1. Một số đặc điểm
Hầu như khắp nơi trên thế giới quốc gia nào cũng có một số sắc tộc ít người. Trong kinh Phật gọi người dân này là người sống ở vùng biên địa. Đúng như tên gọi, đồng bào sắc tộc không có dân số đông so với người Kinh chiếm đa số của quốc gia đó. Họ cũng thường ở ven theo biên giới xa, nơi mà người Kinh ít lui tới. Chính vì ở vùng ven nên theo sự biến thiên của lịch sử, lúc thì họ thuộc quốc gia này, lúc thì họ thuộc quốc gia khác, tùy theo quốc gia nào đủ mạnh để chiếm lấy vùng đất của họ.
Mỗi sắc tộc có ngôn ngữ riêng, tập quán riêng, tín ngưỡng riêng. Có những sắc tộc hiền lành và cũng có những sắc tộc hung hãn. Khi người Mỹ chiếm Mỹ châu, họ phải gần như tiêu diệt hết những sắc tộc da đỏ đầy khắp châu Mỹ vốn là cư dân lâu đời ở đó, chỉ còn lại một ít được chính sách bảo tồn đến hôm nay.
Trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, các triều đình Việt Nam ta luôn liên kết với các sắc tộc biên giới để làm thành sức mạnh chung. Thậm chí có khi triều đình phải gả con gái công chúa cho các tù trưởng để tạo nên mối giao hảo bền vững. Chuyện đó xảy ra rất rõ dưới triều đại nhà Trần, nhất là hoàng tử Trần Nhật Duật, người có biệt tài am hiểu về các sắc dân biên giới.
Trong công tác hoằng pháp, với lòng từ bi của đạo Phật muốn đem ánh sáng của Phật Pháp đến với tất cả chúng sinh, với truyền thống của cha ông tôn trọng và gắn bó với anh em đồng bào sắc tộc thiểu số, nay chúng ta phải xác định hướng hoằng pháp về phía các vùng đồng bào dân tộc mà lịch sử đã đưa đẩy chúng ta là anh em trong một quốc gia chung đến tận hôm nay. Hơn nữa, Nhà nước Việt Nam đã có một chính sách cực kỳ ưu ái đối với đồng bào dân tộc vì muốn cho đồng bào dân tộc nhanh chóng hoà nhập vào đời sống văn minh của quốc gia nhưng vẫn có quyền giữ gìn nét đặc thù văn hóa của mình.
Ngoài việc hoằng pháp là bổn phận thiêng liêng của người đệ tử Phật, việc đem ánh sáng Phật Pháp đến với các vùng đồng bào sắc tộc còn có ý nghĩa rất lớn khi mà ngày hôm nay có những thế lực ngoại bang xấu xa đang tìm cách dùng chiêu bài tôn giáo để kích động sự chia rẽ giữa đồng bào sắc tộc với anh em người Kinh. Họ đã truyền nhiều tôn giáo lạ nhằm thay đổi tín ngưỡng truyền thống lâu đời của người dân tộc, rồi xúi giục đồng bào chống lại anh em người Kinh. Việc truyền bá Phật Pháp đến các vùng dân tộc cũng giúp ngăn chận âm mưu hiểm độc của ngoại bang trong việc phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc của Nhà nước ta.
Trước khi đến với đồng bào dân tộc để có những cuộc tiếp xúc đàm đạo, ta nên hiểu qua một số đặc tính của đồng bào.
- Thứ nhất, điều lạ là các sắc dân thiểu số khắp nơi trên thế giới vẫn có một số điểm chung đồng dù họ có vẻ chưa bao giờ liên lạc với nhau. Ví dụ họ có sử dụng tên, nỏ, ná và rất thiện xạ.
- Thứ hai, người lãnh đạo bộ tộc, già làng, thường là người có khả năng tâm linh nhất định nào đó. Không hiểu sao hầu hết các bộ tộc trên thế giới đều có lưu truyền bùa chú thư ếm, nhưng hiện nay thì điều này có vẻ đang mai một dần.
