1. Bản lĩnh của giảng sư
Diễn giảng khác với đọc diễn văn là ta phải ứng khẩu nói lưu loát từ một vài chữ gợi lên Ý tưởng. Chỉ một vài chữ viết trên dàn bài cũng đủ để ta suy luận diễn dịch chi tiết phong phú cặn kẽ, và cực kỳ sáng tạo trước mặt mọi người. Đây là bản lĩnh của một giảng sư. Nếu không có khả năng Ứng khẩu thì ta không thể làm giảng sư được.
Trong nhà Phật có từ ngữ lợi khẩu để chỉ cho người có khả năng ứng khẩu nhanh chóng mỗi khi cần phải phát biểu điều gì. Dĩ nhiên chỉ gọi là lợi khẩu khi những điều được ta nói ra rất ý vị sâu sắc. Còn nếu ta nói nhiều mà rỗng tuếch thì làm người khác chán hơn người không biết nói gì. Thà im lặng mà người ta nể hơn là nói nhiều mà rỗng tuếch.
Tuy nhiên cái lợi khẩu chỉ có nghĩa là đối đáp nhanh nhẹn chứ không có nghĩa là Ứng khẩu nói suốt cả tiếng đồng hồ. Ứng khẩu nói suốt cả tiếng đồng hồ là cả một năng lực lớn, nhất là nếu những điều ta nói ra tràn đầy đạo vị phong phú hấp dẫn. Dù sao người đối đáp nhanh nhẹn cũng đã tiềm tàng một năng lực ứng khẩu hùng biện một khi đã rèn luyện qua nhiều ngày tháng.
Năng lực Ứng khẩu có nguồn gốc ở trên não bộ. Nó kết hợp 3 vùng não liên kết với nhau. Vùng não bên trái chịu trách nhiệm sáng tạo; vùng não bên phải chịu trách nhiệm xử lý dữ kiện; vùng não ngôn ngữ Weizack trên tiểu não chịu trách nhiệm chọn lựa ngôn ngữ.
Trước hết ta phải có Ý để nói gì đó. Kế tiếp ta phải nói như thế nào. Cuối cùng là tốc độ xử lý nhanh để kịp thời phát biểu ra ngoài một cách trơn tru không ngập ngừng do dự. Nhưng làm sao ta có được sự phát triển những vùng não như thế để đạt được khả năng ứng khẩu?
Có 2 nguyên nhân đưa đế khả năng Ứng khẩu: một là tập luyện, hai là Công đức.
Phần tập luyện ta sẽ nói sau. Bây giờ ta nói về công đức trước.
2. Công đức đưa đến khả năng Ứng khẩu
Trong chuyện Hoa trôi trên sóng nước có kể về một Ni sư Hàn quốc, tuy ngộ đạo nhưng không chịu làm tròn công quả của mình nên không có khả năng thuyết pháp. Ngoài việc được vị trụ trì khuyên, bà còn được Bồ Tát hiện ra cảnh báo là nếu không làm tròn công quả trông coi nhà bếp phục vụ Đại chúng, bà sẽ không có khả năng thuyết pháp về sau. Bà khăng khăng từ bỏ nhiệm vụ nửa chừng, và đúng như tiên liệu, dù rất mẫu mực và trí tuệ, bà không thể mở miệng thuyết pháp.
Câu chuyện này cho ta một nguyên lý của Nhân quả, người có khả năng ăn nói chính là người có phước từ quá khứ. Cái phước đó nhiều khi chẳng ăn nhập gì với việc ăn nói cả, như chuyện nếu Ni sư đó siêng năng làm nhà bếp để phục vụ đại chúng thì lại khai mở vùng não ăn nói để thuyết pháp. Giữa nấu bếp và ăn nói chả dính gì với nhau cả.
Ta cũng nhờ vậy mà hiểu thêm tính cách thông thoáng rộng rãi của Nhân quả Nghiệp báo. Miễn là ta có công đức làm lợi ích chúng sinh thì vô số điều tốt lành sẽ đến với chúng ta, vô số năng lực sẽ xuất hiện nơi ta. Ta cũng thấy những lãnh tụ chính trị phải là những người rất hùng biện, mặc dù có khi chuyên môn kỹ thuật chẳng biết gì nhiều, toàn nhờ cố vấn chỉ bảo.
