1. Chuẩn bị ngữ pháp
Phần kiểm tra và hoàn chỉnh Ngữ pháp chỉ dành cho những người đã hoàn tất chương trình Ngữ pháp ở văn hóa phổ thông. Khi học về Diễn giảng, ta chỉ áp dụng và hoàn thiện khẩu ngữ (văn nói) sao cho càng gần với Ngữ pháp chuẩn càng tốt.
Giảng sinh phải xem lại tài liệu Ngữ pháp và tự mình lập ra khoảng một trăm câu mẫu có cấu trúc Ngữ pháp vững chắc để làm tài liệu tham khảo mình suốt đời. Những phạm trù Danh từ, Động từ, Tính từ, Trạng từ, Mạo từ, Liên từ, Giới từ, Vấn từ, Thán từ; rồi những từ đó mang nhiệm vụ trong câu như Chủ ngữ, Động ngữ, Đối ngữ, Túc ngữ, Trạng ngữ, vân vân... đều phải được nắm vững một cách có hệ thống.
Ta xem trong câu:
Thầy quỳ xuống lễ sư phụ một cách thành kính.
Thầy là Danh từ, làm nhiệm vụ Chủ ngữ của câu.
Quỳ là Động từ làm nhiệm vụ Động ngữ thứ nhất;
Xuống là Trạng từ của riêng động từ quỳ.
Lễ là động từ làm nhiệm vụ Động ngữ thứ hai trong câu.
Sư phụ là Danh từ, làm nhiện vụ Đối ngữ trong câu (Đối ngữ là phần đón nhận hành động của Chủ ngữ).
Một cách thành kính là Trạng ngữ diễn tả trạng thái của cả 2 Động ngữ quỳ và lễ.
Bây giờ ta đổi vị trí các từ lại Sư phụ nhìn thầy với vẻ từ ái.
Sư phụ bây giờ trở thành Chủ ngữ.
Nhìn là Động ngữ duy nhất trong câu.
Thầy trở thành Đối ngữ.
Với vẻ từ ái là Trạng ngữ của động ngữ nhìn. Trạng ngữ dùng để diễn tả tính cách của Động ngữ.
Ta xem trong câu:
Nếu không biết gây tạo nhiều công đức, ta sẽ phải đối diện với những điều làm ta bất an khổ sở.
Thật ra vế đầu phải được hiểu là nếu ta không biết... nhưng vì 2 vế có cùng một Chủ ngữ nên ta lược bớt Chủ ngữ trước cho câu văn nhẹ nhàng.
Nếu là Điều kiện ngữ.
Không biết là Động ngữ ở thể phủ định.
Gây tạo là động ngữ thứ 2 lệ thuộc động ngữ thứ nhất. Ơ câu ví dụ đầu tiên trên 2 động ngữ độc lập với nhau. Còn câu này gây tạo là thuộc về không biết.
Nhiều là Trạng ngữ, diễn tả tính cách của gây tạo.
Công đức là danh từ, làm nhiệm vụ Đối ngữ trong vế thứ nhất này.
Sẽ phải là 2 trợ động ngữ, xác định tính chất tương lai (sẽ) và xác định tính tất yếu (phải).
Đối diện là Động ngữ chính.
Với là Giới từ, làm nhiệm vụ nối giữa Động ngữ và Đối ngữ những điều.
Làm lại là Động ngữ của những điều. Lúc này những điều đã bất ngờ trở thành Chủ ngữ của một vế phụ phát sinh.
Ta ở đây lại biến thành Đối ngữ, không còn là Chủ ngữ như 2 vế trước nữa.
Bất an khổ sở là Tính từ làm nhiệm vụ Túc ngữ trong câu.
Nếu viết rõ ra, ta phải viết như sau:
Nếu ta không biết gây tạo nhiều công đức
Ta sẽ phải đối diện những điều
Những điều làm ta bất an khổ sở.
Ta xem trong câu:
Có vài người dường như đã thánh thiện từ khi mới sinh ra chỉ bởi vì họ đã có thiện căn tu hành từ nhiều kiếp trước.
