Ta hãy xem trích đoạn sau đây:
“Vào năm 1991, một sinh viên tốt nghiệp tại trường Đại học Washington đã vô tình phát hiện ra một bí mật thú vị của bộ não. Anh chàng này đã công bố với tờ The New York Times, dẫn tới những quan điểm thay đổi về bộ não của chúng ta.
Randy Buckner khi đó đang nghiên cứu công nghệ quét PET, một công nghệ mới lúc bấy giờ, để nghiên cứu về cách thức bộ não hoạt động với ngôn ngữ và trí nhớ.
Khi nghiên cứu đến các phần bộ não ít hoạt động, Buckner yêu cầu các tình nguyện viên của mình ngồi trước chiếc máy quét PET và không cần phải làm gì cả.
Nhưng kết quả thay vì cho thấy bộ não đang nghỉ ngơi, các bản quét cho thấy một số khu vực có hoạt động tăng lên đáng kể. Những khu vực ít hoạt động giờ lại có hoạt động mạnh hơn cả những khu vực khác của bộ não.
Nhiều năm sau, nhà thần kinh học Nancy Andreasen tập trung nghiên cứu vào một lĩnh vực được gọi là trạng thái nghỉ của bộ não. Cô đã đặt ra một khái niệm mới có tên R.E.S.T (suy nghĩ nhanh về những chi tiết trong trạng thái yên lặng).
Andreasen phát hiện ra bộ não của chúng ta luôn luôn bận rộn, và hoạt động mạnh hơn khi chúng ta không tập trung vào một công việc nhất định.
Một thử nghiệm khác tập trung quét vào khu vực này của bộ não khi các tình nguyện viên đang trong trạng thái R.E.S.T. Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy rất nhiều hoạt động thần kinh xảy ra ở đây, khi những tình nguyện viên không làm gì cả và chỉ ngồi yên một chỗ.
Có nhiều điều bí ẩn mà chúng ta vẫn chưa hiểu hết về bộ não.”
Não sẽ hoạt động mạnh hơn, nghĩa là suy nghĩ nhiều hơn, khi ta không làm việc gì, không điều khiển cơ thể để làm việc gì. Nếu ta có điều khiển cơ thể để làm việc gì đó thì não sẽ bớt đi lang thang suy nghĩ vô định (dù cho suy nghĩ vô định đôi khi cũng dẫn đến vài điều thú vị).
Thế còn khi một hành giả ngồi thiền, cũng chẳng làm gì cả, thì tại sao não lại yên lắng?
Khi ngồi thiền, hành giả lại tập trung quan sát toàn thân của mình gần giống như khi ta điều khiển cơ thể làm việc vậy. Đó chính là yếu tố làm cho não bớt hoạt động lại. Còn những người ngồi không, chẳng làm gì, cũng chẳng chú ý toàn thân, không giữ thân bất động, thì não sẽ suy nghĩ nhiều hơn.
Đây là cơ chế của cơ thể, Khi ta chú ý đến thân thì não sẽ giảm hoạt động. Đây là nguyên tắc vàng cho thiền giả. Phật cũng dạy điều này rất kỹ, Cảm giác toàn thân tôi thở vào, cảm giác toàn thân tôi thở ra. Phật còn dạy ta chú ý đến hơi thở nữa, bởi vì khi ta biết rõ toàn thân, giữ thân bất động thì tự nhiên hơi thở hiện ra, tự nhiên ta sẽ biết rõ hơi thở ra vào.
Việc biết rõ toàn thân, việc giữ thân mềm mại bất động, việc biết rõ hơi thở, đều là những yếu tố giúp não bộ giảm hoạt động để có thể đi vào thiền định sau này. Vì thế, ngoài những lúc ngồi thiền bất động, khi tạm thời ở không chẳng làm gì, hành giả phải khéo léo thường an trú toàn thân cũng là giúp tâm bớt bị vọng tưởng. Hoặc khi hành giả phải làm việc (việc thiện lành nhé), thì cũng cố gắng an trú toàn thân chứ đừng quá chăm chú vào công việc mà quên an trú toàn thân. Làm việc, hay điều khiển cơ thể làm việc, cũng có tác dụng giảm sự suy nghĩ lang thang, nhưng giảm không nhiều. Còn khi ta an trú toàn thân có ý thức thì sự suy nghĩ giảm nhiều hơn. Đặc biệt là biết rõ hơi thở, thở có ý thức, sẽ dẫn tâm yên lắng nhiều hơn nữa.
Người tu thiền (mà thực ra ai cũng vậy), kỵ nhất là ở không chẳng làm gì, chẳng biết làm gì, chẳng có chuyện gì để làm, buông cho tâm suy nghĩ lang thang. Lúc đó tâm sẽ hoạt động rất mạnh. Ta sẽ hỏi, vậy lúc ngủ là hoàn toàn ở không, chẳng còn kiểm soát gì được nữa thì sao.
Lúc ngủ chính là lúc tâm lang thang rất mạnh, và tạo nên những giấc mơ như thật. Hầu hết ta đều quên các giấc mơ do vọng tưởng khi ngủ tạo ra, chỉ nhớ lại một ít, nhưng thật ra khi ngủ não hoạt động rất mạnh. Giấc ngủ có lợi cho cơ thể vì khi ngủ não tiết ra thuốc mê Melatonin. Đây là nội tiết tố tạo ra giấc ngủ say. Chất Melatonin này sẽ đi vào máu, thấm vào các tạng phủ để refresh các tạng phủ lại. Nếu không có Melatonin, không có giấc ngủ, thì tạng phủ sẽ khô héo rất nhanh, người già suy rất nhanh. Cái lợi của giấc ngủ là thế. Nhưng cái hại của giấc ngủ cũng không hề thua kém.