Rồi những Giảng sư thuyết pháp thao thao, lôi cuốn, được nhiều người kính ngưỡng. Ta đừng nghĩ là vì vị đó ăn hay nói giỏi mà đuợc lòng quần chúng tín đồ. Thật ra chính Phước quá khứ của vị đó đã làm nên những điều thành công như thế. Dĩ nhiên ta cũng không thể đánh giá là vị giảng sư đó đã làm công hạnh gì, làm nhiều hay ít, sẽ thành công suốt đời hay thành công một giai đoạn. Nếu vị đó có Chánh kiến, có tâm nguyện tốt, có công đức sâu dày thì sự nghiệp hoằng pháp sẽ bền bĩ. Ngược lại, nếu kiếp trước vị đó gieo công đức không nhiều thì sự nghiệp hoằng pháp đời này sẽ ngắn ngủi.
Ngoài những công đức phục vụ Phật Pháp và chúng sinh trên nhiều phương diện, ta cũng phải kể đến công đức của riêng cái miệng. Rõ ràng Vị giảng sư cũng phải gieo trồng công đức về Khẩu nghiệp rất đặc biệt từ kiếp xưa. Vị đó phải là người hay nói lời hòa nhã, khả ái, đẹp lòng người. Vị đó phải là người yêu quý sự thật, thích nói thật, không nói lời dối trá để lừa gạt người, không nói dối để được khen ngợi. Vị đó ưa thích khen ngợi người khác, vui mừng khi khen người khác, sung sướng khi có ai thành tựu tốt đẹp. Vị đó rất sợ nói lời chê bai, không muốn mở miệng chê bai bất cứ ai, rất ngần ngại phải chê bai ai, dù đôi khi phải nói lên sự thật để bảo vệ lợi ích cộng đồng.
Vị đó phải là người đã từng xúc động mạnh mẽ trước công hạnh của Phật và các bậc Thánh nên đã từng viết nên vô số thi ca để tán dương ca ngợi Phật Bồ Tát khiến cho những chúng sinh chưa phát tâm cũng phải phát tâm quy ngưỡng.
Vị đó cũng phải là người yêu quý đạo lý, thích học hỏi đạo lý, thích chia sẻ đạo lý với mọi người. Có được đạo lý hay, vị đó muốn nhiều người khác cũng có được như vậy.
Vị đó cũng phải là người rất can đảm, đôi khi chấp nhận nguy hiểm về phần mình để bênh vực người cô thế oan ức. Sự can đảm trong khẩu nghiệp khiến cho vị đó sau này có thể rống lên tiếng rống con sư tử để tuyên dương chánh pháp và khiến mọi người nể phục.
Điểm qua những công đức về khẩu nghiệp của một vị giảng sư, ta có thể tự xét lại mình về những khiếm khuyết trong khẩu nghiệp để sám hối.
Trước hết, ta có bị cái tật hay nói thẳng thừng làm người khác đau xót, nhục nhã, tổn thương hay không. Nếu có, từ nay ta phải chừa bỏ, phải sám hối, và phải tập cẩn thận từng lời nói sao cho mọi người được an vui hạnh phúc. Cái tật nói làm đau người khác cũng cản trở sự nghiệp hoằng pháp của ta rất lâu, nếu ta không quyết tâm chuyển nghiệp.
Kế đến, ta có thể cũng bị cái nghiệp nói những lời vô nghĩa, nói để nói mà không có lợi cho người nghe, nói nhiều lãng phí thời gian cho cả ta và người nghe. Ta phí công sức vào việc nói mà vô ích thì về sau ta không còn được nói nữa.
Ta cũng có thể đã bị cái nghiệp nói tục. Hình như quốc gia nào cũng có một số từ nói tục do những kẻ kém văn hóa sử dụng. Những từ đó dơ bẩn, làm mất giá trị cả người nói lẫn người nghe, làm không khí giao tiếp trở nên hạ đẳng. Cứ xem nước nào hay sử dụng các từ nói tục là ta biết nước đó có văn hóa hay không, nhiều hay ít. Họ nói lên các từ đó khi bày tỏ tức giận và chứng tỏ tính cách thô bạo của mình với mục đích hăm dọa người khác. Ai nói tục thì mất sạch các phước về lời nói, sau này chỉ còn được sủa, chứ không còn được nói ngôn ngữ của loài người nữa.