Câu này có 2 chữ có với 2 nhiệm vụ khác nhau, mặc dù cùng là Động từ như nhau. Chữ có ở đầu câu là một từ đặc biệt, không cần chủ ngữ, nhưng xác lập sự hiện hữu của các danh từ phía sau. Trong trường hợp này, khi dịch sang tiếng Anh, ta không dịch chữ có mà chỉ dùng chữ some, some people seem to be bornly sainted because they surely improved themselves in many past lives.
Ta xem câu:
Trước khi nói, hãy suy nghĩ sau lời nói này con người sẽ thương nhau hay ghét nhau.
Đây là câu Mệnh lệnh cách, có tính kêu gọi người nghe thực hiện điều gì. Giống như trước, câu này có 2 Chủ ngữ bạn giống nhau nên ta lược bớt một chủ ngữ bạn ở vế đầu. Vế thứ 2 là mệnh lệnh nên ta không cần dùng chủ ngữ. Rốt cuộc cả câu giống như không hề có chủ ngữ. Trước khi bạn nói, bạn hãy suy nghĩ...
Ta xem câu:
Đêm thật là dài đối với người mất ngủ; đường thật là xa đối với kẻ lữ hành mệt mỏi. Cũng vậy, luân hồi là vô tận đối với người không thông đạt Chánh pháp.
3 câu trên là độc lập về cú pháp, nhưng có cấu trúc tương đương, và có tính Mỹ từ pháp rất cao, vì 2 câu đầu dồn ý để chuẩn bị cho câu thứ 3 xuất hiện. Nếu viết theo cấu trúc thông thường, ta phải viết như sau: Người mất ngủ sẽ cảm thấy đêm rất dài; người mệt mỏi sẽ cảm thấy đường rất xa. Cũng vậy, người không thông đạt Chánh pháp sẽ không thể biết được ngày nào luân hồi dừng lại. Tuy nhiên cách nói của Phật trong kinh Pháp cú như thế đạt tính nghệ thuật rất cao.
Ta xem câu:
Trong thời đại ngày nay, nếu muốn Phật Pháp phát triển, ta phải biết sử dụng khoa học kỹ thuật.
Đây là câu chuẩn, mạnh, nhưng ít có tính thơ ca. có những lúc phải nói như vậy, nhưng cũng phải biết sử dụng những câu êm ái hơn. Trong phần hoàn thiện về Ngữ pháp, ta cần nghiên cứu những câu nói sai của mình và của những người chung quanh, tập chỉnh sửa lại những câu đó đúng trở lại. Kỹ năng chỉnh sửa các câu nói sai sẽ giúp ta củng cố Ngữ pháp rất nhiều.
Ta xem câu:
Mấy bức hình này vẽ xấu quá.
Câu đúng phải là như thế này: Mấy bức tranh này được vẽ xấu quá. Đó là nói theo cách Thụ động. Hoặc nói theo cách Chủ động: Ai đã vẽ mấy bức tranh này xấu quá.
Ta xem câu:
Cuốn sách này nó hay lắm.
Câu này thừa mất một Chủ ngữ nó. Chỉ cần cuốn sách này hay lắm là được rồi.
Ta xem câu:
Bà đó ăn nói ngược ngạo không ai chịu nổi.
Câu này nên được sửa lại như sau: Không ai chịu đựng nổi sự ăn nói ngược ngạo của bà đó. Hoặc là: Sự ăn nói ngược ngạo của bà đó khiến nhiều người không chịu đựng được.
Trong thời gian hoàn chỉnh kỹ năng Ngữ pháp, ta cố gắng để ý các câu nói sai của ta và mọi người rồi về phòng tập viết lại. Lẽ ra ta dùng máy thu cuộc nói chuyện để về phân tích Ngữ pháp, nhưng như vậy là vi phạm pháp luật. Không hiểu sao người miền Bắc Việt Nam lại có khẩu ngữ gần với ngữ pháp chuẩn hơn người miền Nam. Ta phải cố gắng học các mẫu câu Ngữ pháp chuẩn để tập sử dụng thành thục.
Ta xem câu:
Sóng thần ở Indo chết quá chừng.
