Ta hãy so sánh hai cách hiểu về tâm của mình và đánh giá xem cách nào có lợi hơn nhé.
Một là cho rằng tâm mình rất cao siêu, giống như Phật, có sẵn Phật, tức là Phật, không sinh không diệt, chẳng thêm chẳng bớt...
Hai là cho rằng tâm mình còn nhiều lỗi lầm, còn nhiều bản năng kiết sử tham sân, vô minh, kiêu mạn, cố chấp, ích kỷ (mười kiết sử)...
Ta dễ nhận ra rằng nếu tự cho tâm mình cao siêu tốt đẹp thì ta dễ phát sinh tâm lý chủ quan, kiêu mạn, chẳng cần phấn đấu tu hành gì thêm. Còn nếu cho rằng tâm mình hãy còn rất kém dở thì ta dễ phát sinh tâm lý cẩn thận, khiêm hạ, gắng tu, lợi hơn rất nhiều.
Thế nhưng từ đâu mà trong Phật giáo lại phát sinh các lý thuyết ca ngợi tâm mình? Bởi vì quả thật có nhiều thiền sư đắc thiền, đạt được nội tâm bình an vi diệu, nên đã thành thật ca ngợi nội tâm bằng nhiều ngôn từ xác quyết. Các ngài nói mạnh đến nỗi làm cho các chúng sinh tin rằng ai cũng có sẵn cái tâm đó vậy. Hệ quả là nhiều thế kỷ qua, các lý thuyết đó đã tạo nên một trường phái lớn trong Phật giáo, tạo nên khuynh hướng hiểu về Tâm theo loại số một, ca ngợi tâm mình một cách chủ quan không thực tế, gây nên tâm lý kiêu mạn, rồi đưa đến nhiều quả báo khó chịu cho hành giả.
Nếu ta nghiên cứu kỹ các bản kinh xưa, nghe Phật nói về các quả thánh đi kèm theo các điều kiện là phải diệt trừ cho được các Kiết sử (ta tạm gọi là bản năng xấu), thì ta sẽ hiểu thêm Tâm của thánh khác biệt thế nào.
- Ở quả thánh ban đầu gọi là Sơ quả Tu đà hoàn, vị đó phải diệt được ba kiết sử căn bản là Nghi (không rõ đúng sai mọi thứ, nên không đủ lòng kính Phật tuyệt đối), hai là Thân kiến (ích kỷ), ba là Giới cấm thủ (cố chấp nguyên tắc, khắt khe). Khi đã diệt được ba kiết sử đó rồi, vị thánh sơ quả đó sẽ có khả năng, một là hiểu điều đúng sai trên đời rất rõ nên cũng có lòng tôn kính Phật tuyệt đối, hai là trở nên hoàn toàn vị tha trong từng ý nghĩ thầm kín, ba là linh động uyển chuyển trong việc sắp xếp xử lý đối đãi với mọi người.
- Ở quả thánh thứ hai gọi là Nhị quả Tư đà hàm, vị đó làm mỏng nhạt (chứ chưa hết hẳn) hai kiết sử nguy hiểm là Tham và Sân. Hai chữ tham và sân này phải được hiểu rất rộng lớn, bao gồm mọi khát vọng xấu và giận hờn sâu xa.
- Ở quả thánh thứ ba gọi là Tam quả A na hàm, vị đó diệt sạch hai kiết sử Tham và Sân. Ta nghe rất đơn giản, diệt sạch hai kiết sử Tham và Sân, nhưng ta không hiểu hết sự vĩ đại của mức độ đạo đức này. Nếu ta hiểu hai bản năng Tham và Sân chi phối tâm hồn, thái độ, cuộc sống của ta ra sao thì ta mới kinh ngạc về việc diệt hết hai kiết sử Tham và Sân này. Chứng Tam quả, diệt hết hai kiết sử Tham và Sân, vị này thần thông quảng đại xoay trời chuyển đất. Vô cùng vĩ đại.
