1. Vai trò chính yếu của công tác Hoằng pháp
Hình ảnh một vị giảng sư uy nghi đĩnh đạc đường bệ trên pháp tòa cất lời đạo lý tuôn trào bất tận lôi cuốn thính chúng là hình ảnh lý tưởng của công tác hoằng pháp. Khi làm công tác hoằng pháp, ai cũng phải nghĩ đến lúc hiện diện trên pháp tòa, trước số đông cử tọa, thuyết pháp lưu loát hấp dẫn suốt cả tiếng đồng hồ. Ngày xưa Phật cũng giáo hóa bằng những thời thuyết pháp lôi cuốn như thế.
Khác với lúc đàm đạo ta chỉ độ được vài ba người, hay một nhóm nhỏ, việc diễn giảng là cơ hội để ta giáo hóa được nhiều người hơn. Tuy nhiên, chính việc thực hành đàm đạo rất nhiều giúp ta trở nên một diễn giả tài ba sau đó. Muốn giỏi diễn giảng thì trước hết phải giỏi đàm đạo cái đã.
Có hai hình thức diễn giảng, một là giáo thọ sư dạy giáo lý trong lớp; hai là giảng sư trình bày giáo lý cho thính chúng tự do.
Giáo thọ sư có mặt khó là phải thật sự có chuyên môn cao về giáo lý để dạy cho Tăng Ni sinh, nhưng đồng thời cũng có mặt dễ là học trò đều là những người ham học, có tập trung, vì vậy Giáo thọ sư không bị áp lực tâm lý phải tìm cách chinh phục thính chúng, cứ theo đúng giáo trình mà hướng dẫn. Học trò mà không chịu học thì sẽ bị xử lý thích đáng.
Giảng sư có mặt dễ là chỉ cần có pháp hội mời giảng là ta có cơ hội trình bày giáo lý. Nhưng cái rất khó của Giảng sư là thính chúng là những người tự do, thích thì đến dự nghe, không thích thì thôi. Vì vậy áp lực về chất lượng bài giảng của Giảng sư là cực kỳ lớn. Tăng Ni sinh bị đẩy phải đến lớp ngồi học. Còn thính chúng tự do thì phải bị kéo thì mới đến nghe. Giảng sư phải giảng thế nào để người nghe ham thích đến nghe tiếp tục và còn rủ thêm người khác đến nghe nữa. Nói gọn, phải giảng cho hay.
Nhưng thế nào là giảng cho hay?
Đây là cả một rừng bí quyết, năng khiếu, tài năng, trí tuệ, công đức, kiến thức chứ không phải là chuyện đơn giản. Chính vì yêu cầu đối với giảng sư rất cao như vậy mà người xưa đã ca ngợi giảng sư là đại Phật tuyên hóa, thay Phật giáo hóa.
Thời đại ngày nay tín đồ Phật tử càng lúc càng đông, nhu cầu diễn giảng càng lúc càng nhiều, và như vậy cơ hội để cho Tăng Ni đăng đàn thuyết pháp cũng nhiều hơn. Tuy nhiên, vấn đề là làm sao để có một bài giảng thật hay vẫn là điều làm ta trăn trở. Có những pháp hội càng lúc càng đông, và cũng có những pháp hội đìu hiu dần dần. Người trí thức đòi hỏi một bài giảng sâu sắc mới lạ, trong khi người bình dân đòi hỏi một bài giảng dễ hiểu vui tươi. Và trong một pháp hội thì người nào cũng có mặt. Giảng sư phải đáp ứng được cho hầu hết mọi hạng người, vừa trí thức vừa bình dân như thế, làm sao cho hạng người nào cũng hài lòng sau khi nghe giảng.
