1. Những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến việc diễn giảng
Không phải lúc nào sự nghiệp diễn giảng của ta cũng suôn sẻ. Sẽ có nhiều chướng ngại, khó khăn, suy hao xảy ra khiến ta bị trở ngại trong việc hoằng pháp diễn giảng. Chính vì vậy một giảng sư phải lường trước các tình huống tiêu cực đó để biết vượt qua, can đảm đối diện, khắc phục, và tiếp tục bước tới. Ví dụ có khi ta bị những ganh ghét vô lý, những sự trù dập nhỏ mọn, ta vẫn phải can đảm đi tới để hoàn thành trách nhiệm hoằng pháp của mình. Nhưng cũng có khi ta bị tuổi già kéo đến, sức khỏe suy giảm thì ta lại phải nghĩ đến việc dọn đường cho lớp người kế thừa chứ không được ù lì giảng hoài làm cản đường người sau.
Có khi những trở ngại đó là do hoàn cảnh khách quan (hoặc ta cho rằng do nghiệp đời trước cũng được), hoặc có khi những trở ngại đó là do chính ta phạm sai lầm. Mỗi truờng hợp như vậy đều phải được nhận thức chính xác để ta biết cách khắc phục vượt qua cho một tương lai tươi sáng hơn.
Sự tu tập yếu kém là nguyên nhân hàng đầu làm trở ngại khả năng diễn giảng của giảng sư. Vì sao? Vì giảng sư là người thay Phật dạy cho Tứ chúng cách tu hành. Bao nhiêu lời giảng sư diễn đạt đều chỉ nhằm mục đích giúp cho Tứ chúng biết cách tu hành. Nếu giảng sư kém tu thì hệ quả rõ ràng nhất là bài giảng không có nhiệt huyết, không có tinh tấn, không có lửa, và nhất là không có kinh nghiệm thực tế giúp người nghe thực hành theo.
Ví dụ khi ta giảng về hạnh Nhẫn nhục nhưng ta chưa từng kềm chế được cơn nóng giận nào của mình thì bài giảng Nhẫn nhục của ta chắc chắn không có chất lượng, chắc chắn không có kinh nghiệm, và dĩ nhiên sẽ không thúc đẩy người nghe thực hành.
Ví dụ khi ta giảng về đời sống Vị tha nhưng ta đang trở nên ích kỷ thì bài giảng đó chỉ là khẩu hiệu rỗng, không có lửa, không làm người nghe phải thay đổi cuộc sống của mình.
Ví dụ ta giảng về Thiền định nhưng ta không tinh tấn chịu khó ngồi thiền, không có an lạc trong thiền định, thì bài giảng sẽ chỉ là những ngôn ngữ bắt chước các thiền sư hay kinh điển mà không có giá trị thực nên cũng không làn người nghe thích thú thực hành.
Chính vì vai trò giảng sư là dạy mọi người cách tu nên ta phải tu trước, phải có kinh nghiệm thực hành từng vấn đề mà ta sẽ đem ra giảng dạy. Ngày nào sự tu hành của ta trở nên yếu kém thì ngày đó các bài giảng của ta sẽ trở nên khô khan tẻ nhạt, không còn thu hút người nghe nữa. Vì vậy, yếu tố tiêu cực đầu tiên làm suy giảm khả năng diễn giảng chính là sự sa sút tu hành của giảng sư.
Để tránh điều này, giảng sư phải nổ lực tu tập rất nhiều, không được lơi lỏng coi thường. Giảng sư phải là người có lý tưởng tu tập mãnh liệt hơn người, phải là người có kinh nghiệm tu tập hơn người, chứ giảng sư không phải là người chỉ giỏi nói mà thôi. Có một số người hiểu lầm rằng giảng sư là lo việc giảng dạy giáo lý, thiền sư lo việc hướng dẫn tu, luật sư lo dạy giới luật. Thật ra dạy giáo lý là dạy đủ thứ trên đời, kể cả giới luật và thiền định, nên giảng sư phải thực hành đầy đủ đạo lý của Phật chứ không phải là người chỉ lo nghiên cứu chữ nghĩa rồi đem ra nói lại giống như trả bài.
