Giá trị của Chánh tinh tấn là phương pháp dụng công thiền định. Có rất nhiều phương pháp tu thiền trên thế giới, trước Phật, đồng thời với Phật, sau Phật. Ngay trong đạo Phật, đệ tử tu theo lời Phật dạy, mà cũng xuất hiện nhiều phương pháp mới mẻ khác với lời Phật dạy. Ngay cả người trung thành với lời Phật dạy cũng chưa chắc hiểu đúng lời Phật dạy để dụng công hành trì cho đúng.
Tuy nhiên, nếu ai có lòng tôn kính Phật tuyệt đối, người đó sẽ tự nhiên quyết lòng tìm lại đúng lời Phật dạy, hiểu đúng lời Phật dạy, để dụng công hành trì thật chuẩn xác như ý của Phật đã dạy bảo.
Phật dạy 8 vạn 4 nghìn pháp môn là dạy vô số vấn đề trong cuộc sống, nhưng về phương pháp thiền định thì Phật tập trung vào các kỹ thuật pháp môn như sau:
- Quán thân vô thường, từ lúc trẻ khỏe đến lúc già chết, đến lúc thân tan hoại chẳng còn gì.
- Ngồi kiết già bất động nơi thanh tịnh vắng vẻ.
- Cảm giác toàn thân, an trú toàn thân.
- Theo dõi hơi thở ra hơi thở vào, không dằn ép, không cố gắng điều khiển dài ngắn, biết mà không điều khiển.
- Vừa biết hơi thở, vừa cảm giác toàn thân, biết rõ toàn thân, an trú toàn thân.
Với kỹ thuật này, hành giả “chiến đấu” suốt giai đoạn Chánh tinh tấn. Không biết chừng nào sẽ xuất hiện kết quả Chánh niệm Tỉnh giác, nhưng cứ kiên trì mãi. Cũng có khi tọa thiền được chút an lạc, nhưng rồi lần khác tâm loạn lại. Có khi ngồi được lâu, có khi ngồi rất ít. Hành giả phải cố gắng nhớ thân vô thường trong từng phút giây của cuộc sống, chứ chẳng phải chỉ dụng công trong lúc tọa thiền mà thôi. Hành giả phải gây tạo từng chút công đức lành trong cuộc sống mãi để tích lũy Phúc cho dày.
Công phu Điều thân
Công phu Điều thân rất quan trọng. Ngồi đúng tư thế, biết rõ toàn thân, an trú toàn thân, buông lỏng toàn thân, bất động toàn thân.
Xin lặp đi lặp lại nhiều lần:
“NGỒI ĐÚNG TƯ THẾ
BIẾT RÕ TOÀN THÂN
AN TRÚ TOÀN THÂN
BUÔNG LỎNG TOÀN THÂN
BẤT ĐỘNG TOÀN THÂN”

Thiền định (Meditation) - Nguồn: Internet
- Ngồi đúng tư thế: Hành giả phải ngồi đúng tư thế kiết già, phải cố gắng ngồi kiết già, đừng ngồi bán già. Ngồi bán già tuy dễ nhưng lâu dài Tâm trở nên lỏng lẻo vì Thân không được khóa chặt.
Nên lễ Phật ba lễ trước khi ngồi Thiền. Khi đã ngồi đúng tư thế, ta chắp tay tác ý ba tâm hạnh:
+ Nguyện trên Chư Phật gia hộ cho con biết tôn kính Chư Phật, Chư Tổ, Chư Hiền Thánh Tăng với lòng tôn kính tuyệt đối, vô lượng vô biên.
+ Nguyện trên Chư Phật gia hộ cho con trải lòng thương yêu khắp tất cả chúng sinh, dù là thế giới hữu hình hay thế giới vô hình – cho con thương yêu cả loài người cũng như chim thú trên rừng, cá trong nước.
+ Nguyện trên Chư Phật gia hộ cho con giữ được lòng khiêm hạ, lúc nào cũng thấy mình như cỏ rác, cát bụi.
Ba tác ý trên phải huân tập suốt đời mỗi khi tọa Thiền.
Sau đó để tay xuống, lòng bàn tay trái đặt lên lòng bàn tay phải và ngồi đúng cách:
+ Thường là chân trái bắt lên trước, chân phải kéo lên sau.
+ Để ý giữ lưng cho thẳng, không được để lưng cong chùng xuống, cũng đừng ưỡn lưng quá thẳng sẽ làm đầu bị căng.
+ Hai vai giữ xuôi đều tự nhiên, tránh nghiêng bên cao bên thấp.