- Ở quả thánh thứ tư gọi là Tứ quả A la hán, vị này diệt được 5 kiết sử cuối cùng là, một là Sắc ái (yêu thích cõi trời sắc giới vi diệu ngấm ngầm chẳng hay), hai là Vô sắc ái (yêu thích cõi trời Vô sắc giới ngấm ngầm chẳng hay), ba là Giải đãi (không gắng dụng công tu hành mạnh mẽ vì cảm thấy an lạc quá sức rồi), bốn là Kiêu mạn (thấy chúng sinh chẳng thể nào bằng mình được, khoảng cách lớn quá), năm là Vô minh (bao gồm chấp ngã và không hiểu hết bản chất đau khổ của thế gian). Diệt được năm kiết sử cuối cùng này rồi, vị A la hán đó dứt được tâm yêu thích cõi trời Sắc giới ngấm ngầm từ lâu, dứt được tâm yêu thích cõi trời Vô sắc giới ngấm ngầm từ lâu, dứt được giải đãi nhưng bây giờ chẳng còn phải tu cho mình nữa mà lo cứu độ chúng sinh, dứt được cái cảm giác có khoảng cách quá lớn giữa mình và chúng sinh, và hết chấp ngã cũng là thấu rõ sự đau khổ sâu xa của thế gian là gì.
Bây giờ ta chưa chứng được quả thánh nào nên trong tâm ta còn đầy đủ Mười kiết sử:
- Nghi
- Thân kiến
- Giới cấm thủ
- Tham
- Sân
- Sắc ái (thật ra có bao giờ ta hiện diện ở cõi trời Sắc giới để yêu thích đâu)
- Vô sắc ái (thật ra ta có biết đâu mà yêu thích)
- Giải đãi (siêu giải đãi)
- Kiêu mạn (siêu kiêu mạn)
- Vô minh (ngu đủ thứ chuyện)
Ngoài ra tâm ta còn chứa nhiều tật xấu khác mà Phật gọi là Triền cái nữa, như Đố kỵ, Hơn thua, Hiếu thắng, Ganh ghét, Thù dai, Mê tín, Biết lợi trước mắt, coi thường mạng sống chúng sinh... nhiều thứ lắm.
Với một bảng thành tích rùng rợn như vậy mà ta dám tự phong tâm mình là Phật thì kể cũng hơi bị gan.
Bây giờ dù cho ta tinh cần tu tập thiền định, theo dõi hơi thở kỹ lưỡng, an trú toàn thân, quán thân vô thường, rồi có kết quả tâm được thanh tịnh sáng trong, thì cũng phải hiểu rằng cái thanh tịnh sáng trong đó chỉ là bề nổi của tâm mà thôi. Bề sâu của tâm vẫn là một khối ngu si, kiết sử, triền cái, tật xấu, khuynh hướng bậy, bản năng hư. Hiểu như vậy mà ta không bị khởi tâm kiêu mạn nguy hiểm.
Nhiều hành giả vừa được chút tâm thanh tịnh trong sáng đã tự ca ngợi tâm mình là Phật, thật là hiểu lầm chết người, dễ đọa địa ngục như không. Thậm chí có người chưa được kết quả thiền định gì cũng bắt chước mà tự phong cho tâm mình là Phật, bó tay luôn.
Nếu ta có phước, mà phước này do lòng tôn kính Phật tuyệt đối mới có được, thì dù cho sau này ta đạt được các kết quả vô cùng vi diệu trong thiền định thì vẫn nhắc chừng tâm này còn đầy vô minh chấp ngã sâu xa. Nhờ nhắc chừng như vậy mà ta tránh được sự bột khởi của kiết sử Kiêu mạn. Kiêu mạn thì chưa thể hết, chứng A la hán mới hết, nhưng không cho nó bột khởi cũng là đỡ khổ lắm rồi.
Luật nhân quả rất kỳ cục, ta tự cho mình hay giỏi cao siêu thì tâm mình sẽ biến thành ngu si điên loạn. Nếu ta tự nhắc tâm mình kém dở thì nó sẽ ít dở hơn.
Nhiều khi trong lúc ngồi thiền, tâm tạm yên, ta lại theo hơi thở mà nhắc chừng, hơi thở vào biết tâm này còn nhiều xấu xa; hơi thở ra biết tâm này còn nhiều xấu xa...
Cầu cho tất cả chúng sinh hiểu về tâm mình thật chính xác.
