thật hay. Nếu chùa chỉ sống bằng hiện vật, dĩ nhiên không tích trữ được nhiều, nhưng cũng không phải lo lắng điều gì, ai cũng có thể tới lui. Thời gian sau này, người đi hành hương nhiều, quán xá đông đúc, không biết chùa có còn giữ được sự thanh tịnh, êm ả như ngày nào? Nhưng quả thực cuộc sống là vậy, khi có tiền bạc bỗng nhiên con người buộc phải dè dặt thủ thế hơn, cái tình với nhau vì thế cũng nhạt đi.
Ở những đô thị thời nay, hình ảnh các dãy nhà sang trọng nối tiếp nhau không còn xa lạ. Nhưng lắm khi căn nhà bốn tầng lầu thênh thang chỉ vài người ở mà có thêm một người nữa thì các thành viên thấy khó chịu, không thoải mái. Vì phòng này của em bé, phòng kia của con gái, phòng nọ của con trai, phòng nữa là của ông bà chủ nhà, phòng để thờ, phòng khách... nên không còn đủ chỗ cho người bà con đến tá túc vài hôm. Ngôi nhà rộng lớn là thế, nhưng người ta vẫn viện đủ lý do để từ chối, không ai muốn chia sẻ bớt không gian của mình cho người khác. Tác giả nêu lên một sự thật làm chúng ta phải giật mình suy ngẫm: Chúng ta có những tòa nhà đồ sộ hơn nhưng gia đình lại bé nhỏ hơn. Một câu nói hàm ý nghĩa cụ thể và nghĩa bóng sâu sắc, nêu lên một nghịch lý của thời đại chúng ta ngày hôm nay.
Hơn nữa, con người có nhiều tự do và tiền của hơn nhưng hạnh phúc lại ít đi. Tuy nhiên, tự do càng nhiều càng đi tới chỗ hỗn loạn, bất an, mất hạnh phúc. Còn thời xưa, trong nền văn hóa của Việt Nam có trên dưới, tôn ti trật tự, con người phải nép mình trong những khuôn phép nhất định nhưng đời sống xã hội ổn định hơn; người ta hiền lành, dễ chịu, nề nếp và cũng đậm đà tình nghĩa hơn.
CHÚNG TA SỐNG THỌ HƠN
NHƯNG SỐNG ÍT CÓ Ý NGHĨA HƠN
Có ý kiến cho rằng ông bà ta ngày xưa sống thọ hơn bây giờ. Thật ra theo thống kê khoa học, trước đây tỉ lệ tử vong sơ sinh và người lớn trong độ tuổi 30-50 là rất cao. Thỉnh thoảng mới xuất hiện vài người sống thọ trên một trăm tuổi, còn lại tuổi thọ trung bình khoảng bốn mươi. Trong một làng quê thì chỉ tầm năm, bảy người già, một ít người lớn và rất đông trẻ em. Đến khi hệ thống chăm sóc sức khỏe, y tế cộng đồng và chế độ ăn uống được cải thiện, tuổi thọ trung bình của nhân loại mới tăng lên đáng kể. Số người sống qua khỏi sáu mươi mấy tuổi bắt đầu nhiều lên dần.
Sống thọ hơn nhưng tác giả cảnh giác rằng chúng ta sống ít có ý nghĩa hơn. Câu nói này có vẻ hơi bi quan nhưng cũng làm cho chúng ta giật mình nhìn lại. Vì sao vậy? Mặc dù ngày nay các phương tiện kỹ thuật, dịch vụ chăm sóc y tế giúp chúng ta có sức khỏe, đời sống tiện nghi hơn, dễ tích trữ lương thực, dễ có ngôi nhà kiên cố hơn là mái nhà tranh vách lá ngày xưa... nhưng đó cũng chỉ là vật chất. Nếu mãi đuổi theo vật chất, ta sẽ dần lệ thuộc vào chúng. Trong khi cuộc sống đâu chỉ là vật chất mà còn có những giá trị về tinh thần, tâm linh làm cho cuộc sống thêm phần ý nghĩa.
Cho nên, những người biết dành thời gian quý báu của mình tìm đến các chùa để nghe giảng pháp rất đáng khen ngợi. Hầu hết, họ là những người biết đi tìm giá trị tinh thần. Dù trời mưa gió, dù bề bộn công việc, họ vẫn không bỏ thời giảng pháp ở chùa vì họ hiểu rằng cuộc sống này còn có cái cao hơn vật chất. Đó là tâm linh, tinh thần, là việc làm từ thiện, làm lợi ích cho người khác. Họ thật đáng ngợi khen vì trong cuộc sống này còn biết bao con người không hiểu điều đó. Biết bao con người chỉ đi tìm trò vui tạm bợ, tìm miếng ăn, cái mặc, hơn thua trong danh lợi. Cuộc sống chỉ xoay quanh vòng luẩn quẩn này. Rồi đến lúc nhắm mắt xuôi tay, tiền tài hay danh vọng, chúng ta cũng phủi tay buông bỏ không còn gì. Chính giá trị tâm linh mới là điều chúng ta mang theo được sau khi lìa đời. Đáng tiếc là số người hiểu điều này không nhiều lắm.
CHÚNG TA BIẾT CÁCH MƯU SINH
NHƯNG KHÔNG BIẾT CÁCH TẠO DỰNG CUỘC SỐNG
Ngày nay, ngành nghề đa dạng nên con người có nhiều cơ hội, nhiều cách mưu sinh. Không như ngày xưa, con người chỉ có một số ít ngành nghề, lấy nghề nông làm nghề chính. Suốt ngày, con người quần quật ở đồng ruộng, ở nương rẫy, hoặc làm thợ mộc, thợ hồ. Người có ăn học một chút thì làm thầy phán, thầy giáo, thư ký,... Xã hội dần dần phát triển, việc làm nông bớt dần vì thu nhập không cao. Các nước trên thế giới đều phải bù lỗ cho ngành nông nghiệp. Như cà phê bị rớt giá nặng, nhưng cà phê được uống ở tiệm thì giá vẫn cao; nghĩa là người làm dịch vụ hưởng lợi còn người nông dân thì lỗ lã. Những người làm ngành nghề khác, một ngày lương gấp mấy trăm lần ngày làm của một nông dân. Tiền lương, hoặc thu nhập khác luôn luôn cao hơn nghề nông. Vì thế, sinh viên bước vào đời có nhiều cơ hội chọn ngành nghề để tiến thân, để mưu sinh nên không chọn nghề nông, dù đó là những nghề căn bản từ ngày xưa.
Tuy nhiên, cuộc sống không phải chỉ có kiếm ăn, kiếm mặc, kiếm tiền. Cuộc sống còn có nhiều ý nghĩa khác hơn. Những ý nghĩa khác hơn ngoài ăn, mặc và tiền bạc, là tạo dựng một cuộc sống tinh thần tốt đẹp, với một nội tâm an tĩnh, biết thương yêu chân thật... Nhưng chúng ta hầu như đã quên cuộc sống còn vô số điều có ý nghĩa đó, mà chỉ giỏi mưu sinh, giỏi kiếm tiền nên chúng ta luôn luôn cảm thấy bất an, trầm cảm, tinh thần căng thẳng.
Chúng ta đi trên đường phố đông người chật chội chen chúc, thử hỏi có bao nhiêu người biết tạo dựng cho mình một cuộc sống có ý nghĩa hơn, hay chỉ là tất bật ngược xuôi trên vạn nẻo đường đời để tìm cho mình chút danh, chút lợi phù du nào đó. Chúng ta may mắn đến được với mái chùa, dưới bóng cây bồ đề, trong cái nhìn từ hòa của chư Phật, dưới sự thương yêu, sự dạy dỗ ân cần của chư Tăng, Ni. Chúng ta tìm được hướng đi bên cạnh cuộc sống tầm thường này.
Hướng đi đó là gì? Hướng đi đó là chúng ta tìm cuộc sống tâm linh, tinh thần cao hơn, có ý nghĩa hơn. Đó là cuộc sống với tương quan tốt đẹp giữa người và người, chứ không phải chỉ đóng khung nơi mình.
Có một lần, một nhóm Phật tử cùng hát một bài nhạc đạo, trong đó có câu thế này: “Ở trên đời này không ai cho chúng ta niềm vui, không ai cho chúng ta hạnh phúc. Cho nên chính chúng ta phải tìm hạnh phúc an trụ nơi chính mình”. Họ rất hài lòng về bài hát này.