Khi ngủ não tự do hoạt động và tạo nên sự căng thẳng âm thầm, làm cho khí lực chạy lên não, làm mất dần chân âm. Đó là lý do các nhà khoa học phát hiện ngủ đủ giấc thì tốt, ngủ quá giấc là có hại nhiều hơn. Ngủ ít thì lượng Melatonin chưa đủ để thấm vào các tạng phủ, ngủ nhiều thì não hoạt động dồn dập mãi làm mất chân âm, khí lực cơ thể mất cân bằng, tinh thần sẽ lơ mơ xuống cấp.
Có một số người ưa thích ngủ vì thật ra Melatonin cũng gây nghiện. Cái cảm giác say sưa lâng lâng của giấc ngủ cũng làm người ta say đắm. Ta cũng hiểu tại sao nhiều người ngủ ngon mà ta lay gọi mãi không chịu dậy, vì sướng quá. Còn những người có lý trí, có ý chí, thích làm việc, sẽ biết vùng dậy chiến thắng cơn thèm ngủ để lao động học tập tu tập nhằm nâng cấp con người lên. Có những thiền sinh tinh tấn đã cố gắng ít ngủ để tăng thêm thời gian ngồi thiền. Cái này lợi bất cập hại. Khi sức định chưa đủ để tạng phủ không cần Melatonin nữa thì thiếu ngủ lâu ngày sẽ làm cơ thể bị bệnh, giảm sức đề kháng. Thiền sinh trẻ thì chỉ cần chiến thắng cái mê ngủ là tốt rồi, không cần ép cơ thể ít ngủ. Còn các vị tu hành lớn tuổi thì hoàn toàn phải lắng nghe cơ thể để điều chỉnh thời khóa tu tập sinh hoạt của mình cho phù hợp. Thiền sinh trẻ thì cần ý chí dõng mãnh, các vị trưởng lão thì cần trí tuệ để khéo léo điều chỉnh đời sống vì các vị đã có ý chí nhiều rồi qua một đời tu hành tinh tấn.
Khi lên giường nằm ngủ, hành giả cũng phải tác ý biết toàn thân, theo dõi hơi thở, rồi để mặc cho giấc ngủ kéo đến tự nhiên. Các tu sĩ còn phải đọc bài kệ Tỳ ni nhật dụng cầu nguyện cho chúng sinh đều được an lành thanh tịnh nữa.
Khi thức giấc, chúng sinh hoàn toàn chạy theo công việc mà không để ý đến toàn thân nên não hoạt động mạnh, vọng tưởng nối tiếp. Nhưng nhờ có làm việc, có điều khiển cơ thể làm việc mà não còn được kềm chế. Nếu ngồi không mà lại không biết toàn thân thì não còn sôi trào nhiều hơn nữa. Còn người biết tu tập thiền định thì khéo léo biết toàn thân dù khi đang làm việc. Người tu thiền có kết quả thì vừa biết toàn thân vừa biết hơi thở nhẹ nhàng trong khi làm việc nữa.
Đức Phật quả thật là nhà khoa học đại tài khi đưa ra phương pháp cảm giác toàn thân khi thở ra thở vào. Các khám phá của khoa học chỉ làm sáng tỏ thêm những gì Phật đã dạy.
Nhưng biết toàn thân là biết như thế nào?
Làm sao cảm giác được đến tận vùng cuối của xương sống, xương chậu luôn. Ta hay bị Biết toàn thân mà chỉ biết phía trước, ít cảm giác phía sau. Ta phải làm sao biết được cả vùng cuối cùng của các đốt sống lưng, sẽ làm cho cái cảm giác toàn thân được cân bằng ổn định.
Chính cái vùng của những đốt sống cuối cùng đó là gốc của cái biết toàn thân. Hệ thống thần kinh tủy sống lấy dưỡng chất từ đó mà tồn tại. Tín hiệu thần kinh thì từ não đi xuống theo cột sống, nhưng năng lượng lại từ dưới đi lên nuôi tủy sống và hệ thần kinh trong cột sống đó.
Hầu hết các bệnh lý về tủy sống đều có liên quan đến chất lượng xương của khu vực các đốt sống cuối cùng. Nếu chất lượng xương của khu vực đó bị thoái hóa thì bệnh lý về tủy sống sẽ xuất hiện. Chất lượng xương của khu vực đó âm thầm nuôi tủy sống, và nuôi luôn hệ thống thần kinh trong cột sống, cho đến tận trên não. Việc tập luyện giữ gìn chất lượng xương ở khu vực cuối đốt sống là vô cùng quan trọng.
Người sống hưởng thụ dục lạc nhiều sẽ bị suy thoái chất lượng xương ở khu vực cuối đốt sống, mất nhanh chân âm. Đó là lý do, vừa là vì đạo đức, vừa là vì y lý, các bậc hiền thánh đều khuyên chúng ta sống trong sạch là thế.
Rồi khi ta Biết toàn thân được ổn định, tâm ít vọng tưởng, cảm giác về thân rất mạnh, ta sẽ phát sinh cái Chấp về thân. Chấp thân này là quan trọng thì Ngã chấp cũng lớn theo. Tu cực khổ vất vả rồi Ngã chấp lớn thêm, thật là uổng phí. Do đó Phật dạy ta phải luôn quán Thân là vô thường, Thân là bất tịnh, để diệt trừ cái chấp thân xuất hiện mạnh tiếp theo. Phật cực kỳ chu đáo mọi thứ. Càng tu hành, càng nhận ra những điều tinh tế, ta càng biết ơn và kính phục Phật biết bao nhiêu. Những điều Phật dạy nghe giản dị, nhưng vô cùng cần thiết và chặt chẽ, chẳng có gì là dư thừa cả.
