1. Khái niệm về Ý chính và Ý phụ
Nếu ta cho rằng Chủ đề giống như một thân thể hoàn chỉnh thì những Ý chính giống như Tứ chi, và những Ý phụ sẽ giống như các ngón tay ngón chân. Bài học hôm nay ta chưa nói về việc chọn chủ đề, chỉ nói về cách phân tích một Ý chính ra các Ý phụ. Còn việc diễn đạt mỗi Ý phụ đó thì ta đã học ở bài trước rồi.
Cái giỏi của một giảng sư là khả năng phân một Ý chính ra một số Ý phụ. Phân ra sao cho vừa đủ với chủ đề, không ít quá, không nhiều quá. Phân ra quá nhiều Ý phụ thì gây nhàm chán và nặng nề; phân ra ít quá thì bài giảng thiếu sót. Ta phân Ý sao cho các Ý cân đối với nhau giống như một cơ thể cân đối đẹp đẽ. Nếu có một Ý nào trải ra nhiều quá thì giống như một con người có một cánh tay khổng lồ, không tương xứng với các phần còn lại.
Ví dụ, ta muốn nói về Ý Tàn phá sự sống của cây tức là tàn phá sự sống của con người. Ta sắp xếp cho Ý chính này có 5 Ý phụ thôi, không nhiều hơn nữa, như sau:
Theo luật Nhân quả, triệt phá sự sống của sinh vật khác sẽ mắc quả báo là chính sự sống của mình bị tổn hại.
Theo khoa học, hết cây rừng, các nguồn nước sẽ tắt dần khiến cho việc trồng trọt không còn thuận lợi, thậm chí bế tắc.
Hết rừng cây, không khí trở nên ô nhiễm và không còn thích hợp cho việc hô hấp của con người, khiến con người sức khỏe kém dần.
Hết rừng cây, Trái đất không còn đa dạng sinh học để các loài nương tựa nhau tồn tại, cấu trúc đa dạng sinh học bị phá vỡ thì những loài còn lại rất bấp bênh.
Đặc biệt, hết rừng cây, tâm hồn con người sẽ trở nên cằn cỗi, khô khan, thậm chí thô bạo, và kém thông minh dần dần.
Đúng ra, mỗi Ý phụ này có thể được triển khai ra nhiều Ý nhỏ hơn nữa, nhưng ta phải biết kềm chế, chỉ diễn đạt mỗi Ý như thế bằng một đoạn văn ứng khẩu trong ba hoặc bốn phút mà thôi.
Hoặc một ví dụ khác, ta muốn nói về ý: Hãy xem một người hiểu về tiền bạc như thế nào, ta sẽ đánh giá người đó thuộc hạng nào. Ta cho Ý này 4 Ý phụ như sau:
Có người xem tiền bạc là chìa khóa của sự sống, vì không tiền thì không có gì cả, không ăn uống mặc ở.
Có người xem tiền bạc là phương tiện để hưởng thụ những thú vui của đời. Nếu dư dả một chút thì nên dùng tiền để vui chơi cho thoải mái.
Có người xem tiền là trách nhiệm. Càng có tiền càng phải cẩn thận sử dụng sao cho hợp lý nhất, lợi ích nhất, và đạo đức nhất.
Trong 3 hạng người trên, ta thấy rõ ràng hạng người cuối cùng là lý tưởng nhất, không tầm thường quá, không sa đoạ, và rất cao cả. Mỗi Ý như vậy chỉ nên được trình bày trong ba hoặc bốn phút mà thôi.
Thật ra ta sẽ thấy rằng khái niệm về Ý chính và Ý phụ không hề cố định chút nào. Ví dụ ta lấy toàn bộ cơ thể con người là Chủ đề, tứ chi là các Ý chính, và các ngón tay ngón chân là các Ý phụ. Nhưng bây giờ, ta lật ngược lại, lấy ngón tay làm Chủ đề, vẫn được như thường. Lúc đó, ta sẽ phân chủ đề Ngón tay có 5 Ý chính như sau:
Thứ nhất, ngón tay là định nghĩa chính của bàn tay. Không có ngón tay thì chẳng có gì là bày tay khéo léo nữa.
