1. Người trí thức là người có học thức và làm việc ở môi trường có chuyên môn
Có 2 hạng trí thức, một là những người đã tin Phật và hai là những người chưa tin Phật.
Người trí thức tin Phật cũng sẽ làm nên một sức mạnh hỗ trợ cho các tu sĩ trong công tác Phật sự. Họ cũng là người giúp định hình Phật giáo sẽ đi theo chiều hướng nào trong tương lai. Phật giáo luôn luôn bị chia ra nhiều dòng phái, nhiều khuynh hướng tu tập mỗi khi có thêm những vị đại sư có sức lôi cuốn gây được ảnh hưởng vào đông đảo quần chúng. Chúng ta biết ơn các đại sư xuất hiện đã đóng góp làm phong phú thêm cho kho tàng giáo lý của đạo Phật, nhưng chúng ta cũng lo ngại tình trạng là các ngài cũng làm cho Phật giáo thêm nhiều ngã rẽ. Chính nơi vấn đề khúc mắc này mà vai trò người trí thức Phật tử được đánh giá cao. Họ có kiến thức về xã hội và khoa học nên sẽ kết hợp được với giáo lý tâm linh để giúp tìm ra sự cân đối thiết thực cho đạo lý. Giáo lý đạo Phật chỉ có ích lợi khi dễ ứng dụng vào cuộc sống, phù hợp với các kiến thức thời đại, và vượt lên trên để hướng dẫn loài người. Người Phật tử trí thức sẽ là người giúp chọn lọc cho đạo Phật loại đạo lý như thế.
Ngoài ra, người trí thức cũng thường là người có kinh tế ổn định nên dễ đóng góp vật chất cho các nhu cầu Phật sự hơn. Khi người xuất gia đàm đạo trao đổi với người Phật tử trí thức cần phải để ý những đặc điểm như sau:
- Người Phật tử trí thức quý trọng ta vì ta là người xuất gia, có đức tu hơn, chứ chưa chắc họ đã khâm phục ta về kiến thức và giáo lý. Đời nay các Phật tử giỏi giáo lý nhiều khi không thua quý Tăng Ni.
- Trong khi nói chuyện, điều gì ta chưa biết thì hãy chân thành lắng nghe để biết thêm. Sự khiêm tốn của ta sẽ làm họ quý trọng, hơn là cứ ra vẻ ta đây không thua ai.
- Nếu ta nhận thấy họ có khả năng gì hay thì khuyến khích họ đem khả năng đó đóng góp cho đạo pháp, giúp cho việc hoằng dương Phật Pháp, ví dụ như khả năng âm nhạc, khả năng biên tập sách, điện toán, kiến trúc, mỹ thuật, cơ khí, v.v...
- Nếu gặp người có vẻ kiêu mạn thì ta cũng nên khuyên họ trừ bỏ kiên mạn để cho họ không bị đổ vỡ về sau. Nếu ta không khuyên họ trừ bỏ kiêu mạn thì ta sẽ mất một Phật tử trí thức khi mà họ trở nên hư hỏng.
- Không phải hễ là trí thức thì nhận định điều gì cũng đúng. Rất nhiều trí thức đã bị khuất phục bởi các tà sư khắp nơi trên thế giới. Rất nhiều trí thức đã chọn sai thầy để tôn thờ. Rất nhiều trí thức đã bảo thủ cố chấp như ai. Vì vậy, khi nói chuyện với trí thức, ta cũng tỉnh táo để giúp họ nếu phát hiện họ định hướng sai.
- Người trí thức hầu hết đều đã đi vào chuyên ngành, tập trung trong vài lĩnh vực nhất định, nên không phải là người chuyện gì cũng biết. Tuy nhiên, những người làm việc trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật sẽ nắm bắt vấn đề mới nhanh hơn và khách quan hơn. Còn những người đi trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật thì vẫn dễ bị cảm tính chủ quan hơn.