Qua bài nhạc này, chúng ta thấy có nhiều người đã hiểu sai về đạo Phật. Chúng tôi có nhận xét ngay để cảnh giác những Phật tử đó, nếu không thì họ hiểu đạo lý như vậy là hiểu sai đạo Phật. Chúng ta phải hiểu rằng giữ gìn chánh niệm tỉnh giác bằng cách luôn luôn kiểm soát tâm hồn mình. Nhưng kiểm soát tâm hồn mình là để hóa giải bản ngã nơi chính mình (chứ không phải kiểm soát tâm hồn mình rồi củng cố bản ngã đó). Chúng ta phải thường xuyên nhìn vào tâm hồn mình, giữ gìn tâm hồn thanh tịnh, từng niệm khởi lên mình biết để buông nó đi: kiểm soát tham, sân, si để buông nó đi. Đó gọi là tu hành, gọi là chánh niệm tỉnh giác, là luôn luôn nhìn lại tâm mình để kiểm soát. Nhưng nếu hiểu sai một chút, tức là hiểu rằng hạnh phúc chỉ có trong tâm mình, niềm vui chỉ có trong tâm mình mà bên ngoài không ai cho được; đứng nơi mình mà an trụ chính mình. Quan điểm như vậy không ngờ làm củng cố bản ngã trong khi đạo Phật là đi tìm đạo lý vô ngã.
Chúng ta kiểm soát tâm để hóa giải bản ngã, hóa giải mọi tâm niệm. Nhưng hóa giải bản ngã để làm gì? Không phải để đắc đạo làm Thánh rồi được mọi người lễ lạy cung kính. Mơ ước đó hiện thân của lòng vị kỷ. Hãy nhớ rằng chúng ta đi tìm vô ngã là để thương yêu chúng sinh một cách trọn vẹn hơn, tuyệt đối hơn. Đó là lộ trình mà đạo Phật hướng chúng sinh về, cũng là điều làm cho cuộc sống đầy ý nghĩa hơn. Bên cạnh những lo toan miếng cơm manh áo hàng ngày cho cuộc sống, chúng ta có niềm tin, có chỗ dựa vào Phật Pháp để tìm tình thương yêu bao la giữa người với người. Đó là cuộc sống có ý nghĩa, chứ không phải chúng ta chỉ biết quần quật đi tìm lợi danh để rồi một ngày nào đó cũng phải buông bỏ hết.
Ngoài ra, cuộc sống còn có nhiều ý nghĩa khác nữa. Ví dụ, việc quan tâm dạy dỗ con cái kỹ lưỡng hơn. Ở trường, học sinh không được học cách dạy con vì lứa tuổi không phù hợp. Tại chùa, Phật tử cũng không được chỉ bảo cách dạy con hiệu quả vì Tăng Ni xem đời sống hôn nhân gia đình là ái dục – vấn đề không nên nói đến. Nhưng trong thực tế số người xuất gia rất ít, còn đa số mọi người đều theo duyên nghiệp mà phải bước vào hôn nhân. Và con cái là một mối bận tâm rất lớn.
Theo bản năng, cha mẹ nào cũng thương yêu con nhưng nuông chiều con, tập cho con có thói quen hưởng danh, hưởng lợi là không tốt. Cha mẹ dạy dỗ con cái phải khắt khe hơn, lấy việc dạy dỗ con cái nên người làm niềm vui trong cuộc sống của mình. Bỏ bê con cái là cái tội trước mắt; nuông chiều con cái là cái tội về sau.
Cha mẹ để ý những điều này:
- Đừng dồn tiền đầu tư cho con quá nhiều mà cha mẹ hết phước, việc làm ăn trở nên khó khăn.
- Đừng biểu lộ tình thương cho con quá nhiều mà con khó dạy.
- Đừng chiều ý con vội, mà phải cân nhắc kỹ, để cho con phải tự suy xét trước khi xin điều gì.
- Đừng cho con hưởng thụ nhiều mà mau hết phước, ngược lại, phải tập cho con tiết kiệm để làm phước từ khi bé.
- Đừng cho con mở miệng chê bai ai mà sau này không thành công được.
- Đừng xem con mình là tất cả, vì còn những điều cao quý khác mà cha mẹ phải hướng đến, đạo lý, quê hương, từ thiện.
Vì vậy, chúng ta phải biết thương yêu và dạy dỗ con cái có phương pháp, có hướng đi. Để nhằm mục đích gì? Trước hết là để bảo vệ con cái chúng ta thoát khỏi hiểm họa ma tuý, vì nếu chúng lỡ sa vào một lần là cả cuộc đời tàn lụi. Ma túy, thuốc lắc là thứ hủy hoại con người khủng khiếp. Đây là mối hiểm họa quá lớn vì có liên quan đến đồng tiền và tội ác, làm xã hội rối loạn lên.
Giới thứ năm của đạo Phật là cấm uống rượu. Nhưng chúng ta phải hiểu nghĩa rộng hơn là thứ gì làm cho con người ghiền, làm cho con người mê muội tâm trí là cấm, chứ không chỉ riêng cấm uống rượu; ma túy, các chất gây nghiện đều cấm. Người Phật tử phải hiểu như vậy mới thật sự hiểu đầy đủ ý nghĩa của giới cấm thứ năm. Người thọ giới không chỉ giữ giới hạnh trong sạch cho riêng mình là đủ. Trước hết, bản thân chúng ta không dùng các chất gây nghiện, thấy ai dùng các chất nghiện thì khuyên bảo, ngăn cản; thấy ai bán chất gây nghiện phải báo công an. Giữ giới thứ năm là chúng ta phải thực hiện những điều như vậy mới đầy đủ.
Cuộc đời có nhiều điều để chúng ta bận tâm hơn, chứ không phải chỉ đi tìm miếng ăn, cái mặc. Chúng ta không được sống thụ động, yếu đuối. Sống thụ động, yếu đuối có cái giá phải trả rất đau khổ. Có những người bị quả báo đau khổ mà không hiểu vì sao, họ nói tôi hiền mà sao tôi khổ quá. Đúng, vì hiền quá mà thành thụ động trước cái khổ của người khác; làm lơ trước sự cực khổ của người khác nên nhận lại đau khổ về sau. Vì thế, người Phật tử phải sống cuộc sống mạnh mẽ, năng nổ mà rất hiền lành. Cái khó của người tu là hiền lành nhưng rất mạnh mẽ và năng nổ, chứ không phải hiền lành để thụ động. Đây là chánh kiến. Còn hiểu khác là biên kiến chứ chưa nói là tà kiến vì tà kiến rất nặng. Biên kiến là gì? Biên kiến là nhìn một mé, một phía. Ví dụ, có người nói hiểu đạo Phật tức là phải sống hiền lành, người này mới nhìn thấy một phía gọi là biên kiến. Hoặc nói hiểu đạo Phật phải sống năng nổ, không thụ động. Ai chọc giận thì mắng lại họ, người này cũng hiểu đạo Phật theo biên kiến. Người có chánh kiến là sống hiền lành nhưng rất năng nổ, nỗ lực làm lợi ích cho người khác. Một cuộc sống như vậy mới có ý nghĩa.
Hoặc chăm sóc cha mẹ tận tình hơn cũng làm cho cuộc sống có ý nghĩa. Tất bật với cơm áo gạo tiền, đôi khi chúng ta đã quên đi những người thương yêu bên cạnh mình. Không ít người cho rằng nếu chăm lo nhiều cho cha mẹ thì thời gian làm ăn còn rất ít, lợi nhuận sẽ giảm sút. Như vậy, họ biết cách mưu sinh nhưng không biết tạo dựng cuộc sống. Ở đây chúng ta cần hiểu rằng, người xuất gia không có điều kiện, không có duyên để chăm sóc cha mẹ mình; còn người tại gia phải cố gắng làm cho được việc chăm sóc cha mẹ vì đây là đạo lý, là đạo đức, là bổn phận thiêng liêng của đời người. Nếu một người chỉ biết lo làm ra nhiều tiền, không còn thời gian để chăm sóc cha mẹ (dù cũng hiểu được việc làm đó là cần) thì người này chỉ biết mưu sinh mà không biết tạo dựng cuộc sống. Người biết tạo dựng cuộc sống chấp nhận việc giảm bớt lợi nhuận trong làm ăn, giảm bớt thời gian kiếm tiền để có thời gian chăm sóc, yêu thương cha mẹ; người này tạo dựng cuộc sống đẹp hơn, có tình người hơn, có đạo lý hơn.
Vì sao có những xã hội rất giàu có? Bởi vì người sống ở những xã hội đó đa phần chỉ lo làm ăn. Họ làm việc quần quật mười bảy, hai mươi tiếng đồng hồ một ngày, bỏ mặc các tình cảm khác. Họ làm việc như vậy nên hiệu quả rất cao, họ rất giàu và đất nước họ hùng mạnh. Nhưng đi sâu vào cuộc sống trong xã hội đó, chúng ta sẽ thấy tình người rất ít, con người sống với nhau lạnh lùng quá! Người Việt Nam chúng ta quen sống tình nghĩa, nếu sống trong xã hội đó sẽ không phù hợp. Họ biết mưu sinh mà nhiều khi không biết tạo dựng cuộc sống. Thật ra, có khi cuộc sống hạnh phúc bắt nguồn từ những điều rất đơn giản. Như khi lắng nghe một khúc nhạc cổ điển cũng là biết sống có ý nghĩa. Những người tinh tế, có trí tuệ, có chiều sâu, có trình độ mới nghe nổi, mới thưởng thức được những bản nhạc giao hưởng, không lời, chỉ có Violon, Piano... hoà với nhau. Tuy không lời mà người nghe hiểu được tác giả muốn biểu hiện điều gì qua bản nhạc: nỗi nuối tiếc, khắc khoải nào đó; một sự thương yêu, đợi chờ, nhớ nhung nào đó... Từng nốt nhạc chen vào nhau, hòa vào nhau, hỗ trợ cho nhau tạo thành một vẻ đẹp của cuộc sống này. Người phương Tây có cái hay đó. Nền nhạc giao hưởng cổ điển của người phương Tây phát triển rất cao. Đó cũng là biết tạo dựng cuộc sống có ý nghĩa.