Thứ hai, ngón tay có khả năng xòe ra hoặc nắm lại rất cơ động.
Thứ ba, ngón tay dài ngắn khác nhau để phối hợp với nhau, vì dài bằng nhau cả thì lại khó hợp tác.
Thứ tư, ngón tay con người có sự khéo léo vượt xa loài vật.
Thứ năm, một ngón tay vẫn ẩn chứa trong đó đầy đủ thông tin của cả cơ thể.
Trong 5 Ý chính này, ta có thể rút ra một Ý nào đó để phân ra các Ý phụ tiếp tục. Ví dụ ta lấy Ý thứ 3, các ngón dài ngắn, để phân ra các Ý phụ như sau:
Mỗi khi xòe ra, các ngón dài ngắn khác nhau, nhưng khi cần nắm lại, các ngón lại vừa bằng nhau.
Khi xòe bàn tay, các ngòn dài ngắn tạo thành một hình thù của nguyên bàn tay rất đẹp.
Ngón cái lùn và mập nhất lại chia phân nửa bàn tay với các ngón còn lại để thành động tác cầm nắm rất đặc biệt nơi loài người.
Cũng giống như xã hội có vô số sự khác biệtgiữa người và người, nhưng nếu biết phối hợp với nhau, thế giới này thật là đẹp đẽ.
Riêng Ý cuối này lại là Ý rất đẹp để khai triển. Do đó, ta vẽ nên khung sườn hình thù của một bài giảng với một chủ đề và những Ý, nhưng phải biết kềm chế kẻo ta lại vô tình lấy một Ý phụ ra làm một Chủ đề lớn để gắn vào đó thì sẽ bị lạc đề.
Đoạn này cho ta một khái niệm về các Ý, chính và phụ, nhưng thật ra cái nào cũng có thể làm chính và cái nào cũng có thể làm phụ. Sắp xếp Ý chính và phụ là sự tinh tế thông minh riêng của
mỗi giảng sư mà thôi. Ơ bài này, ý A là chính, ý B là phụ, nhưng có khi ở bài khác, ý B là chính và ý A là phụ. Quan trọng là ta biết sắp xếp Ý để tạo nên sự logic hợp lý nhất cho Chủ đề đó.
2. Thực hành phân chia Ý phụ khi đã có Ý chính
Ta cần nắm rõ lại điều này, từ một Chủ đề, ta có thể phân chia ra nhiều Ý chính (bài học kế tiếp). Từ mỗi Ý chính, ta lại phân ra nhiều Ý phụ. Từ mỗi Ý phụ, ta ứng khẩu diễn đạt thành từng câu nói để trình bày trước mọi người. Khi học, ta lại học theo quá trình ngược lại, học diễn đạt Ý phụ trước; kế tiếp là học tìm ra những Ý phụ cho một Ý chính; tiếp theo ta sẽ học tìm ra những Ý chính cho một Chủ đề. Sau đó, ta sẽ học cách tìm ra các Chủ đề để thuyết giảng suốt cả đời của mình. Tại sao ta không học cách tìm ra Chủ đề trước rồi học xuống dần cho đến khi diễn đạt Ý tưởng nhỏ bằng ứng khẩu? Thật ra, khi ta soạn dàn bài, ta phải soạn từ Chủ đề, rồi phân ra các Ý chính, rồi phân mỗi Ý chính ra các Ý phụ. Khi giảng, ta để dàn bài đó trước mặt để thỉnh thoảng nhìn qua các Ý phụ rồi ngẩng lên ứng khẩu nói thao thao. Tuy nhiên, khi học, cái căn bản nhất phải được học trước, đó là khả năng diễn đạt từng ý tưởng nhỏ, ở bài số 13 trước đây. Khi nắm được căn bản diễn đạt ý tưởng nhỏ, ta sẽ hiểu cách tìm ra các Ý lớn hơn. Giống như khi đã thành họa sĩ, người ta sẽ vẽ phác nét chính của toàn bộ cơ thể rồi mới đi vào chi tiết dần dần. Nhưng khi còn là họa sinh, người ta phải tập vẽ tủn mủn từng ngón tay ngón chân trước cho thật khéo cái đã.
