1. Ý nghĩa của thời gian trong diễn giảng
Ta vẫn nghe nói thì giờ là vàng ngọc, hoặc ta vẫn nghe những lời chê bai các người nói nhiều mà không có giá trị là nói dai, nói dài, nói dở, nói dóc... để biết rằng yếu tố phân bố thời gian trong diễn giảng là rất quan trọng. Trước khi lên bục giảng ta phải xác định trước thời gian cho phép nơi bài giảng của mình là bao nhiêu, rồi theo dõi đồng hồ thường xuyên để cân đối bài giảng theo đúng kế hoạch thời gian. Đến khi ta nói hứng thú say sưa, ta vẫn phải khống chế thời gian và kết thúc đúng lúc để “giải thoát” cho thính chúng.
Trừ khi ta là thiên tài càng nói càng hay làm mọi người quên mất đường về thì thôi, còn không thì ta vẫn phải hiểu rằng ngồi yên một chỗ không được làm gì để phải nghe một người lải nhải nói mãi là vô cùng đau khổ. Người nói thì vô cùng sung sướng vì có dịp để trình bày quan điểm tư tưởng của mình, và cũng là bản ngã của mình, nên thường là ở trên mây và quên đi đồng loại đang rên siết ở...hàng ghế phía dưới. Đến khi ta tuyên bố buổi giảng đã kết thúc và nhìn thấy mọi người hớn hở vui mừng ta lại hiểu lầm là họ vô cùng thích thú bài nói chuyện của ta, đâu biết họ vui phát khóc vì ta... chấm dứt.
Có ai đó nói một câu rất hay rằng Khi ta sinh ra thì ta khóc mà mọi người chung quanh đều vui cười. Hãy sống làm sao khi ta chết đi, ta mỉm cười mà mọi người đều khóc. Ta bắt chước câu đó và sửa lại một chút là Ta hãy giảng làm sao cho khi đang giảng thì mọi người vui cười sung sướng, và khi ta chấm dứt thì mọi người tiếc rẻ. Đừng giảng mà khi giảng thì mọi người đau khổ và khi chấm dứt thỉ mọi người sung sướng.
Có những diễn giả gieo hy vọng cho mọi người bằng lời tóm lại, nhưng sau đó quỵt luôn, nói nữa, rồi lát nữa lại tóm lại, rồi lại không chịu “tóm lại” giùm, nói tiếp riết. “Tóm lại” cả chục lần mà không kết thúc được, khiến cho loài người vô cùng đau khổ. Đó là bệnh khoe khoang, không làm chủ lời nói, chỉ biết có mình mà không cảm nhận được sự mệt mỏi khó chịu của người ngồi phía dưới. Làm giảng sư, ta phải tuyệt đối tránh những bệnh như vậy.
Thường khi được đứng truớc mặt mọi người để nói gì đó, ta có cảm giác là ta thông minh trí tuệ lắm nên muốn nói nhiều để chứng tỏ tài năng của mình là... vô tận. Nhưng không ngờ ta càng nói nhiều thì người nghe càng... căm hận. Phép lịch sự buộc họ phải ngồi yên, nhưng tay chân họ vặn vẹo, người họ nhúc nhích, mắt họ liếc ngó lung tung. Tất cả dấu hiệu đó cho thấy họ đã bất mãn lắm rồi, nhưng ta không nhìn thấy gì cả, cứ tiếp tục chiến đấu và gieo rắc khổ đau.
Chẳng riêng gì thời gian của cả bài giảng, mà thời gian cho từng ý đều phải được sắp xếp hợp lý. Nhiều khi ý đó cũng không có gì quan trọng mà ta nói dài hơn sự cần thiết thì lập tức gây ra một chút nhàm chán cho người nghe liền. Vì vậy, khả năng quản lý thời gian thuyết giảng là một bản lĩnh độc đáo của giảng sư. Giảng sư vừa trình bày nội dung, vừa theo dõi tâm tình của thính chúng, vừa phân bố thời gian cho từng ý và cho cả bài giảng. Cùng một lúc, tâm trí của giảng sư phải làm rất nhiều việc như vậy chứ không đơn giản chỉ là nói và nói.