Câu này nên được sửa lại như sau: Sóng thần ở Indo làm rất nhiều người chết. Hoặc là: Số người chết là rất nhiều trong thảm họa sóng thần ở Indo. Ta thấy trong khẩu ngữ, nhiều từ đã bị ẩn dấu và được hiểu ngầm. Người cùng ngôn ngữ với nhau thì có thể hiểu được lối nói như thế, nhưng trong văn viết, lối nói như thế không được chấp nhận. Ta buộc phải rèn luyện lối nói rất gần với Ngữ pháp chuẩn vì việc diễn giảng là việc của tri thức, không thể được xem là chuyện bình dân dễ dãi.
Ta xem câu sai dưới đây nhưng rất hay bị sử dụng:
Phở này ăn ngon ghê.
Phở làm sao có răng có miệng để nhai và nuốt được. Câu đó phải được sửa như sau: Phở này ngon lắm. Hoặc nói đầy đủ và dài hơn: Tôi cảm thấy rất ngon khi ăn món phở này.
Ta xem câu:
Tu thì đông mà chở xuồng vông không đầy.
Câu trên là lối nói đơn giản của Nam bộ, nghe mộc mạc, nhưng dĩ nhiên là rất xa câu nói chuẩn. Nếu muốn đầy đủ, ta phải nói như sau: Người tu đạo là rất đông, nhưng số người thật tu thì rất là ít, ít đến nổi nếu họ ngồi chung lại trên một chiếc xuồng vông cũng không làm đầy xuồng.
Nhiều câu phương ngữ đã đi vào đời sống của dân gian bằng lối nói đơn giản gọn gàng mộc mạc như thế, đã được mọi người chấp nhận, nhưng lại rất khiếm khuyết về Ngữ pháp.
Ta xem câu:
Giặc đến nhà đàn bà cũng phải đánh.
Câu Thành ngữ nổi tiếng trên cũng là phương ngữ miền Bắc, đã được truyền tụng từ rất lâu và trở thành khí phách của dân tộc ta. Nhưng nếu cần thực tập chỉnh sửa Ngữ pháp thì ta cũng có thể sửa lại như sau: Nếu giặc đến nhà, ngay cả người đàn bà cũng phải đánh lại bọn chúng.
Ta thêm chữ ngay cả vì muốn nhấn mạnh ý rằng người yếu đuối cũng phải quyết tâm chống giặc.
Ta xem câu:
Giàu nghèo cũng vậy.
Người nói câu này muốn diễn tả ý có cái gì giống nhau giữa 2 hạng người nghèo và giàu, có thể là giống nhau về máu và nước măt, có thể về tính chất con người, có thể về cái chết vân vân... Vì ta chưa biết đích xác ý người nói muốn gì nên khó thể chỉnh sửa câu văn cho chuẩn Ngữ pháp. Tạm thời sửa như vầy: Dù giàu hay nghèo, con người vẫn là như nhau. Động từ là có thể lược bớt, để hiểu ngầm, cho câu văn nhẹ hơn.
Phần này, mỗi người phải tự tìm ra 50 câu nói sai để chỉnh sửa lại cho đúng. Chỉnh sửa nhiều rồi tự nhiên ta được nhập tâm về cấu trúc cú pháp, sau này nói bớt sai hơn.
2. Hoàn thiện Từ vựng
Trong những câu nói thông thường, việc chọn từ là dễ dàng, và người nghe cũng nhanh chóng hiểu ý ta muốn nói gì, nên ta không cảm thấy áp lực của việc phải chọn một từ cực kỳ chính xác nhất. Sau này, đi sâu vào diễn giảng, ta sẽ thường xuyên bị áp lực của việc chọn từ sao cho lột tả được ý ta muốn nói, dễ hiểu đối với người nghe, không nặng nề học thuật, và vẫn có tính nghệ thuật. Trong lúc ứng khẩu thao thao mà ta phải chọn được từ đáp ứng đủ 4 tiêu chuẩn như thế thì thật là tài ba. Đây cũng là điểm khác nhau giữa người có tài và kém tài.