Ta sẽ thấy, khi học diễn đạt từng ý nhỏ, ta chưa gây ảnh hưởng nhiều nên có thời gian để tiếp tục nghiên cứu, tu hành, và học hỏi. Khi đã bắt đầu chọn Chủ đề để thuyết giảng, ta bắt đầu gây ảnh hưởng lên tâm hồn của người khác. Trách nhiệm lúc đó thật nặng nề, và dĩ nhiên, tội phước cũng rất ghê gớm.
Những Ý tưởng mà ta chọn lựa để trình bày sẽ là những viên gạch xây dựng Phật Pháp, xây dựng cuộc đời, hay sẽ là những nhát búa đập phá những điều tốt đẹp mà biết bao thế hệ qua đã vun trồng gìn giữ. Vì thế, ta không được quyền cẩu thả khi chọn Ý. Mỗi Ý ta chọn lựa chính là trí tuệ của ta, là công phu tu hành của ta, là nhân cách đạo đức của ta.
Ta phải chọn từng Ý sao cho ta mãi mãi là đệ tử trung thành của Phật. Không được ỷ thông minh rồi chế tạo nhiều điều kỳ lạ làm chệch đi Giáo pháp của Phật.
Ta phải chọn từng Ý sao cho ta sẽ góp vào thế giới này những điều tốt đẹp, đạo đức, thánh thiện. Không được ỷ thông minh rồi dựng nên những điều sai lạc để thổi vào cuộc đời.
Khi ta giảng thì chẳng ai kiểm soát và đánh giá. Nhà nước hay Giáo hội cũng chẳng hạch hỏi hay kiểm tra. Chỉ khi ta giảng xong thì mới có chuyện để nói. Ai có đánh giá thì cũng là con người giống như ta, có thể đánh giá đúng và cũng có thể đánh giá sai. Nhưng ở trên cao thăm thẳm kia, chư Phật Bồ Tát biết ta sai đúng từng đường tơ kẻ tóc như thế nào. Nhân quả cũng sẽ chờ ta rạch ròi ở mai sau ra sao.
Ban đầu ta sẽ ngạc nhiên vì sao có người nghĩ ra đủ thứ Ý phụ từ một Ý chính như thế. Đây chính là bản lĩnh của giảng sư. Đây chính là chỗ hơn kém của mỗi giảng sư. Người có trí tuệ hơn thì dĩ nhiên sẽ nhìn thấy nhiều Ý hay từ một Ý chính. Người kém trí tuệ thì sẽ không khám phá các Ý tưởng độc đáo giấu trong đó. Tuy nhiên, nếu biết, ta cũng sẽ tìm thấy nhiều Ý hay không kém.
Thứ nhất, ta phải siêng tập luyện tìm Ý mỗi khi có được một Ý chính khởi lên. Ta cứ miệt mài phân một Ý ra thành nhiều Ý nhỏ, hết Ý này đến Ý khác, ghi chép vào vở để dành. Tập luyện mãi thì ta cũng bắt đầu có sự nhạy bén và sâu sắc, và cũng có những sáng tạo không ngờ.
Thứ hai, sau này, mỗi khi nhận lời thuyềt giảng, ta hãy chân thành lễ Phật cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho ta luôn tìm thấy những Ý hay, đúng với Phật Pháp để nói với mọi người. Chắc chắn Phật sẽ gia hộ cho ta điều đó, khiến ta sẽ soạn ra được nhiều Ý hay. Cũng nhờ tâm chân thành cầu nguyện mà sau này, dù có thành công, ta cũng không kiêu mạn.
Thứ ba, khi đã tìm ra một số Ý rồi, ta không được cho là đủ, mà phải tự nhủ rằng chắc chắn còn Ý nào đó mà ta có thể đã bỏ sót khiến cho bài giảng không sâu sắc. Những Ý mà ta chưa nhìn ra mới chính là những Ý đặc biệt. Vì vậy, ta kiên nhẫn tập trung tinh thần quan sát vào mọi góc cạnh của cuộc sống, của tâm hồn, của đạo lý để khám phá tiếp.