Ta cũng có thể đã bị nghiệp tranh hơn thua từng câu nói. Ta không có ý muốn tìm ra lẽ phải, ta chỉ muốn nói cho hơn người khác. Dù người ta nói có lý rồi, ta vẫn cứ muốn tìm câu nào cho hơn mới chịu. Sử dụng lời nói một cách xấu xa như vậy thì sau này không ứng khẩu nói đạo lý được. Ngay cả những người thích dùng Thiền ngữ đối đáp cũng bị nghiệp hơn thua này để rồi về sau không thuyết pháp được.
Ta cũng có thể đã bị cái nghiệp ép buộc người khác phải im lặng vì ta sợ những điều người kia nói ra sẽ gây ảnh hưởng đến quyền lợi của mình mặc dù đó là những điều có lợi cho nhiều người khác. Quả báo của việc ép uổng như vậy sẽ khiến ta có thể sinh ra kiếp sau bị câm bẩm sinh, huống hồ là thuyết pháp.
Muốn giải những cái nghiệp bất thiện như vậy, ngoài việc phải chấn chỉnh khẩu nghiệp của mình, ta còn phải biết thỉnh các vị chân tu thuyết pháp cho nhiều người cùng nghe. Trong Phổ Hiền thập hạnh, hạnh thứ sáu là Thỉnh chuyển pháp luân, chính là tạo nhân lành cho chính mình được biện tài vô ngại về sau. Dĩ nhiên ta không được đụng đâu thỉnh đó, chỉ được thỉnh những vị chân tu để bảo đảm những lời nói ra là đúng Phật Pháp. Có nhiều vị rất giỏi, rất sắc bén, nhưng vẫn hiểu sai đạo lý. Ta phải cẩn thận về trường hợp này.
Việc truyền bá các bài giảng tốt được ghi âm theo kỹ thuật hiện đại cũng là cách ta gieo nhân thuyết giảng về sau. Việc này cũng giống như ta thỉnh một vị nào đó thuyết pháp cho mọi người nghe vậy. Dĩ nhiên ta phải chọn lựa các bài giảng tốt. Nhân quả ta có được cũng lệ thuộc vào nội dung bài giảng mà ta truyền đi.
3. Luyện tập khả năng ứng khẩu
Thật ra ai cũng có khả năng Ứng khẩu một phần nào rồi, chỉ là chưa được rèn luyện cho nhuần nhuyễn mà thôi. Ta sẽ vừa gây tạo công đức, vừa tập luyện khả năng Ứng khẩu dần dần. Đến khi nào ta có cơ hội thuyết pháp thì cả hai yếu tố đó cũng thành tựu luôn.
Đọc các đoạn văn hay chính là bước đầu của việc Ứng khẩu. Ta chọn một đoạn văn hay, có ý nghĩa đạo lý, lời lẽ trau chuốt, rồi đọc ra tiếng, đọc chẫm rãi, đọc cho hấp dẫn. Đọc đến thuộc luôn càng tốt. Việc đọc các áng văn hay của các tác giả khác tạo nên những cái lợi như sau. Thứ nhất, ta được tâm khiêm hạ vì biết công nhận cái hay của người khác. Thứ hai, ta hấp thu các thủ pháp độc đáo của tác giả vào tâm mình dần dần. Việc này cũng rất giống như học Âm nhạc. Khi học nhạc, ta phải tấu lên hoặc hát lên những ca khúc hay trên khắp thế giới. Lâu ngày ta bỗng có được sức sáng tạo riêng của mình. Ai ít tấu nhạc hay của người khác thì sẽ không sáng tác được.
