1. Người mô phạm
Giảng sư là người thay Phật dạy dỗ đạo lý cho tứ chúng, là người còn mô phạm hơn cả thầy cô giáo dạy văn hóa của thế gian. Thầy cô giáo dạy kiến thức mà còn bị mọi người yêu cầu phải có đạo đức phong cách tốt. Nhiều “thầy” khác như thầy dạy võ, thầy dạy nghề cũng đều bị buộc phải có một chừng mực đạo đức nào đó. Cũng chỉ vì mang chữ Thầy.
Riêng thầy dạy Đạo thì yêu cầu về đạo đức là tột bậc. Dĩ nhiên đạo đức là cái sâu kín bên trong khó có thể được nhìn thấy. Thông thường người ta chỉ dựa vào phong cách bên ngoài để đánh giá, để bắt chước, để học hỏi. Phong cách của giảng sư là nơi bảo đảm giá trị cho lời thuyết giảng của giảng sư. Nếu giảng sư không có phong cách chuẩn mực thì dần dần không còn ai tin tưởng để đi theo học hỏi nữa.
Thật ra có những giảng sư có công phu tu hành nghiêm mật bên trong, có một số kết quả tâm linh nào đó, nên toát ra bên ngoài phong cách đạo mạo, đĩnh đạc, thanh thoát, đàng hoàng. Nhưng cũng có một số giảng sư chưa có trình độ tâm chứng nên chưa đạt được phong cách tự nhiên tốt đẹp. Những vị giảng sư chưa có tâm chứng như vậy phải nổ lực rất nhiều để giữ gìn phong cách của mình.
Những ngày đầu tiên vào chùa tu hành thì ta cũng đã được học về các luật nghi, hướng dẫn phong cách rồi, nhưng có khi ta quên, có khi ta bị thất niệm nên bị sơ hở. Bây giờ bắt đầu làm giảng sư thì ta phải rèn luyện phong cách còn chi li gấp bội lần nữa. Oai nghi của giảng sư phải trở thành tế hạnh, nghĩa là mỗi hành động, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói, mỗi ánh mắt, mỗi nụ cười đều phải ẩn chứa một đạo lý có ý nghĩa. Đó là tế hạnh của Thánh. Bậc thánh không làm điều gì vô nghĩa, dù đó là một nụ cười. Giảng sư cũng phải hướng đến tế hạnh của Thánh như vậy.
Nếu chưa có tâm chứng, đôi khi ta cảm thấy bị bó buộc khi phải giữ gìn oai nghi cử chỉ từng li từng tí như vậy. Nhưng khi đã chấp nhận làm giảng sư thì cuộc đời ta không còn là của ta nữa mà đã là của tất cả chúng sinh, của Phật pháp. Do đó, từ đây ta không còn được quyền hành xử theo ý mình nữa mà phải sống theo chuẩn mực của Phật, phải sống theo niềm tin của chúng sinh. Ta buộc phải vui trong oai nghi tế hạnh, và xem đó là hạnh phúc của mình. Những cử chỉ thừa, những lời nói hớ hênh, những tràng cười vô nghĩa phải bị bỏ lại đằng sau.
Thật ra nếu ta tu và học đàng hoàng từ lâu thì việc giữ oai nghi tế hạnh không có gì là khó, nhưng khi nói về những tính chất của giảng sư thì vấn đề phong cách vẫn phải được nêu ra đầy đủ vậy thôi.
2. Phong cách trong khi giảng
Khi ở trên bục giảng ta không có nhiều việc về tay chân phải làm, chỉ có một số động tác phục vụ cho bài giảng mà thôi, nhưng lại là những động tác được mọi người ngắm nhìn săm soi kỹ nhất. Nếu ta chưa quen với việc xuất hiện trước đông người thì ta sẽ bị tình trạng hồi hộp, run rẩy, gắng gượng, mất tự nhiên. Khi đã mất tự nhiên, không làm chủ được bản thân mình thì ta không có lực để cuốn hút người khác nữa. Giảng sư mà không có lực để cuốn hút người nghe thì xem như đã thất bại. Tuy nhiên cũng có những người hơi run ban đầu nhưng lúc sau càng nói thì càng bình tĩnh trở lại và vẫn tạo được sự cuốn hút. Dù sao nếu ta không bị run thì vẫn hay hơn.
Muốn tạo được sự bình tĩnh khi xuất hiện trên bục giảng, trên pháp tòa thì ta có mấy việc phải làm như sau:
- Thứ nhất, ta phải tìm cơ hội xuất hiện trước đông người cho quen. Ví dụ khi chùa có việc, ta xung phong cầm micro hướng dẫn mọi người. Hoặc ta tham gia nói chuyện với từng nhóm nhỏ nhỏ trước. Còn ở trong lớp thì ta thay phiên nhau đứng trước lớp thuyết trình dần dần. Cứ xuất hiện trước đông người mãi như vậy thì ta sẽ quen và dễ giữ được bình tĩnh khi phải lên bục giảng thật sự.