Hoặc như ở thành phố làm ăn tất bật, có mấy ai lên sân thượng để ngắm hoàng hôn một cách thảnh thơi hay ngắm ánh trăng sáng vằng vặc của đêm rằm? Đi làm về thì cũng tới giờ bộ phim đang xem được chiếu tiếp. Hoàng hôn hay trăng thanh gió mát nào có ích lợi gì, ti vi hấp dẫn hơn. Cho nên kỹ thuật cho chúng ta tiện nghi nhưng làm cho chúng ta mất cái gì quý giá mà thiên nhiên ban tặng.
Chúng ta còn tạo dựng một cuộc sống có ý nghĩa hơn, bằng cách biết lễ Phật thiết tha hơn hay đến viếng chùa quỳ trước Phật đài, thắp nén hương lạy Phật với tất cả tấm lòng tôn kính. Chúng ta tôn kính Phật, bởi vì lòng từ bi vô tận của Phật; bởi vì trí tuệ của Phật; bởi vì Phật để lại cho chúng sinh ánh sáng chân lý và lẽ phải để ngày hôm nay chúng ta có con đường đi. Nhân nói về con đường cho chúng ta đi, có người hỏi chúng tôi: “Có phải tu thì không cần phải học”. Chúng tôi trả lời: “Tu không cần phải học như đi mà không cần biết con đường sẽ đưa mình đi về đâu”. Tu mà không cần phải học, đó là một loại tà kiến. Có những người chủ trương cực đoan, thấy ai học hoặc nghiên cứu giáo lý thì cho rằng tu như vậy là con mọt sách, chỉ là kiến giải; tu không cần phải học mới là tinh tấn tu. Thật ra, tu không cần phải học như đi mà không cần biết đường, đi một cách “liều mạng”, không biết sẽ đi về đâu.
Còn khi chúng ta biết hướng về Phật Pháp, hướng về tâm linh là chúng ta biết tạo dựng một cuộc sống có ý nghĩa. Chúng ta tụng một thời kinh ngắn với trọn tấm lòng của mình. Nếu không có thời giờ, chúng ta chỉ lạy Phật và đọc một bài kệ bốn câu, hay tám câu rút ra ở đâu đó và chiêm nghiệm. Ví dụ, chúng ta đọc: “Không có giai cấp khi máu cùng đỏ. Không có giai cấp khi nước mắt cùng mặn”; “Lửa nào tắt được lửa. Thù nào diệt được thù. Tình thương diệt thù hận. Là định luật ngàn thu”. Đọc xong, chúng ta lạy Phật rồi chiêm nghiệm điều Phật dạy, như thế làm cho cuộc sống của mình có ý nghĩa hơn.
Có những việc từ thiện dù lớn hay nhỏ, chúng ta cố gắng chịu khó, chịu cực một chút để san sẻ cho người cũng làm cho cuộc sống chúng ta có ý nghĩa, hơn là chỉ biết mưu sinh. Như cứu trợ đồng bào ở vùng bị thiên tai lũ lụt, vùng có đồng bào nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Hoặc một buổi chiều mát dịu nào đó, hãy rủ nhau thành từng nhóm nhỏ đi nhặt rác hay quét dọn sạch sẽ xóm làng. Dù nhặt rác nhưng mọi người vẫn mặc áo quần tươm tất lịch sự và vài người trong nhóm sẽ mang theo bandroll “Xin đừng xả rác”. Nhìn thấy hình ảnh này, những ai tùy tiện nhất cũng phần nào cảm thấy e dè. Có một điều chúng ta không hiểu được là tại sao người ta hay tìm miệng cống để bỏ rác. Mỗi lần mưa xuống, nước không có chỗ thoát, vì miệng cống bị nghẹt; đường phố bỗng biến thành dòng sông. Điều này rất phổ biến, thậm chí có một số miệng cống gần chùa, gần miếu người ta cũng không ngần ngại đổ nước dơ hay bỏ rác. Qua đó chúng ta hiểu rằng trình độ văn hóa người dân còn thấp và biểu hiện cái tâm ích kỷ của con người. Nhà nước tổ chức công nhân nạo vét cống rãnh.
Chúng ta mang ơn những công nhân vệ sinh, vì việc làm của họ làm cho đường phố trở lại sạch đẹp. Chúng ta có thể bồi dưỡng họ bằng những ly sữa đậu nành, những đĩa bánh... Có thể họ sẽ cảm động vì biết rằng cũng có nhiều người đồng cảm với nghề nghiệp của họ, cái nghề làm sạch đẹp cho đời. Thật cao quý!
Như trên, tác giả đã đưa ra một nghịch lý là “Chúng ta biết cách mưu sinh nhưng không biết cách tạo dựng cuộc sống”, điều này rất đúng cho những ai suốt cuộc đời chỉ đi tìm hạnh phúc bằng tiền bạc, lợi danh; thứ hạnh phúc phù du, không bền. Cuộc sống không đơn thuần là chuỗi ngày lao vào mưu sinh. Ngược lại, thay vì chỉ kiếm tiền tích lũy cho nhiều, kiếm lợi danh để mong con cái sung sướng, để bản thân thụ hưởng, chúng ta dành bớt thời gian và sức lực để chăm sóc cha mẹ, để làm những điều thiện, để hướng về tâm linh, để tạo dựng cuộc sống có ý nghĩa hơn.
TRÒ GIẢI TRÍ NHIỀU HƠN
NHƯNG NIỀM VUI THÌ ÍT HƠN
Cùng với sự phát triển của thời đại, ngày càng có nhiều trò giải trí với những loại hình khác nhau, con người tùy thích lựa chọn để thỏa mãn thú vui. Ở nước ta, chưa kể những nơi khác, chỉ cần đến Suối Tiên hay Đầm Sen là biết bao nhiêu trò giải trí. Ở nước ngoài, các trò giải trí còn đa dạng hơn, có rất nhiều trò chơi tạo cảm giác mạnh. Chẳng hạn trong trò nhảy bungee nổi tiếng, người chơi được buộc chắc một sợi dây vào chân, sau đó thả mình rơi tự do cho đến khi dây kéo lại ở một khoảng cách an toàn. Trò nhảy dù cũng tương tự. Người ta lên máy bay rồi nhảy xuống từ một độ cao nhất định. Đến khi cách mặt đất khoảng 800m, họ bung dù để làm chậm tốc độ và hạ cánh. Ngoài ra, còn có các trò mạo hiểm khác như đu dây, lướt ván canô, chèo thuyền vượt thác... Luôn có người sẵn sàng chi một số tiền lớn để đổi lấy cảm giác phấn khích trong thoáng chốc như thế.
Kỹ thuật càng cao thì càng nhiều trò chơi mới lạ xuất hiện. Tâm lý con người luôn thích thay đổi - đó là một nguyên lý. Điều gì tạo cảm giác thích thú, dù vui đến mấy vẫn gây ra sự nhàm chán. Dù món ăn có ngon đến mấy, con người cũng không thể ăn mãi. Dù trò chơi có hấp dẫn vô cùng, họ vẫn sẽ tìm đến những trò khác mới lạ hơn. Nên các game máy tính có vô số thể loại khác nhau: đánh đấm, chiến tranh, tiêu diệt người ngoài hành tinh... Tất cả đều phải hấp dẫn, phức tạp và liên tục được đổi mới, nâng cấp để trẻ có cảm giác mới lạ. Một quán Net không bắt kịp những xu hướng game hiện đại nhất sẽ thua lỗ rất nhanh. Không đứa trẻ nào chơi mãi một trò được. Hoặc người thích bơi lội thì bơi mãi cũng ngán, họ bắt đầu chuyển sang đua ngựa. Kẻ say mê cờ bạc, khi đã chán sẽ tìm đến vũ trường... Khi kỹ thuật càng cao, nhiều trò chơi mới lạ cũng ồ ạt xuất hiện để thỏa mãn sự cả thèm chóng chán của con người. Đây là tâm lý kỳ lạ nhất, cũng là thủ phạm gây ra vô số rắc rối cho cuộc đời. Vì sao vậy?
Sự hưởng thụ luôn làm tăng trưởng ích kỷ. Ngược lại, tâm ích kỷ càng khiến con người thích hưởng thụ nhiều trò vui. Hai tâm lý này luôn đi đôi với nhau. Đó là lý do tại sao những người chồng thích nhậu nhẹt thường xem nhẹ gia đình, bỏ bê vợ con. Người nào thích hưởng thụ tức là người đó ích kỷ. Đã ích kỷ, chắc chắn họ chỉ lo quẩn quanh tìm vui cho mình thay vì chu toàn bổn phận với gia đình, lo cho hạnh phúc của người chung quanh.