Việc đọc kỹ, đọc ra tiếng các đoạn văn hay của các tác giả cũng khiến ta hình thành khả năng ứng khẩu với văn nói gần với văn viết hơn. Thường thì người Việt Nam, nhất là người miền Nam, có văn nói rất xa với văn viết, nhát gừng, sai ngữ pháp, luộm thuộm. Bây giờ, nhờ đọc nhiều các áng văn hay, ta bỗng cải thiện được cách nói của mình chuẩn với ngữ pháp hơn. Đây chính là điều mà mọi người cứ hay thắc mắc tại sao trong phim và trong kịch của Việt Nam, diễn viên nói không được tự nhiên. Chỉ bởi vì diễn viên nói đúng như kịch bản soạn theo văn viết, nên nghe không tự nhiên giống như văn nói. Nhưng không lẽ bây giờ ta lại soạn ra 2 hệ thống ngôn ngữ nói và viết cho tiếng Việt thì rất phiền.
Ưng khẩu từng câu một là nền tảng trước khi ta có thể ứng khẩu cả một bài giảng dài. Giảng sinh phải tập ứng khẩu từng câu cẩn thận, vững chắc trước. Đừng ham hố nói liên tiếp nhiều câu mà hỏng khả năng ăn nói khéo léo của mình. Ta có thể chọn một ý bất kỳ rồi ứng khẩu khoảng 5 câu để diễn tả ý đó. Và ta bắt đầu nói từng câu một.
Ví dụ, ta sẽ chọn ý Mới gặp thì người ta thích nhau vì diện mạo bề ngoài; nhưng quen lâu thì ai cũng quan tâm về tâm hồn bên trong của nhau. Đúng ra ý này có thể giảng được cả bài, nhưng ta chỉ cần nói 5 câu để tập ứng khẩu mà thôi.
Ta sẽ nói từng câu như sau:
- Vì chưa biết gì về nhau nên diện mạo là chỗ căn cứ để con nguời đánh giá nhau trong lần gặp gỡ đầu tiên. Nếu chưa vừa ý ở câu đầu tiên này thì ta có thể sửa lại là: Diện mạo của ta là sự giới thiệu về ta trước khi ta bày tỏ cho mọi người biết nhiều hơn về con ngưòi toàn diện của ta. Nếu câu này nặng nề quá thì ta lại chọn câu khác. Nói chung là ta cứ nói đi nói lại câu đầu tiên cho thật ưng ý rồi hãy nói câu thứ 2.
- Nhưng khi phải tiếp xúc hoặc làm việc chung với nhau lâu ngày, điều ta cần ở nhau chính là sự cư xử, sự thân ái, sự tử tế của nhau.
- Ta cần ở nhau những lời nói có tôn trọng, có khôn ngoan để ta học hỏi.
- Ta cần ở nhau những chia sẻ nhường nhịn và giúp đỡ.
- Và đó mới là giá trị thực của con người để ta đánh giá hơn là diện mạo mà ngày xưa đã cho ta một cảm nghĩ khác về nhau.
Ví dụ khác, ta sẽ nói về ý tưởng Có những điều ta nhìn thấy rõ ràng vẫn không phải là sự thật. Ta có thể ứng khẩu lý giải hoặc đưa ra những thí dụ sinh động như:
- Đừng bao giờ ta vội tin vào những gì ta trông thấy vì sự thật vẫn chưa phải là những điều đó.
- Có khi ta thấy 2 người gây gỗ với nhau kịch liệt, nhưng thật ra họ chung một phe với nhau.
- Một Samurai Nhật bản trước khi rạch bụng tự tử đều nhờ một người mà họ kính trọng giúp chém đầu để họ chết nhanh hơn là kéo dài cơn đau ở bụng. Ta có thể lầm tưởng người chém đầu là kẻ xấu.
- Chiếc xe mang biển số TPHCM, đi trên quốc lộ 1 về hướng Long Khánh. Ta kết luận xe xuất phát từ SG đi ra miền Trung. Thật ra xe đó đi từ Đà Lạt về, rẽ qua Long Khánh để về Bà Rịa.
- Còn vô số trường hợp tương tự để ta có thể tỉnh táo hơn khi nhìn nhận mọi điều trên cuộc đời này.
Ứng khẩu từng đoạn dài là phần nâng cao hơn trong việc thực hành ứng khẩu. Bắt buộc rồi ta cũng phải có khả năng ứng khẩu một đoạn dài, ứng khẩu cả một bài giảng ngót 1 tiếng đồng hồ để trở thành một giảng sư thực sự. Nếu ta có thể ứng khẩu suốt 5 phút thì xem như ta có thể ứng khẩu hết bài giảng, miễn là ta còn có điều gì để nói.