- Thứ hai, trước khi lên bục giảng, ta tâm nguyện trong lòng là sẽ thương yêu và tôn trọng tất cả mọi người đang hiện diện. Tâm nguyện chân chính đó sẽ tạo thành một cái phước khiến ta có sức mạnh kỳ lạ và giúp ta giữ đuợc bình tĩnh. Nếu ai còn yếu thì phải tâm nguyện thật nhiều mới có được cái lực đó.
Nếu ta giảng đứng, có cái bục che hết phần chân, bụng, ngực thì ta chỉ còn lo cho đôi cánh tay và gương mặt. Nếu ta ngồi giảng, có cái bàn che hết phần chân, bụng thì chỉ còn lo cho cái ngực, đôi cánh tay và gương mặt. Nếu ta đứng lộ ra, đi tới đi lui thì phải biết điều khiển toàn bộ cơ thể hợp lý vì cả cơ thể ta trình diễn trước mắt mọi người. Hoặc có khi ta ngồi trên một phiến đá, một thềm cấp để nói chuyện ngoài trời thì cả cơ thể ta cũng tham gia biểu diễn.
Bây giờ ta nói về tư thế đứng trước.
Các ca sĩ hay diễn viên đều phải tập diễn xuất trước gương để tự nhận xét về mình. Nếu giảng sư có điều kiện tập như vậy cũng tốt.
Nếu không, ta phải dùng trí tuệ của mình để tự biết các cử chỉ của mình có hợp lý không, có đẹp không.
Dĩ nhiên ta phải đứng rất thẳng, không được nghiêng người, không được chống nạnh, không được gác một chân lên ghế. Hai bàn chân ta không được đứng khít vào nhau quá, cũng không được rộng bằng vai, mà chỉ được đứng cách nhau hẹp hơn bề rộng của vai một chút. Hai bàn chân sát vào nhau quá thì trông rất yếu đuối ẻo lả; hai bàn chân rộng quá thì trông như võ sĩ giác đấu sẵn sàng nghênh chiến với khán giả.
Ta cũng không nên đứng cứng ngắt lại trông mất tự nhiên. Đôi khi ta bước chân tới lui chút xíu; đôi khi ta xoay người nhìn khắp chút xíu.
Môt tay cầm micro, tay kia sẽ phụ diễn tả ý tưởng một cách vừa chừng. Nếu không cần cử động tay thì khoanh tay nắm lấy tay cầm micro luôn.
Đôi khi ta phải di chuyển qua lại chiều ngang của bục giảng để viết bảng hoặc làm điều gì đó thì cũng phải đi nhẹ nhàng từ tốn. Không được đi hấp tấp, khom khom.
Đôi khi ta đi xuống phía khán giả để gọi là giao lưu, hỏi han, thì càng phải cẩn thận vì một cái nhìn, một nụ cười, một lời nói ở khoảng cách gần lại càng phải ý tứ hơn.
Đôi cánh tay là sự tô điểm rất đắc lực cho phong cách của giảng sư. Ngày xưa đức Phật cũng cử động đôi tay khi thuyết pháp để tăng thêm ấn tượng cho lời nói. Dĩ nhiên ta sẽ không vung tay mạnh như cách nói của một lãnh tụ chính trị, không quơ đôi tay đi quá xa như một ca sĩ đang diễn cảm. Ta chỉ di chuyển đôi tay trong một phạm vi nhỏ vừa chừng mà thôi. Nếu cần nên xem lại đoạn phim chiếu cử động đôi tay để ta rút kinh nghiệm. Mỗi người sẽ có cách cử động đôi tay riêng của mình, không ai giống ai, miễn sao cho đẹp mà thôi. Những khi phải cầm ly nước uống, lấy khăn lau mặt, hoặc cầm viết, lấy tờ giấy đề phải nhẹ nhàng từ tốn. (không nên uống nước bằng ống hút, ly nước không được bỏ đá lạnh nổi lên rất khó uống)
Ánh mắt nhìn vào thính chúng để có sự cảm ứng nội tâm. Ta cũng không được nhìn hoài một người vì mọi người sẽ thắc mắc. Vì vậy ta phải nhìn lần lượt cùng khắp thính chúng. Nhưng nhìn hết thính chúng như vậy thì đôi mắt ta sẽ giống như láo liên qua lại. Do đó ta cũng phải nhìn hết thính chúng nhưng đưa đôi mắt đi với tốc độ vừa chừng mà thôi. Ta nhìn điểm này, dừng một chút, đổi qua điểm kia, dừng một chút. Thong thả như vậy là đạt yêu cầu. Có những vị không chịu nhìn thính chúng mà ngó lên trời giảng thao thao bất tuyệt. Đó cũng là một phong cách lạ, không biết hiệu quả tâm lý ra sao.