Khi chưa có niềm vui để hưởng thụ thì ích kỷ chưa hiện hình rõ. Có những cặp vợ chồng mới lấy nhau, những năm đầu, người chồng rất thương yêu vợ con. Nhưng một ngày đẹp trời nào đó, có người bạn rủ đi nhậu. Người chồng dần thích trò vui đó, tức là tâm hưởng thụ xuất hiện, thì tâm ích kỷ ngay đó cũng đi theo. Thế là người chồng bỏ bê vợ con một chút. Đến một ngày khác, người bạn nhậu lại rủ đi bia ôm, người chồng thấy bia ôm còn vui hơn nên càng thích hơn. Tâm hưởng thụ mạnh thì tâm ích kỷ cũng mạnh hơn trước, người chồng càng vô trách nhiệm với vợ con hơn.
Vì thế, tâm hưởng thụ và ích kỷ là một - kết luận này rất chính xác. Càng hưởng thụ trò vui chừng nào thì sẽ càng ích kỷ chừng nấy.
Có những người vợ biết chồng quá ham vui mới nghĩ ra cách bày trò vui tại nhà để giữ chồng. Họ để chồng tự do uống rượu ở nhà và gọi người tới nhà đánh bài chung với các ông. Nhưng các trò vui đó có giữ được chồng ở nhà không? Không, vì người đàn ông thích hưởng thụ chắc chắn sẽ vẫn ích kỷ, tiếp tục bỏ mặc gia đình, không ở hình thức này cũng ở hình thức khác. Chỉ khi nào người ta vượt lên trên điều này, không tìm niềm vui, bớt hưởng thụ niềm vui thì người ta mới bớt ích kỷ.
Trở lại nguyên lý tâm con người luôn luôn thay đổi. Người ta thích thay đổi trò vui vì một trò vui nào rồi cũng chán. Như các trò vui vi tính (games) thay đổi luôn luôn mới thu hút người chơi. Có những người đàn ông chỉ xem vợ như một trò vui. Lúc đó chuyện gì xảy ra? Người chồng sẽ thay đổi từ trò vui này sang trò vui khác. Hôn nhân là một bổn phận, sự ràng buộc thiêng liêng giữa vợ chồng để cùng nhau xây dựng cuộc sống rồi hướng về sự tu hành. Nếu không ý thức được điều này mà chỉ xem vợ như một trò giải trí, chắc chắn người chồng sẽ thấy cuộc sống gia đình dần trở nên nhàm chán; họ ăn cơm thấy chán nên muốn ăn phở cho lạ miệng. Người ta ví vợ nhà như cơm và vợ bé như phở... cũng ngộ nghĩnh!
Bóng dáng vị kỷ chỉ vắng dần khi con người vượt lên trên điều này, bớt khát khao thụ hưởng, bớt đi tìm niềm vui cho riêng mình. Khổ nỗi ở thời đại này, tâm lý hưởng thụ của con người lại được các nhà kinh doanh khai thác triệt để. Họ tìm cách nhào nặn thêm nhiều trò giải trí để thu về lợi nhuận. Chúng ta phải biết rằng càng nhiều trò vui được bày ra, tức là càng làm tăng ích kỷ trên cuộc đời. Ích kỷ càng tăng thì đau khổ cũng theo đó mà chất chồng.
Có quá nhiều trò giải trí cho người ta tìm tới mua vui. Người ta có vui nhưng niềm vui thật sự, hạnh phúc thật sự thì rất ít... Tác giả thật sâu sắc khi nêu lên nghịch lý này của thời đại chúng ta. Những trò giải trí chỉ đem lại cảm giác lạ, thích thú chứ không phải là niềm vui chân thật, hạnh phúc chân thật của con người, của cuộc đời mỗi chúng ta. Điều này phù hợp với quan điểm đạo Phật khi chúng ta nhìn sâu vào nội tâm con người.
Vậy hạnh phúc chân thật là gì? Chắn chắn trong đời, quý Phật tử đã từng có kinh nghiệm này. Đã có những lúc ta gặp được một niềm vui nào đó và cảm thấy rất thấm thía, đậm đà, ý vị hơn. Chẳng hạn, bất chợt một lúc nào đó, có người nghe được một bài giảng hoặc đọc một cuốn sách đạo lý rồi cảm thấy rúng động toàn thân. Đạo lý đó mang lại một lý tưởng sống quá đẹp, liền giật mình thấy cuộc đời cần phải đi sang một hướng khác.
Tâm hồn người đó tràn ngập niềm vui không thể tưởng được. Niềm vui như thế rất đẹp và ý nghĩa.
Tình thương yêu giữa người với người cũng là hạnh phúc chân thật trong cuộc sống này. Tuy nhiên, nó bao gồm nhiều loại: tình yêu nam nữ, tình yêu gia đình, tình yêu đất nước, tình yêu nhân loại... Tình yêu lớn lao chừng nào thì càng đẹp, càng hạnh phúc và trầm lắng chừng nấy. Ngược lại, tình yêu càng nhỏ hẹp thì cảm xúc càng mạnh, tuy nhiên lại không đẹp, không vững bền lắm. Như tình yêu nam nữ là một cảm xúc mãnh liệt, mạnh hơn tất cả tình cảm khác nhưng không dài lâu.
Xuân Diệu đã nói:
“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Nghìn năm hồ dễ mấy ai quên”.
Hoặc có câu nói tương tự của Nguyễn Du:
“Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không”.
Cảm xúc của tình yêu nam nữ là vậy, nó xao động và mãnh liệt nên làm cho con người có cảm giác đó là hạnh phúc vĩnh cửu, nhưng thật ra lại rất tạm bợ, không bền.
Còn tình yêu đất nước, người ta có thể chết vì quê hương mình nhưng cảm xúc lại nhẹ nhàng, bền bỉ và đậm đà hơn. Tiến thêm bước nữa là tình yêu nhân loại, lại càng sâu lắng hơn và cũng đẹp hơn.
Sống trong môi trường ngập tràn tình thương là một hạnh phúc. Ví như một ngôi chùa, ai cũng trưởng dưỡng tâm từ bi nên luôn đối xử hòa ái với nhau, nghĩ tốt cho nhau. Nơi đó, người lỡ phạm sai lầm vẫn được huynh đệ nhắc nhở trong sự thương yêu, vẫn tha thứ, hoan hỉ bỏ qua. Vậy ngôi chùa này là thiên đường. Người trần thế thường mơ mộng thêu dệt nên một cõi thiên đường đầy hào quang phép lạ, cung đình nguy nga, xiêm y lộng lẫy... Tất cả những thứ đó không phải là chất liệu xây nên thiên đường. Thật ra, thiên đường được làm nên bởi chất liệu thương yêu. Vì vậy, tấm vé để lên thiên đường không phải được mua bằng dollar, mà phải được mua bởi trái tim thương người. Ai sống được một đời nhân ái tử tế, lúc chết đi sẽ được cho tấm vé để bay về một nơi chỉ có “Người thương người sống để thương nhau”, cực kì hạnh phúc. Tình thương yêu mang đến hạnh phúc thật sự là vậy. Ngược lại, sự thù ghét mang đến khổ đau. Địa ngục không được tạo thành bởi quỷ sứ răng nanh, cưa sắt, chảo lửa, vạc dầu... mà được xây đắp từ chất liệu của sự thù hận và oán ghét. Cho nên, khi chúng ta sống một đời đầy thù hận và oán ghét thì phải hiểu rằng nơi chờ đợi mình là địa ngục tối tăm đau khổ.
Một gia đình muốn có hạnh phúc thì các thành viên trong gia đình đều thương yêu nhau; cha mẹ, anh chị em, con cháu đều thương yêu nhau. Muốn các anh chị em thương nhau, cha mẹ phải khéo léo hướng dẫn, dạy dỗ con cái từng bước. Trước hết, cha mẹ biểu lộ tình thương con cái, rồi mới dạy chúng ăn nói, đối xử tốt với nhau, giúp đỡ nhau như thế nào để khi ra ngoài đời, chúng hiểu rằng không ai thương chúng bằng gia đình. Khi đó gia đình sẽ trở thành một thiên đường thu nhỏ - nơi cho đi niềm vui, là tổ ấm chở che mỗi khi chúng ta vấp ngã muốn tìm về.
Niềm vui chân thật cũng đến từ những việc làm thiện nguyện. Có nhiều người thường vào thăm trại cùi, thăm chỗ nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyết tật hay đi cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt, đến những buôn làng xa xôi để giúp đỡ người dân tộc. Khi họ trở về và được hỏi rằng họ cảm thấy tâm mình như thế nào thì tất cả đều có một câu trả lời giống nhau là rất vui. Đó là nguyên lý, ai mang niềm vui đến cho tha nhân, dù quả báo chưa đến nhưng tâm họ đã ngập tràn hạnh phúc.