2. Người trí thức là Phật tử
Trong công tác hoằng pháp, nếu gặp người trí thức Phật tử thì dường như ta không cần phải tốn công sức giáo hóa nhiều vì họ đã quy y Phật rồi. Ta chỉ trao đổi về đạo pháp để kết thêm duyên lành mà thôi. Trừ trường hợp ta là bậc đại sư trí tuệ sáng ngời thì ta có bổn phận phải dìu dắt các Phật tử trí thức tiến xa thêm trên đường tu học để học có thể nhiệt thành đóng góp công sức cho Phật Pháp, cho chúng sinh, cho đất nước. Và cũng chỉ những bậc đại sư mới đủ sức thuyết phục Phật tử trí thức chỉnh sửa các sai lầm để hoàn thiện bản thân.
Đôi khi gặp người lợi khẩu, có khi họ nói ta nghe suốt. Dĩ nhiên đó cũng là bệnh của người giỏi mà thiếu tu. Người có dụng công tu thiền sẽ kiểm soát được tâm ham nói của mình nên không nói dai, không nói dư, không nói giành. Nếu ta đủ uy đức, chỉ cần ta nhắc thẳng cho họ biết về lỗi đó là giúp họ tỉnh lại. Nếu ta chưa đủ uy đức thì ta bày tỏ phong cách trầm lặng ít nói, không lạnh lùng, không hờ hững, có tỉnh táo, có quan tâm, có hoan hỷ khi tiếp xúc với người nói nhiều. Sau khi gặp ta ra về, họ sẽ bị phong cách trầm mặc của ta nhắc nhở và biết kềm chế lại.
Ta có thể hỏi Phật tử làm việc trong ngành nào, và xin họ giải thích về ngành nghề của họ cho ta nghe một tí để ta hiểu biết thêm. Ta sẽ thấy mỗi ngành nghề là một thế giới khác lạ phong phú, và có rất nhiều chuyện ngộ ngộ. Ví dụ bác sĩ có thể cho ta biết về chuyện giải phẩu xác chết, chuyện bệnh nhân nghèo, chuyện để quên dao kéo trong bụng bệnh nhân... Phóng viên có thể cho ta biết về việc đồng tiền luôn luôn cám dỗ họ viết khác sự thật; kỹ sư có thể cho ta biết về sự chiến đấu để giữ chất lượng công trình theo thiết kế trong khi có những kẻ muốn thông đồng rút ruột... Rồi tùy theo những chuyên môn của họ mà ta sẽ nói chuyện đạo lý thú hơn. Ví dụ gặp thầy giáo thì nên nói về giáo dục chứ không nên nói về việc thóc cao gạo kém, gặp kiến trúc sư thì nên nói về nhà cửa phố thị chứ không nên nói về đánh bắt xa bờ...
Nhưng điều quan trọng là cuối cùng ta phải dẫn câu chuyện đi về đạo lý, không đi lang thang ra chuyện thế tục rồi không còn đường về. Bản lĩnh của người xuất gia là kéo được câu chuyện quay về đạo lý dù ban đầu mọi người hào hứng kể đủ thứ chuyện trên đời của họ. Phật tử trí thức sẽ nể ta nếu ta luôn luôn đưa được câu chuyện quay lại đạo lý. Nếu ta theo họ đi ra ngoài thế gian thì họ ra về mà lòng sẽ xem thường ta.
Hỏi: Sao thầy (hay cô) phát tâm xuất gia vậy?
Đáp: Thì cũng như anh (hay chị) phải chọn một ngành, một hướng đi cho đời mình chứ. Đó là ngành mà chúng ta biết là phù hợp với con người mình vừa có thể làm lợi ích cho người khác.
Hỏi: Nhưng có khi thầy ở tại gia như tụi con mà lại làm được nhiều việc hơn. Xuất gia rồi bị hạn chế quá.
Đáp: Sự hạn chế của người xuất gia cũng chính là lợi điểm mà người tại gia không có được, đó là khi khép mình trong giới luật, người xuất gia nhận được sự kính trọng của cư sĩ, và như vậy, mỗi lời nói của người xuất gia sẽ có tác dụng giáo hóa mạnh hơn. Người tại gia thì có thể trải rộng hoạt động ra nhiều môi trường, nhiều lĩnh vực, và cũng dễ góp sức đắc lực trong việc hoằng truyền chánh pháp. Cả hai đều có ưu thế lợi điểm của mình, và phải biết chung sức với nhau.