Ta ngồi một mình trong phòng hay ngoài trời, lấy bất kỳ một ý nào đó, tập ứng khẩu diễn tả ý tưởng đó như là đang nói cho đông người nghe. Vừa nói vừa đánh giá xem mình nói như vậy có dễ hiểu không, có hấp dẫn không. Ta nên thu âm để nghe lại và tìm ra khuyết điểm của mình. Ta cũng có thể nhờ huynh đệ nghe kiểm tra giúp xem điểm nào chưa hay, chưa khéo để cải thiện cho lần tới. Dĩ nhiên ta phải tập nhiều lần như vậy thì vùng não ngôn ngữ ứng khẩu của ta mới phát triển nhạy bén được.
Ta cũng bắt đầu tập lấy một dàn bài bất kỳ nào để giảng suốt, tưởng tượng như đang có đông người trước mặt.
Ta tưởng tượng thính chúng của ta có 3 thành phần, Phật tử bình dân, Phật tử trí thức, và Tăng Ni. Ta ứng khẩu nói làm sao cho cả 3 thành phần trên đều nghe hiểu, chấp nhận, được lợi ích, và thích thú. Về việc phân tích các yếu tố gây hấp dẫn đối với các thành phần thính chúng thì ta sẽ học ở bài học sau. Bây giờ cứ ráng tưởng tượng để thực hành.
Nếu có điều kiện, ta nên tập ngồi ứng khẩu giảng trước tấm gương lớn để vừa giảng vừa quan sát mọi cử chỉ, thái độ, nét mặt của mình luôn.
Khi ứng khẩu như vậy, ta vừa để ý giọng nói, phong cách, ngữ pháp, ý tứ sao cho mọi thứ đều hoàn hảo. Y tứ thì hợp lý, dễ hiểu, mới mẻ. Giọng nói thì chẫm rãi, rõ ràng truyền cảm. Phong cách thì đĩnh đạc thân ái. Ngữ pháp thì rất gần với văn viết, không bị dư thừa chủ từ.
Ứng khẩu trước thính chúng là giai đoạn bắt buộc phải trải qua để trưởng thành làm một giảng sư thật sự. Điều kiện để có một thính chúng lắng nghe ta thuyết giảng là không dễ, phải nhờ quý thầy lớn sắp xếp tạo điều kiện cho Tăng Ni sinh. Giảng trước thính chúng hoàn toàn khác với đàm đạo. Đàm đạo có không khí bình đẳng, thân tình, gần gũi. Thuyết giảng có tính cách trịnh trọng, thầy trò, nghiêm trang. Ứng khẩu trước thính chúng là một buổi giảng thực sự, bộc lộ
khả năng của ta rất chính xác. Tuy nhiên, có thể những lần ứng khẩu ban đầu ta bị mất bình tĩnh nên vụng về lúng túng, và những lần sau ta tự tin hơn, bình tĩnh hơn, nên ứng khẩu lưu loát hơn. Dần dần ta tập được sự bình tĩnh khi thuyết giảng trước đông đảo khán giả. Ta phải rất bình tĩnh thì ta mới có uy lực để dẫn dắt tâm hồn của khán giả đi theo qua từng đạo lý sâu xa được. Ta mất bình tĩnh thì tự nhiên bị yếu thế và khán giả sẽ xao lãng liền.
Nói chung, ta phải tìm cách tập ứng khẩu nói trước thính chúng càng nhiều càng tốt, và không cần nói dài, chỉ khoảng nửa tiếng mà thôi. Ngắn mà hay là đạt yêu cầu, khán giả sẽ có ấn tượng tốt.
Bài tập: Mỗi người ứng khẩu diễn tả một ý nào đó khoảng 10 phút, thu vào băng, nộp. Lớp trưởng kiểm tra bảo đảm Tăng Ni sinh không viết rồi đọc. Được tự do chọn ý tưởng. Soạn dàn ý cho 10 phút ứng khẩu rồi mở máy thu. Không cần nhập đề kết luận gì cả, cứ nói thẳng vào ý chính.
