Thiền Tôn Phật Quang
Những Bài Giảng Hoằng Pháp

Tổng hợp

Những Bài Giảng Hoằng Pháp

HOẰNG PHÁP 21: ĐI TRƯỚC SỰ PHẢN BIỆN

Chân Quang

Hoằng pháp là một bổn phận quan trọng của đệ tử Phật, gồm cả xuất gia lẫn tại gia. Ý nghĩa chính của Hoằng pháp là đem đạo lý đến với mọi người, giúp mọi người hiểu Phật pháp nhiều hơn, thay đổi tâm hồn tốt hơn, sống vị tha nhân ái hơn, và khẳng định được lý tưởng giác ngộ giải thoát xác quyết hơn.

Hoằng pháp bao gồm…

Thỉnh sách

HOẰNG PHÁP 21: ĐI TRƯỚC SỰ PHẢN BIỆN

18 phút đọc

1. Sự phản biện

Có một số người dễ dãi và thụ động, cũng gọi là ngoan ngoãn hiền lành, nghe giảng sư nói gì cũng vui vẻ chấp nhận. Ngược lại, có một số người xét nét cẩn thận, luôn canh chừng những điểm sơ hở của diễn giả để đánh giá. Những người hay xét nét moi móc như vậy làm ta khó chịu, nhưng cũng sẽ làm ta tăng tiến khả năng lý luận của mình. Ta buộc phải thuyết giảng làm sao để những người khó chịu như vậy không tìm thấy điểm hở là xem như ta thành công.

Tuy nhiên dù ta cẩn thận thế nào thì người nghe cũng cảm thấy cần phải hỏi thêm một số điểm cho rõ ý lên. Hoặc dù ta thiện chí thế nào thì những kẻ ác ý cũng cố tìm cho được chỗ để công kích ta. Đây là cuộc đua suốt đời của một giảng sư với những người công kích. Ta cố gắng hoàn thiện tối đa; kẻ kia cũng cố gắng moi móc tối đa.

Bây giờ ta tạm không phân biệt làm 2 hạng người, hỏi vì thiện chí muốn biết, và gặng hỏi vì muốn bài bác. Ta sẽ gọi chung cả 2 là sự phản biện. Phản biện nghĩa là nói ngược lại để chứng minh rằng ta đã nói sai. Bổn phận của một giảng sư khi đưa ra đạo lý của Phật cho mọi người thì phải đủ sức bảo vệ đạo lý đó, đủ sức đánh bại tất cả những sự phản biện của bất cứ ai trên đời này. Đây là bản lĩnh mà cũng là trách nhiệm của người tuyên dương Chánh pháp.

Nhà khoa học có thể hồ nghi về những suy luận của chính mình vì chưa biết chắc đã hoàn toàn đúng hay không. Tinh thần hoài nghi đó rất đáng ca ngợi vì giúp nhân loại tiến xa trên đường đi tìm chân lý. Một triết gia cũng có thể bày tỏ sự hoài nghi về những lý thuyết mà mình đi theo vì thời điểm xuất hiện của lý thuyết đó không có nhiều kiến thức khoa học. Một tu sĩ của một tôn giáo nào đó có thể đánh mất niềm tin với thần linh của mình sau cả một đời dâng hiến thờ phụng và đã không tìm thấy sự thiêng liêng khả tín. Những hoài nghi đó đều là sự tiến bộ của trí tuệ con người, đều đáng ca ngợi như nhau.

Riêng đệ tử Phật có một cái may mắn mà thế gian không ai có được, đó là, sự giác ngộ của Phật thật sự mở ra chân lý bất diệt cho loài người. Ta chỉ có thể hiểu ít hoặc hiểu nhiều về Tứ Diệu đế, chứ không thể nói khác đi được. Ta chỉ có thể hiểu một phần hay hiểu nhiều phần về Bát chánh đạo, chứ không thể nói khác đi được. Rồi những tiến trình nhập định theo công thức Tứ thiền, tiến trình phá 10 kiết sử để chứng các quả Thánh là khuôn vàng thước ngọc muôn đời cho tất cả chúng sinh. Sau này ta ít nghe ai nói rõ về các tiến trình này chỉ bởi vì ta hiểu không nổi, rồi chế tác ra những cái khác thay thế mà thôi.