Hỏi: Có nhiều chùa yên tĩnh quá, đến nỗi như đi vào thụ động. Thời đại ngày nay cuộc sống đi rất nhanh, khoa học kỹ thuật tiến bộ từng ngày, nếu chùa cứ thảnh thơi như ngày xưa thì người ta sẽ bỏ rơi chùa lại phía sau để họ tiếp tục bước tới.
Đáp: Bạn nói đúng, chùa phải thay đổi cho phù hợp với thời đại. Tuy nhiên điều khó khăn là dù cho chùa có phải năng nổ hơn, hoạt động hơn, tích cực hơn nhưng không được xa rời mục tiêu giải thoát, vẫn phải có hướng tu tập ổn định hằng ngày.
Quan niện ngày xưa là muốn được tịnh hóa nội tâm thì người ta phải ít bận tâm vào mọi chuyện, vì vậy chùa luôn tìm cách giấu mình trong thanh vắng thảnh thơi. Nhưng trong giáo lý Bát chánh đạo, Phật dạy là phải thuần thục Chánh nghiệp, nghĩa là phải làm phước cho dày, sau đó mới tu Chánh niệm Chánh định được. Do đó, ta có thể lấy cái nhược điểm biến thành cái ưu điểm, là lợi dụng sự bận rộn để làm được nhiều công đức cho đời. Đến khi đủ phước rồi thì tự nhiên nhiếp tâm dễ dàng trong hoàn cảnh náo động. Đây cũng là sự thực mà nhiều người có kinh nghiệm.
Hỏi: Hoàn cảnh tại gia như chúng con cũng khó tịnh hóa nội tâm vì phải bận lo nhiều việc, giờ giấc không đều đặn, trách nhiệm đối với gia đình nhà cửa, chạy theo sinh kế từng ngày từng tháng. Nhiều khi cũng muốn được thảnh thơi như quý thầy cô để tu hành.
Đáp: Thường thì ta hay đứng núi này trông núi nọ. Ngay cả một vài người xuất gia cũng nghĩ là ở đời chắc vui lắm nên cũng xao động vọng tưởng. Thật ra nếu ai vô chùa tu mà tìm một đời sống thảnh thơi thì chắc không bao giờ đắc đạo. Thời mạt pháp này đâu có ai nhiều phước đến nỗi không cần làm phước mà vẫn đủ công đức để nhiếp được tâm đâu. Quý thầy cô cũng phải cố gắng tạo phước rất nhiều để có phước mà nhiếp tâm. Trách nhiệm của quý thầy cô đối với Phật Pháp là tự nguyện nên không bị áp lực tâm lý. Còn cư sĩ có trách nhiệm bắt buộc nên áp lực tâm lý nặng hơn. Nhưng nếu cư sĩ biết gắng sức tạo phước ngay trong hoàn cảnh bận rộn của mình thì cũng có ngày hoàn cảnh được rảnh rang mà tâm thì cũng nhiếp được rất tốt. Nói chung ai cũng vậy, biết tạo công đức thì đều được an tâm.
Hỏi: Thời đại này quý thầy cô cũng phải biết sử dụng computer hoặc nhiều loại máy móc khác, thậm chí còn phải tự lái xe chạy ào ào trên đường, vì phải áp dụng kỹ thuật để đạt được hiệu quả cao trong đời sống và trong việc giáo hóa. Nhưng không biết việc sử dụng máy móc có làm tâm loạn động thêm không?
Đáp: Đúng là ngày nay ta không thể đi bộ từ nơi này sang nơi khác để giáo hóa hay làm các công tác Phật sự; ta cũng không thể viết từng bức thư tay để gửi đi khắp nơi; ta cũng không thể gào thét khi giảng trong một hội trường. Nói chung ta phải biết áp dụng khoa học kỹ thuật trong việc truyền bá Phật pháp. Và ai càng khôn ngoan áp dụng kỹ thuật cao chừng nào thì càng đạt hiệu quả trong việc truyền bá chừng nấy.