Kết quả từ công trình chân chính được theo đuổi lâu dài cũng mang đến niềm vui. Chẳng hạn như một học sinh theo đuổi ước mơ đậu đại học. Đó là ước mơ chân chính theo đuổi lâu dài cực khổ nên khi nhận được kết quả trúng tuyển, cả người học sinh lẫn gia đình đều vỡ òa trong niềm vui. Hoặc những công nhân, kỹ sư, kiến trúc sư... khi xây dựng thành công các công trình có lợi như đập thủy điện Trị An, đường hầm đèo Hải Vân... sự thành công đó đem lại niềm vui lớn cho họ. Chúng ta qua hầm đèo Hải Vân thấy dễ chịu, tránh được nguy hiểm, chúng ta thấy vui, vậy thôi. Nhưng đối với những con người thực hiện công trình đó thì niềm vui rất lớn. Từ những công trình chân chính họ theo đuổi lâu dài cực khổ và đạt được kết quả, mang lại lợi ích cho nhiều người thì hạnh phúc trong tâm họ bền bỉ và lớn lao. Đó là niềm vui chính đáng mà chúng ta đi tìm. Còn những trò vui giải trí rỗng tuếch bên ngoài tốn tiền hao sức, bận tâm vô ích, chỉ làm tăng ích kỷ và gây ra đau khổ mà thôi.
Hoặc chúng ta đọc một cuốn sách giáo lý hay, thấy có lợi ích nên đưa cho người bạn đọc. Người bạn sau khi đọc cuốn sách giáo lý có thay đổi quan niệm sống. Hồi nào chỉ biết kiếm tiền, kiếm danh lợi, tranh chấp và đau khổ, nay họ sống hiền lành hơn, nhường nhịn hơn, biết chia sẻ với người khác. Thấy họ sống tốt, lòng chúng ta vui. Niềm vui là như vậy, khi mang lại lợi lạc cho tha nhân, tâm chúng ta vui hơn, hạnh phúc hơn. Đó là ý nghĩa cuộc sống, cũng là niềm vui chân thật.
Nhưng có một niềm vui, một hạnh phúc lớn nhất là chúng ta an ổn trong Thiền định. Đến với Phật Pháp, tu tập làm được nhiều điều tốt, một ngày nào đó công đức đủ, chúng ta bắt chân ngồi thiền và nhiếp được tâm vào trong Thiền định an ổn. Đó là hạnh phúc cực kỳ không có gì sánh được. Vì thế, dù bận làm bất cứ công việc gì, chúng ta nhớ đừng bỏ việc ngồi thiền.
CHÚNG TA CHINH PHỤC ĐƯỢC VŨ TRỤ
NHƯNG KHÔNG THẮNG ĐƯỢC CÕI LÒNG
Đến nay, những chiếc tàu ngầm đã lặn rất sâu vào lòng biển, những vệ tinh, phi thuyền đã bay vượt lên quỹ đạo để đáp xuống sao Hỏa, đuổi theo sao Chổi và vượt ra khỏi Thái dương hệ. Có thể nói kỹ thuật thời đại này rất cao nhưng đạo đức con người vẫn không hề vượt lên đáng kể. Người ta vẫn không thắng được lòng tham, sự ích kỷ thù hận. Do đó, tác giả cho rằng con người chinh phục được vũ trụ nhưng không thắng được cõi lòng là vậy. Tổ tiên ta khi bị mắng chửi một câu có giận không? Có. Và con người ngày nay cũng vậy, cũng không khác hơn. Từ ngày xưa khi còn cuốc bộ cho đến ngày nay có xe máy, xe hơi để đi, ta đều giận khi nghe lời mắng chửi. Nói cách khác, người ta có thể chinh phục được cả vũ trụ nhưng bản lĩnh của tâm hồn không tiến bộ, kém sâu sắc, đạo đức xuống thấp, xuống dốc... Đây mới là điều khủng khiếp!
Trên thế giới có những nhà hàng bí mật thu mua các thai nhi chết do sinh non hoặc phá thai, sau đó chế biến thành món ăn cho những người đàn ông tẩm bổ để có sức khỏe ăn chơi. Hoặc có nơi hai bộ tộc đánh nhau, khi bắt được người phe kia, họ chặt đầu, mổ bụng và moi tim ra ăn. Có những đứa trẻ chạy thoát cảnh giết hại man rợ đó và thảng thốt kể lại khi được tạp chí Times của Mỹ phỏng vấn. Sự việc được đăng tải và làm bàng hoàng dư luận. Tội ác của con người ngày hôm nay khủng khiếp đến mức chúng ta không thể tưởng tượng được. Có những kẻ mang thân hình con người nhưng đã trở thành ác quỷ. Thật đáng sợ!
Kỹ thuật cứ ngày càng cao nhưng đạo đức không theo kịp, thậm chí còn suy đồi hơn. Kỹ thuật cho năng suất hơn, hiệu quả hơn nhưng người ta quên xây dựng tâm hồn chân chính để sử dụng kỹ thuật đó. Rất nhiều thế lực đã sử dụng tiến bộ kỹ thuật với mục đích xấu. Rồi cả nhân loại phải gồng mình hứng chịu hậu quả. Nền hòa bình thế giới vẫn bấp bênh. Ví dụ, ngày xưa ông Nobel chế ra thuốc nổ để làm cầu, làm đường. Nhưng người ta lại dùng thuốc nổ để gây chiến tranh, tàn sát lẫn nhau. Hoặc năng lượng trong hạt nhân có mục đích hòa bình, tạo ra điện. Nhưng người ta lại dùng nó để giết nhau. Hoặc máy vi tính là phương tiện phục vụ con người nhưng có những tay “Tin tặc” lợi dụng phá hoại. Có kỹ thuật cao mà người sử dụng kỹ thuật không có tâm hồn chân chính sẽ biến kỹ thuật trở nên phản tác dụng, thậm chí là một sự tàn phá dữ dội.
Từng có một tỷ phú đã chi trả 20 triệu dollar để được bay đến Trạm Không gian Quốc Tế (ISS) trên tàu vũ trụ Soyuz của Nga. Chuyến đi kéo dài một tuần. Người ta dự doán rằng du lịch vũ trụ sẽ là một ngành công nghiệp giải trí tiềm năng trong tương lai. Tuy nhiên, dù có thể bay một vòng trên quỹ đạo Trái đất thì con người vẫn bất lực khi hóa giải sự ganh tị, nóng giận, cơn say thù hận trong lòng mình.
Người ta cứ mãi đi tìm và phát triển kỹ thuật như tôi luyện sắt thép, phân tích quang phổ, vật liệu nổ, quỹ đạo hay khai thác dầu, chế tạo phi thuyền... Nhưng rất ít ai chịu khám phá những nguyên lý của đạo đức và con đường cải thiện đạo đức nơi tâm hồn cho loài người. Loay hoay chạy mãi bên ngoài nên dù chúng ta có bay được vào vũ trụ thì vẫn không thắng được cõi lòng mình. Vì thế nhân loại rất cần những tình nguyện viên, những nhà khoa học thầm lặng đi tìm quy luật của đạo đức để áp dụng cho mọi người.
Bản thân chúng tôi có giảng một loạt bài Tâm Lý Đạo Đức gồm 32 bài, sau đó các bài giảng đã được tập hợp lại thành sách. Đó là nỗ lực của chúng tôi trong việc khám phá đường đi của đạo đức, để mọi người có cách để tu. Chúng tôi mong rằng sau này nhiều người có trí tuệ, sâu sắc hơn nữa sẽ xuất hiện và hoàn thiện bộ môn Đạo đức cho loài người.
Chúng ta thấy hiện nay có vô số những tài liệu về kỹ thuật nhưng tài liệu, sách vở về đạo đức rất ít. Con người cần được giáo dục đạo đức, đạo đức cần được nâng cao để cái thiện chiến thắng cái ác trong mỗi con người. Nghĩa là ở mỗi con người chúng ta sự ganh tị, thù ghét, tham lam, ích kỷ bị diệt tan dần dần. Muốn được như vậy, cần phải có nhiều tài liệu, sách nói về đạo đức, về lương tâm để giúp chúng ta học tập, tu tập, rèn luyện mà “thắng được cõi lòng”, để chúng ta quay về nguồn gốc của sự sống tốt đẹp, của niềm vui chân thật đầy ý nghĩa.
HIỂU BIẾT NHIỀU HƠN
NHƯNG NHẬN XÉT KÉM HƠN
Có lẽ tác giả hơi bi quan khi nói chúng ta hiểu biết nhiều hơn nhưng nhận xét kém hơn. Vì thông thường có hiểu biết hơn thì người ta nhận xét sâu sắc hơn. Tuy nhiên, tác giả đưa ra nghịch lý này cũng có cơ sở từ thực tế cuộc sống của thời đại chúng ta.