Phật đã đưa ra các đạo lý căn bản vững chắc. Dựa vào đó ta có thể phát triền hoài mà không bao giờ sợ sai, không bao giờ sợ cạn. Giống như dựa vào các phép tính cộng trừ nhân chia, lũy thừa, khai căn, ta có thêm logarith, đạo hàm, tích phân... và nhiều hơn nữa. Nếu ta hiểu rất kỹ, rất căn bản những giáo lý của Phật thì ta không sợ bất cứ sự phản biện nào, và có thể tung hoành ngang dọc để thuyết pháp vô biên vô tận. Có được như vậy chỉ vì ta đã dựa được vào chân lý mà đức Phật đã khai sáng. Chân lý này là bất diệt.

Trong các yếu tố của một vị chứng quả Thánh Tu đà hoàn có yếu tố là vị đó vững lòng kiên định tin tưởng nơi Chánh pháp. Niềm tin này không mù quáng mê muội. Niềm tin này xuất phát từ sự chứng ngộ và kinh nghiệm của bản thân. Ai còn hoài nghi về giáo pháp tức là chưa chứng ngộ.

Một yếu tố khác nữa là vị chứng quả tin rằng trên đời này có những vị thánh chứ chẳng không. Ai không tin trên đời này có bậc thánh thì phải biết người đó chưa chứng ngộ.

Có thể ta chưa chứng ngộ Tu đà hoàn, nhưng khi bước ra làm một giảng sư thì ta phải có niềm tin của Tu đà hoàn về Chánh pháp, nghĩa là lòng kiên định nơi Chánh pháp là không gì lay chuyển được. Từ tiền đề căn bản này, ta không lo ngại trước sự phản biện, mà chỉ lo mình không nắm vững Chánh pháp để trình bày mà thôi. Nếu ta không thể trả lời suôn sẻ một câu phản biện, không phải vì giáo lý của Phật thiếu sót, mà chỉ vì ta chưa nắm vững hết giáo lý mà thôi. Ta có một nguồn chân lý vô tận để nương tựa. Vấn đề còn lại là ta hiểu nguồn chân lý đó đến mức độ nào mà thôi.

Bản lĩnh của giảng sư là biết đi trước sự phản biện, nghĩa là trong khi soạn dàn bài, ta đã tiên liệu được những người muốn bắt bẻ ta sẽ tấn công vào điểm nào. Và như vậy ta đã có câu trả lời thỏa đáng ngay trong bài giảng luôn. Họ chỉ việc ngồi nghe và bị ta thuyết phục.

Ví dụ, khi ta trình bày về Khổ đế, với quan điểm căn bản rằng đời là khổ. Ta phải tiên liệu trước rằng sẽ có nhiều người phản đối và nói rằng đời vừa có khổ vừa có vui. Họ sẽ đưa ra lập luận rằng khi nghèo là khổ, nhưng khi giàu là vui; khi đói là khổ và khi no là vui; khi bị khinh ghét là khổ, và khi được thương kính là vui, v.v... Họ sẽ đưa ra hai khía cạnh trái ngược để phản biện. Ta biết trước nên sẽ trả lời sẵn trong bài giảng luôn là... (xin nghe Tứ Thánh đế - Chân Quang, nhà xuất bản Tôn Giáo).

Ví dụ, khi ta trình bày về luật Nhân quả thiện ác báo ứng, với quan điểm căn bản rằng mọi hành vi lời nói ý nghĩ thiện ác của ta đều có quả báo trở lại với ta một cách tương xứng. Ta đoán trước thiên hạ sẽ có một nghìn cách để phản biện ngược lại. Và bản lĩnh của ta là phải hóa giải tất cả sự phản biện đó để buộc mọi người phải tin luật Nhân quả này. Chỉ khi nào tất cả mọi người tin luật Nhân quả thì thế gian mới bớt khổ đau. Không một quốc gia nào trên thế giới có thể xây dựng cho đất nước mình một nền đạo đức vững chắc nếu chưa đưa được luật Nhân quả vào học đường, không lấy luật Nhân quả làm triết lý trụ cột cho xã hội của mình. Chính vì sự quan trọng cực độ của việc tin hiểu luật Nhân quả như thế mà ta phải làm hết sức mình để giúp cho mọi người chấp nhận sự tồn tại tuyệt đối của luật Nhân quả. Càng nhiều sự phản biện đối với luật Nhân quả thì ta càng phát minh ra nhiều câu trả lời hấp dẫn thuyết phục hơn. (Xin tham khảo Nghiệp và Kết quả, Luận về Nhân quả, Nhân quả công bằng - Chân Quang, nhà xuất bản Tôn Giáo)

2. Tiên liệu và xử lý sự phản biện

Muốn tiên liệu sự phản biện, ta phải đặt mình vào vị trí người nghe, rồi cố gắng tìm điểm sơ hở trong lý luận vừa rồi. Việc này cũng cần phải được thực hành nhiều lần mới sắc bén. Cứ mỗi bài giảng ta lại tập đứng về phía người nghe để tiên liệu sự phản biện. Lâu ngày như vậy ta bắt đầu tìm ra nhiều điểm yếu của chính mình, và dĩ nhiên là sẽ hoàn thiện bài giảng của mình chặt chẽ hơn.