Thật ra không riêng gì đạo Phật, các tôn giáo khác cũng lúng túng loay hoay đủ cách để nâng cao chất lượng bài giảng cho giáo sĩ. Đi tìm một bài giảng hay, thực hiện một bài giảng hay vẫn là ước mơ nghìn đời của các tu sĩ. Tôn giáo nào xuất hiện nhiều các bài giảng hay sẽ thu hút được nhiều tín đồ. Tuy nhiên điều này quá khó nên một số tôn giáo đã thay đổi chiến thuật, thay vì cố gằng giảng cho hay, họ đã sử dụng tiền bạc vật chất và phương pháp quản lý đội ngũ để chiếm lấy tín đồ. Chiến thuật này tạm thời có hiệu quả, họ đã có được trong tay nhiều người theo đạo.
Phật giáo không chủ trương chiếm tín đồ bằng bất kỳ một thủ thuật nào. Nếu có giúp đỡ vật chất, chúng ta hoàn toàn vì lòng thương yêu chân thật mà thôi. Con đường chính để hoằng hoá trong đạo Phật vẫn là sử dụng đạo lý. Cả đời đức Phật chỉ cố gắng dùng đạo lý để khai mở tâm hồn con người. Dù thần thông có thể làm mọi người nể phục nhưng không thể làm người ta giác ngộ, vì vậy đức Phật chẳng bao giờ dùng thần thông để làm người khác giác ngộ, Ngài chỉ chịu cực giải thích, trình bày, phân tích, lý luận để mọi người hiểu ra vấn đề mà thôi. Vì thế, sự kiên nhẫn của ta trong việc tạo nên một bài giảng hay chính là ta đi đúng với con đường của Phật, làm học trò ngoan của Phật.
Ai cũng biết rằng ngồi trên pháp tòa diễn giảng thì khác hẳn với việc cầm một văn bản soạn sẵn để đọc. Diễn giảng là phải ứng khẩu tại chỗ, tức thời. Thật ra dù có ứng khẩu ta cũng phải đã soạn trước dàn ý. Việc soạn dàn ý cẩn thận chính là ta tôn trọng người nghe, là ta không chủ quan kiêu ngạo, là ta có tinh thần trách nhiệm. Đọc nguyên văn cũng là soạn sẵn, ứng khẩu cũng phải có dàn bài soạn sẵn, nhưng cả hai khác nhau là sự sinh động. Khi ứng khẩu, ta có cơ hội để theo dõi thính chúng và điều chỉnh ngôn từ ý tứ cho thích hợp kịp thời. Còn văn bản soạn sẵn thì hên xui may rủi, nếu may mà phù hợp hoàn cảnh thì sẽ rất hay, nếu không phù hợp thì sẽ khô khan. Vì thế, một giảng sư phải là người rất giỏi việc ứng khẩu. Người giỏi ứng khẩu được gọi là người lợi khẩu, theo từ của Phật giáo. Tuy nhiên, để có thể ứng khẩu được, ta phải có một vùng não được khai mở, được phát triển. Để có vùng não ứng khẩu được khai mở, ta cũng không thể dùng một loại biệt dược nào cả mà chỉ bằng cách tạo công đức sâu dày mà thôi. Ngoài ra, trong chương trình học, ta sẽ có nhiều cơ hội để luyện tập khả năng ứng khẩu dần dần.
Nhân cách của Giảng sư là một vấn đề rất lớn. Ai đã mang trách nhiệm ngồi trên pháp tòa thì phải trau dồi giới hạnh từng ngày, phải vượt qua, phải khắc phục lỗi lầm từng ngày. Chính tư cách đạo đức của ta là sự bảo đảm cho những lời ta giảng. Mọi người sẽ đi theo Phật Pháp khi chiêm ngưỡng một giảng sư tài ba có giới hạnh tốt đẹp. Vì thế, ai vừa có khả năng diễn giảng vừa có giới hạnh tốt đẹp sẽ là người đem cho cuộc đời nhiều lợi ích lớn. Ngược lại, ai có khả năng diễn giảng nhưng giới hạnh kém cỏi sẽ là người tàn phá nhiều nhất vì khiến cho mọi người không còn tin là những lời nói tốt đẹp kia sẽ mang lại kết quả nào. Hậu quả này thật tai hại.