Kiến thức lạc hậu cũng sẽ làm mất đi sự hấp dẫn của bài giảng. Giảng sư phải luôn luôn cập nhật các kiến thức của thế giới, xã hội, con người, tôn giáo... để giúp cho bài giảng mới lạ mãi mãi. Tâm lý của người nghe là, dù cho vấn đề rất hay, nhưng khi đã nghe nhiều lần rồi thì đều trở nên nhàm chán. Giảng sư phải hiểu quy luật tâm lý khắc nghiệt đó để luôn luôn làm mới mình, cũng là giúp cho người nghe có được sự thích thú với giáo pháp.
Rất nhiều chuyện xảy ra từng ngày trên khắp thế giới, có những chuyện không đáng làm ta bận lòng, nhưng cũng có những chuyện rất đáng cho ta suy gẫm. Cơn sóng thần cuối năm 2004, những kẻ Hồi giáo cực đoan chuyên hoạt động khủng bố, sinh thái địa cầu tệ hại, điện ảnh trở thành loại hình giải trí phổ thông, Internet kết nối loài người... biết bao nhiêu chuyện mà ta phải biết nhìn bằng cái nhìn của Phật Pháp. Phật tử cũng khát khao lắng nghe quý thầy lý giải cho họ những điều xảy ra trên thế giới bằng cái nhìn của Phật Pháp để họ yên lòng đi theo Phật, vì như vậy họ tin rằng Phật Pháp lý giải được tất cả chuyện thế gian.
Người ta sẽ thắc mắc tại sao những kẻ ác độc như thế lại vẫn tiếp tục hùng mạnh; người ta sẽ thắc mắc tại sao bà già kia chết đi sống lại bỗng biến thành người khác với tính cách lạ lùng khó hiểu; người ta sẽ thắc mắc nguyên nhân gì các dịch bệnh thi nhau xuất hiện trong thời gian gần đây; người sẽ thắc mắc tại sao giáo lý của tôn giáo bạn sơ sài như vậy mà họ lại lôi kéo được tín đồ nhiều như thế... Vô số thắc mắc của con người đều liên quan đến những chuyện mới lạ hằng ngày như thế, và họ trông cậy vào lời giải đáp của các giảng sư Phật học.
Các chuyện tích trong kinh điển thì ai cũng nghe cả rồi, nghe rất nhiều lần rồi, và nếu giảng sư đem các chuyện đó ra kể nữa thì mới mở miệng họ đã biết Thầy muốn nói cái gì rồi nên không còn yếu tố tò mò lôi cuốn nữa.
Tuy nhiên, cái khó cho giảng sư là tuy nói những chuyện mới nhưng phải ăn khớp, phù hợp với kinh điển cũ. Nếu ta đem các chuyện mới ra nói dông dài, tán hươu tán vượn đủ cách, rồi đi mất luôn, không đối chiếu với Phật pháp thì ta không còn là giảng sư Phật học nữa. Vì vậy, giảng sư phải luôn luôn bổ sung kiến thức của mình chứ không được chủ quan tự mãn.
Sức khỏe yếu kém cũng là một trở ngại cho việc diễn giảng. Khi kém sức khỏe, ta cũng kém luôn sự minh mẫn, sự nhạy bén của trí óc nên khả năng phân tích đạo lý bị hạn chế hẳn. Bài giảng vì thế cũng không còn sâu sắc như trước nữa. Ngoài ra, khi kém sức khỏe, ta cũng không còn có thể dành nhiều thời gian để nghiên cứu, soạn bài, giúp cho bài giảng phong phú hơn nữa.
Sức khỏe kém, khi ta ngồi trên bục giảng, ta cũng mất sự đường bệ uy nghi mạnh mẽ lôi cuốn như lúc trước khi còn khỏe. Hãy tưởng tượng một giảng sư ủ rủ, áo não, lết bết bước lên bục giảng, nói không ra hơi, ho liên tục, chút chút lấy khăn ra hỉ mũi, thì thật là đau khổ cho toàn thể hội chúng. Dù ta có giỏi thế nào đi chăng nữa mà sức khỏe như thế thì không còn hấp dẫn nữa. Hoặc là ta phải nghỉ dưỡng bệnh, hoặc là tới lúc ta phải về hưu.