- Thứ ba, sự mê tín như là văn hóa. Nhiều truyền thuyết về ma lai, thần linh, niềm tin huyền hoặc in sâu vào tâm khảm của đồng bào. (vậy mà đạo Tin lành đang xóa được)
- Những vị thuốc thiên nhiên của họ, hoặc những cách chữa trị bệnh kỳ lạ đôi khi vô lý của họ cũng có khi đáng để ta nghiên cứu. Hiện nay các công ty dược phẩm trên thế giới đang tìm hiểu kho tàng kiến thức dược phẩm của các bộ tộc để bổ sung vào kiến thức của y học hiện đại.
- Người dân tộc có lối diễn đạt cụ thể hóa những điều trừu tượng. Họ dùng những hình ảnh dễ thấy để bày tỏ những ý niệm khó hiểu. Ví dụ, thay vì nói “giống như anh em một nhà”, họ sẽ nói “giống như ăn chung một nồi cơm”;
Thay vì nói “cầu cho nhà tôi đủ ăn”, họ sẽ nói “cầu cho nhà mình một ngày đỏ lửa 3 lần”.
Thay vì nói “rất khỏe mạnh” thì họ nói “vác được con nai về nhà”.
Thay vì nói “đối xử tử tế” thì họ nói “chia đôi con cá khô” ..
Vì vậy, khi nói chuyện với anh em người dân tộc, ta nên tìm hiểu trước một số thành ngữ dễ thương như thế để việc giao tiếp thuận lợi hơn.
Nếu ai biết được ngôn ngữ của dân tộc thì cực kỳ hiệu quả trong việc hoằng pháp với đồng bào. Giáo hội ta nên có lớp dạy tiếng dân tộc cho những tu sĩ nào phát tâm hoằng pháp ở vùng sâu vùng xa. Giáo hội Tin lành ở tít bên Mỹ mà vẫn có lớp dạy tiếng Eđê cho các mục sư để đưa về xâm nhập truyền đạo tại Tây nguyên. Họ có chủ trương rất lớn và lâu dài đối với kế hoạch truyền đạo.
Rồi khi đi sâu vào các vùng dân tộc, ta sẽ thấy mỗi vùng dân tộc có ngôn ngữ riêng, sắc thái riêng, tập quán riêng, văn hóa riêng. Vì thế, khó ai có thể đi lang thang giáo hóa từ vùng đồng bào này sang vùng đồng bào khác, mà chỉ có thể chọn một sắc tộc nào đó để theo đuổi giáo hóa lâu dài. Đặc biệt dân tộc Dao (Mán) lại có gốc tổ tiên theo đạo Phật lâu đời nên rất dễ đón nhận anh em đạo Phật đến giao lưu trao đổi.
Dân tộc Khmer ở Nam bộ lại có truyền thống theo Phật giáo Nam tông từ lâu đời. Có thể họ là di dân từ Kampuchea sang định cư, và các Sãi đã đi theo đoàn di dân để chăm sóc tinh thần. Ta cứ tưởng như vậy là yên ổn rồi, không cần phải bận tâm lo về Phật Pháp cho đồng bào Khmer nữa. Nhưng không phải vậy. Các giáo sĩ từ đâu tới cho tiền cho gạo, phê bình các Sãi chỉ có nhận cúng dường mà không biết giúp dân, phê bình các Sãi dễ dàng hoàn tục. Thế là rất nhiều đồng bào Khmer đã lục tục kéo qua tôn giáo khác để rửa tội. Vì vậy, quý Thầy Cô vẫn phải lưu tâm giáo hóa để củng cố đạo tâm cho đồng bào Khmer.
Người đồng bào dân tộc không có nhiều đại từ xưng hô như người Kinh Việt Nam nên ta đừng ngạc nhiên khi họ gọi ta là mày, xưng mình, kêu cha mẹ hay già làng là nó... Gần đây do giao tiếp với người Kinh nên họ cũng có bổ sung thêm chút đỉnh về đại từ, ví dụ họ cũng có biết gọi là sư phụ, thầy, mặc dù sau lưng có thể gọi ông thầy là nó tuốt luốt.
Trong lòng người dân tộc tiềm tàng một mặc cảm bị người Kinh khinh rẽ, vì vậy, nếu ai đến nhà mà có thể hòa đồng được với họ thì họ sung sướng vô cùng. Còn ai có vẻ tránh né, xa lánh thì họ rất giận và buồn. Nhất là khi họ mời ăn uống với cái ly “có mấy chục cái miệng uống” rồi, hoặc ăn cơm nấu bằng nước ao gần chuồng heo thì ta cứ vui vẻ mà dùng.