+ Mắt mở rõ và nhìn xuống một điểm gần trước mặt. Giai đoạn mới tuyệt đối không được nhắm mắt, vì phải mở mắt mới thấy thân mình có lắc, động, nghiêng hay không khi so sánh với cảnh vật chung quanh.
+ Lưỡi để lên nướu răng hàm trên (hơi ép ra một chút)
+ Hai cánh tay: Phải hơi khuỳnh ra ngoài, đừng buông xuôi ép sát vào hông.
+ Đầu không ngẩng lên, có vẻ hơi cúi xuống một chút xíu.
- Biết rõ toàn thân:
Hành giả luôn luôn biết rõ toàn thân, từ đầu đến chân, biết rõ từng ngón tay, từng bắp thịt. Biết một cách nhẹ nhàng, nhưng biết rất rõ.
Khi ta đang điều thân như vậy thì dòng suy nghĩ, lý luận, vẫn tiếp tục diễn ra trong đầu. Ta không chấp nhận cái suy nghĩ đó, nhưng cũng không dằn ép diệt trừ các suy nghĩ đó.
Có những suy nghĩ đúng đạo lý giúp ta luôn nhớ công phu của mình; có những suy nghĩ chỉ là vọng tưởng vô nghĩa làm ta quên công phu của mình, quên an trú toàn thân.
Đối với những suy nghĩ vọng tưởng thì ta không chấp nhận là đúng rồi, nhưng đối với các suy nghĩ có tính đạo lý ta cũng không cố giữ. Đạo lý thì đúng, nhưng cái suy nghĩ về đạo lý, cái lý luận về đạo lý, lại là một sự cản trở khéo léo.
Giai đoạn này ta chỉ cố gắng đối trị vọng tưởng bằng cách Điều thân, Biết rõ toàn thân, an trú toàn thân, buông lỏng toàn thân, bất động toàn thân.
Cố gắng nhẹ nhàng giữ cái biết, cái CẢM GIÁC, không rời khỏi da thịt. Xin nhắc lại, KHÔNG CHO CÁI CẢM GIÁC RỜI KHỎI DA THỊT.
Có những yếu tố khiến cho cái biết của ta rời khỏi da thịt, đó là, vọng tưởng vẩn vơ đâu đâu kéo cái CHÚ Ý của ta chìm trong cảnh tượng hư ảo, quên mất an trú toàn thân. Hoặc sau này, khi ta xuất hiện trạng thái tỉnh sáng rỗng rang, thì ta cũng bị cái cảnh giới mới lạ đó kéo cái biết rời khỏi thân.
Phải kiểm tra thường xuyên để giữ trạng thái An trú toàn thân, Cảm giác toàn thân. Khi tọa thiền hay trong đời sống bình thường, lúc nào cũng cố gắng nhẹ nhàng an trú toàn thân.
An trú toàn thân cũng không phải dễ. Có người nghe nói Biết toàn thân, An trú toàn thân cũng không sao thực hành được. Đó cũng là do chưa đủ phước, phải lễ Phật và giúp đời nhiều nữa.
Thông thường, chỉ khi phá được triền cái Nghi (chánh niệm rất sâu) thì hành giả mới thấy được cái gọi là Cảm giác toàn thân. Còn bây giờ thì hành giả chỉ có cảm giác biết từ đầu đến bụng, là đã bắt đầu bớt bị vọng tưởng.
Quán thân vô thường

Biết toàn thân mãi thì phát sinh chấp thân. Vì vậy Phật dạy ta phải Quán thân vô thường. Ban đầu Quán thân vô thường thì ta suy nghiệm về sự thay đổi tất yếu của thân, suy nghiệm chứ không phải tưởng tượng hình ảnh phức tạp. Ta suy nghiệm thân biến đổi từ trẻ đến già, từ khỏe đến bệnh yếu, từ sống đến chết.
Ta lại suy nghiệm thân biến đổi từ mới chết cho đến tan hoại chẳng còn gì, ngay cả xương cũng thành bụi bay.
Đối diện thẳng với cái chết là trí tuệ và cũng là can đảm.
Chấp thân là nền tảng của chấp ngã, thế nên quán thân vô thường là phá nền tảng của chấp ngã.
Ban đầu ta suy nghiệm kỹ lưỡng về sự vô thường của thân cho thấm thía sâu xa. Quen rồi thì cả quá trình suy nghiệm quán chiếu đó chỉ thoáng qua là đã đủ hết. Quán thân vô thường, cộng với công phu Điều thân có sẵn, khiến tâm bớt loạn động hơn rất nhiều.