Một yếu tố khác để làm bài giảng chặt chẽ nữa là với vị giảng sư nào giỏi toán thì vị đó đã tự biết cách suy diễn nhiều chiều hướng ngược xuôi để lấp đầy hết mọi khoảng trống sơ hở. Bây giờ ta thực hành một số ví dụ.

- Ta có lý luận rằng: Ai tin Nhân quả thì sẽ làm được nhiều việc phước.

Rồi ta đặt mình vào hoàn cảnh của người nghe, nhất là những người trí thức hay hoài nghi, những người kiêu ngạo không muốn tôn trọng ai để tìm xem họ sẽ bài bác lý luận trên như thế nào. Ta sẽ thấy rằng, họ sẽ dẫn chứng những người có hiểu đạo Phật, thậm chí là những người đã từng xuất gia, tức là những người rất tin luật Nhân quả, vậy mà vẫn sống tầm thường, ích kỷ, chẳng làm được việc phúc đức nào cả.

Ta lập tức nhìn sâu vào tâm hồn những người được xem là hiểu đạo Phật đó, được xem là đã từng xuất gia đó, để thấy rằng thực ra họ rất ít tư duy nghiền ngẫm về luật Nhân quả Nghiệp báo. Họ hiểu đạo Phật thiên về lý Bát nhã tánh Không, nhìn mọi chuyện như không có gì rồi sống lãng đãng qua ngày tháng. Những người này tuy mang danh nghĩa là đạo Phật nhưng hiểu về Nhân quả rất ít.

Thấy được như vậy rồi, ngay trong bài giảng, ta đã kể ra luôn những trường hợp có những người tuy theo Phật nhưng chưa hiểu sâu về Nhân quả nên không bị thôi thúc phải làm những điều công đức gì cả. Nói như vậy là ta chận đứng sự phản biện của người khác luôn.

- Ta có lý luận rằng: Tám vạn bốn nghìn pháp môn không ra khỏi Bát Chánh đạo.

Ta tiên liệu rằng kẻ bài bác sẽ nói rằng có rất nhiều pháp môn Phật dạy không nằm trong Bát Chánh đạo, ví như Lục độ, Phổ Hiền Thập hạnh, Nhĩ căn viên thông... Hoặc họ sẽ nói rằng ngay cả Trí tuệ không được đề cập đến trong Bát Chánh đạo, vì theo họ, lẽ ra Phật phải nói thêm Chánh Tuệ.

Ta sẽ giải thích luôn ngay trong bài giảng rằng Tuệ thuộc về kết quả chứ không được liệt kê trong tiến trình tu tập. Bát Chánh đạo chỉ là đường đi. Diệt đế mới là kết quả. Tuệ thuộc về Diệt đế. Khi giảng Diệt đế, giảng sư phải nói về Trí tuệ chứng ngộ của các vị Thánh luôn mới đúng. Ta hiểu sai chứ Phật không nói thiếu.

Rồi những Lục độ, Thập hạnh, Lăng Nghiêm... đều được ta xếp vào từng chi phần của Bát chánh đạo một cách hợp lý. Ví dụ Bố thí Ba la mật cũng chỉ thuộc về Chánh nghiệp mà thôi. Tinh tấn ba la mật thuộc về Chánh tinh tấn. Thiền định thuộc về Chánh niệm và Chánh định. Bát nhã ba la mật thuộc về Diệt đế rồi. Cứ như vậy mà ta giải thích rất xác quyết rằng không có pháp môn nào ra khỏi Bát Chánh đạo cả.

- Ta có lý luận rằng: Lòng tôn kính Phật giúp ta có sức mạnh khắc phục những sai lầm của mình.