Vì sao nói chúng ta hiểu biết nhiều hơn? Ngày nay, sách báo tràn lan, internet, phương tiện thông tin dễ dàng tiếp cận ở mọi nơi. Chỉ cần vài giây gõ bàn phím là chúng ta có thể nhận được một lượng thông tin, kiến thức khổng lồ về mọi lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, đời sống, khoa học, kỹ thuật, tâm lý... Chúng ta muốn tìm hiểu lĩnh vực nào cũng đều có sẵn. Ngược thời gian vào khoảng năm mươi năm về trước, tìm một tờ báo rất khó. Ở thôn quê, thỉnh thoảng có một tờ báo từ tỉnh thành đưa xuống, người hiếu học đọc không sót một chữ, từ những mục quan trọng đến những mục rao vặt, cáo phó, chia buồn, chia vui... không bỏ mục nào. Còn ngày nay báo chí quá nhiều, chúng ta chỉ đọc lướt qua các tiêu đề, chỗ nào đáng chú ý mới đọc kỹ.
Ngày nay, chúng ta có nhiều điều kiện, nhiều phương tiện để tiếp cận kiến thức nên sự hiểu biết vượt trội hơn xưa rất nhiều. Tuy nhiên, trí phán đoán, sự nhận định đúng sai không vì thế mà sắc bén hơn. Bằng chứng là lớp trẻ, mặc dù có kiến thức nhiều hơn người già nhưng sự nhận định, phán đoán vấn đề lại kém hẳn. Điển hình là xu hướng bắt chước theo khuôn mẫu của các ngôi sao giải trí. Nhiều em đã cất công lùng sục quần áo, giày dép, mỹ phẩm mà thần tượng sử dụng để ăn diện y hệt. Ngày nay có những ca sĩ được quảng bá rầm rộ và liên tục xuất hiện trước công chúng nên chẳng mấy chốc trở nên nổi tiếng. Thực tế, những người biết nhận định vừa nghe qua đã biết giọng ca của các ca sĩ đó không hay, tuy nhiên nhiều người trẻ vẫn hùa theo đám đông, nghe người ta khen ca sĩ nào cũng khen theo, vì sợ bị chê là lạc hậu mà không có sự nhận xét đánh giá theo một chuẩn mực nào.
Hoặc trình độ học vấn cũng không phải là yếu tố đảm bảo cho người ta có được sự lựa chọn sáng suốt. Có một số tà giáo nổi lên vẫn lôi cuốn được nhiều tín đồ, kể cả người trí thức. Như có một người phụ nữ đã tuyên bố mình đắc đạo cao siêu, ngang bằng với Phật rồi tự xưng làm giáo chủ. Vậy mà những người có học thức, thậm chí là tiến sĩ vẫn xin theo làm tín đồ. Điều này làm chúng ta không khỏi ngạc nhiên. Hoặc ở Nhật, Shoko Asahara tự nhận là vị cứu tinh của loài người và lập ra giáo phái Aum Shinrikyo. Sau khi quy phục được lượng lớn tín đồ, giáo phái này đã dùng chất độc thần kinh sarin tấn công đường tàu điện ngầm ở Tokyo. Rõ ràng Aum là một tà đạo đã kích động bạo lực nhưng khi cảnh sát vào cuộc, họ phát hiện phần lớn tín đồ là sinh viên đang theo học các trường đại học danh tiếng.
Có lẽ Nhật Bản đang khủng hoảng về tâm linh. Các chùa sinh hoạt như thế nào mà không đáp ứng được nhu cầu tâm linh cho giới trẻ, giới trí thức nên người ta chạy theo bất cứ điều gì thỏa mãn khát khao tâm linh của họ. Đây là nhu cầu tự nhiên. Trường hợp của các dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa cũng vậy. Họ cũng có nhu cầu tâm linh nên đi tìm đạo, không có đạo này thì theo đạo khác. Nhưng đa phần đã không may mắn vì tin theo các giáo phái tà vạy, nên họ đã lạc lối, làm điều xằng bậy rồi đau khổ. Tóm lại, kiến thức nhiều vẫn không giúp con người tránh khỏi những phán đoán yếu kém.
Đó là lý do đạo Phật xây dựng trí vô sư cho con người. Trí vô sư mang lại sự sáng suốt độc lập để mỗi người tự biết nhận định đúng sai (nhận định đó phù hợp với chư Thánh). Chúng ta có thể khác nhau về mọi điều như tuổi tác, học thức, gia đình, dòng dõi... nhưng khi có trí vô sư, tất cả đều có sự nhận xét, hiểu biết sáng suốt, phù hợp với lẽ phải và hoàn toàn giống nhau. Giảng bao nhiêu bài pháp, quý Thầy Cô chỉ mong sao cho lúc nào đó, quý Phật tử cộng với những việc làm từ thiện, công phu lễ Phật, quán từ bi và tọa thiền, sẽ tự nhiên bật ra trí vô sư phán đoán chính xác mọi điều. Mỗi khi nghe một vị Giảng sư thuyết pháp, Phật tử ngồi ở dưới hiểu được thông suốt và có nhận định trùng khớp, phù hợp với nhau. Không phải vài người mà là nhiều người ở mọi chân trời góc biển, khi đã có trí vô sư thì tất cả đều tự nhiên nhận định giống nhau về cùng một vấn đề. Bởi lẽ sự chuẩn xác của chân lý vừa bằng đầu chấm cây bút chì.
Một tiến sĩ người Anh có gốc là Catholique. Lớn lên một chút, ông quyết định theo đạo Phật. Khi những người bạn Công giáo hỏi vì sao theo đạo Phật, ông nói đơn giản: “Đạo Phật quá đúng, không có gì để bàn cãi nữa”. Ông không nói nhiều, chỉ nói đúng một câu như thế. Trong một lần trò chuyện với một vị Thầy người Việt, ông nói rằng đa số các tôn giáo đều đề cập đến những điều giống nhau như khuyên con người sống tử tế, siêng làm từ thiện giúp đời, ăn hiền ở lành. Vị Thầy trả lời: giống nhau vì có chung một hướng (same direction). Tuy nhiên, hãy hình dung một nhóm người cùng đưa mắt dõi về xa, ai cũng quyết định đi về hướng đó. Nhưng sự thật có người về cách xa điểm chuẩn vài thước, có người chệch vài tấc, người giỏi hơn thì cách vài phân. Hiếm ai đến đúng chính xác bằng đầu chấm cây bút chì.
Cũng vậy, tôn giáo nào cũng dạy thương người. Tuy nhiên, việc thương bằng cách nào, thương bao nhiêu người, thương với sự dụng tâm, tác ý như thế nào... thì mỗi tôn giáo lại có cách giải thích khác nhau. Chúng ta may mắn được là đệ tử Phật, vì Đức Phật dạy chúng ta hướng đến một tình yêu thương tuyệt đối: ta thương yêu chúng sanh với tâm vô ngã, không đòi hỏi cái gì cho mình và không phân biệt người thương, người được thương. Bởi lẽ tất cả đều chung đồng trong bản thể giác ngộ giải thoát. Dĩ nhiên, chỉ có bậc Thánh mới đạt được tình thương yêu tuyệt đối này nhưng đạo Phật đã cho chúng ta điểm chuẩn nhất của chân lý.
Tuy nói về những điều hao hao giống nhau nhưng điểm chuẩn nhất của chân lý hiếm có ai đạt được. Do đó, chúng ta hiểu vì sao có những người vừa nghe nói về điều gì hay hay, tốt tốt là chạy theo, không ngờ rằng những lý luận mình nghe được hoặc chỉ là chiêu bài giả tạo bên ngoài, hoặc còn cách điểm chuẩn của chân lý đến vài dặm. Ông cha ta ngày xưa có câu: “Sai một ly, đi một dặm”. Cũng vậy, chỉ cần trật với điểm chuẩn chân lý đôi chút, chúng ta có thể lạc qua tà kiến si mê rồi trôi mãi trong luân hồi sinh tử đau khổ, cứ thế không bao giờ đạt được sự giải thoát tối thượng. Ví dụ, nói về việc giúp đỡ người khốn khó, tôn giáo nào cũng nói như vậy nhưng điểm chuẩn chân lý ở đâu? Có người mang tiền giúp đỡ để nhận sự mang ơn, có người muốn quảng cáo tên tuổi cho công ty mình, có người cầu quả báo sang giàu cho kiếp sau (vì biết luật Nhân quả)... Hiếm ai san sẻ cho người khác vì lòng thương chân thật.
Chúng ta giúp người để gieo duyên rồi mang đạo lý đến cho họ để họ tự đứng lên thoát cảnh cơ cực bằng cách tạo phước, chứ không phải để họ lệ thuộc mãi vào sự giúp đỡ của người khác. Đó mới là cách thương yêu và giúp đỡ tha nhân một cách chân chính.
Nghịch lý là tác giả đưa ra hơi bi quan nhưng cũng có phần hợp lý: Kiến thức nhiều hơn nhưng nhận xét lại kém hơn. Có nhiều người làm việc thiện rất nhiều nhưng vẫn đi lạc sang hướng khác rồi rơi trở lại luân hồi sinh tử là vậy. Thế nên đạo Phật xây dựng trí vô sư để giúp chúng sinh tự biết nhận định phải trái đúng sai trong đường tơ kẽ tóc. Từ đó, mỗi người tự đứng lên, xây dựng được một cuộc sống đạo đức, không mê lầm trong tham lam ích kỷ. Và khi có đạo đức, chúng ta sẽ có một cuộc sống bình an, nhân ái hơn.