Trong đời sống, lúc nào ta cũng an trú toàn thân, nhớ thân vô thường, dù cho phải làm việc, giao tiếp, học hành,... Ta mở mắt mà ít bận tâm nhìn mọi điều vì mắc an trú toàn thân.
Khí công cũng hỗ trợ rất lớn cho thiền định, giúp ta có sức mạnh tinh thần để dụng công tốt hơn, tỉnh táo hơn.
Nhân đây ta cũng nói về sự khác nhau giữa các từ Tỉnh giác, Tỉnh thức, Tỉnh táo, Tỉnh ngộ.
- Tỉnh giác là trạng thái thiền đã xuất hiện kết quả Chánh niệm, tâm sáng tỏ tự kiểm soát nội tâm mình kỹ lưỡng.
- Tỉnh thức là ý nghĩa tâm lý học, luôn cảnh giác với sự đúng sai.
- Tỉnh táo là trạng thái khỏe khoắn không buồn ngủ, nhưng sau này lại có thêm ý nghĩa khôn ngoan cảnh giác.
- Tỉnh ngộ vừa có nghĩa là thoát ra khỏi sự mê lầm, vừa có nghĩa là bất ngờ đạt được chánh niệm tỉnh giác.
Những khi tạm ngưng vọng tưởng, tâm trống rỗng, ta cũng cảm nhận được trạng thái Tỉnh giác phần nào, dù chưa sâu lắm.
Giai đoạn Chánh Tinh Tấn này, hành giả tiến thoái mãi, khi yên ắng tĩnh lặng, khi động loạn bất an. Nếu được yên ắng một chút đừng vui mừng vì ngày mai sẽ động lại, không ổn định gì cả.
Nhiều khi tâm yên một chút thì ảo giác xuất hiện. Ảo giác có rất nhiều, mỗi người khác nhau. Có người thấy nhẹ nhõm như lơ lửng, có người thấy khí chuyển động, có người thấy thân to ra nhỏ đi, có người thấy ánh sáng... Nhưng đừng quan tâm, vì chẳng có gì thật cả. Thậm chí tai nghe tiếng động rất nhỏ, hoặc bất ngờ biết vài việc ở đâu xa, bỏ hết, cũng chẳng có gì thật cả.
Vừa biết toàn thân, vừa biết thân vô thường, tâm cũng đỡ vọng tưởng rất nhiều. Vọng tưởng nổi lên, ta sực tỉnh quay lại biết khắp thân, quán thân vô thường (quán thân vô thường thoáng qua là đầy đủ vì quen rồi), thế là vọng tưởng tạm dừng lại.
Ta nên nhớ, cũng là cái suy nghĩ, nhưng nó tự khởi lên thì là vọng tưởng, còn ta chủ động suy nghĩ về thân vô thường thì là quán chiếu. Xin nhắc lại, chủ động nghĩ về thân vô thường thì là quán chiếu, còn chủ động nghĩ chuyện khác thì là gieo nhân loạn động.
Biết hơi thở
Những khi tâm yên, ta bỗng thấy được hơi thở ra hơi thở vào rõ ràng. Nếu ta bắt đầu biết thêm hơi thở nữa là ta thực hiện đầy đủ cách dụng công của thiền định.
Phật dạy: “Ai an trú trong hơi thở là an trú trong Như Lai.”
Phật đề cao phép quán niệm hơi thở đến như thế.
Ta vừa biết toàn thân, vừa biết thân vô thường, vừa biết hơi thở vào hơi thở ra. Biết cả 3 như vậy mà không mệt vì hai cái biết trước (biết toàn thân và biết thân vô thường) đã quen thuộc rồi. Ai mà không tập hai cái biết trước cho kỹ thì khi biết hơi thở sẽ bị mất căn bản nguy hiểm. Đừng vội vàng hấp tấp, phải điều thân cho kỹ, quán thân vô thường cho kỹ, rồi hãy thêm biết hơi thở.
Ta biết hơi thở vào, biết hơi thở ra rõ ràng, nhưng đừng điều khiển dài ngắn theo ý muốn của mình. Chỉ biết thôi. Biết mà không điều khiển.
Sau này quen rồi, ta có thể chủ động điều khiển hơi thở cho êm mà không bị khởi cái MUỐN lên. Còn ban đầu, ta mà muốn hơi thở dài, muốn hơi thở ngắn, thì cái MUỐN sẽ phát triển thành bản ngã lớn theo.
Nếu ai có tập Âm dương khí công, hơi thở ra dài gấp 5 lần hơi thở vào, thì có thể áp dụng cách đó trong giai đoạn này để tìm thấy hơi thở nhanh hơn.