Lúc đi tìm Ý tưởng chính là lúc ta hướng tâm nhìn về mọi góc cạnh của cuộc sống. Tuy ngồi một chỗ bên chiếc bàn đơn sơ, nhưng tâm ta phải nhìn thấy cả thế giới, phải biết cả thế giới, phải nhặt được từ trong vũ trụ mờ ảo này những quy luật mà chưa ai nhìn thấy. Dĩ nhiên ta phải dựa vào thật chắc những lời Phật dạy, và nhờ đó ta có thể hiểu rõ hơn thế giới này, nhân loại này, xã hội này, cuộc sống này...
Ví dụ, ta đi tìm Ý cho vấn đề tại sao trẻ hơi lớn một chút là tỏ ra bướng bỉnh. Ta để ý đến khía cạnh tâm sinh của trẻ đang biến chuyển có thể là một yếu tố; ta cũng cho rằng chính những đứa bạn xấu đã dạy cho nhau cách phản kháng cha mẹ; ta cũng xác nhận có sự hình thành nhân cách trẻ từ khi chúng chưa ra đời như là một loại Nghiệp từ xưa; ta cũng trách những đất nước tự cho là văn minh nhưng cha mẹ không cư xử với con thích hợp đến nỗi luật pháp phải quy định việc bảo vệ trẻ và giao cho nhà trường dạy trẻ cách nói “không” với cha mẹ. Ở phương Đông, cha mẹ thường là mẫu mực mà con cái phải noi theo, và do vậy, con cái phải vâng lời cha mẹ là tốt đẹp nhất.
Trong việc phân tích trên, ta đã trải vấn đề ra từ Y học, xã hội học, Nghiệp báo học, Luật học, Triết học. Nhưng coi chừng vẫn còn thiếu cái gì đó. Ta có thể đặt bút xuống, đi dạo một vòng và biết đâu tìm ra một Ý khác, rất lạ, và rất hay. Ví dụ đó là Ý cho rằng sở dĩ trẻ bướng bỉnh là do nhiều lần cha mẹ bỏ qua khi trẻ làm lơ không thực hiện điều cha mẹ sai bảo. Hoặc mỗi khi phạm lỗi, bị cha mẹ gặng hỏi, trẻ chối biến liền được tha. Từ đó, trẻ hình thành một quy tắc sống, là phải nói dối để tồn tại. Đây là quy luật của Tâm lý học.
Việc phân tích các Ý như thế phải xuất phát từ việc ta đã từng biết quan sát cuộc sống chung quanh rất kỹ. Mọi sự kiện diễn ra trên đời đều được ta nhận định, tìm hiểu, rút ra quy luật, ứng dụng vào cuộc sống những bài học bổ ích...
Ví dụ, khi muốn nói về vấn đề trẻ đến với chùa hay chùa đến với trẻ, ta sẽ hướng tâm quan sát những lý do khiến trẻ thích đi chùa hay những lý do khiến trẻ thờ ơ với chùa. Ngồi lặng lẽ trong phòng, nhưng tâm ta bây giờ kết nối các sự kiện, nhận định các tình huống, thậm chí dùng trực giác đi vào tâm hồn của trẻ để hiểu nhiều điều sâu xa hơn.
Ta sẽ thấy rằng, thật sự cũng đã có những đứa trẻ thích đi chùa một cách tự nhiên hăng hái dù chung quanh chẳng có ai giống như vậy. Điều này chỉ có thể được lý giải bằng Nhân duyên kiếp xưa.
Rồi ta cũng thấy rằng có những đứa trẻ chỉ đi chùa khi nào được ai rủ đi, và chùa phải có gì vui tươi hấp dẫn. Điều này đòi hỏi cách sinh hoạt giáo hóa của chùa phải đuợc cải cách năng động hơn thiết thực hơn, bổ ích cho trẻ hơn. Tiếc là muốn có sự cải cách sâu rộng như vậy thì các tu sĩ phải giỏi và biết tìm tòi học hỏi, không cố chấp lề lối cũ.