2. Phân bố thời gian hợp lý
Khi soạn dàn bài ta cũng phải đánh giá bài giảng của ta dài khoảng bao nhiêu phút rồi. Nếu còn thiếu độ dài cần thiết theo sự tổ chức thì ta phải thêm ý vào để cho phù hợp thời gian của buổi giảng.
Nếu dài hơn yêu cầu của sự tổ chức thì ta phải cắt bớt không thương tiếc, hoặc sẽ nói vắn tắt ý nào không quan trọng lắm.
Bình thường thì bản lĩnh của ta nằm ở chỗ phân bố thời gian cho từng ý nhỏ một cách hợp lý. Nói ý này chừng bao nhiêu câu, rồi chuyển qua ý khác tiếp tục. Độ dài của mỗi ý tùy thuộc vào mức độ phức tạp của ý tưởng, khả năng tiếp nhận của người nghe.
Người ta hiểu rõ rồi mà ta nói nữa thì sự nhàm chán bắt đầu xuất hiện. Người ta chưa hiểu mà ta chuyển qua ý khác rồi thì gây nên một khoảng mờ mờ trong tâm trí người nghe và họ bắt đầu khó chịu. Vấn đề nằm ở chỗ mọi người đã hiểu đồng đều chưa. Nhưng cái khó khăn là ta không được giảng vài câu lại hỏi hiểu chưa rồi mới dám đi qua ý khác. Ta buộc phải tự mình đánh giá sức tiếp nhận của mỗi người để quyết định chuyển ý khác hay chưa. Đây cũng là một bản lĩnh khác của giảng sư.
Sự phân bố thời gian cho từng ý lệ thuộc rất nhiều vào khả năng trình bày ý tưởng của ta. Nếu ta có khả năng nói dễ hiểu, ai nghe vài câu là hiểu, thì ta dễ dàng chuyển qua ý khác mà không sợ bài giảng bị mờ mờ. Ngược lại, nếu ta giảng khó hiểu, người hiểu người chưa, thì ta sẽ do dự không biết có nên chuyển qua ý khác hay không. Nếu chuyển qua sớm thì ai chưa hiểu sẽ bị hụt hẫng; nếu chuyển qua muộn thì người hiểu rồi sẽ nhàm chán. Vì vậy, chắc ăn là ta hãy luyện khả năng trình bày ý tưởng sao cho dễ hiểu trong từng câu nói. Nhiều khi chỉ cần thêm vài ba chữ là câu văn sáng sủa hẵn lên.
Ví dụ, nếu ta nói rằng: Thiện ác là căn bản của sự tu hành, sẽ nghe rất mơ hồ. Nếu ta nói chen thêm vài chữ rằng: Biết rõ cái gì là thiện, cái gì là ác chính là căn bản của sự tu hành. Chỉ cần thêm vài chữ như thế thì mọi người đều dễ hiểu, giúp ta chuyển qua ý khác thoải mái.
Ví dụ, nói rằng sự thông minh sáng tạo bất ngờ của mỗi người là phước của họ nghe cũng hiểu nhưng không rõ lắm. Thêm vào như vầy sẽ dễ hiểu hơn Sự thông minh sáng tạo bất ngờ của người nào chính là phước riêng của người đó. Chính phước lực đã làm nên tài năng một cách bí mật mà ta không hề hay biết. Khi làm được điều gì đặc biệt, khi ta nghĩ ra điều gì xuất sắc, ta phải hiểu rằng chính phước đã đạo diễn những sáng tạo tài hoa như thế. Hiểu như vậy ta sẽ biết khiêm tốn và giữ gìn phước đức cẩn thận chứ không dám kiêu mạn tự hào. Nói rõ như vậy nghe dễ hiểu hơn rất nhiều.