Vì vậy, giảng sư phải biết giữ gìn sức khỏe, rèn luyện thể lực chứ không được coi thường. Nếu ai đã từng rèn luyện võ thuật thì cứ theo đó mà đi các bài quyền mỗi sáng. Nếu không biết võ thì ta tập các kỹ thuật khí công cổ truyền. Cái khác nhau giữa khí công và tập thể dục thông thường chính là phương pháp luyện thở theo từng động tác. Sự chú ý vào hơi thở một cách nhẹ nhàng giúp phát sinh nhân điện. Cái nhân điện này lan tỏa nhanh vào tạng phủ giúp cơ thể khỏe khoắn hơn là sức mạnh cơ bắp do tập thể dục mang lại.
Giảng sư cũng phải có đời sống điều độ chừng mực để giúp tinh thần thanh thản. Vì là người tu nên ta không bị rơi vào đời sống sa đọa trác táng làm tàn tạ cơ thể, nhưng ta cũng không được ăn uống bừa bãi, không ăn uống thiếu thốn, không ngủ li bì, cũng không để bị thiếu ngủ, không lười biếng đã đành, cũng không làm việc quá sức.
Ta tránh các thức ăn có nhiều hóa chất độc hại như hàn the, phẩm màu, formol, đường hóa học, bột ngọt... Các sản phẩm thực phẩm chế biến sẵn nhập từ Đài Loan như thịt chay, cá chay đều bị nhiều hóa chất để làm cho dai và tăng mùi vị, hoàn toàn không tốt cho sức khỏe.
Ta cũng tránh ăn lỡ bữa khi mà bụng chưa đói chút nào. Dù cho bụng đói giữa bữa, ta cũng nên đợi đến bữa rồi hãy ăn thì sẽ tránh được bệnh tiểu đường. Nguyên nhân của bệnh tiểu đường là do ăn uống khi bụng chưa đói, hoặc mới đói sơ sơ. Những người lao động vất vả, không có thời gian nghỉ giữa bữa, phải đợi đúng bữa mới được ăn, thường ít khi bị tiểu đường. Nhà giàu, ít lao động, thức ăn lúc nào cũng sẵn sàng trong tủ lạnh, cứ bỏ đủ thứ vào miệng nhai nuốt hoài, thế nào cũng bị tiểu đường.
Đại khái một giảng sư phải biết một số y lý để giữ gìn sức khỏe tốt đẹp, vì sự nghiệp hoằng hóa chánh pháp, phổ độ chúng sinh, dựng xây Phật quốc...
Nghiệp chướng làm trí tuệ suy giảm cũng là yếu tố bất ngờ khiến sự nghiệp diễn giảng lui sụt. Thật như vậy, khi nghiệp chướng bí mật kéo tới, ta bắt đầu nhìn mọi chuyện cạn cợt, sơ sài, không thấu đáo nữa, do vậy, bài giảng bắt đầu kém chất lượng từ từ. Ta cứ tưởng là ta tiếp tục giảng hay như cũ, nhưng người theo ta lâu ngày đã bắt đầu nhận ra sự sa sút của ta. Đây chính là nghiệp chướng, rất bí mật, âm thầm ngăn trở con đường diễn giảng của ta.
Nghiệp chướng từ đâu kéo tới, trong khi lẽ ra càng tuyên giảng Chánh Pháp của Phật thì ta càng phải được tăng trưởng công đức chứ?
Nhân quả chỗ này rất tinh vi, và công bằng. Nhiều khi ta không đủ sức nhìn cho hết Nhân quả đã chi phối cuộc đời ta như thế nào, cho đến khi chết ta được nghe Diêm vương luận tội phước rồi mới giật mình kinh sợ.