Ta cũng không sợ khi sử dụng máy móc phức tạp làm tâm ta loạn động vì bộ não ta có tiềm năng rất lớn, hơn hẳn sự phức tạp của máy móc. Chỉ khi nào ta dùng máy móc để làm điều xằng bậy thì bộ não ta sẽ bị phá vỡ. Nếu ta dùng máy móc để làm điều thiện thì bộ não càng lúc càng tốt lên, thậm chí ngồi thiền sẽ mau nhiếp tâm hơn.
Hỏi: Tăng Ni ngày nay cũng phải học nhiều việc bên ngoài để biết mà làm việc tốt hơn. Nhưng học nhiều quá lại chướng ngại việc tu. Có những vị Tăng Ni chỉ mải miết học để lấy bằng cấp.
Đáp: Nếu ai chỉ học để lấy bằng cấp thì thật là một sai lầm. Tu theo Phật, ta phải cân đối 3 việc là Tu, Học, và Công quả. Khi thì học nhiều hơn, khi thì tu nhiều hơn, khi thì công quả nhiều hơn. Nhưng mục tiêu chính vẫn là nhập được thiền định và giúp nhiều người đến với đạo lý Giác ngộ.
Tăng Ni cũng cần tránh tâm lý hơn thua về bằng cấp đến nổi bỏ qua việc Tu và Công quả. Thiếu Phước và công đức Tu tập, có khi một vị xuất gia hết phước làm Tăng nửa chừng và đành phải hoàn tục. Tuy nhiên, sở dĩ Tăng Ni chạy theo bằng cấp bởi vì các vị chức sắc lớn quá chú trọng bằng cấp khi chọn người làm việc. Nếu các vị chức sắc chú trọng nhiều hơn vào thực tài thực đức thì Tăng Ni sẽ hướng về đường tu nhiều hơn.
Hỏi: Ta cũng nên quan sát các tôn giáo bạn để học những cái hay và tránh những cái dở. Như vậy sẽ giúp phát triển Phật giáo hơn chứ ạ?
Đáp: Đạo Phật đâu có chủ trương kiêu mạn tự tôn mà không chịu học hỏi cái hay của người khác. Đúng như vậy, ta cũng phải thán phục tài tổ chức hệ thống nhà thờ và quản lý giáo dân một các khoa học nề nếp của Kitô, ta cũng phải ngạc nhiên khi sự cứng rắn của Islam khiến họ có đông tín đồ đến như vậy.
Sự vận dụng âm nhạc hiện đại vào nghi lễ vẫn là một ưu điểm của Kitô mà Phật giáo cần phải học hỏi. Rất nhiều thầy cô còn ngần ngại áp dụng âm nhạc hiện đại vào nghi thức trong khi Phật tử trẻ ngày đêm trông ngóng.
Rồi khả năng Hồi hóa xã hội tại các cộng đồng Hồi giáo vẫn là điều làm ta kinh ngạc. Nơi nào đạo Hồi xuất hiện, trước sau gì làng xã cũng phải thành tín đồ Hồi giáo và tổ chức cộng đồng của mình theo Hồi giáo. Nếu đạo Phật có những Tăng Ni quyết tâm cao độ như vậy thì việc Phật hóa cộng đồng cũng không thua kém vì ta có bề dày mấy nghìn năm hiện diện. Nhược điểm của Phật giáo là quyết tâm Phật hóa cộng đồng của đệ tử Phật quá yếu ớt, dường như bằng zero.
Giáo lý ta rất hay, nhưng ta thiếu những yếu tố phụ giúp cho giáo lý. Vì vậy ta phải quan sát học hỏi, sáng tạo, phát triển, đôi khi cải cách để phát triển Phật Pháp cho muôn đời sau. Nói chung khi nói chuyện với Phật tử trí thức, ta có thể thoải mái trao đổi chân tình để giúp cả hai cùng hiểu biết thêm. Chính đức tu của ta sẽ giúp Phật tử thêm tinh tấn.