Đa phần đồng bào dân tộc kém kinh tế, thậm chí có những buôn làng thiếu đói. Ai đến với đồng bào mà mang theo quà tặng thiết thực như thực phẩm, quần áo thì sẽ được họ yêu quý. Lợi dụng điều này mà các tôn giáo xấu đã đem tiền quà đến tặng, dụ đồng bào theo đạo, rồi xúi đồng bào nổi loạn chống người Kinh. Nhà nước cũng đang có chính sách hỗ trợ nâng cao đời sống đồng bào dân tộc để tránh cho họ bị lợi dụng theo kẻ xấu. Phật giáo ta cũng phải quan tâm đến việc giúp đỡ thiết thực đời sống đồng bào song song với việc hoằng truyền Phật Pháp. Nhiều Phật tử cũng rất sẵn lòng san sẽ khi ta kêu gọi cho những chuyến viếng thăm đồng bào.
Trong giai đoạn hiện nay, việc tiếp xúc hoằng pháp cho đồng bào dân tộc nên được gánh vác nhiều bởi các Phật tử thiện nguyện. Các Phật tử dễ len lỏi vào các buôn làng để gặp gỡ trao đổi và giúp đỡ đồng bào hơn là một tu sĩ với nhiều ràng buộc về giới luật. Nhưng quý Thầy Cô phải có bổn phận khuyến khích các Phật tử làm việc đó, rồi ủng hộ, phụ giúp, hỏi han, khen thưởng, động viên, để quý Phật tử có tinh thần dấn thân vào công việc vất vả này. Giáo hội phải có một chính sách hẳn hòi về công tác hoằng pháp cho đồng bào dân tộc.
Dưới đây là những mẫu hỏi đáp gợi ý bằng ngôn ngữ người Kinh vì nhiều người dân tộc cũng nói được tiếng Kinh theo phong cách rất dân tộc. Mẫu hỏi đáp này có vẻ dành cho các Phật tử nói chuyện với anh em dân tộc, hơn là dành cho tu sĩ. Tuy nhiên Tăng Ni cũng phải học và thực hành để biết mà hướng dẫn cho Phật tử làm việc.
Hỏi: Nhà anh chị làm rẫy được nhiều không?
Đáp: Cũng chút chút. Phát được miếng rẫy rồi ít bữa nghèo quá bán lại cho người Kinh hết. Rồi mình lại đi dọn miếng khác.
Hỏi: Sao anh chị không trồng cây ăn trái để thu hoạch lâu dài, khỏi mất công phá rừng làm rẫy hoài.
Đáp: Trồng cây biết chừng nào có ăn. Làm rẫy mùa nào ăn mùa đó. Phá rừng mới có đất tốt. Trồng hai ba mùa đất xấu thì bán lại cho người Kinh.
Hỏi: Hết rừng rồi sẽ bị khô nước sớm vào mùa nắng. Hết mưa là suối cũng khô luôn. Mình mà phá rừng hoài Giàng giận lắm vì Giàng cho mình rừng để có chim thú tre nứa mình dùng.
Đáp: Mấy năm nay trời vừa hết mưa là suối hết nước liền. Mình phá rừng trồng cà phê xong rổi thì không có nước tưới cà phê, khổ quá. Có mấy người tới cho mình tiền, nói mình thờ trời thì trời phù hộ. Còn anh thờ ông nào?
Hỏi: Chúng tôi thờ ông Phật. Phật là vị thánh cao cả nhất trên đời.
Đáp (đúng ra là hỏi lại): Phật với Trời với Giàng ai ở trong, ai ở ngoài?
Đáp: Phật ở ngoài, còn lại ai cũng ở trong hết. Có giáo lý Phật dạy rồi mới có người được phước làm vua, làm chúa, làm vua trên trời, làm vua dưới đất. Phật đem đến mọi điều lành, ai theo Phật là sẽ được mọi điều tốt lành.
Hỏi: Sao mấy ông kia nói là Trời ở ngoài?