Ai được đôi mắt có thần lực thì rất tuyệt vời vì đôi mắt sẽ giúp cuốn hút thính chúng rất hiệu quả khiến mọi người chăm chú lắng nghe hơn. Muốn có đôi mắt có sức cuốn hút thì phải tập luyện là mỗi khi nhìn mọi người, lòng nguyện thương yêu tất cả.
Sự khiêm hạ trước thính chúng là phong cách chuẩn mực nhất của giảng sư. Ta phải cúi chào khán giả khi bước lên trước mặt mọi người và khi từ giã đi xuống. Trong cách nói năng đều phải xưng hô cẩn thận dù ta và thính chúng có tình thân đến đâu đi nữa. Ta có quyền xưng là thầy hoặc cô nhưng vẫn phải giữ thái độ tôn trọng người nghe. Nếu ta giữ khách khí thì phải xưng là chúng tôi. Khi gọi đến thính chúng thí phải luôn luôn có chữ quý đi trước, quý thầy, quý cô, quý Phật tử...
Không bao giờ ta nói rằng tôi nói vậy quý vị hiểu chưa. Hoặc không được kể những câu chuyện tốt về mình mà hạ thấp người khác. Ta được quyền kể tốt về mình một chút để làm gương, miễn là lúc đó không so sánh với ai kém hơn ta. Ta nên kể khuyết điểm của mình để mọi người cùng rút kinh nghiệm. Ta nên kể về chuyện tốt của người nhiều nhiều vào. Nếu phải kể chuyện xấu của người khác thì không nên nói tên ra.
Nếu có nhiều người quý mến ta đến nghe ta giảng thì ta không được có thái độ kiêu mạn cho rằng mình tài giỏi nên hấp dẫn người khác. Ta phải bày tỏ lòng biết ơn thính chúng đã ủng hộ ta mà đến nghe pháp.
Mỗi khi ta nêu vấn đề nào mà mọi người thích thú thì ta không được cho rằng mọi người hiểu được điều ta giảng, mà phải cho rằng mọi người đồng ý cách đặt vấn đề của ta. Hiểu và đồng ý khác nhau.
Tâm niệm của ta khi xuất hiện trước thính chúng là mong sao cho mọi người cùng hiểu đạo lý để tiến tu thoát khổ. Tuyệt đối ta không được có ý niệm muốn chứng tỏ tài học cao hiểu rộng của mình. Tuy nhiên tâm niệm kiêu ngạo đó rất sâu kín mà ta khó biết mình có hay không. Chắc ăn nhất là ta cứ phát nguyện trước Phật mỗi ngày để tránh ý niệm bất thiện tự cao đó.
Sự vui vẻ cũng là một phong cách cần thiết. Ta sẽ nói nhiều về đề tài này trong bài khôi hài sau này. Bây giờ chỉ nói một ít. Sự vui vẻ của ta cũng giúp mọi người thoải mái dễ chịu. Giảng sư mà có gương mặt hầm hầm thì chắc không ai dám ngồi nghe. Tuy nhiên, dù vui vẻ, ta không được phép đùa giỡn. Khi ta vui vẻ thì gương mặt ta tươi lên. Không nhất thiết là ta phải cười hoài. Nhiều khi cười hoài lại trông kỳ kỳ hoặc lố bịch. Có những lúc đáng cười thì ta cũng phải cười trong chừng mực.
3. Phong cách ngoài giờ giảng
Chúng ta không được cho rằng ngoài giờ giảng là ta được quyền sống thoải mái. Không, đã là một giảng sư thì bất cứ giờ nào cũng là giờ giảng dù miệng ta không nói gì nữa. Chỉ có là ngoài giờ giảng thì ta phải cử động nhiều hơn, đi xa hơn, vận động nhiều thứ hơn mà thôi. Chính những giây phút ngoài giờ giảng là giá trị cho bài giảng của chúng ta. Nếu ngoài giờ giảng mà ta vẫn sống đàng hoàng chuẩn mực thì giá trị các bài giảng của ta thật là đặc sắc. Vì vậy, phong cách ngoài giờ giảng là một yêu cầu bắt buộc của giảng sư.