Ta cũng nhận ra rằng một thời gian dài ta đã yên lặng thụ động chờ cư sĩ đến chùa mà chẳng chịu làm một cái gì đó để mời gọi họ. Ta phải có những sáng kiến gì đó tạo ra sự kết nối giữa chùa và cư sĩ, đem lại lợi ích cho gia đình cư sĩ... Nói chung những Ý tưởng đó rất là táo bạo, nhưng cũng rất là xác đáng.
Qua những ví dụ trên, ta thấy rằng khi phân tích Ý của một vấn đề, ta sẽ làm theo những phương pháp sau đây:
Thứ nhất, liệt kê. Ta sẽ liệt kê từ từ những mục liên quan, và ráng liệt kê đầy đủ. Ví dụ như khi nói về vấn đề lòng biết ơn, ta sẽ liệt kê ra có bao nhiêu loại ơn nghĩa như ơn cha mẹ, ơn thầy cô, ơn quốc gia, ơn người tốt, ơn ... nhiều lắm. Mỗi thứ như vậy phải được định nghĩa cũng khá dài.
Thứ hai, phản biện. Ta sẽ thử hình dung ra có những người không thích nhớ ơn thì họ sẽ lý luận như thế nào để ta đưa ra lý luận chận đứng trước. Ví dụ họ sẽ nói rằng sống trên đời giúp qua giúp lại là chuyện bình thường, hơi đâu nhớ ơn cho mệt óc. Bây giờ họ giúp mình, mai mốt mình lại giúp người khác. Đời là thế. Thoạt nghe họ nói rất giống như đạo lý “thi ân bất cầu báo”, nhưng không phải, đó là cách ngụy biện của kẻ vô ơn. Vì vậy, ta phải nêu ra điều đó và trả lời trước luôn.
Thứ ba, những trường hợp khác. Có những trường hợp mà người ta mang ơn lại là người xấu ác. Ta không thể vì chịu ơn mà phụ giúp họ trong những công việc xấu. Ta phải khẳng định càng chịu ơn ta càng phải ráng độ cho ân nhân quay về nẻo tốt.
Một ví dụ khác, ta nói về vấn đề Đạo pháp và Dân tộc. Theo đúng trình tự trên, ta có những bước như sau:
Thứ nhất, liệt kê. Giữa Đạo pháp và Dân tộc có những mối tương quan như sau: Đất nước là môi trường mà Đạo pháp tồn tại trong đó. Đạo pháp là cội nguồn văn hóa của Đất nước; Người tu sĩ hay tín đồ đều là công dân của quốc gia và phải có bổn phận với quốc gia;- Nếu có tôn giáo cực đoan nào xâm phạm thì Nhà nước có bổn phận bảo vệ Đạo pháp;- Giặc muốn đánh phá Dân tộc thì phải đánh phá Đạo pháp trước...
Thứ hai, phản biện. Sẽ có những kẻ cho rằng Đạo pháp không bị ràng buộc với Dân tộc bởi vì Đạo pháp là cao siêu hơn mọi chuyện thế gian này. Đó là lý luận không thực tế, ảo tưởng, kiêu ngạo, và rất dễ bị kẻ xấu bên ngoài tác động để mượn tay kẻ đó phá hoại đất nước.
Thứ ba, những trường hợp khác. Trong trường hợp Chính quyền đó ủng hộ một tôn giáo ngoại lai, giống như thời miền Nam của 2 tổng thống Diệm và Thiệu, thì đúng là có sự khập khiểng giữa Chính quyền và Đạo pháp, nhưng vì thế, ta càng phải cố gắng để xây dựng Đạo pháp vững mạnh trong lòng Dân tộc hơn.