Đáp: Tại vì mấy ông đó chưa biết, chưa nghe lời Phật dạy nên hay xúi giục con người bạo loạn chống đối nhau. Ai theo Phật thì chỉ xúi con người thương yêu nhau. Phật dạy mình trồng cây gì thì ra trái đó, trồng cây cà thì ra trái cà, trồng cây chanh thì ăn trái chanh. Nếu mình hay bạo loạn chống người ta thì người ta ghét mình, vì mình trồng cây ghét thì mình phải ăn trái ghét. Còn nếu mình vui vẻ, gặp ai mình cũng cười, thì người ta sẽ thương mình, giúp đỡ mình. Đó là vì mình trồng cây thương nên được ăn trái thương. Mấy tay kêu mình chống đối bạo loạn chỉ cho mình ít tiền rồi kêu mình trồng cây ghét để cho mình bị ghét suốt đời. Còn theo Phật, mình trồng cây thương thì sẽ được thương suốt đời. Từ nay, mình theo Phật, thương hết mọi người, tự nhiên người ta sẽ thương yêu và giúp đỡ mình hoài.
Hỏi: Nhưng trời hạn hán khô khan như vầy Phật có cho mưa được không, chứ mình xin Giàng hay Trời gì cũng không được?
Đáp: Phật dạy cho mình biết là trồng cây gì ăn trái đó. Nếu mình trồng cây khô thì ăn trái khô, trồng cây ướt thì ăn trái ướt. Trồng cây khô là tại vì mình chặt cây phá rừng nhiều quá làm cho đất đai khô khan cằn cỗi, nên bây giờ không có mưa nữa, nước suối không chảy nữa. Trồng cây ướt là mình biết giữ rừng, không cho ai chặt phá. Ai mà cầm dao cầm cưa vô phá rừng là mình chận lại đuổi ra. Hoặc là mình biết trồng lại cây giùm cho rừng. Như vậy là mình làm cho đất đai xanh ướt, và trời sẽ mưa và suối sẽ đầy nước cho mình trở lại.
Hỏi: Như vậy lâu quá, làm sao cứu cho mình khỏi đói bây giờ rồi mình sẽ giữ rừng trồng rừng sau.
Đáp: Mình sẽ đi lên chùa xin gạo về biếu bà con liền.
Hỏi: Chùa là ở đâu?
Đáp: Chùa là nơi thờ Phật. Ơ đó có quý thầy (hoặc quý cô) tu hành và dạy dỗ cho mình biết trồng cây tốt lành để cho sau này cuộc đời mình gặp được điều tốt lành. Người dân tộc mà đến là quý thầy quý cô thương lắm. Hôm nào đến chùa với mình nhé!
Hỏi: Mình sợ đến chùa bị mấy người Kinh coi thường.
Đáp: Chỉ có mấy người kinh dị mới coi thường anh em người dân tộc, chứ người Kinh hiểu biết thì luôn luôn quý trọng anh em người dân tộc vì xưa kia chúng ta đều là con của mẹ Au Cơ đẻ ra trong một trăm cái trứng.
Hỏi: Tại sao có mấy người truyền đạo nói là chuyện một trăm cái trứng là chuyện bịa không có thật?
Đáp: Mấy người đó ác độc mới nói như vậy. Họ muốn anh em người Kinh và người Thượng chia rẽ nhau. Vì 50 người theo cha về xuôi làm người Kinh nên chúng tôi lấy họ cha. Còn 50 người theo mẹ lên nguồn làm người Thượng nên bây giờ các anh vẫn còn lấy họ mẹ. Chứng cớ rành rành đó mà cãi gì nữa. Muôn đời chúng ta là anh em, vì vậy phải thương yêu gắn bó với nhau, phải cột dính với nhau, không cho ai xen vào chia rẽ, không cho ai chẻ đôi anh em mình như chẻ tre. Đạo nào cũng không được chia rẽ tình anh em giữa người Kinh và người Thượng của chúng ta.
Hỏi: Năm ngoái mình lỡ theo đạo thờ ông trời vì được người ta cho tiền rồi, bây giờ đi chùa có sao không?
Đáp: Phật ở ngoài, Trời ở trong mà sợ cái gì. Đi chùa là mình bước lên cao hơn, giống như mình leo lên nhà chứ không còn ở dưới chân cầu thang nữa. Vì vậy anh em cứ mạnh dạn đi chùa, không sợ gì hết.