Có những ý ta nói ít nhưng đã làm mọi người hiểu rồi; có những ý ta nói nhiều hơn mới làm mọi người lĩnh hội. Không ý nào giống ý nào về thời gian diễn đạt. Nhưng, như đã nói từ trước, dù có khó hiểu đến đâu ta cũng không được diễn đạt một ý quá dài khiến người nghe nhàm chán. Dành thời gian cho một ý gì đó mãi sẽ là cực hình cho người nghe. Nếu họ chưa hiểu ta đành phải chuyển qua ý khác rồi sẽ trở lại ý đó sau.
Phân bố thời gian cho từng ý là cái khéo của giảng sư. Có những ý ta nói dài hơn, có những ý ta nói ngắn hơn, nhưng đừng chênh lệch quá đáng để tạo một sự cân đối cho cả bài giảng.
Khi soạn dàn bài, ta đã ước tính thời gian cho cả bài dựa trên yêu cầu của chương trình chung. Nếu chương trình yêu cầu ta 30 phút, 45 phút, 60 phút hoặc 90 phút thì ta sẽ sắp xếp thời gian theo yêu cầu như thế. Dựa vào thời gian của toàn bài giảng, ta sẽ phân thời gian cho từng ý trong dàn bài đã soạn. Khi giảng, ta cố gắng thực hiện đúng như kế hoạch phân bố thời gian như thế khiến cho bài giảng cân đối và người nghe không chán.
Ví dụ, ta giảng đề tài Tha thứ - Độ lượng với dàn bài được chia làm 3 phần chính như sau:
- Định nghĩa, tha thứ nghĩa là không giận ghét, không trừng phạt người khác sau một lỗi lầm của người đó. Có những ví dụ.
- Tâm tha thứ độ lượng đó xuất phát từ lòng thương yêu từ bi, và trí tuệ lớn lao không cố chấp.
- Nhưng tha thứ phải có trách nhiệm giáo hóa kiểm soát chứ không có nghĩa là dung túng.
Ta có thể phân là ý thứ nhất với những tấm gương, những ví dụ, ta trình bày trong 20 phút.
Ý thứ 2 là ý chính, phân tích nhiều về đạo lý, tâm lý, công phu tu hành, những trường hợp cụ thể, những ví dụ cụ thể sẽ có thể mất 30 phút.
Ý thứ 3 là trách nhiệm giáo dục người xấu, có thể mất 10 phút. Trong mỗi ý đó, ta lại phân ra từng ý nhỏ, từng câu chuyện nhỏ, vài bài thơ, mỗi phân đoạn như vậy lấy mất vài phút.
Là những giảng sinh đang còn thực tập, ta phải giảng thử một mình, tưởng tượng thính chúng đang ở trước mặt, để đánh giá thời lượng cho từng ý đã hợp lý chưa. Đến khi lên bục giãng thật sự, ta có thể bất ngờ phát hiện ra những ý hay nên ứng khẩu nói thêm làm kế hoạch thời gian bị thay đổi. Nhưng nhờ có để ý kỹ vấn đề thời lượng nên ta sẽ không say sưa quên mất lối về, mà vẫn chuyển ý kịp thời và kết thúc đúng lúc để ăn khớp với chương trình chung của chùa đã đề ra.
Kéo dài hoặc rút ngắn bớt thời lượng của một ý cũng là tài khéo của giảng sư.
Có khi ta nói hết những ý trước sớm hơn thời gian dự định, nên những ý sau phải nói dài hơn để bù lại thời gian còn nhiều. Vì ta cũng không thể kết thúc bài giảng sớm hơn chương trình khiến cho mọi người nghi ngờ ta đã cạn lời hết ý bí tư tưởng, nên ta buộc phải giảng cho hết thời gian đã sắp xếp. Khi có những ý được trình bày xong sớm quá thì sẽ có những ý phải kéo dài thêm cho lấp đầy trở lại chỗ trống.
Ví dụ, ta muốn nói về ý tưởng Đạo đức bên trong được xác chứng bằng những hành vi bên ngoài trong mười phút, nhưng chẳng hiểu sao ta nói mới có 6 phút thì đã cạn ý. Vì vậy ta sẽ nói ý kế tiếp là Tuy đạo đức bên trong là gốc để có những hành vi tốt bên ngoài, nhưng hành vi bên ngoài lại giúp củng cố đạo đức bên trong kéo dài thêm thành 14 phút.