Đôi khi ta cũng nói rằng Y pháp bất y nhân để biện minh cho khuyết điểm của Giảng sư, nhưng thực tế thì tư cách của Giảng sư vẫn là một yêu cầu rất gay gắt. Do đó, trước khi nhắm đến công việc diễn giảng, ta phải nhắm đến việc hoàn thiện giới hạnh cái đã. Nhưng không ngờ rằng chính khi ta vất vả chiến đấu với lỗi lầm của mình cũng là lúc ta ươm mầm cho những bài giảng xuất sắc về sau. Ai càng nhìn ra được lỗi lầm của mình nhiều chừng nào thì sẽ giảng hay chừng nấy. Vì vậy, công việc đầu tiên của giảng sư là tìm cho ra hết những lỗi của mình.
Một thời gian dài, các chùa Việt Nam ít quan tâm tới việc thuyết giảng cho Phật tử. Chùa chỉ chú trọng các nghi thức cúng bái, trai tăng, xây cất... Phật tử càng ngày càng ít hiểu về Phật Pháp nên rời xa chùa dần dần. Muốn Phật Pháp phát triển, ta phải tổ chức nhiều những buổi thuyết giảng giáo lý cho Phật tử. Khi Phật tử hiểu giáo lý sâu sắc rồi, họ sẽ là những người tiếp tay với quý thầy làm nên những Phật sự tốt đẹp. Thật ra, thuyết pháp không cũng chưa đủ để làm Phật Pháp hưng thịnh mà cần phải có tổ chức cho Phật tử tu tập thiền định, tổ chức cho Phật tử làm việc từ thiện, hướng dẫn cho Phật tử biết hoằng truyền giáo pháp, hướng dẫn cho Phật tử biết hộ trì Chánh pháp, hướng dẫn cho Phật tử biết kết đoàn tập hợp với nhau. Tuy nhiên, việc thuyết giãng giáo lý vẫn là chìa khóa đầu tiên. Có thuyết giảng rồi mới có những công đức khác tiếp theo.
Vì thuyết giảng là chìa khóa ban đầu dẫn dắt các công đức khác nên nội dung thuyết giảng phải mở ra con đường đưa người nghe đến dần những công hạnh phía sau. Sau khi nghe giảng xong, trong lòng người nghe phải khát khao được tu tập, mong ước được làm việc từ thiện, thiết tha đem giáo pháp đến với mọi nơi, quyết lòng bảo vệ Chánh pháp, và dâng trào niềm yêu mến đồng đạo để chung tay góp sức với nhau. Đừng để cho một bài giảng trở thành trống rỗng vì sau khi nghe xong, người nghe ngơ ngác không biết phải làm gì sau đó.
Giảng sư có thể chọn bài giảng bằng cách chọn một bài kinh Phật để phân tích giải thích và chỉ cách ứng dụng bài kinh đó vào cuộc sống. Nhớ là phải chỉ cách ứng dụng lời kinh Phật vào cuộc sống thực tế. Tuyệt đối không nên giảng kinh Phật rồi chỉ ca ngợi kiến thức cao siêu, chỉ dừng lại ở kiến giải đầu môi chót lưỡi.
Giảng sư cũng có thể chọn bài giảng bằng cách đưa ra một đề tài riêng của mình. Nói là đề tài riêng, thật ra nội dung cũng phải hoàn toàn phù hợp với đạo lý Phật dạy. Ai giảng ra ngoài đạo lý Phật dạy thì lập tức trở thành ngoại đạo mất rồi. Nhưng chọn đề tài riêng
không phải dễ. Nhiều giảng sư than thở về việc chọn đề tài riêng như thế. Sau này ta sẽ phân tích cách chọn đề tài riêng.
2. Khả năng của Giảng sư
Khả năng chính của Giảng sư là làm sao cho thính chúng hiểu được đạo lý mà mình thuyết giảng. Câu nói này đặt ra 3 vấn đề:
- Một là Đạo lý gì để cung cấp cho thính chúng.
- Hai là phương cách thuyết giảng.
- Ba là mức độ nhận hiểu của thính chúng.