Kẻ phản biện sẽ nói rằng việc tôn kính Phật chỉ là một nghi thức của tôn giáo, không liên quan gì đến việc khắc phục lỗi lầm; chỉ những ai có thiện chí mới chịu khó khắc phục lỗi lầm.

Ta sẽ giải thích luôn rằng: Muốn khắc phục những sai lầm, ta phải biết mình sai lầm ở điểm nào, tiếp theo nữa là phải quyết tâm muốn trừ diệt sai lầm. Hai yếu tố đó, biết sai lầm, quyết tâm trừ diệt sai lầm, không phải dễ có được trong tâm của ta nếu ta không có một công đức đặc biệt nào đó. Và công đức đặc biệt đó chính là lòng tôn kính Phật tuyệt đối. Chính nhờ lòng tôn kính Phật tha thiết, công phu lễ Phật chí thành mà ta hình thành được trí tuệ biết được sự sai

lầm của mình, và đồng thời hình thành luôn quyết tâm trừ diệt sai lầm đó.

Họ sẽ phản biện rằng tại sao lễ kính Phật lại được khả năng khắc phục sai lầm. Ta cũng trả lời trước luôn rằng vì đó là Nhân quả. Ai kính thầy mới có khả năng làm thầy; ai kính trọng bậc thánh mới chứng quả thánh; ai tôn kính Phật thì vị lai sẽ làm Phật. Khi ta tôn kính Phật, tự nhiên ta có phước vượt lên về trí tuệ và đức hạnh, khiến ta giống Phật dần dần. V.v...

- Ta có lý luận rằng: Người có đời sống vị tha sẽ có được sự an vui trong nội tâm.

Kẻ phản biện sẽ nói rằng rất nhiều người vị tha nhưng vẫn khổ sở hay gặp nhiều nghịch cảnh.

Ta sẽ trả lời trước rằng có thể do túc nghiệp nên người vị tha vẫn phải gặp những nghịch cảnh trong cuộc sống, nhưng họ không bị quá bất an phiền não như những người ích kỷ. Vì sao, vì sự vị tha là đi ngược lại bản ngã, mà bản ngã là bất an phiền muộn, nên bất cứ ai vị tha đều ngược lại với bất an phiền não. Người vị tha luôn luôn vất vả hơn người ích kỷ vì họ rất siêng năng giúp đỡ người khác, nhưng chắc chắn là họ an vui hơn người ích kỷ.

- Ta có lý luận rằng: Tiền bạc tài sản mà ta có được vừa là phước của ta, cũng vừa là sự thử thách về đạo đức của ta, cũng vừa là trách nhiệm của ta.

Kẻ phản biện sẽ nói rằng tiền của ta thì ta muốn làm gì thì làm, muốn hưởng thụ hay muốn làm phước tùy ý, chẳng có gì là thử thách hay trách nhiệm cả.

Ta sẽ nói rằng đúng là tiền của ta thì ta có quyền sử dụng tùy ý mình theo như luật pháp xã hội, nhưng luật Nhân quả sẽ phán xét một cách khác. Luật Nhân quả không cho phép ta phí phạm tiền bạc, không cho phép ta sử dụng tiền bạc một cách vô nghĩa. Ai xài phí phạm sau này sẽ không có tiền nữa; ai hà tiện bỏn xẻn sau này cũng sẽ không có tiền nữa; ai dùng tiền để hưởng thụ riêng mình thì sau này sẽ không có tiền nữa; ai bố thí cúng dường không đúng chỗ thì sau này cũng không có tiền nữa, v.v... Ta hiểu về tiền bạc theo luật pháp xã hội cũng chỉ là một khía cạnh. Phải hiểu theo luật Nhân quả nữa mới trọn vẹn, và ta sẽ thấy sự thử thách cũng như trách nhiệm của ta nơi tiền bạc sở hữu của mình.

- Ta có lý luận rằng: Đạo đức quý hơn tình ruột thịt.

Kẻ phản biện sẽ nói rằng tình máu mủ ruột thịt dù sao vẫn đậm đà hơn người dưng nước lả.