Muốn kéo dài một ý nào đó thì ta phải kể chuyện, thêm ví dụ, đọc thơ hay... nói chậm lại một chút.
Rút ngắn bớt thời lượng thì dễ hơn, nhưng không khéo thì tai hại hơn. Dễ hơn vì không phải nói nhiều, nhưng tai hại hơn vì có thể làm người nghe không hiểu hết vấn đề, nghĩa là nhận thức kém về đạo lý.
Muốn rút ngắn thời lượng của một ý nào đó, ta phải chọn giữ lại những ý chính quan trọng, và bỏ đi những ý phụ ít quan trọng. Ví dụ, ta muốn trình bày đầy đủ ý tưởng rằng Tu là chính, học là phụ và triển khai thành 8 ý nhỏ như sau:
- Mục tiêu của ta khi tìm đến Phật Pháp là muốn thay đổi tâm hồn mình từ xấu thành tốt, từ mê muội thành sáng suốt. Sự thay đổi tâm hồn như thế gọi là tu hành, tu sửa.
- Để có thể biết cách tu sửa như thế, ta phải học giáo lý, đạo lý, là những điều Phật dạy.
- Ta học được kỹ lưỡng chừng nào thì việc áp dụng tu hành càng sâu sắc chừng nấy.
- Tuy nhiên, học là điều dễ vì thỏa mãn khát khao tăng trưởng kiến thức của con người. Ta có thể học đến vô tận mà không thấy chán.
- Ngược lại, việc tu sửa tâm hồn là cực kỳ khó vì ta phải can đảm nhìn ra từng cái sai của mình để khắc phục, trong khi không ai muốn nghĩ rằng mình đã xấu.
- Đó là lý do ta thấy tại sao Tăng Ni vẫn thích đi học lấy bằng, vừa có danh giá, vừa không phải mất thời gian tu tập. Người quen học thì rất ngại xếp mình vào việc tu.
- Lỗi cũng một phần do những đạo lý mà ta học đã không khuyến khích sự dụng công tu tập, nhưng lỗi cũng do chính ta không có định hướng tu hành.
- Từ nay mong sao cho Tăng Ni biết xem Tu mới là bổn phận chính, và học là để biết cách tu chứ không phải để thỏa mãn kiến thức.
- Với 8 ý như thế thì ta có thể nói suốt 20 phút. Nhưng vì thời gian không cho phép nên ta buộc phải rút còn 15 phút. Lúc đó ta sẽ quyết định chớp nhoáng là lược bớt 2 ý không quan trọng lắm, có thể là ý: Lỗi do giáo lý, giáo thọ và Thích học lấy bằng cấp.
Có những tình huống ta phải đáp từ, ban đạo từ, phát biểu mà không được chuẩn bị trước. Ta phải đánh giá là mọi người có thật lòng muốn ta nói hay chỉ là xã giao hình thức, mời ta mà trong lòng họ mong ta đau bụng từ chối cho rồi. Có nhiều trường hợp một Gia đình Phật tử mời vị thầy chứng minh buổi họp mặt. Huynh trưởng say sưa phát biểu với đoàn sinh trong tư thế đứng. Đến khi huynh trưởng chợt nhớ ra là phải mời vị thầy phát biểu thì các đoàn sinh đã gần xỉu hết rồi. Trường hợp đó vị thầy phải khôn ngoan nói ngắn gọn trong 3 hoặc 4 câu rồi kết thúc lập tức. Nếu vị thầy nói dài sẽ gây thành sự bất mãn khủng khiếp trong lòng các em. Nhất là nhiều khi các em đứng ngoài trời nắng nữa thì thật là hãi hùng.