Diêm vương: Này kẻ tăng sĩ kia, ngươi có biết ngươi phạm tội gì không?
Giảng sư: Dạ, con không biết, cúi xin Ngài chỉ dạy.
Diêm vương: Ngươi làm giảng sư dạy đạo lý mà cứ nói rằng không thiện không ác khiến cho chúng sinh mê muội. Ngươi quên rằng Phật dạy “đừng làm các việc ác, hãy làm các việc lành, giữ tâm hồn thanh tịnh, chư Phật đều dạy thế” hay sao? Vì ngươi gieo rắc tà kiến khiến chúng sinh mê muội nên đáng lẽ ta phạt ngươi 50 kiếp ngu si câm ngọng. Nhưng xét thấy ngươi có lòng thành kính với Tam Bảo nên cho ngươi tự phát nguyện lần này tái sinh vào cõi người sẽ khuyên mọi nguời tránh ác làm thiện đúng như Phật dạy. Ngươi có chịu phát nguyện không?...
Rồi có khi ta đố kỵ với tài đức của người khác, hay nói dè bỉu châm biếm sau lưng, cũng khiến cho phước ta suy giảm, nghiệp chướng nặng dần cho đến khi khả năng thuyết giảng bị biến mất. Ta cũng chẳng biết tại sao, cứ thấy nào giờ mình giảng ai cũng ưa, sao bây giờ nghe tới mình người ta uể oải, đâu biết rằng nghiệp đố kỵ đã giết chết ta từ từ mà ta không hay.
Rồi có khi ta hưởng thụ nhiều quá, đời sống ta sung sướng quá, ta cũng nhiều lần phung phí không tiết kiệm, nên phước cũng suy giảm từ từ khiến cho khả năng thuyết giảng cũng yếu đi. Chính xác là nếu ta giảng không sai với Phật Pháp thì ta sẽ dần dần được phước rất nhiều, nhưng nếu ta sống phung phí vì ỷ mình có phước thì phước cũng tàn rất nhanh.
Một loại nghiệp tàn phá công đức ta rất nhanh chóng là tâm kiêu mạn tự hào. Sau một số bài thuyết pháp hấp dẫn được nhiều người ca tụng, ta lập tức tưởng mình là siêu sao nhất nhì nên cứ tưởng mình giỏi hơn mọi người, và bắt đầu khinh thường chúng sinh. Nghiệp của sự kiêu mạn này có thể phá tan tâm trí ta, khiến ta điên loạn, ngu ngốc, đoạ lạc nhiều kiếp liên tiếp về sau. Vì vậy, muốn sự nghiệp diễn giảng được lâu bền, ta phải gắng tránh những loại nghiệp chướng kể trên.
2. Những trở ngại từ bên ngoài
Ngoài những yếu tố tiêu cực từ nơi chính chúng ta, vẫn có những yếu tố tiêu cực từ bên ngoài khiến việc diễn giảng hoằng pháp của ta bị yếu kém. Dĩ nhiên thì yếu tố bên ngoài nào cũng là nghiệp xưa của chính ta, nhưng ta hãy xem chúng là yếu tố bên ngoài và có phương hướng xử lý thích hợp.
Sự chống phá từ các tôn giáo bạn là điều dễ gặp hơn cả. Từ ngàn xưa đến nay, việc các tôn giáo chống phá, thậm chí giết hại lẫn nhau là chuyện thường hay xảy ra. Hồi giáo đã từng giết sạch Tăng Ni tại Ấn Độ, Trung Đông, Trung Á, Indonesia. Kitô đã từng đập chùa giết hại Sư Tăng ở miền Bắc. Vào thời di cư 1954, các vùng Kitô tiếp giáp với Phật giáo đều xảy ra các án mạng khó hiểu mà nạn nhân đều là Phật tử. Một vài ngôi chùa bị đốt cháy bí mật chỉ vì ngôi chùa đó nằm lọt trong vùng Kitô. Một bức thư của Phật tử ngoài Bắc tâm sự rằng gia đình bên chồng theo Kitô, cha ông đời xưa đã từng phá chùa lấy đồ thờ cúng rất nhiều.