Tuy nhiên, cứ cho rằng ta kém tài một chút, việc rèn luyện và chuẩn bị trước sẽ bù lại sự kém khuyết đó và sẽ giúp ta cũng có được những từ hay khi ứng khẩu.
Ta xem câu:
Những người bạn gặp lại nhau sau nhiều năm tháng xa cách. Bây giờ mỗi người một vị trí khác nhau.
Ta có thể sửa câu văn lại như sau: Những người bạn đó đã gặp lại nhau sau nhiều năm tháng xa cách từ lúc ra trường. Bây giờ mỗi người đã có một thân phận khác nhau trong cuộc đời. Chữ thân phận hợp lý hơn chữ vị trí. Sửa vài chữ như vậy, câu văn sẽ sáng hẳn ra.
Ta xem câu:
Hạnh phúc hay đau khổ đều là do Nghiệp quá khứ.
Nói như vậy thì ai cũng hiểu, nhưng chưa chuẩn. Ta có thể sửa lại như sau: Được hạnh phúc hay bị đau khổ đều là do Nghiệp riêng của mỗi người từ quá khứ.
Ta xem câu:
Có đạo đức và trí tuệ mới có thể biết tôn kính Phật.
Nghe như vậy thì ai cũng hiểu, nhưng chưa đã. Nếu nói như vầy thì hấp dẫn hơn: Lòng tôn kính Phật là dấu hiệu của trí tuệ và đạo đức.
Sau câu này ta có thể nói thêm mấy câu nữa để diễn tả cho hết ý.
Ta xem câu:
Ai cũng đi trên con đường đời như nhau nhưng họ đi theo những cách khác nhau và cuối cùng thì rẽ vào những ngôi nhà khác nhau.
Đây là một câu văn đẹp, nhiều triết lý phong phú ẩn dấu bên trong, nhưng khá khó hiểu đối với người bình dân. Ta không cần sửa câu này, chỉ cần nói thêm nhiều câu phía sau cho người bình dân dễ hiểu mà thôi.
Ta xem câu:
Nói gì thì nói, con người ta ai cũng thích tiền.
Câu này có tính cách văn nói hơn là văn viết. Ta sẽ sửa lại như sau: Dù không thiếu những đạo lý để sống, nhưng tiền vẫn là sự lôi cuốn đáng kể với hầu hết con người. Văn nói dường như đều ngắn và gọn hơn văn viết cho đúng Ngữ pháp Từ vựng.
Ta xem câu:
Thế giới đầy ắp đau khổ, nhưng con người lại gây thêm đau khổ cho nhau.
Ta có thể tỉa tót chút đỉnh: Thế giới vốn đã đầy ắp đau khổ, nhưng chưa đủ, con người lại gây thêm nhiều đau khổ cho nhau hơn. Vài từ được gắn thêm như thế làm câu nói sáng ra.
Ta xem câu:
Thế nào là một vị thánh? Đó là người biết rất rõ đúng sai thiện ác.
Câu nói này dễ hiểu, không sai Ngữ pháp, ý tứ minh bạch và sâu sắc, nhưng hơi bị rút gọn. Nếu triển khai theo câu đầy đủ, ta có thể nói như sau: Thế nào là một vị thánh? Đó là người biết rất rõ thế nào là đúng, thế nào là sai, thế nào là thiện, và thế nào là ác. Nhưng như vậy lại dài quá, lại trùng lắp chữ thế nào ở 2 vế. Ta có thể chấp nhận sự chỉnh sửa trung gian như sau: Thế nào là một vị thánh? Đó là người biết rõ cái gì là đúng hay sai, cái gì là thiện hay ác.
Tăng Ni sinh phải thực tập đi tìm rất nhiều câu nói của người khác để nghiên cứu học hỏi các câu hay và chỉnh sửa các câu chưa vừa ý. Bài tập cho bài này là chỉnh sửa một trăm câu mỗi người. Đó là yêu cầu của bài tập. Còn yêu cầu của tài năng và sự nghiệp thì mỗi người phải chỉnh sửa vài nghìn câu trở lên. Tự mình phải rèn luyện trong âm thầm để nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ hay và chính xác.