Giảng sư dường như phải có một nguồn đạo lý vô hạn ở trong tâm. Mọi người không chấp nhận chuyện một giảng sư phải ngưng giảng vì không còn biết nói gì. Họ đòi hỏi giảng sư phải nói mãi, nói tới khi chết. Họ nghĩ rằng trí tuệ là bất tận, là bất tử. Thật ra giãng sư nào rồi cũng phải có lúc bớt nói. Sau một thời gian cống hiến, vị giảng sư nào cũng muốn lui về an dưỡng tu tập, nhường công việc lại cho đàn em. Có thể vị đó vẫn còn trí tuệ minh mẫn như xưa, nhưng người lớn lúc nào cũng mong cho đàn em của mình tiến lên thay thế. Đạo lý của một vị Giảng sư trước hết lấy từ nguồn giáo lý của Phật. Vị giảng sư phải học giáo lý từ nơi kinh điển, từ các luận bản, từ sự dạy dỗ của Giáo thọ sư. Những Đạo lý đó phải được xào nấu bằng kinh nghiệm tu hành tự thân. Giảng sư phải áp dụng đạo lý tu hành trước đã. Đạo lý nào mình có kinh nghiệm thì sẽ trở thành giáo trình giảng dạy về sau. Vì vậy, yếu tố thứ hai để có nguồn đạo lý là kinh nghiệm tu tập.
Ta cũng đã nói về việc tham khảo kiến thức của thời đại như là một sự đối chiếu rất quan trọng giữa Phật Pháp và thế gian. Giảng sư mà không có kiến thức của thời đại thì chắc chắn sẽ giảng dở.
Điều thứ hai là phương pháp thuyết giảng. Kết quả của phương pháp thuyết giảng, của đạo lý thuyết giảng chính là mức độ nhận hiểu của thính chúng. Giảng gì thì giảng, nếu chẳng ai hiểu gì cả thì thật là vô duyên.
Chính việc đàm đạo hỏi đáp từ trước sẽ giúp ta có khả năng trình bày vấn đề một cách dễ hiểu nhất. Nếu ai chưa đi qua kinh nghiệm đàm đạo hỏi đáp thì sẽ diễn giảng phất phơ trên mây một mình giống như không có ai ngồi nghe vậy. Và dĩ nhiên chẳng ai hiểu cái gì. Diễn giảng chính là kết nối những câu trả lời lại thành một bài giảng liên tục. Đó là những câu trả lời cho những câu hỏi gay gắt nhất, nên đó cũng là những câu trả lời kỹ lưỡng nhất. Khi kết nối toàn bộ những câu trả lời cho những câu hỏi tưởng tượng, ta có được một bài thuyết pháp hấp dẫn. Vì vậy, khi soạn bài, giảng sinh phải xem như mình đang bị đặt một loạt các câu hỏi nối tiếp, và bổn phận khi giảng chính là trả lời những câu hỏi giấu mặt đó.
Giảng sinh cũng sẽ học về những vấn đề liên quan đến giọng nói, như giai điệu của giọng nói, tốc độ của lời nói, cường độ phát âm, những khoảng ngưng cần thiết, những khoảng nhấn mạnh cần thiết... ta sẽ thấy là không được cố chấp giọng địa phương của mình nếu ta muốn giáo lý được lưu bố rộng rãi. Có thể ta sẽ giữ giọng chính của mình, nhưng sẽ điều chỉnh cho gần với giọng thủ đô hơn một chút. Am thanh giọng nói của giảng sư chiếm mất 50% giá trị của bài giảng.
Ngoại hình cũng là một yếu tố làm bài giảng trở nên dễ chịu. Nghe giảng thì phải nhìn mặt giảng sư để theo dõi bài giảng. Nếu mặt giảng sư xấu quá thì cũng khiến người nghe hơi chán. Với các nghệ sĩ, yếu tố ngoại hình là điều kiện đầu tiên trước khi nói đến tài năng. Còn giảng sư thì yêu cầu về ngoại hình không cao lắm, đẹp thì càng tốt, nhưng cũng đừng xấu quá. Nói gì thì nói, có ngoại hình tốt cũng là cái phước đời trước khiến cho chúng sinh dễ có thiện cảm.