3. Người trí thức chưa theo Phật
Những người trí thức chưa theo Phật thì chưa tôn trọng Tăng Ni, thậm chí có những người còn xem thường tu sĩ. Nếu gặp cơ hội nói chuyện với những người này thì ta phải lường sức mình. Nếu ta cảm thấy chưa đủ trí tuệ đức độ để thuyết phục họ tin Phật thì ta chỉ cần giữ tư cách, giữ thiện cảm là được, không cần làm gì nhiều. Nếu ta cảm thấy đủ sức để “nói chuyện” với họ thì cố gắng thuyết phục họ tin Phật để chính họ được an lạc về sau, và cũng tìm thêm cho đạo một trí thức. Dưới đây là những đặc điểm cần lưu ý khi nói chuyện với trí thức chưa tin Phật:
- Không nên xưng là thầy hay cô với họ vì trong lòng họ chưa xem mình là thầy của họ. Chỉ nên xưng Tôi hoặc pháp danh là được. Gọi họ theo tên hoặc vai vế theo tuổi tác của họ. Và họ cũng chưa xưng con với người tu.
- Chưa nên nói về đạo lý vội mà chỉ nên nói về những vấn đề họ quan tâm. Ví dụ họ thích bàn về khoa học, dân số, môi trường, kinh tế, giáo dục, nghệ thuật... thì ta cứ nói theo cái đã. Thế nào trong những vấn đề trao đổi cũng có một kẻ hở để ta đưa vào đó đạo lý nhân quả hay đạo đức Phật giáo làm cho họ bắt đầu chú ý. Có những giáo lý mà khoa học chưa thể chứng minh và người trí thức hay nghi vấn về những giáo lý đó, ví dụ như luật Nhân quả Nghiệp báo, tình trạng tái sinh luân hồi mãi, trực giác thần thông, sự an lạc hạnh phúc trong thiền định... Ta nên có thái độ quả quyết xác tín đối với những giáo lý đó để họ phải đi theo vì đó là những giáo lý quan trọng được Phật thân chứng.
Hỏi: Giáo chủ của một tôn giáo nào cũng có nguồn gốc loài người, có cha sinh mẹ đẻ hẵn hòi, cho nên họ cũng là một con người bình thường như mọi người mà thôi. Chỉ vì họ khéo dẫn dụ nên làm nhiều người tin vào sự thiêng liêng cao cả của họ.
Đáp: Anh (hay Chị) hãy tưởng tượng có một giáo chủ ở đâu trên trời, thỉnh thoảng hiện ra giảng đạo rồi biến mất vào hư vô. Liệu những người có tinh thần khoa học sẽ chấp nhận những đạo lý do một nhân vật có nguồn gốc mơ hồ như vậy không? Ta cần những đạo lý do những con người bằng xương bằng thịt, có nguồn gốc rõ ràng tuyên giảng. Sau đó, đến lượt ta cũng là những con người xương thịt, sẽ chọn lựa đạo lý nào hợp lý nhất.
Hỏi: Thiên nhiên cho con người cuộc sống bình thường thực tế. Trai gái lớn lên yêu nhau, lập hôn nhân, sinh con nối dòng, làm ăn nuôi sống bản thân và gia đình mình, tìm vui với những nghệ thuật, v.v... Vậy là tốt rồi. Tại sao các nhà tôn giáo lại tìm cách lái cuộc sống con người đi qua một hướng không bình thường, không cho hôn nhân, chủ trương sống nhờ vào sự giúp đỡ của tín đồ, sống kham khổ ép xác không thú vui. Như vậy là đày đọa con người chứ đâu phải đem lại hạnh phúc cho con người.
Đáp: Hãy quan sát kỹ cái mà bạn cho là bình thường. Những mối tình đổ vỡ, những vợ chồng li dị, những đứa con mồ côi, những mảnh đời nghèo nàn bất hạnh, những trò vui trác táng sa đọa, những việc làm ác độc của người đối với người, v.v... Chính những cái mà bạn gọi là bình thường đó luôn chứa đựng bên trong nhiều bất trắc, đổ vỡ và đau khổ. Những bất trắc đau khổ này dày đặc đến nổi tiểu thuyết nào cũng diễn tả kể lể.