Hiện nay Hồi giáo đang quyết tâm tiêu diệt Kitô giáo trên thế giới trước, nhất là các khu vực tiếp giáp với nhau. Họ sẵn sàng dùng các phương tiện giết người hàng loạt như súng, bom, vũ khi hóa học...
Nhiều khi ta ngạc nhiên là tại sao tôn giáo lại tàn ác như thế. Nào giờ ta hiểu là hễ mang tiếng là tôn giáo thì phải ăn hiền ở lành, không gây tổn hại ai. Bây giờ biết ra thì các tôn giáo là thủ phạm giết người nhiều hơn cả. Thật là kỳ quái. Có lẽ ta phải định nghĩa lại từ Tôn giáo. Chỉ tôn giáo nào không sử dụng biện pháp giết người hại vật thì mới được xem là tôn giáo, được hưởng quy chế tôn giáo. Còn tôn giáo nào có sử dụng biện pháp giết người hại vật thì phải được xem là một nhóm tín ngưỡng nguy hiểm, và không được hưởng quy chế ưu tiên của luật Tôn giáo.
Hiện nay các tôn giáo bạn đang quyết tâm biến Việt Nam thành vùng đất của họ. Hồi giáo thì đang bận tâm vì các vùng đất khác nên hoạt động ở Việt Nam còn chưa mạnh. Các tôn giáo khác thì ra sức ngày đêm truyền đạo và phá đạo Phật. Nếu đốt chùa được
thì đốt liền. Nếu làm áp lực chính trị được thì làm liền. Nếu mua chuộc cán bộ được thì mua chuộc liền. Nếu dùng đạo Phật phá đạo Phật được thì làm liền. Nói chung họ làm tất cả để phá Phật giáo. Những ai làm cho Phật giáo phát triển thì lập tức rơi vào tầm ngắm của họ để có phương án tiêu diệt vô hiệu hóa.
Có vị bị tôn giáo bạn đưa người vào làm đệ tử rồi khuynh loát tất cả, vô hiệu hóa mọi cơ nghiệp của vị đó. Có vị bị tôn giáo bạn tung người bôi nhọ uy tín cá nhân để ngăn chận ảnh hưởng đang lan rộng. Có vị chức sắc bị người của tôn giáo bạn tiếp cận mua chuộc rồi buộc phải làm theo yêu cầu của họ là ngăn cản hoạt động của Sư Tăng Phật giáo. Rất nhiều thủ đoạn chống phá từ các tôn giáo bạn mà ta phải biết để đề phòng. Ta đang sống trong thời đại nhiễu nhương phức tạp âm ỉ chiến tranh tôn giáo nên phải tỉnh táo vô cùng, không để bị mắc lừa bởi âm mưu bên ngoài. Nhiều khi họ mượn tay sư để phá sư, hoặc họ mượn tay cán bộ để phá sư. Ta không biết là ta bị rơi vào âm mưu ly gián, khiến cho Phật giáo bị chia rẽ, hoặc Phật giáo chia rẽ với Nhà nước.
Quan điểm của ta là hiếu hòa, không gây xung đột, nhưng phải biết rõ âm mưu của bạn để đề phòng. Một vài cán bộ làm khó ta không làm ta lung lay lập trường yêu nước; một vài vị chức sắc chống đối ta không làm ta mất niềm tin vào Tăng đoàn. Ngược lại, trước những ngang trái trở ngại đó càng làm ta kiên quyết hơn trong việc hoằng truyền chánh pháp.