Có một yếu tố tạm gọi là Tâm lực vô hình khiến cho người nghe bị thu hút chặt vào diễn giả. Có người giảng, dù cũng hay, nhưng tâm của người giảng và người nghe chẳng dính gì với nhau. Có người giảng, dĩ nhiên phải hay, và tâm của 2 bên dính chặt vào nhau không rời, khiến cho buổi giảng vô cùng lý thú. Giảng sư mà có tâm lực như thế sẽ giáo hóa được rất nhiều chúng sinh.
Trong giới nghệ sĩ thường hay xuất hiện hội chứng ganh tị tài năng. Vì phải tranh giành ảnh hưởng đối với quần chúng nên các nghệ sĩ hay ngấm ngầm không ưa nhau. Sau này, khi đội ngũ giảng sư Phật học nhiều lên, cũng sẽ có tình trạng ganh tị lẫn nhau nếu các giảng sư không có đạo đức sâu sắc. Vì vậy, giảng sinh phải chuẩn bị từ bây giờ cho mình một đạo đức dày dặn, luôn mong mỏi có người giảng giỏi hơn mình để Phật Pháp được hưng long. Sau này thấy ai được quần chúng tán thán, ta phải thật lòng hoan hỷ, dứt khoát không khởi tâm ganh tị tầm thường.
Sức khỏe cũng là điều quan trọng phải lưu tâm. Người yếu quá thì cũng khó có sức thu hút, cũng khó giảng dạy được nhiều. Vì vậy, giảng sinh từ bây giờ cũng phải nghiên cứu các phương pháp gìn giữ bồi đắp sức khỏe, thức ăn, thuốc thang, luyện tập, giờ giấc v.v...
Yêu cầu cao nhất của giảng sư là giảng đúng với ý Phật và giảng hấp dẫn.
Lúc nào giảng sư cũng phải chăm chăm giữ gìn từng ý tứ không cho phép mình vượt ra khỏi đạo lý Phật dạy. Nếu chệch ra khỏi đạo lý Phật dạy, ta lập tức rơi vào đường tà, đã phản bội Tam bảo, và góp phần gieo rắc tà kiến vốn đã dày đặc trên thế gian rồi. Quả báo là ta sẽ đoạ lạc nặng nề, như trường hợp ông già chồn trong truyện tích của thiền sư Hoài Hải Bá Trượng. Có một số vị giảng sư lanh lợi, đã sáng chế ra đủ thứ lý luận, pháp môn... và trở nên khác hẳn với đạo lý chính thống của Phật. Người nghe thấy lạ tai có vẻ hấp dẫn nên hăm hở đi theo, đâu ngờ đã kéo nhau ra khỏi giáo pháp của Phật mà không hay biết. Vì vậy, dù có thông minh tài giỏi, lúc nào ta cũng phải biết khiêm tốn cầu Phật gia hộ cho ta luôn luôn hiểu đúng ý Phật để nói lên những điều lợi ích cho chúng sinh.
Yêu cầu thứ hai là giảng cho hấp dẫn. Nếu ta giảng đúng ý Phật rồi, nhưng trình bày quá khô khan tẻ nhạt thì cũng như không. Việc tìm lời tìm ý để tạo nên một hiệu quả hấp dẫn cho người nghe là một bí mật của trí tuệ, cũng là cái duyên phước riêng của mỗi người. Ta cũng cố gắng rèn luyện, nhưng cũng phải tạo phước để có được khả năng gây sự lôi cuốn cho thính chúng.
Trên bước đường làm một giảng sư để đại Phật tuyên hóa, ta sẽ vừa làm vừa chỉnh sửa bổ sung dần dần. Điều quan trọng là ta không có tâm mong cầu danh lợi, mà chỉ thật lòng muốn cho mọi người thấm nhuần Phật Pháp để đau khổ vắng bóng trên cuộc đời. Những điều ta nói sẽ có nhiều người nghe, vì vậy ta phải hết sức có trách nhiệm với từng lời được trình bày ra ngoài. Mỗi lời nói là cả một tấm lòng, một sự cân nhắc đắn đo, một ý thức cao độ.