Có những buổi Trai tăng cúng dường, mọi người đang đói bụng, cơm canh đang nguội dần, những người tác bạch đang quỳ lâu mệt mỏi... mà vị thầy ban đạo từ cứ nói như chưa bao giờ được nói thì thật là bất hạnh cho chúng sinh. Rất nhiều Phật tử không quen quỳ lâu, hơn nữa trong thời đại tân tiến này người trí thức giàu sang cũng không thích sự quỵ lụy quá đáng, ta nên khôn ngoan khéo léo nói thật gọn mà súc tích để cho mọi người được tiếp tục ăn uống thoải mái, Phật tử cũng không phải quỳ lâu mệt mỏi.
Bản lĩnh của giảng sư là gặp những trường hợp phải nói ngắn gọn như thế, nhưng phải làm người nghe cảm động tăng trưởng đạo tâm chứ không phải nói ít mà hời hợt. Muốn nói ngắn gọn nhưng lay động lòng người thì ta phải chọn vài ý chính mà thôi. Khi nói thì phải chọn từng từ cực kỳ đẹp đẽ trau chuốt, rồi kết thúc trong sự hân hoan quý trọng của mọi người. Lúc đó, tuy nói mà như viết, và cũng súc tích mạnh mẽ, không khác gì một bài thơ.
Ví dụ, ta nói vài lời ngắn gọc trong buổi Trai tăng Thưa quý Phật tử, những tấm lòng của qúy Phật tử hôm nay sẽ thành những sự khuyến khích đối với Chư Tôn đức mãi mãi về sau; những vật thực hôm nay sẽ nâng bước chư Tôn trên bước đường hoằng dương Phật Pháp khắp nơi. Nguyện ân phúc này đưa quý Phật tử đến những nơi an lành hạnh phúc tràn đầy hào quang của chư Phật... Chỉ vài lời ngắn nhưng súc tích cảm động là thành công.
Sau khi giảng, thông thường ta có thể dành thời gian cho thính chúng hỏi thêm những điều chưa rõ ràng. Có thể cho phép sự chất vấn phản biện nếu cần thiết. Đôi khi nhiều người hỏi luôn những điều chẳng dính dáng gì tới bài giảng, nhưng vẫn là vấn đề của đạo lý thì cũng tốt thôi. Đôi khi họ hỏi luôn cả những chuyện thế gian tình cảm làm ăn nợ nần nghe như chẳng ăn nhập gì với đạo lý cả, nhưng ta phải dùng đạo lý soi rọi mọi điều họ chưa biết để giúp họ hiểu thêm và ứng dụng được Phật Pháp vào trong đời sống. Thời gian dành cho việc giải đáp thắc mắc như thế có thể khoảng 1/10 thời gian diễn giảng.
Tuy nhiên, có khi bài giảng dài quá chiếm hết thời gian cho phép thì ta đành phải bỏ luôn giai đoạn giải đáp thắc mắc.
Trong việc sắp xếp thời gian cho một bài giảng, ta phải “liệu cơm gắp mắm”, nghĩa là phải lượng khả năng diễn giảng của mình hấp dẫn tới mức độ nào để quyết định kéo dài bài giảng ra bao lâu. Nếu mình giảng quá hay thì cứ nói lâu không sao vì người nghe sẽ không mệt mỏi. Nhưng nếu cảm thấy mình giảng chưa hấp dẫn lắm thì đừng dại dột giảng lâu vì sẽ làm người nghe ác cảm, lần sau nghe tới mình là họ lẫn tránh. Thời giảng ngắn khoảng 30 phút thường là ít bị chán nên ta cứ bắt đầu sự nghiệp diễn giảng của mình bằng những bài giảng 30 phút. Sau này khi cảm thấy sức hấp dẫn đã tăng lên thì ta cũng tăng thời lượng lên từ từ 45 phút, 60 phút, 90 phút. Nên dừng ở 90 phút vì ta khó thể nào bắt mọi người ngồi hơn 90 phút mà vẫn say sưa ham thích. Muốn nói nữa thì hẹn bài giảng sau, đừng nói nhiều hơn 90 phút.
Bài tập cho Tăng Ni sinh kỳ này là mỗi người viết dàn bài trên giấy và phân thời gian cho từng ý, cộng lại khoảng 60 phút. Nộp bài viết.