Nói ít là dấu hiệu của nội tâm sâu sắc. Người giảng sư nói thao thao trên pháp tòa lại chính là người ít nói trong cuộc sống. Vì sao? Bởi vì đó là người có trí tuệ. Chẳng người có trí nào lại ham nói nhiều cả. Ta sẽ thấy một điều lạ là ngoài giờ giảng, vị giảng sư trong cuộc sống thích nghe hơn là nói. Vị đó chỉ nói những lời có ý nghĩa, sâu sắc chứ không phung phí lời nói dễ dàng. Những ai nói nhiều thì khó là giảng sư giỏi.
Oai nghi đẹp cũng là một phong cách cần thiết của giảng sư. Giảng sư luôn có trí tuệ kiểm soát toàn thân của mình, biết đánh giá tư thế, dáng người của mình là đàng hoàng hay không, đĩnh đạc hay không. Sự kiểm soát âm thầm đó khiến cho vị giảng sư không bao giờ bị hớ hênh, vụng về, bừa bãi. Khi vị giảng sư ngồi trước đông người, khi ngồi một mình, khi ngồi trong phòng vắng cũng vẫn giữ được tư thế đẹp và đàng hoàng. Ai kiểm soát được tâm thì cũng kiểm soát được thân; ai kiểm soát được thân thì cũng trợ giúp kiểm soát được tâm. Nhìn một người vung tay giang chân ngả nghiêng bừa bãi thì ta chắc chắn rằng người đó không kiểm soát gì chính mình cả.
Không thích hưởng thụ là một phong cách chủ yếu của giảng sư. Dĩ nhiên giảng sư cũng phải sử dụng những tiện nghi kỹ thuật của thời đại cho công việc hoằng pháp, nhưng không có nghĩa là ham thích những trò vui của thế gian. Giảng sư tuyệt đối không đánh bài, ăn nhậu, la cà đi chơi vân vân. Nói chung những gì làm mất thì giờ, làm mất chánh niệm đều bị ta tránh xa.
Tử tế với mọi người là phong cách của giảng sư. Người tuyên giảng lời Phật dạy bắt buộc phải là người có lòng từ bi vị tha, và như vậy phải là người rất tử tế trong cư xử với mọi người. Tử tế có nghĩa là hay giúp người, hay chia sẻ, thật lòng mong cho người có niềm vui. Chính cái tâm thật lòng mong cho người có niềm vui đó làm thành sự tử tế sâu sắc đáng quý vô cùng.
Nhu hòa nhưng kiên định cũng là đặc tính của giảng sư. Người giảng sư có phong thái nhu hòa hiền lành dịu dàng, nhưng không có nghĩa là nhu nhược. Giảng sư không yếu đuối sợ hãi trước kẻ xấu xa dù kẻ đó có thế lực, không vì kẻ có ưu thế mà bỏ rơi kẻ làm đúng. Giảng sư dám bênh vực người làm chuyện đúng dù chung quanh bao nhiêu người chống lại. Cái đúng nhỏ như hạt cát cũng phải được bảo vệ; cái sai lớn như núi cũng không làm ta sợ hãi. Bình thường, giảng sư phải là người nhã nhặn, lễ độ, khiêm nhường.
Có tinh thần trách nhiệm là đặc tính của người thuyết pháp. Người giảng sư có tâm huyết lo cho đạo pháp, việc soạn bài hay giảng dạy đều ráng chu toàn trách nhiệm, không bỏ dạy mà không có lý do chính đáng. Soạn bài rất kỹ đã đành, mà khi giảng dạy cũng rất tận tình mong cho người học được nắm vững kiến thức. Chính vì có tinh thần trách nhiệm nên từng lời giảng đều chứa đựng cả một tấm lòng tha thiết ân cần tận tụy. Ngoài trách nhiệm trong việc giảng dạy, người giảng sư cũng đều chu toàn bổn phận với bất cứ việc gì đã được giao phó nhận lãnh.
Phong cách giảng sư thì gần với phong cách của Thánh nên sâu sắc mà vô hạn. Chính công phu tu hành của ta sẽ giúp ta sáng ra và biết phải làm gì để giữ gìn phong cách của mình cho phù hợp với đạo lý.
Bài tập cho bài học này là Tăng Ni nói vào trong máy thu những khuyết điểm về phong cách của chính mình, và hướng khắc phục. Ta chỉ nói khuyết điểm mà không nói ưu điểm vì ưu điểm thì có rồi chẳng cần nói làm chi. Hơn nữa, trong sự tu hành, việc thường xuyên biết lỗi của mình là dấu hiệu của sự tiến bộ tâm hồn. Lần này ta nói khoảng 10 phút. Chúc quý Tăng Ni ăn hay nói giỏi.