CUỘC SỐNG TIỆN NGHI HƠN
NHƯNG ÍT THỜI GIAN NHÀN RỖI HƠN
Trong thời đại ngày nay, chúng ta sống tiện nghi hơn nhưng ít thời gian nhàn rỗi hơn. Nghịch lý này hoàn toàn chính xác. Ví dụ, ngày xưa ông bà chúng ta đi từ nơi này đến nơi khác chỉ đi bộ. Ai giàu mới có ngựa. Ngày nay, có đủ các loại xe kể cả máy bay. Mà nước nào có phương tiện đi lại ưu việt nhất thế giới? Nước Mỹ. Người dân nước nào tất bật nhất thế giới? Người dân Mỹ. Đây là một điều lạ. Tưởng rằng họ có xe cộ, có máy móc thì họ khỏe lắm, nhàn rỗi lắm. Không phải vậy, họ làm việc tất bật, làm quần quật, tính từng giây. Sáng thức dậy là phải làm gì, tiếp đó làm gì để chạy tới sở làm cho kịp. Ngồi trên xe họ vừa lái vừa ăn sáng vì không có nhiều thời gian. Đó là một đất nước mà cái gì cũng sẵn có, trừ sự nhàn rỗi.
Ngày nay tiện nghi hơn nhưng nếu có ai bảo chúng ta bỏ tiện nghi để được nhàn rỗi, chúng ta có bỏ không? Chắc chắn là không. Thà bận rộn nhưng ai cũng muốn giữ chiếc xe đi cho tiện. Và để có được các tiện nghi máy móc, xe cộ, chúng ta phải có tiền. Tiền đó từ đâu mà có? Chúng ta phải làm việc cực nhọc, phải tiêu hao sức lực và thời gian. Nên có những người sau thời gian dài vất vả làm lụng mới dành dụm đủ để sắm một chiếc xe. Khi có xe rồi họ lại tiếp tục nai lưng ra làm để kiếm tiền chi trả các khoản đổ xăng, bảo dưỡng, sửa chữa... Ngày xưa không có xe để đi, chúng ta ở nhà đọc sách, tụng kinh trong an ổn; khi có rồi thì cứ chạy loanh quanh tạt nhà người này, ghé nhà người kia... Hoặc khi chưa có điện thoại, nghĩ tới ai, chúng ta để trong lòng hay ngồi viết một bức thư; nay tiện tay là nhấc điện thoại gọi, nhiều khi chỉ để nói vài câu chuyện bâng quơ vô nghĩa. Như vậy, phương tiện hiện đại khiến chúng ta bận rộn hơn.
Khi ít phương tiện, con người phải đi bộ, lao động tay chân vất vả. Họ có thể nhàn rỗi hơn nhưng cũng lắm cực nhọc, còn ngày nay chúng ta tiện nghi hơn nhưng lại bận rộn hơn. Bây giờ, nếu phải chọn lựa giữa xưa và nay, chúng ta sẽ chọn cuộc sống nào? Cung Tiến - nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng với dòng nhạc tiền chiến - cho rằng thuở thanh bình ngày xưa là thời hoàng kim vì con người sống với nhau rất đơn sơ, an vui, thương yêu và tin cậy. Tâm tư này của ông phảng phất trong nhạc phẩm “Hương xưa”:
“Người ơi, còn nhớ mãi trưa nào thời nào vàng bướm bên ao
Người ơi, còn nghe mãi tiếng ru êm êm buồn trong ca dao
......
Thời Hoàng Kim xa quá chìm trong phôi pha
Chờ đến bao giờ tái sinh cho người...”
Với nhạc sĩ Cung Tiến, cái thời sống đơn giản đó lại là hạnh phúc. Thật ra, dù xưa hay nay thì kiếp người vẫn luôn vất vả. Vì vậy, trong Tứ Diệu Đế, Đức Phật đã xác quyết rằng: “Cuộc đời là đau khổ”. Khi đọc đến đoạn kinh này, một số người nghĩ đạo Phật bi quan nhưng họ không hiểu đây là trí tuệ rất sâu sắc của Phật. Người ta phải sống nhiều trên đời, biết chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời này rồi mới thấy rằng Đức Phật đã có lý. Cũng như hôm nay, chúng ta thấy tác giả có lý khi nêu ra nghịch lý của thời đại chúng ta. Thì thôi, đã làm người thì chấp nhận kiếp người là kiếp vất vả. Nhưng hãy sống vất vả một cách có ý nghĩa. Đừng quần quật cả ngày để tìm tiện nghi cho mình rồi phí hoài một kiếp người, hãy sống ích lợi cho mọi người bằng lòng thương yêu chân thật. Đó mới là điều đáng để ta cống hiến từng chút trí tuệ, sức lực, thời gian của mình trong từng ngày trôi qua.
CHÚNG TA TRANH GIÀNH NHIỀU HƠN
NHƯNG LẠI CÓ ÍT HƠN
Nghịch lý này rất đúng với luật Nhân quả: Người sống bỏn xẻn, thích vơ vét mọi điều về cho mình sẽ mất đi tất cả, ngược lại, ai rộng rãi bố thí sẽ cảm quả báo sung mãn tài vật trong vị lai. Ngày nay, các công ty, hãng sản xuất cạnh tranh khốc liệt, nhiều công ty không trụ nổi đã phải phá sản. Họ có đủ cách quảng cáo, hạ giá sản phẩm, chèn ép lẫn nhau để thu hút người tiêu dùng, trong đó có những cách cạnh tranh rất lãng phí. Nhiều công ty đổ tiền mời những ngôi sao nổi tiếng quảng bá thương hiệu cho mình. Họ sẵn sàng chi trả hàng trăm nghìn đô-la để độc quyền hình ảnh của ngôi sao trong một năm. Vì người nổi tiếng luôn được vây quanh bởi fan hâm mộ nên công ty tin rằng đây là chiến lược thông minh, sản phẩm sẽ được người tiêu dùng tìm đến. Họ suy nghĩ như thế nhưng đứng trên góc nhìn nhân quả, đó lại là một sai lầm lớn. Vì sao vậy?
Một số tiền rất lớn mà chỉ dồn cho một người thì quá phung phí. Lẽ ra, một trăm ngàn đô-la đó vừa được dùng làm quảng cáo, vừa được trích ra làm từ thiện thì hãng sản xuất sẽ có phước hơn, vì đã làm lợi ích cho nhiều người chứ không phải chỉ rót vào nguồn lợi của một người duy nhất. Nhờ có phước nên con đường kinh doanh của họ thuận lợi hơn, các sản phẩm cũng sẽ được người tiêu dùng chọn mua nhiều hơn. Còn với lối quảng cáo phung phí gây tổn phước, sản phẩm cũng không thành công lâu dài. Nếu họ đang thành công, đó là do số phước trong quá khứ còn sót lại. Không ít nhãn hàng nổi tiếng đã mạnh tay đầu tư vào các chiến lược quảng cáo rầm rộ nhưng kết toán cuối năm lại thua lỗ. Họ cạnh tranh rất quyết liệt nhưng cuối cùng lại có rất ít.
Trong chùa cũng vậy, nếu quý Tăng Ni nào có suy nghĩ rằng làm sao cho chùa mình đông tín đồ hơn chùa khác thì càng ngày càng vắng người lui tới. Đó là một sự thật đau lòng, là sự công bằng của nhân quả mà nhiều người tu không hiểu. Còn những chùa nào, quý Tăng Ni nào rộng rãi chào đón, khuyến khích ủng hộ khi thấy Phật tử qua chùa khác và khen ngợi các vị tu hành nơi đó sẽ tạo nên tinh thần đoàn kết hòa hợp trong đạo và làm Phật tử tự nhiên thương mến, cứ thích đến chùa mãi. Đã có nhiều Phật tử kể lại sau một lần nghe một vị Thầy ở chùa đó nói xấu Thầy mình, họ “ghét” nên kiên quyết không tới lui ngôi chùa đó nữa. Nghe vậy chúng tôi rất ngậm ngùi và biết rằng kết quả này là quả báo từ cái tâm hơn thua của vị Thầy. Vì vậy, chúng ta tu đúng là không bao giờ nói xấu nhau mà thường ngợi khen những người tu tốt để tạo sự đoàn kết trong đạo.
Nên những bậc chân tu thường khuyên nhắc: “Cho tất cả là sẽ được tất cả”. Người sống rộng rãi, thoải mái càng về sau càng sung túc. Tuy nhiên, khái niệm rộng rãi khác nhau. Phung phí nghĩa là sẵn sàng vung tiền vào những món hàng không thật sự cần thiết. Chúng ta nhớ rằng có hai lối xài tiền dẫn đến nghèo khổ là hà tiện và phung phí. Người không muốn cho ai một đồng lẻ nhưng lại sẵn sàng tiêu phí một chầu nhậu vài triệu đồng là người có đủ cả hai tính cách này. Ngược lại, có hai lối xài tiền dẫn đến sung túc là tiết kiệm và rộng rãi. Với việc chính đáng ta sẵn sàng chi tiền nhưng chuyện không đáng thì một cắc cũng không phí phạm.