Đạo Phật nhìn rõ những bất trắc đó và muốn tìm cho con người hạnh phúc chân thật hơn, bền bĩ hơn, cao cả hơn. Con đường đi đến hạnh phúc cao cả đó không giống với con đường bình thường, hơi khác thường, và vì thế bạn nhìn thấy đạo Phật có vẻ hơi lạ.
Hỏi: Thế tại sao không vừa tự làm ăn nuôi sống mình vừa tu hành, lại sống nhờ vào sự giúp đỡ của tín đồ?
Đáp: Thật ra chẳng ai lại không nhờ vào sự giúp đỡ của người khác. Ngay cả bạn có trồng được hạt lúa nào, dệt được miếng vải nào đâu mà bạn vẫn có cơm ăn áo mặc? Xã hội là một sự phân công đều khắp. Bạn đi dạy học (hoặc chỉ huy công trường, chữa bệnh, bảo vệ an ninh xã hội...) và xứng đáng được có cơm ăn áo mặc thông qua đồng lương. Các tu sĩ chân chính đóng góp cho cuộc đời đạo đức và đời sống tâm linh cao thượng nên cũng xứng đáng được có cơm ăn áo mặc thông qua sự cúng dường tự nguyện.
Hỏi: Cái gọi là đời sống tâm linh có vẻ mơ hồ quá. Tôi đi dạy học (hoặc kỹ sư bác sĩ...) là đem lại cho đời những giá trị thực. Còn các thầy tu đem cho đời điều mơ hồ và lấy lại cơm áo rất thực. Đổi cái mơ hồ để lấy cái thực coi bộ lời to.
Đáp: Bạn có thấy những ca sĩ chỉ đem cho đời cái cảm xúc khi được nghe một bản nhạc hay, cái cảm xúc rất chóng hết, vậy mà tiền cashier rất cao. Hoặc rất nhiều kiến thức mà bạn dạy cho học sinh nhưng có khi cả đời họ chẳng áp dụng tới. Đó cũng là điều mơ hồ vậy. Còn đạo đức là điều cực kỳ quan trọng cho xã hội. Không có đạo đức, cả xã hội sụp đổ lập tức. Đời sống tâm linh lại còn mầu nhiệm hơn nữa, đó chính là một giai đoạn văn minh mà loài người sẽ bước tới. Các tu sĩ Phật giáo không phải đang làm điều mơ hồ, mà chính là đang làm điều lợi ích thiết thực cho đời. Trong cuộc sống và cả trong khoa học, có những điều rất thực mà ta lại tưởng là mơ hồ, ví dụ như sóng vô tuyến, tia hồng ngoại, v.v... Phải đợi đến khi con người nhìn thấy kết quả do những điều đó mang lại, người ta mới biết nó là thực tế.
Ngày xưa tôi cũng như bạn, cũng cho rằng những gì mình biết mới đáng tin, còn những gì tôi chưa biết thì không đáng tin. Sau này nghiên cứu đạo Phật, tôi có cảm giác giống như được đưa ra khỏi đáy giếng để nhìn thấy trời cao đất dày. Tôi cũng mong bạn bỏ thì giờ ra nghiên cứu đạo Phật để tìm thấy thêm được nhiều lợi ích khác nữa. Rất nhiều nhà khoa học trên thế giới phải công nhận sự hợp lý, sự cao siêu, lợi ích mà đạo Phật mang đến cho con người. Bạn hãy trực tiếp tìm hiểu đạo Phật để thấy rõ như thế nào, đừng đứng từ xa, đừng nghe qua trung gian một người nào. Hãy nhìn bằng đôi mắt tinh tường của mình, hãy hiểu bằng nội tâm trong sáng của mình, không thành kiến, không cả tin, không ác cảm và cũng không mê tín. Chúc bạn an vui và tiến xa hơn trong tri thức của mình.
Thật ra ta sẽ gặp nhiều nạn vấn rắc rối hơn nhiều mà tài liệu giáo khoa này chưa đưa ra đầy đủ. Lúc đó, chính trí tuệ và công đức tu hành của ta sẽ giúp ta giải quyết trả lời các câu hỏi, cũng như khéo léo chuyển hóa người trí thức chấp nhận tìm hiểu đạo Phật.