Hỏi: Bên mấy ông kia thì nói Trời lớn hơn Phật; anh thì nói Phật lớn hơn Trời. Mình không biết ai đúng nữa.
Đáp: Họ có nói tại sao Trời lớn hơn Phật không?
Hỏi: Họ nói ông Trời làm ra tất cả, trời đất, mây gió, núi sông, Kinh hay Thượng, đều do ông trời làm ra.
Đáp: Nói họ kêu ông trời làm mưa cho dân nhờ đi. Sao trời không làm mưa được?
Hỏi: Vậy Phật làm mưa được không?
Đáp: Phật bảo mình phải trồng ướt mới ăn trái ướt; mình phải giữ rừng thì sẽ có nước và có mưa. Phật dạy mình cách làm ra những điều mình mong muốn chứ không cần xòe tay xin ai hết. Phật hay hơn trời thần là như vậy. Mấy ông kia bắt mình phải cầu xin, mà nhiều khi mấy ông đâu có cho được đâu. Phật dạy mình cách làm ra điều mình muốn để khỏi xin ai. Phật là đỉnh núi cao nhất. Phật là mặt trời sáng nhất. Phật là người cha nhân từ nhất.
Hỏi: Bây giờ mình muốn có nhiều tờ giấy có nhiều vòng tròn cầm mua đồ được thì Phật dạy phải làm sao?
Đáp: Muốn có nhiều tờ giấy có hình Bác Hồ có râu và có nhiều vòng tròn (ý là giàu có sung túc) thì mình phải chịu cực giúp đỡ đồng bào của mình. Ai bệnh mình tới lui chăm sóc; ai đói mình chia cơm; ai làm nhà mình tới giúp... lâu ngày tự nhiên mình có phước, sẽ có nhiều may mắn khiến cho mình giàu có sung túc, nhà lớn, gạo đầy bồ, cá khô chứa đầy tủ, có xe chạy chơi nữa. Còn tiền của mấy người tự nhiên đem cho mình rồi xúi mình bạo loạn là tiền xấu. Lấy đồng tiền đó rồi thì mình nghèo khổ hoài.
Hỏi: Nhưng mà kẹt quá, họ đưa phải lấy mua gạo cái đã.
Đáp: Nếu kẹt quá thì cứ lấy, nhưng đừng nghe lời họ theo mấy cái đạo xúi bạo loạn. Đạo thì phải hiền lành. Đạo mà xúi bạo loạn là đạo tầm bậy. Mình theo mấy cái đạo đó ông bà mình giận lắm. Tiền thì cứ lấy nhưng đạo thì đừng theo.
Hỏi: Họ hỏi lấy tiền rồi thì phải theo đạo, không theo họ đòi tiền lại, không có trả.
Đáp: Vậy là khác với đạo Phật. Nhiều lần đạo Phật đem gạo đem quà tới tặng biếu đồng bào nhưng không ép đồng bào theo đạo, không bao giờ đòi lại. Đạo Phật tốt hơn mấy đạo đó. Hôm nào mình dẫn anh em về chùa làm lễ quy y theo đạo Phật nhé.
Đại khái ta nói chuyện vừa đơn giản vừa dứt khoát rõ ràng để đưa họ về đạo Phật chứ không có e dè ngần ngại. Người phát nguyện đi vào vùng sâu vùng xa để độ cho đồng bào dân tộc là những Bồtát tại thế gian. Vì sao? vì đa phần ai cũng muốn độ những người thành thị giàu có để được cúng dường lợi dưỡng, còn độ cho đồng bào dân tộc thì phải xin tiền xin gạo đến tặng biếu rất cực. Ai độ được cho một người dân tộc bằng độ cho một trăm người thành thị.
Đã đến lúc ta phải có bổn phận đem ánh sáng Phật Pháp đến cho anh em người Thượng. Cùng là con người với nhau, thế mà ta được duyên lành có giáo lý của Phật để sống để tu, còn những anh em dân tộc thì chưa biết gì. Lòng từ bi của đạo Phật không cho phép ta bỏ mặc như thế. Ta sẽ rủ nhau phát nguyện đi đến với đồng bào dân tộc để đem đạo lý cao cả của Phật thắp lên các buôn làng ở đó, để cho không một góc đất trời nào thiếu ánh sáng Phật Pháp thiêng liêng.