Đúng là máu mủ thì vẫn có cái gì khác với người dưng nước lả, nhưng máu mủ mà không có đạo đức thì vẫn làm khổ nhau như thường. Biết bao nhiêu truờng hợp con cái bất hiếu với cha mẹ, cha mẹ hành hạ con cái, anh em giết nhau vì giành gia tài! Còn có những người không máu mủ, nhưng có đạo đức sâu sắc, biết sống đời vị tha thì vẫn là người đem lại hạnh phúc cho mọi người chung quanh họ. Chính vì có nguyên lý này, đạo đức quý hơn ruột thịt, mà ta mới có Tăng đoàn lý tưởng sống với nhau còn hơn cả ruột thịt. Chính vì đạo đức quý hơn ruột thịt mà ta mới có thể bước ra xã hội để cùng nhau làm được những điều dựng xây tốt đẹp. Tình ruột thịt chỉ tốt đẹp khi những người trong gia đình có đạo đức mà thôi. Ai quá tin vào tình ruột thịt sẽ bị vấp vào lúc nào đó. Muốn tình ruột thịt được lâu bền hạnh phúc thì phải xây dựng đạo đức cho nhau.

Thật ra muốn tiên liệu được sự phản biện của người khác đối với ta thì trước hết ta phải tập phản biện những ý tưởng của người khác thử xem sao. Ta nên dự những buổi thuyết giảng của các vị khác và lặng lẽ ghi lại những ý kiến phản biện của mình. Ta có thể đọc các tác phẩm của các tác giả và âm thầm ghi ra những ý kiến phản biện của mình. Dĩ nhiên có khi ta cũng phản biện sai, nhưng cứ tập như vậy để lấy kinh nghiệm.

Sau này khi soạn bài giảng, ta luôn luôn cảnh giác trước mọi lý luận phản biện có thể xuất hiện vào một kẻ hở nào đó trong lý luận của ta. Ở trên là ta đưa ra một ý kiến phản biện. Trong thực tế, ta có thể bị nhiều ý kiến phản biện bao vây cùng một lúc. Bổn phận ta là phải hóa giải hết tất cả sự phản biện đó để cho bài giảng của ta hoàn chỉnh hơn.

Ta càng tiên liệu được nhiều ý kiến phản biện chừng nào, càng hóa giải được những ý kiến đó trọn vẹn chừng nào thì bài giảng của ta càng xuất sắc chừng nấy. Nắm được điều này, ta sẽ thấy rằng việc soạn dàn bài chính là việc tiên liệu sự phản biện. Ta đưa ra một ý tưởng, nhiều người sẽ phản bác. Người bình dân phản bác khác; người trí thức phản bác khác; người hơn thua phản bác khác; người ngoại đạo phản bác khác; người kém thực hành phản bác khác v.v... Ta phải đoán được tâm lý, trình độ của từng hạng người để biết trước họ sẽ phản bác như thế nào.

Ví dụ, ta đưa ra Ý tưởng rằng Chưa cần quả báo, ngay khi ta đem niềm vui cho người thì tâm ta đã được vui rồi.

Ta đoán rằng người bình dân sẽ phản bác là: Nhiều khi giúp người còn bị chưởi nữa; người trí thức sẽ phản bác rằng: Niềm vui đó rất nhỏ, không đáng để ta quan tâm; người có tính hơn thua sẽ phản bác rằng: Nói như vậy không thuyết phục; người ngoại đạo sẽ cho rằng: Thượng đế là người quyết định vui buồn; người chưa từng bố thí sẽ nghĩ rằng: Cho tiền ai tốn kém lắm, làm sao vui được. Như vậy, sau khi đưa ra Ý tưởng chính, ta sẽ lần lượt giải tỏa từng sự phản biện như thế.

Trường hợp sự phản biện là rất hợp lý thì ta phải vui vẻ chấp nhận và bổ sung vào bài giảng của mình như là sự Ngoại lệ. Ví dụ ta đưa ra rằng ăn chay là yếu tố bắt buộc cho đời sống tu hành. Người phản biện sẽ nói rằng thời đức Phật đi khất thực ai cho gì ăn nấy, không hoàn toàn ăn chay. Điều này rất đúng, do đó ta phải bổ sung thêm ý nghĩa Tam tịnh nhục, rồi bổ sung tiếp trong thời đại hôm nay Phật tử hoàn toàn có thể mang thức ăn chay đến cúng dường mà quý thầy khỏi phải khất thực; và ta cũng bổ sung luôn ý tưởng về một tương lai khi kỹ thuật cho phép tạo ra những tảng thịt trong phòng lab giúp cho con người có dinh dưỡng mà không phải sát sinh...

Bài tập cho bài học hôm nay là Tăng Ni sinh tự đưa ra ý tưởng và tự phản biện lại chính mình. Nói và thu vào máy khoảng 10 phút. Ai phản biện càng nhiều thì càng được điểm cao.

— Hết chương —