Sự ganh tị của nội bộ Tăng sĩ Phật giáo cũng là yếu tố gây trở ngại cho việc hoằng pháp chung. Không hiểu sao đạo Phật là đạo Vô ngã vị tha, nhưng chính những người tu theo Phật lại ganh tị nhau
“gần như khủng khiếp”. Tôn giáo bạn đã lợi dụng yếu điểm này để kích động ly gián Phật giáo mà không chi phí nhiều lắm. Một ít tiền cúng dường bằng ngoại tệ, một ít lời kích động là quý thầy hăng hái chống nhau liền. Lạ thật. Có lẽ từ những ngày đầu vào chùa, người xuất gia đã không được nhắc nhở rèn luyện các tâm hạnh đạo đức căn bản kỹ lưỡng nên sau này lớn lên gặp việc liền xử sự y như thế gian. Nhiều Phật tử than phiền khi thấy quý thầy cũng ganh ghét nói xấu nhau không khác gì bên ngoài thế tục.
Để đối phó với tình trạng này, các chùa phải chú trọng dạy các tâm hạnh đạo đức thật kỹ lưỡng cho người xuất gia. Còn những ai bị chống phá ganh tị khi đang làm công việc hoằng pháp thì hãy vững lòng kiên định, hãy chịu đựng sự hủy báng đó để tiếp tục mang lời Phật đến với tâm hồn của mọi người mà không một chút chùng bước quay lui. Ta luôn giữ hòa khí khi gặp chống đối, nhưng không bao giờ e ngại, bất mãn, hoặc mặc cảm. Ta khiêm cung lễ độ, nhưng kiên cường bất khuất.
Vài nơi cán bộ chưa hiểu nên đã gây khó khăn cho các giảng sư. Có thể là do ta chưa đủ uy đức để cảm hóa họ, cũng có thể họ là người cao ngạo vì có chức quyền, cũng có thể họ đã từng nghe qua những vụ bê bối của sư tăng nên còn mang ác cảm. Ta hoạt động vào các vùng đó là dễ bị gây khó khăn bởi cán bộ địa phương. Riêng trường hợp đó là vùng mà tôn giáo bạn muốn độc quyền truyền đạo nên từ lâu đã mua chuộc cán bộ chính quyền ủng hộ họ và ngăn cản Phật giáo, thì đây lại là khó khăn do tôn giáo bạn gây ra mà ta đã nói ở trên, cán bộ chỉ là người trung gian bị mua chuộc.
Muốn hoạt động ở vùng như thế, ta phải kiên nhẫn rất nhiều, tạo được uy tín đối với quần chúng để được sự ủng hộ của quần
chúng, và nhất là phải có được sự ủng hộ của chính quyền ở cấp cao hơn. Đây là duyên riêng của ta chứ không phải ta có tài xoay sở được. Ta phải cầu nguyện Tam Bảo gia hộ rất nhiều để chiến thắng được nghịch cảnh này, vì bị chính quyền làm khó là khó khăn hàng đầu của tu sĩ.
Chúng sinh sơ cơ cũng là nỗi khổ cho nhà hoằng pháp. Thật vậy, đi đến một nơi mà người dân chẳng biết mô tê gì về Phật Pháp, chẳng biết Nhân quả thiện ác gì, chẳng biết ăn hiền ở lành là cái quái gì thì thật là khổ sở. Họ xem thường các nhà sư, thậm chí nói bậy để dè bỉu, thì làm sao ta đem Phật Pháp giảng cho họ nghe được. Ở những vùng như vậy, đôi khi chỉ có những người cư sĩ tới lui trà trộn kết bạn chiếm cảm tình lâu ngày thì mới có thể giáo hoá dần dần. Lúc đó, người xuất gia phải đứng đằng sau hỗ trợ cho người tại gia làm việc trước mới được. Chừng nào người dân ở đó đã có lòng mến đạo rồi thì ta mới có thể xuất hiện để diễn giảng được.
Còn rất nhiều các yếu tố bất lợi từ bên ngoài khiến cho công việc hoằng pháp của ta bị trở ngại, nhưng thật ra càng vất vả vượt qua các trở ngại đó để giáo hóa chừng nào thì công đức của ta lại càng lớn lao chừng nấy. Công đức đó là gì? Đó là khả năng nhiếp tâm trong thiền định mai sau.
Bài tập: Tăng Ni hãy cho biết mình sẽ làm gì khi khả năng và hoàn cảnh hoằng pháp bị suy giảm bất lợi? (nói vào trong máy 15 phút)