Người tranh giành nhiều thì sẽ đạt được rất ít, còn ai mong muốn cho đi rất nhiều lại đạt được rất nhiều. Nghịch lý cuộc sống này dễ hiểu vì đúng với nhân quả. Cho nên, chúng ta không cần phải tranh giành bất cứ cái gì, có khi lại bị thua thiệt. Thành công hay thất bại, có nhiều hay có ít không phải từ sự tranh giành. Trong cuộc sống, hãy hành xử bằng trí tuệ và lương tâm, chúng ta sẽ có nhiều hơn thay vì cứ say trong tham lam ích kỷ, trong hơn thua giành giật.
CHÚNG TA THU NHẬP NHIỀU HƠN
NHƯNG ĐẠO ĐỨC SUY ĐỒI HƠN
Dù ngày nay người ta kiếm tiền nhiều hơn nhưng tình nghĩa ít hơn, đạo đức kém hơn. Tại sao như vậy? Khi giàu lên, tự nhiên người ta phải dè dặt lại bởi sợ người khác nhờ vả. Đó là tâm lý khiến nhiều người giàu chỉ thích giao thiệp với nhau. Ở phố thị, nhiều khi nhà sát vách mà không ai biết ai, không dám giao tiếp với nhau. Nhưng tại sao lại có thực trạng này? Bởi trên đời, tội ác đang còn nhiều. Tội phạm luôn chực chờ sẵn, kẻ lừa đảo cũng không thiếu nên ai cũng e ngại, thủ thế đối phó. Đó là nguyên nhân chính yếu, chứ nếu người ta còn tin cậy đạo đức của nhau thì vẫn có thể giao thiệp với nhau được dù có sự chênh lệch giàu nghèo.
Thời đại này con người đến với nhau vội vã và ra đi cũng nhanh chóng. Đó là lý do hôn nhân thời nay dễ đổ vỡ. Các cặp nam nữ đến với nhau quá dễ dàng, nhất là với những người chịu ảnh hưởng của lối sống phương Tây, họ sẵn sàng chỉ gặp nhau qua một đêm rồi sáng mai đường ai nấy đi, không tình không nghĩa, không vấn vương. Con người dễ dãi hơn nhưng bạc bẽo hơn. Một nghịch lý thật lạ lùng của thời đại. Trái lại, người xưa rất cẩn trọng trong việc trao tình cảm, nhưng khi đã đặt tình cảm nơi ai rồi họ sẽ bền bỉ thủy chung suốt đời. Không chỉ với tình yêu, ngay cả với tình bạn cũng vậy. Đã đến với nhau, họ giữ tình nghĩa cả đời. Nét văn hóa đó rất đáng quý, chúng ta cần biết giữ gìn, đừng để lối sống chụp giật tình cảm tạm bợ đổ xô vào đất nước mình.
Có một số Việt kiều nói một câu rất tự tin, tự mãn và hơi tự kiêu rằng: “Nếu đưa tất cả những Việt kiều có học ở Mỹ về Việt Nam thì đất nước sẽ mạnh lên nhanh chóng”. Họ tự tin vì trình độ, bằng cấp của các kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật... nước ngoài đều cao hơn Việt Nam. Chưa phân tích về kinh tế, hãy thử tưởng tượng họ đem luôn lối sống phương Tây về Việt Nam thì chuyện gì sẽ xảy ra? Xã hội lao đao rối ren, vì con người dễ dãi, vội vàng đến với nhau rồi ra đi đột ngột, hôn nhân chóng vánh, tình nghĩa tan vỡ và đau khổ càng nhiều hơn nữa. Chính những người trí thức trong xã hội phương Tây cũng than phiền vì nền văn hóa tại đó. Sau khi được tiếp xúc với nhiều luồng văn hóa khác nhau trên thế giới, một giáo sư điêu khắc đã nhận xét: “Tôi không đồng tình với lối sống của Mỹ. Họ không có văn hóa Mỹ mà chỉ có lối sống Mỹ. Họ có cái tôi rất lớn, chỉ thích sống thoải mái theo ý mình mà không bận tâm đến người xung quanh, kể cả khi hành động của họ gây phiền nhiễu”. Có những người Việt sinh sống tại nước ngoài thường than phiền rằng một số xã hội Tây phương nuôi dưỡng cái tôi của đứa trẻ từ rất sớm. Vì chúng được tự do thích làm gì thì làm nên khi lớn lên một chút, bản ngã bốc khởi không kiềm chế được. Đó là yếu tố ảnh hưởng rất xấu đến nền văn hóa của một quốc gia.
Thời nay người ta cũng tổ chức thành nhiều nhóm nhưng lại chia rẽ hơn. Tổ chức, các hội đoàn được lập ra nhằm quy tụ con người nhưng rồi cũng làm chúng ta chia rẽ sâu sắc vì lý do phân biệt tôi ở hội đoàn này, anh ở tổ chức kia. Tôn giáo cũng vậy, dù luôn kêu gọi lòng nhân ái nhưng càng có nhiều tôn giáo xuất hiện thì con người càng kì thị, hận thù nhau, hố sâu chia rẽ, ngăn cách giữa người với người càng rộng hơn như sẽ không bao giờ được lấp đầy. Đây là nghịch lý của cuộc đời.
CHÚNG TA LÀM ĐƯỢC NHỮNG ĐIỀU CAO SANG
NHƯNG KHÔNG LÀM ĐƯỢC ĐIỀU ĐƠN GIẢN VỚI ĐỒNG LOẠI
Thật vậy, chúng ta có thể tổ chức một bữa tiệc linh đình và mời nhiều khách khứa sang trọng, đông đảo nhưng lại làm ngơ trước một người nghèo khổ trong xóm; chúng ta làm những điều cao sang nhưng không làm được điều đơn giản là thế. Hoặc ông chủ có nhiều chương trình đầu tư lớn mà nhiều khi không nở được một nụ cười, một câu nói dịu dàng với nhân viên cấp dưới của mình. Nghĩa là họ làm được những điều rất lớn nhưng điều nhỏ, rất đơn giản là làm ấm áp tình người thì họ không làm được. Hoặc người tu mơ ước một sự đắc đạo cao siêu, nói về lý tính Bát Nhã sâu sắc. Nhưng đôi khi người huynh đệ sống bên cạnh đủ hay thiếu, mạnh hay yếu ra sao, chúng ta không để ý, không biết. Nghĩa là chúng ta ước mơ điều lớn nhưng không làm được những điều nho nhỏ mà lại đẹp trong cuộc sống này.
ĐƯỜNG PHỐ RỘNG HƠN
MÀ QUAN ĐIỂM LẠI HẸP HÒI HƠN
Câu nói làm chúng ta phải giật mình nhìn lại: “Đường phố rộng hơn mà quan điểm hẹp hòi hơn”. Quan điểm hẹp hòi bởi người ta cố chấp theo ý mình mà không chịu mở rộng tấm lòng để đón nhận thêm ý của người khác. Không chắc quan điểm của người khác là đúng nhưng chúng ta phải đón nhận để xem xét, cân nhắc chứ không nên bác bỏ, làm vậy là hẹp hòi.
THỜI ĐẠI CỦA SỰ HÀO NHOÁNG BÊN NGOÀI
NHƯNG BÊN TRONG THÌ RỖNG TUẾCH
Câu này có vẻ khôi hài. Rỗng tuếch bên trong tức là thiếu tâm linh, đạo đức, tình người bên trong.
Cuối cùng, tác giả cảnh giác: Đây là lúc chúng ta hoặc phải thay đổi cuộc sống, đừng để những nghịch lý này tồn tại, hoặc là buông xuôi theo. Nghĩa là hoặc chúng ta tiếp tục tìm những niềm vui tạm bợ, chạy theo vật chất rồi quên đi tình nghĩa; hoặc chúng ta phải sống khác đi, giữ lại giá trị tâm linh, xây dựng lại nền tảng đạo đức, sống thương yêu đậm đà hơn. Đây là lúc chúng ta cần phải suy nghĩ.
Một đời người dài đằng đẵng mấy chục năm nhưng chưa bằng một cái chớp mắt của vũ trụ. Suy ngẫm về những nghịch lý cuộc đời làm chúng ta giật mình tỉnh ngộ, bởi thấy rằng mình cũng đang trôi theo nghịch lý đó một cách vô thức. Chúng ta hãy biết trân quý từng phút giây trong cuộc sống để làm điều gì đó ý nghĩa hơn bởi khi nhắm mắt xuôi tay, không ai nắm giữ, mang theo điều gì ngoài tội và phước mà ta đã tích lũy một đời.
Đây là lúc chúng ta cần phải suy nghĩ...