Một ví dụ khác, ta nói về vấn đề Không sát sinh. Ta sẽ đi tìm Ý tưởng theo hướng dẫn như trên:
Thứ nhất, liệt kê. Không sát sinh gồm có không giết người, không giết thú vật lớn, không giết thú vật nhỏ như gà vịt tôm cá, không giết sâu bọ muỗi mòng, không chặt cây đốn gỗ, không ngược đãi chúng sinh, không dùng thức ăn động vật...
Thứ hai, phản biện. Có kẻ cho rằng sống trên đời mạnh được yếu thua, loài người mạnh nhất nên phải được quyền sử dụng các loài vật khác làm thức ăn. Nếu như vậy thì ta đừng than phiền khi cọp sấu ăn thịt người. Và cũng đừng than phiền khi có bạo chúa cai trị loài người.
Thứ ba, những trường hợp khác. Nhưng khi con cọp ăn thịt con thỏ, con muỗi hút máu gây bệnh con người, ta phải bênh con nào bỏ con nào? Để giải quyết bế tắc này, ta phải thoát ra khỏi tư tưởng không sát sinh hẹp hòi, phải lấy việc bảo vệ môi trường sống là tối ưu tiên. Các giống loài cạnh tranh nhau để tồn tại theo nghiệp của chúng. Ta giúp ngăn bớt sự giết hại oan trái giữa chúng sinh với nhau là rất cần thiết, và trong đó, ta ưu tiên bảo vệ môi trường sống của Trái đất trước đã.
Ba bước gợi ý như trên rất là hiệu quả để ta phân chia ra được các Ý phụ cho một Ý chính. Tuy nhiên, ta không cần phải cứng ngắc như thế vì mỗi vấn đề có cách phân tích riêng, ta sẽ sáng tạo linh hoạt tùy theo từng trường hợp.
Ta nói lại lần nữa, để có thể liệt kê ra được bấy nhiêu Ý, để có thể đoán trước sự phản biện, để có thể chỉ ra được những trường hợp khác như thế, ta phải là người hiểu đạo lý rất sâu, thực hành tu tập rất nhiều, có lòng thương yêu chúng sinh rất tha thiết, và biết rõ rất nhiều điều của thế giới này.
Sẽ có người phản biện rằng nếu chăm chăm tìm hiểu thế giới như thế thì còn gì là nội tâm thanh tịnh giải thoát?
Ta sẽ trả lời theo giáo lý căn bản như sau. Trong mười danh hiệu cao quý của Phật có danh hiệu thế gian giải, nghĩa là hiểu biết mọi chuyện của thế gian. Như vậy, đạo Phật không hề chủ trương mù tịt chuyện thế gian để tìm giải thoát. Thứ hai ta trả lời rằng khi ta thương yêu tha thiết chúng sinh thì tự nhiên ta nhìn rõ mọi chuyện của chúng sinh mà không cần phải chăm chăm cố gắng. Thứ ba, ta cũng đáp rằng nhờ an trú trong thiền định mà ta biết mọi chuyện nhưng vẫn thanh thản như không biết gì.
Bài tập cho bài học này là ta sẽ phân tích Ý phụ cho những Ý chính sau đây:
Càng đông đúc thì người ta càng cô đơn.
Dòng suối đã khô và ta hụt hẫng như tuổi thơ không tìm lại được nữa.
Nghe tiếng hàng xóm gây gỗ với nhau, ta nghe lòng mình quặn đau.
Nhìn bầy cò trắng trên đồng ruộng, ta tự hỏi tối nay chúng sẽ ngủ ở đâu.
Đứa bé mời ta xấp vé số, ta từ chối.
Chiếc xe hơi mới chạy vụt qua và một túi nylon bay ra khỏi xe.
Nhìn thấy một người đi trong mưa mà không chịu mặc áo mưa.
Mỗi Ý như vậy nên được phân ra khoảng bốn hoặc năm Ý phụ. Đã nói là Ý thì ta không cần phải viết chi tiết từng câu văn, chỉ viết trên giấy từng Ý với dấu gạch đầu dòng sao cho dễ hiểu mà thôi. Sau này ta sẽ nhìn từng Ý đó để ứng khẩu diễn đạt chi tiết hơn, nhưng chưa phải yêu cầu bây giờ.
